Tôi tập trung vào những tranh luận về sự bình đẳng của đàn bà và sự giải phóng của đàn bà đã xảy ra giữa hai cuộc thếchiến.1 Trọng tâm bài tiểu luận của tôi sẽ là một sự so sánh của một
Trang 1IN ẤN VÀ QUYỀN LỰC: NHỮNG TRANH LUẬN VIỆT NAM VỀ
ĐỊA VỊ CỦA ĐÀN BÀ TRONG XÃ HỘI, 1918–1934
kì thuộc địa và sản xuất ra ít bản nghiên cứu lịch sử về đàn bà Việt Tiểu luận củatôi xem xét cung cách mà đàn ông và đàn bà thuộc giới ưu tú bắt đầu tưởng tượnglại địa vị của đàn bà trong xã hội, và cứu xét vai trò mà một nền văn hoá in ấn hiệnxuất đảm nhiệm trong sự tái quan niệm này Tôi tập trung vào những tranh luận về
sự bình đẳng của đàn bà và sự giải phóng của đàn bà đã xảy ra giữa hai cuộc thếchiến.1
Trọng tâm bài tiểu luận của tôi sẽ là một sự so sánh của một tập hợp những văn
viết xuất hiện trên tờ Nữ giới chung [Tiếng chuông cho đàn bà] vào năm 1918 cùng với một tập hợp khác được công bố trên tờ Phụ nữ tân văn [Báo đàn bà] trong đầu thập niên 1930 Năm 1918, những người viết trên Nữ giới chung đã đề cập tới nam
nữ bình quyền trong khuôn khổ của sự hợp tác Pháp-Việt Tới thập niên 1930,
những người viết báo thuộc Phụ nữ tân văn đã theo một lập trường mang tính hoạt
1 Tiểu luận này xây dựng dựa trên sự phân tích của David Marr về văn viết Việt của thập niên
1920 và 1930 về “vấn đề phụ nữ” Xem David Marr, Truyền thống Việt nam bị thử thách 1920–
1945/ Vietnamese Tradition on Trial 1920–1945 (Berkeley và Los Angeles: Ấn quán Đại học
California, 1981), chương 5, “Vấn đề phụ nữ” Chương này của Marr là sự thảo luận tốt nhất vượt trội về phạm vi rộng của sách báo trong chủ đề này.
Tôi xin cảm tạ những bình luận hữu ích của Keith Taylor, Thaveeporn Vasavakul, và nhiều thành viên khác của Nhóm Việt nam học thuộc Đại học Cornell về bài viết này.
Trang 2động xã hội hơn và dấn thân vào những cuộc tranh luận sôi nổi về việc giải phóngphụ nữ Họ bác bỏ một thái độ hợp tác dễ dãi và đôi lúc chất vấn những định chế
cơ bản, như gia đình, và những giá trị Nho giáo mà qua đó những định chế này đãđược hiểu Sự xuất hiện của mỗi tập hợp các bài báo bị phân cách khoảng mườilăm năm, tuy vậy một thay đổi lớn lao thì hiển nhiên trong những tri giác của giới
ưu tú về vai trò của đàn bà trong xã hội
Những bài viết mà tôi cứu xét, chẳng hạn những phê bình đương thời về xã hộiViệt, cũng minh hoạ chiều sâu của sự khủng hoảng phát sinh do sự hội ngộ thuộcđịa Suốt thời kì này, đàn ông và đàn bà Việt đặt những câu hỏi thăm dò về địa vịcủa đàn bà trong gia đình và trong xã hội Họ nhìn tới Trung quốc, Nhật bản, vàphương Tây cho cảm hứng trong việc tái công thức những vai trò của đàn bà Tới
nửa sau thập niên 1920, một ít đàn bà Việt hướng tới chủ nghĩa phụ nữ [nữ quyền],
và cô gái tân thời phô trương những cung cách phương Tây nổi trội trong giới ưu
tú Hoặc thảo luận về tình yêu, những quyền của đàn bà, việc tự sát, hoặc nghĩa vụNho giáo của đàn bà, những văn viết của thời kì muộn hơn chuẩn đoán tinh tếnhiều “căn bệnh” tác động lên đàn bà Việt dù một số phương thuốc được gợi ý(chẳng hạn như bỏ gia đình) bây giờ dường như không thực tế
Luận văn này sẽ không chỉ phân tích một tập hợp những văn bản về địa vị của đàn
bà trong thời Việt nam thuộc địa Nó cũng thăm dò vấn đề về cách nào để tiếp cậnnhững văn bản này và người Việt thời đó đọc chúng ra sao Hướng tới mục đíchnày, tôi sẽ mô tả mối quan hệ của những văn bản được lựa chọn với một “văn hoá
in ấn” hiện xuất, cố định giá sự hưởng ứng của độc giả tới những văn bản, và thảoluận về cộng đồng đàn bà thiết lập thính giả (nhưng không chỉ) chính về cả hai tờbáo này Thay vì thông giải những văn bản như thể chúng không nhập thể trongthời gian và không gian, bài viết này áp dụng một lối tiếp cận theo lịch sử Nhưnhà sử gia Pháp Roger Chartier đã cho rằng, chúng ta phải kết nối thế giới biểutượng của văn bản với những thực hành được điều kiện hoá theo lịch sử giúp mang
ý nghĩa tới việc đọc Tôi sẽ quan tâm đặc biệt tới mối quan hệ giữa việc đọc và ngữcảnh của nó trong khi thăm dò những cung cách mà việc đạt tới chữ in và “văn hoá
in ấn” đã chuyển đổi từ 1918 tới 1934 Thực sự, một sự hiểu biết sơ sài về nhữngkhác biệt trong văn hoá in ấn của mỗi thời kì, và mối quan hệ của độc giả với chữ
Trang 3in, giúp chúng ta đặt định những văn bản trong khung cảnh thích hợp của chúng.
Câu hỏi trung tâm dẫn dắt Chartier trong những điều tra về nước Pháp thời Chế độ
Cũ (Ancien Regime, tức thời Quân chủ) cũng hướng dẫn tôi ở đây: Sự lưu thông
gia tăng của chữ in đã biến cải những dạng thức của xã hội tính, cho phép nhữngcung cách mới về suy nghĩ, và làm thay đổi những tương quan về quyền lực rasao?”2
Sự hưng khởi của “văn hoá in ấn”
Việt nam từ lâu đã sở hữu một giới biết chữ sử dụng những văn bản được viết,được in, và được khắc (văn bia) Tuy nhiên, so sánh với Trung quốc, ít văn bản inđược lưu thông ở Việt nam cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 Chỉ trong thập niên
1920 mới có những số lượng lớn báo hàng ngày, tạp chí, tạp chí minh hoạ, và sáchbắt đầu xác nhận đời sống công chúng và gia đình Việt Ngay cả khi văn hoá in ấnnày bắt đầu nở rộ, phương tiện truyền khẩu về truyền thông chiếm ưu thế Tuynhiên, thay vì nhìn ra một sự phân li giữa những cõi truyền khẩu và văn viết, tốthơn là xem mối quan hệ giữa truyền khẩu và văn viết theo hạn từ sự tương nhập vềnhững phương cách truyền thông
Những văn bản in ấn kết nối tiếng Việt với vài khối văn hoá Vào năm 1918,nhiều người trong giới biết chữ tự coi mình là thành phần của một khối Đại Đông
Á về học thuật Phong trào cải cách 18983 và phong trào Văn hoá Mới4 ở Trung
2 Roger Chartier, “Thế giới như đại diện” (Le monde comme représentation) Kỉ yếu về Kinh tế,
Xã hội, Văn minh (Annales E.S.C [É conomies, Socíetés, Civilsations]) (số ra tháng 11–12,
1989), trang 1509, tôi cũng chịu ơn lớn nhờ những tác phẩm khác của Chartier, đặc biệt Những
cội nguồn văn hoá của Cách mạng Pháp (The Cultural Origins of the French Revolution), do
Lydia Cochrane dịch (Durham và London: Ấn quán Đại học Duke, 1991) Chartier không đặt định một thực tại xuyên lịch sử mà người ta thích hợp một việc đọc văn bản vào đó Trái lại, bằng cách nhấn mạnh những đặc thù của những thực hành văn hoá, ông khích lệ giới sử gia phân tích cẩn trọng hơn “lịch sử địa phương” về việc đọc và sản sinh văn bản.
3 Đây là phong trào Mậu Tuất chính biến (ND)
4 Còn gọi là Ngũ tứ vận động, để kỉ niệm việc khởi xướng dùng văn bạch thoại thay cho cổ văn ngày 4/5/1919, nhưng Trung quốc áp dụng cách gọi niên đại của phương Tây, tức tháng trước
Trang 4quốc và Công cuộc Duy tân5 ở Nhật bản, đã thiêu đốt ý thức của giới trí thức nhưPhan Bội Châu Những thành viên trẻ hơn của giới ưu tú trí thức Việt có cơ hơn đểnhìn trực tiếp tới phương Tây (và đặc biệt là Pháp) để tìm cảm hứng trong nhữngvấn đề chính trị và văn hoá Cuối cùng, người Việt rút ra từ di sản văn hoá của
chính họ, phần lớn di sản đó là truyền miệng Với những sự xuất bản như Việt nam
phong tục của Phan Kế Bính, họ bắt đầu nhìn nhận “những truyền thống” dân gian
như một nguồn mạch của căn cước Việt và so sánh chúng với những cung cáchphương Tây6 Đây không phải là chỗ để nhìn sâu vào sự đan bện của những mốivăn hoá khác nhau này Tuy nhiên, như tôi sẽ thảo luận sau đây, thập niên 1920 và
1930 đã thấy một chuyển đổi khỏi khối học thuật Đông Á tới khối học thuậtphương Tây và Việt nam Trong tiến trình tái định hướng đó, ý thức Việt hiện đại–hoặc, chính xác hơn, những lối tiếp cận cạnh tranh với tính hiện đại–đã hình thành
Vào năm 1918, ít đàn ông Việt–và thậm chí còn ít đàn bà hơn–có thể đọctiếng Việt (hoặc tiếng Trung, hay tiếng Pháp) trôi chảy Trong những năm từ 1918tới thập niên 1930, Việt nam đã thấy một sự bùng nổ nhỏ về sách báo in trong dạngnhững cuốn sách, sách nhỏ, truyền đơn, và báo chí Một bài báo năm 1934 trên tờ
Phụ nữ tân văn liệt kê 155 tờ nhật báo đã được xuất bản trong nước cho tới ngày
đó, phần lớn từ thập niên 1920 trở đi.7 Một số trong những sách báo in này đã nêu
ra vấn đề về địa vị của đàn bà trong xã hội: như David Marr ghi nhận:
Tới thập niên 1920, “đàn bà và xã hội” đã trở thành một thứ gì đó của mộttiêu điểm quanh đó những đề xuất khác thường xoay quanh Hàng trăm cuốn
ngày sau nên mang tên Ngũ tứ (ND)
5 Công cuộc này do Minh trị Thiên hoàng vào năm 1867 ở Nhật (ND)
6 Sẽ là lí thú để vẽ sơ đồ sự hưng khởi của văn học dân gian Việt nam hiện đại, chẳng hạn, từ Việt
nam phong tục của Phan Kế Bính (1917) qua Việt nam Văn hoá sử cương của Đào Duy Anh
(1938) tới a) những lối tiếp cận hiện hành mang tính dân gian và lịch sử với xã hội Việt–ví dụ như Trần Quốc Vượng; và b) những văn bản Cộng sản cố gắng chiếm hữu “những truyền thống” dân gian qua sự ca tụng về quần chúng.
7 “Báo chí ở nước ta,” trên tờ Phụ nữ tân văn, số ra ngày 18 tháng Một năm 1934, trang 6 Con
số này chắc chắn còn thiếu: một nguồn tin khác liệt kê 158 tờ “cách mạng” được xuất bản từ
1925 tới tháng Sáu 1936 Xin xem Nguyễn Thành, Báo chí cách mạng Việt nam 1925–1945 (Hà
nội, Nxb Khoa học Xã hội, 1984), trang 324–333.
Trang 5sách, sách nhỏ, và các bài báo được xuất bản trên khắp mọi phía Đàn bà trởnên tự ý thức như một nhóm xã hội với những quan tâm, khiếu nại, và yêucầu đặc thù.8
Cùng với sự tăng trưởng trong sản xuất báo chí và sách đọc, một bầu khíquyển công cộng phát triển được định nghĩa bởi sự truyền bá về sự hiểu biết đượcviết và được in Đọc báo chí, sách, và truyền đơn đưa người ta vượt qua thế giớicủa sự tiếp xúc mặt đối mặt và kết nối họ với một cộng đồng độc giả rộng lớn hơn.Bầu khí quyển công cộng này vượt ngoài những trung tâm thành phố lớn Chẳng
hạn, độc giả của tờ Nữ giới chung và tờ Phụ nữ tân văn rải rác ở những phần khác
của Đồng bằng Cửu long và cả nước Hà nội và Sài gòn là những trung tâm chính,nhưng không phải duy nhất của việc sản xuất và tiêu thụ văn bản Những độc giảnày đến từ nhiều bối cảnh đa phức Trong khi một số độc giả là người Pháp vàngười Hoa, thì đa số là người Việt.9 Sự phát triển của bầu khí quyển công cộng này
là một bước quan trọng trong sự tăng trưởng về một cảm thức về cộng đồng, mộtgiai đoạn chuyển tiếp giữa những phong trào địa phương hay những hội kín (chẳng
hạn Thiên địa hội) và sự xuất hiện của những dạng thức có tổ chức khác như chính
đảng hoặc công đoàn
Bầu khí quyển công cộng trong đó công chúng phát tiết những suy nghĩ mởrộng tầm ảnh hưởng của nó bất kể những toan tính do guồng máy thực dân Pháp đểkiểm duyệt chữ in và để ban bố những hạn từ của những tranh luận chính trị và xãhội Như thế, báo chí đã vận động dân chúng tham dự tang lễ năm 1926 của PhanChâu Trinh Bầu khí quyển công cộng này cũng tác động lên những địa hạt hoạtđộng khác Chẳng hạn, trong một cung cách có giới hạn, tiểu thuyết đã mang đàn
bà từ miền Bắc và miền Nam lại với nhau, và giúp họ phát triển những hiểu biếtmới về căn cước của đàn bà Các nhà sư đã dịch những văn bản Phật giáo từ chữNho sang tiếng Việt và bắt đầu xuất bản những tạp chí Phật giáo Những sự xuấtbản này đóng một vai trò chìa khoá trong việc lan truyền tư tưởng Phật giáo và
8 Marr, Truyền thống Việt nam bị thử thách 1920–1945, trang 191.
9 Hầu như không có gì được viết về người Khmer sống ở vùng Đồng bằng Sông Cửu long Họ dường như không viết hay in ấn nhiều bằng tiếng Khmer.
Trang 6trong việc cho một số lớn hơn những người Việt tiếp cận với những tranh luận vềgiáo lí và về vị trí của Phật giáo trong xã hội.10
Một sự tăng trưởng mau chóng trong từ vựng Hán-Việt, đã giúp độc giả mô
tả và phê bình xã hội mới đang định hình, đi kèm việc lan rộng của chữ in Chẳnghạn, trong năm 1918, nhiều quan niệm mà người Việt ngày nay coi là đương nhiên
khi đó còn lạ lẫm với hầu hết những người đọc biết chữ Những từ như chủ nghĩa,
chính phủ, chính sách, xã hội, thuộc địa, và bình quyền “dường như xa lạ cả với
mắt và tai.”11 Một số những từ này đã có những từ Việt tương đương thích hợp,một số từ này giới thiệu những khía cạnh mới của ý nghĩa vào trong tiếng Việt,trong khi những từ khác là những quan niệm hoàn toàn mới Một bài báo trên tờ
Nữ giới chung (1918) ghi đậm sự xa lạ của những quan niệm như thế khi nó cung
cấp những lời giải thích cho nhiều từ ngữ khó
Trong khung cảnh của tờ báo này, điều đánh động độc giả là con số nhữngkhái niệm liên quan tới chính trị nói chung và những quyền của đàn bà nói riêng
mà nghe ra lạ lẫm với hầu hết độc giả năm 1918 Những độc giả này đơn giản phải
vật lộn qua các trang của tờ Nữ giới chung–hoặc những tờ báo khác–để hiểu các
thảo luận về những chủ đề như thế Hơn thế nữa, hầu hết người Việt không biếtmột loạt từ ngữ mà ngày nay chúng ta giả thiết một công chúng biết chữ hẳn phải
10 Để đo lường tầm quan trọng của chữ latinh hoá (quốc ngữ) đối với việc chấn hưng Phật giáo trong thập niên 1920 và thập niên 1930, xin xem nhiều truyền đơn Phật giáo trong Kho lưu trữ Đông dương (Fonds Indochinois), Thư viện Quốc gia (Bibliothèque nationale), Paris Cũng xin
xem Lịch sử Phật giáo Việt nam (Hà nội: Nxb Khoa học Xã hội, 1988), đặc biệt các trang 431–
434 Bất hạnh thay, nguồn tin này biện luận (một cách không thuyết phục) rằng chủ nghĩa cộng sản đã ảnh hưởng đáng kể lên việc chấn hưng Phật giáo từ thập niên 1920!
11 [Vô danh], “Tiểu từ điển”, Đại việt tạp chí 1 (tháng Một năm 1918): trang 102 Từ điển này,
được đăng nhiều kì trong bốn số đầu tiên của tạp chí, liệt kê khoảng chừng 350 từ mới hoặc lạ
lẫm Cũng xin xem một số tiểu luận trong những số đầu tiên của tờ Nữ giới chung, đã có cước
chú với những lời giải thích cho những từ chưa quen Để có một cảnh quan chung về chủ đề của
sự thay đổi trong ngôn ngữ, xin xem chương xuất sắc của David Marr (“Ngôn ngữ và sự biết
chữ”) trong Truyền thống Việt nam bị thử thách 1920–1945.
Một số từ ngữ mới đã giới thiệu vào trong ngôn ngữ được đặt ra hoặc được cho những nghĩa hiện đại bởi người Nhật, được tái giới thiệu vào trong chữ Nho, và rồi được đưa vào tiếng Việt.
Trang 7biết–những từ như xuất bản hoặc đoạn văn 12 Chỉ hơn mười năm sau, tình hìnhnày đã thay đổi một cách triệt để Bây giờ các nhà báo thường sử dụng nhiều kháiniệm đồng nhất, trước đây từng nghe ra xa lạ, để mô tả xã hội, phê bình chính phủ,
và tranh đấu cho những quyền của đàn bà Nhà nước thực dân khuyến khích tiếntrình này bằng cách giúp phổ biến một từ vựng chính trị Quan trọng hơn, Việt namđang phát triển một “văn hoá in ấn” phần nào tự chủ với nhà nước thực dân, vànhiều từ ngữ Hán-Việt mới được chiếm hữu đã chứng tỏ hữu ích trong thuyết ngôn
công cộng Các nhà văn đã làm đầy tờ Phụ nữ tân văn với những bài báo có cách
hành văn trong sáng để thảo luận bình quyền và vai trò của đàn bà trong xã hội.Mười năm trước đó, độc giả (và thính giả) hẳn phải thấy những tiểu luận như thếtăm tối
Sự tăng trưởng đột ngột của một từ vựng Hán-Việt hiện đại và của sách báo
in không nên làm chúng ta không thấy tầm mức hạn chế của những sự phát triểnnày Giai cấp, giới tính, và địa lí vẫn thu hẹp việc biết chữ Trong những năm đôi
mươi của thế kỉ này, việc sử dụng chữ latinh hoá [quốc ngữ] là phổ biến nhất trong
hành chính, mặc dầu tình hình này đang thay đổi vì ngày càng nhiều người đi họcđọc bằng tiếng Việt và tiếng Pháp Trong khi ít người Việt là độc giả thông thạo
của quốc ngữ, nhiều người bị tác động bởi việc sử dụng nó (chẳng hạn, trong việc
ghi chép văn tự mua bán đất đai, bằng cách nghe những tài liệu và báo chí đượcđọc lớn tiếng lên, và qua việc sử dụng ngày càng tăng bởi tín đồ Cao đài và Phậttử) Như thế chúng ta phải gia giảm với những tác giả hàm ý rằng vì quá ít người
Việt biết chữ, quốc ngữ không thể có tác động đáng kể lên xã hội Việt cho tới khi
chiến dịch xoá mù chữ được thực thi từ cuối thập niên 1930 tới 1946 Sự xác quyết
đó không có cơ sở trong nghiên cứu mang tính thuyết phục
Chúng ta có thể thiết lập những kết nối thử nghiệm giữa sự phát triển củamột “văn hoá in ấn” và sự hưng khởi của một giới tư sản bản địa Trong nghiêncứu mẫu mực của ông về những giai cấp xã hội ở Việt nam, Dumarest biện luậnrằng “những chi phí đa phức trình ra cả sự xa hoa–chắc chắn, khá khiêm tốn–và sự
Âu hoá tăng trưởng của giới tiểu tư sản; anh ta bỏ rơi nhà hát An nam cho các rạp
12 Như trên.
Trang 8chiếu bong; anh ta hút thuốc và đọc báo chí.”13 Dựa trên giới tiểu tư sản này,Dumarest đặt một “giới tư sản có tiền” thường chiếm được tiền tài từ đất đai, vàmột “giới tư sản trí thức.” Trong cuối thập niên 1920 và thập niên 1930, những giaicấp này tạo thành quan chúng chính của chữ in Họ cũng theo sau sát nhất nhữngtrào lưu phương Tây: thực sự, Dumarest biện luận rằng kẻ nào thuộc giai cấp càngcao, thì kẻ đó càng có cơ sao chép những tập quán ăn mặc của châu Âu.14 Chữ inphục vụ như một đại lộ chính của truyền thông cho những giai cấp này Những bàibáo được chiều theo những mối quan tâm của tư sản và tiểu tư sản, và nhữngquảng cáo hiện đại cố gắng đề cao những thị kiến mới trong mọi thứ từ xe hơi chotới thuốc lá và kem bôi mặt.
Những quan sát này về những sự phát triển trong văn hoá in ấn của thập niên
1920 và 1930 cho chúng ta một khung cảnh để đánh giáo hai tờ báo Nữ giới chung (1918) và Phụ nữ tân văn (1929–1934) Dựa trên những nội dung của chúng,
dường như giới đàn bà ưu tú là những độc giả chính của cả hai tờ báo này Sự khái
quát hoá này áp dụng nhiều cho tờ Nữ giới chung hơn là tờ Phụ nữ tân văn, vì tờ
báo sau phủ lại một màng lưới rộng hơn về những chủ đề xã hội, chính trị, văn hoá.Mặc dầu một số độc giả đóng góp bài từ những thị trấn tỉnh lẻ trong vùng Đồng
bằng Sông cửu long, Phnom Penh, và Hà nội, giới độc giả của tờ Nữ giới chung tuyệt đại đa số căn bản sống ở Sài gòn Đối lại, giới độc giả của tờ Phụ nữ tân văn,
mặc dầu tập trung ở Sài gòn và vùng Đồng bằng Sông cửu long, về phạm vi thìrộng lớn hơn và mang tính toàn quốc hơn Đối với một phạm vi lớn hơn nhiều so
với tờ đi trước, Phụ nữ tân văn phục vụ để kết hợp đàn bà trên khắp miền Nam như một cộng đồng độc giả Trong khi Nữ giới chung tồn tại chưa đến một năm, lại khó đọc, và không có cơ hội để thiết lập một giới độc giả trung thành, Phụ nữ tân văn
kéo dài khoảng năm năm, thiết lập được một mạng lưới phát hành lớn hơn nhiều,
và sử dụng tiếng Việt đơn giản trong nhiều bài báo của nó
Trong việc đọc hai tờ báo này để nghiên cứu, tôi không giả định một sự trọnvẹn cho mỗi văn bản mà tôi đã gặp Những sự biện luận mảnh mún, không định
13 André Dumarest, Sự hình thành những giai cấp xã hội ở xứ An nam (Formation de classes
socials en pays annamite; Lyon: Nxb Ferreol, 1935), trang 234.
14 Như trên, trang 201.
Trang 9hình bởi và về đàn bà nương náu trên các trang mạng lớn hơn về những thực hànhvăn hoá và những tranh luận xã hội Khi đọc những văn bản này, chúng ta phải giữ
trong trí rằng chúng được in, và như vậy được chiếm hữu và truyền tải trong những
cung cách chuyên biệt Hơn thế nữa, với những thay đổi lớn trong ngôn ngữ Việt,những quan niệm cá thể thường thiếu vắng những nghĩa cố định Những nghĩa vănbản thì không “thấu suốt.” Những phương tiện truyền thông đã mang tới và đóngkhung những văn bản này để tác động sự tiếp nhận chúng Gerard Génette đã viếtrằng cái cận văn bản–tức là tựa đề, phụ đề, những quảng cáo, “và những loại tínhiệu phụ thêm khác… cho văn bản một cái khung (biến thiên) và thỉnh thoảng mộtlời bình luận.”15Nhiều tín hiệu cận văn bản như thế đóng khung những văn bản vào
tờ Nữ giới chung và tờ Phụ nữ tân văn.
Đọc những văn bản này là một hành vi của kích động về phần độc giả màngày nay chúng ta có chiều hướng quên đi mất: sống trong những xã hội biết chữcao độ như Việt nam, Pháp, và Mĩ ngày nay, chúng ta có khuynh hướng coi việcđọc và viết là đương nhiên
Thế giới của độc giả
Độc giả Việt mang những chuyện đời đặc thù, những phong cách đọc, những
kĩ năng thông giải và những nhận thức về quyền lực của chữ viết và chữ in tới chonhững văn bản Bất hạnh thay, những học giả khi phân tích những văn bản Việt đãkhông thảo luận việc đọc hay mối quan hệ độc giả-văn bản Họ đã giả thiết rằngtrong quá khứ người Việt đọc những văn bản này trong cùng kiểu như người Việt,người châu Âu, và người Hoa kì ngày nay Tiết mục này sẽ thảo luận vấn đề vềviệc đọc và chuyên biệt hơn, cung cách mà đàn bà Việt tiếp cận những văn bản
Trong hai mươi năm vừa qua, nhiều nhà lí thuyết văn học và một ít sử giaphương Tây đã chuyển đổi sự chú ý của họ từ một tiêu điểm chuyên biệt vào vănbản như chốn của ý nghĩa tới một sự tiếp cận nhấn mạnh mối quan hệ độc giả-văn
15 Gérard Genette, Dấu thuỷ ấn: văn học bình phương (Palimpsestes: la littérapture au second
degree, Paris, 1982), trang 9.
Trang 10bản.16 Chartier, người tôi đã đề cập, biện luận rằng “một lịch sử về những phongcách đọc phải vạch ra những thiên hướng chuyên biệt đánh dấu những cộng đồngđộc giả và những truyền thống về việc đọc của họ” và những thứ này, khi khuếchtrương, cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự thiết dựng về ý nghĩa văn bản.17
Trong khung cảnh thuộc địa, sự chuyển đổi hướng tới độc giả hình thànhmột phần của một mối quan tâm rộng hơn trong những cung cách mà những quanchúng (dù là độc giả, thính giả, hoặc người quan sát) hiểu những văn bản và nhữngcách trình bày.18 Trong trường hợp Việt nam, nó tập trung quan tâm vào vai trò tíchcực mà người Việt đã chiếm hữu những ảnh hưởng từ nước ngoài Hiểu những ảnhhưởng về văn học và hệ tư tưởng trong khung cảnh nguyên thuỷ của chúng khôngnhất thiết giúp chúng ta hiểu cung cách mà người Việt đã đổi kiểu ý nghĩa củachúng trong một khung cảnh khác triệt để Chúng ta cần hiểu không chỉ những ýnghĩa vốn có trong những văn bản khác nhau mà cái tác dụng một “chân trời mong
16 Ba nhà đề xướng hàng đầu về một sự phê bình “hướng tới quan chúng” hơn là Wolfgang Iser, Hans Robert Jauss, và Stanley Fish Để tìm đọc lối tiếp cận hiện tượng luận của Iser, mĩ học lịch
sử về tiếp nhận của Jauss, và sự phát triển về khái niệm “những cộng đồng thông giải” (hay những cộng đồng chia sẻ những quy ước đọc) của Fish, xin xem Wolfgang Iser, “Tiến trình đọc:
một lối tiếp cận hiện tượng luận”, trong Phê bình: độc giả-đáp ứng: Từ chủ nghĩa hình thức tới
hậu cấu trúc (Reader-Respone: Criticism: From Formalism to Poststructuralism), biên tập Jane
Tompkins (Baltimore: Ấn quán Đại học Johns Hopkins, 1980), trang 50–69; tiểu luận thường được trích dẫn của Hans Robert Jauss, “Lịch sử văn học như một thách thức với lí thuyết văn
học,” trong tác phẩm của ông là Hướng tới một mĩ học về tiếp nhận/ Towards an Aesthetic of Reception (Minneapolis: Ấn quán Đại học Minnesota, 1982), trang 3–45; Stanley Fish, Có một
văn bản trong lớp này không?: Quyền uy của những cộng đồng thông giải/ Is There a Text in This Class?: The Authority of Interpretive Communities (Cambridge: Ấn quán Đại học Harvard,
1980).
17 Roger Chartier, “Thế giới như đại diện”, trang 1510.
18 Một cách tiếp cận như thế cộng hưởng với những nghiên cứu sử gần đây bởi Vincente Rafael
và Takashi đã nhấn mạnh những cung cách mà người bản địa đã chiếm hữu những ảnh hưởng
bên ngoài qua “sự phiên dịch.” Xin xem Vicente Rafael, Khế ước với chủ nghĩa thực dân: Phiên
dịch và cải đạo Kitô ở Xã hội Tagalog dưới sự cai trị của Tây ban nha thời kì đầu/ Contracting Colonialism: Translation and Christian Conversion in Tagalog Society Under Early Spanish Rule (Ithaca: Ấn quán Đại học Cornell, 1988), và Takashi Shiraishi, Một thời đại chuyển động/
An Age in Motion (Ithaca: Ấn quán Đại học Cornell, 1990).
Trang 11đợi”19 khác–chẳng hạn, một kỉ nguyên lịch sử khác và những quy ước hệ tư tưởng
và mĩ học của nó–có trên sự hiểu biết về tác phẩm (Chẳng hạn, chúng ta có thểlương thiện nói rằng sự tán dương của Chủ nghĩa Lãng mạn về cá nhân được hiểutrong cùng cung cách ở Paris thế kỉ 19 và Sài gòn thế kỉ 20 không? Ý tưởng nàynghe ra lố lăng.) Mặc dầu chúng ta không thể biện luận một cách máy móc rằngphân cách xã hội quyết định sự hiểu biết về những văn bản, cũng đúng không kémphần là giới tính và cấp bậc xã hội tác động lên việc đọc và sự tiếp nhận sách báo
in Nói như thế rồi, và mặc dầu trong nhiều trường hợp người đọc đọc lớn chonhững người khác trong một nhóm, tiêu điểm những nhận xét của tôi trong nhữngđoạn tiếp theo là về độc giả cá thể (Kinh nghiệm lắng nghe của nhóm–dù là trongmột khung cảnh nghi lễ hay trong một khung cảnh người nghe có thể chất vấn vớingười đọc–giúp truyền đạt những ý tưởng vượt xa con số nhỏ nhoi những ngườibiết chữ.)
Từ năm 1918 tới thập niên 1930, thế giới của độc giả Việt thay đổi một cáchsâu xa Sự hưng khởi của văn hoá in ấn có tác dụng lớn nhất lên–nhưng không bịgiới hạn vào–giới ưu tú của các thành phố Tôi tò mò một cách riêng về những độcgiả nữ, hợp thành quan chúng chính của hai tờ báo mà tôi sẽ thảo luận sâu sau đây.Đối với đàn bà biết đọc và đầy đủ tiền để mua sách báo in, báo chí và sách mở ramột thế giới rộng lớn hơn Tri thức và những kĩ năng thông giải họ mang tới nhữngvăn bản đóng một vai trò quan trọng trong việc cấu trúc hiểu biết của họ về chữ in
Trước tiên để hiểu đàn bà như độc giả và nhà văn chúng ta cần nắm vững vàinét chủ chốt về địa vị của họ trong xã hội Những vai trò giới tính đã tiến hoá từ
1918 đến 1934, nhưng ở cả hai thời điểm đàn bà giới ưu tú cầm giữ quyền uy lớnhơn nhiều trong nhà so với trong công cộng Năm 1918, Sương Nguyệt Anh20 bình
19 Trên hai thập kỉ trước đây, Hans Robert Jauss đề cấp tới vấn đề về những mong đợi thay đổi về phần độc giả và chúng tác động lên sự tiếp nhận về một văn bản ra sao Mĩ học về tiếp nhận của Jauss toan tính cung cấp một cơ sở lí thuyết cho những sự hiểu biết lịch sử khác nhau về một tác phẩm được cho, biện luận rằng những tiếp nhận khác bị điều kiện hoá bởi “những chân trời
mong đợi” khác về phần độc giả Xin xem tuyển tập tiểu luận của Hans Robert Jauss, Hướng tới
một mĩ học về tiếp nhận.
20 Con gái Nguyễn Đình Chiểu, goá chồng, đứng ra làm tờ báo đầu tiên của đàn bà lấy tên là Nữ
giới chung Tên thật của bà là Nguyệt Anh, Sương có nghĩa là goá chồng Ở Sài gòn, ngay tại
Trang 12luận rằng “đàn bà như một ngọn đèn: trong nhà họ chiếu sáng rực rỡ, nếu bị đưa rađường họ nhạt nhoà đi….”21 Sự tương phản biểu tượng giữa đàn bà/mái nhà: đànông/công cộng đã khuôn đúc sự phát triển về việc đọc và viết của đàn bà Nó tácđộng lên mọi thứ từ những loại sách mà các tác giả viết cho đàn bà tới những chủ
đề nào mà đàn bà nghĩ họ có thể thảo luận Chẳng hạn, Sương Nguyệt Anh phátbiểu rằng tờ báo của bà, trong khi đưa ra vấn đề về sự giáo dục của đàn bà, “sẽkhông dám chen vào chính trị, và cũng không liều lĩnh cạnh tranh với đàn ông.”22Tới thập niên 1930, đàn bà ít dè dặt hơn nhiều để đề cập những chủ đề chính trị vàdấn vào việc thảo luận về những đề xuất công cộng Tuy nhiên, nhiều đàn ông nhìn
họ như những kẻ đột nhập vào thế giới báo chí do đàn ông thống trị Thậm chí
trong thập niên 1930, những nhà biên tập của tờ Phụ nữ tân văn thỉnh thoảng phải
tự vệ chống lại những nhà báo nam có khuynh hướng chế nhạo nữ quyền của họ
Khi một bỉnh bút của tờ Phụ nữ tân văn tiếp tục vòng nói chuyện trong năm 1934
để đề cao nữ quyền (và tờ báo mà cô phục vụ luôn thể), một số phóng viên chấtvấn đạo đức của cô Hoàn toàn rõ ràng, đàn bà đã làm những bước tiến kể từ năm
1918, nhưng họ vẫn bị coi như những ngọn đèn tốt nhất là chiếu sáng trong nhà.Tóm lại, bầu khí quyển công cộng đã bị giới tính hoá từ năm 1918 tới 1934, và tìnhhuống này chỉ đang thay đổi một cách chậm chạp
Chủ nghĩa báo chí của đàn bà đã đối mặt với một trở ngại lớn hơn: ít đàn bàViệt có thể đọc Họ có thể thường thuộc về giới ưu tú–mặc dầu một số đàn bànghèo cũng học được kĩ năng này23 Việc học đọc thì lí thú–nếu thỉnh thoảng cũng
Quận 1, có con đường mang tên bà suốt từ 1954 tới nay vẫn bị ghi sai là Sương Nguyệt Ánh (ND)
21 Sương Nguyệt Anh, “Nghĩa nam-nữ bình quyền là gì?”, Nữ giới chung, số ra ngày 22 tháng 2,
1918, trang 2.
22 Sương Nguyệt Anh, “Lời tựa đầu”, Nữ giới chung, số ra ngày 1 tháng 2, 1918, trang 2.
23 Một ví dụ thú vị là Nguyễn Thị Thập, sinh năm 1908, sau này trở thành chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt nam Trong những hồi kí của mình bà đã viết rằng khi còn là một đứa trẻ:
Tôi say sưa đọc Mỗi lúc tôi mang thúng chuối, hay trầu cau, tới chợ bán, tôi không dám
ăn quá nhiều bánh: tôi muốn dành tiền mua sách để đọc Những cuốn sách nhỏ và mỏng,
như Võ đông sơ, Bạch thu hà; Vì nước hoa rơi; Giọt máu chung tình; và vân vân Tôi đọc
đi đọc lại chúng–Tôi chẳng bao giờ chán chúng cả.
Trang 13gây bối rối Tuyết Mai bày tỏ tốt đẹp những cảm xúc này khi cô chia sẻ những kinh
nghiệm về việc đọc lần đầu của mình với một quan chúng độc giả tờ Nam phong:
Tôi đã nghiên cứu trong một thời gian dài nhưng chỉ đúng khi bắt đầu học
quốc ngữ… Cho tới lúc đó đó tôi chỉ từng học tiếng Pháp Mặc dầu quốc ngữ được dạy trong trường, người ta chỉ được học nó một lần một tuần, và
một trong những lần đó cũng là giờ chúng tôi đùa chơi
Tôi nghĩ về việc quốc ngữ quý báu đối với chúng ta ra sao, thiết yếu thế nào,
tuy vậy chúng tôi chỉ có một giờ mỗi tuần để học nó Cái giờ đó bị coithường với sự khinh bỉ Tôi vẫn tự hỏi tại sao Khi tôi suy nghĩ về tình huốngnày, tôi cảm thấy chán ngán… Tôi thấy trống rỗng trong lòng Tôi vẫn tựhỏi sao chữ viết phương Tây có thể quá được tôn trọng trong khi chữ viếtcủa chính chúng ta lại quá bị coi khinh!
… Tôi quá may mắn vì thầy của tôi nhấn mạnh, trong cách nghĩ của ông,
tràn đầy âu lo, để dạy chúng tôi quốc ngữ Giờ đây giờ dạy quốc ngữ đã trở
thành quan trọng và quý giá, và không lâu nữa nó không còn bị thờ ơ nhưtrong quá khứ Tôi tràn ngập vui thích và xúc động Vì vậy tôi bắt đầu học
quốc ngữ.24
Tôi mong muốn tô đậm vài điểm về đoạn này Người đọc bị gây ấn tượng
bởi quốc ngữ được nhìn nhận quý báu ra sao đối với Tuyết Mai Cùng lúc, nhà văn của đoạn tiểu luận này cảm thấy rằng người Pháp nhìn quốc ngữ như thấp kém hơn
so với chữ viết của họ Thực sự, nhiều người Việt cảm thấy rằng ngôn ngữ của họthì thấp kém hơn so với tiếng Pháp Trong một bài báo năm 1934, nhà báo NguyễnThị Kiêm25 đề cập rằng bà đã hỏi vài đàn bà giới ưu tú tại sao họ không bao giờ sử
Nguyễn Thị Thập, Từ đất Tiền giang ( chấp bút: Đoàn Giỏi) (Thành phố Hồ Chí Minh: Nxb Văn
nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 1986).
24 Tuyết Mai, “Bông hoa đầu mùa,” Nam phong 118 (tháng Bảy 1927), trang 526.
25 Tức Manh Manh nữ sĩ (1914–2005), vào ngày 10/3/1932 khi Phan Khôi đề xướng thơ Mới, Manh Manh ủng hộ, hưởng ứng bằng việc gửi thơ đăng trên tờ Phụ nữ tân văn Sau đó, nữ sĩ còn đăng đàn diễn thuyết vổ vũ cho phong trào này (khi ấy bà mới 18 tuổi) Trong khi những danh sĩ như Tản Đà cật lực chống đối (ND)
Trang 14dụng “ngôn ngữ Annam” hoặc đọc sách viết bằng quốc ngữ; họ trả lời rằng “tiếng
Annam khó hiểu; nó không rõ ràng chút nào!”26 Sự nhận thức về việc thấp kémhơn của ngôn ngữ có một ảnh hưởng sâu đậm và lâu dài lên những cung cách màgiới ưu tú Việt kết nối việc đọc với sự thống trị thực dân
Độc giả nữ không mang những lịch sử đời sống và tri thức nền tảng tới vănbản giống như đàn ông Vị thế này dẫn tới các bài báo giải thích việc đọc là gì và
nó được làm ra sao–mỉa mai của những sự mỉa mai, bởi cung cách chính mà nhữngbài báo có thể được hiểu là qua việc đọc chúng! Viết trong năm 1933, một tác giả
kí những bài báo của cô (anh?) là “T.V.” chỉ ra rằng
đọc không phải đơn giản là cách mở bất cứ cuốn sách nào ra, đặt mắt trên
nó, và nghĩ về nó Việc đọc cũng đòi hỏi việc sử dụng một phương pháp
… tất cả sách có một tổ chức, nghĩa là có một sự khởi đầu và một kết thúc.Người ta nên đọc từ chương đầu tới chương cuối Đừng nhảy lung tung khiđọc Và đừng đọc nửa chừng, và rồi quay lại từ đầu
Còn về những sách không có tổ chức, thì người ta chắc chắn không phải đọcchúng trong cung cách như thế Chẳng có gì khác biệt dù là bạn muốn đọcnửa cuốn, hoặc nửa đoạn Chẳng hạn, trong một tuyển tập thơ, bút kí, hoặctập truyện ngắn, không có một lí do bó buộc nào để đọc từ đầu tới cuối cả.27Lời khuyên này dường như hiển nhiên với chúng ta–nhưng nó trình ra rằng nhiềuđộc giả đã không làm chủ cái họ xem như là những thực hành căn bản Tác giả tiếptục chỉ ra rằng những thể loại khác nhau của sách báo đòi hỏi những phương phápkhác nhau Thơ và ca khúc nên được học thuộc lòng, trong khi triết học và khoahọc nên được đọc những ý tưởng chính Khi đọc những sách xưa, người ta nên nỗlực hiểu chúng với đôi mắt của người thuộc thời đó.28
26 Nguyễn Thị Kiêm, “Sự học và việc làm của phụ nữ”, Phụ nữ tân văn, số ra ngày 15 tháng Ba,
1934, trang 5.
27 T.V., “Câu chuyện đọc sách”, Phụ nữ tân văn, số ra ngày 21 tháng Chạp, 1933, trang 5.
28 Như trên.
Trang 15Từ những câu trích dẫn trước, chúng ta có một cảm thức rằng việc đọc vừađược yêu dấu vừa được thực hiện có phương pháp Độc giả cũng nhận biết rằng nó
có một chiều kích đạo đức Trong một bài báo Nam phong 1930, một nữ sĩ nổi
tiếng từ Hà tiên, là Mộng Tuyết, đã xác quyết rằng
Bằng việc đọc sách chúng ta có thể mở mang trí hoá, hiểu biết quá khứ vàhiện tại, thấy được những điều quan tâm và học chúng, và cảnh giác vềnhững thứ tầm thường Thông qua việc đọc một người ngu ngốc có thể trởthành khôn ngoan Sự minh triết như thế là đạo đức và thành thực, và khácvới sự tinh ma và tính lường gạt của người vô học.29
Câu trích dẫn ở trên thì thuộc giới ưu tú và có đạo đức một cách khuôn sáo.Mặc dầu do một người đàn bà viết, nó có thể đã tới từ cây bút của một người đànông Nhưng đàn bà hẳn xem rằng việc đọc và việc học phục vụ những chức năngkhác nhau cho đàn ông và đàn bà Ngày càng, thay vì xử sự như người tiêu dùng bịđộng của chữ viết và chữ in, đàn bà xem việc đọc trong hạn từ về những quyền lợi
với bản thân họ Tới năm 1933, một bài xã thuyết trên tờ Phụ nữ tân văn hô hào
đàn bà đọc sách từ một quan điểm phụ nữ: “khi các bạn gặp một cuốn sách hoặc tờ
báo, hãy tự hỏi: [nó]… hỗ trợ hay làm hại quyền lợi của chúng ta, [những quyền lợi của] phong trào phụ nữ?30 Thái độ này có thể đã là một phản ứng với sự kiệnrằng hầu hết sách báo in đều nhắm vào đàn ông
Từ năm 1918 tới thập niên 1930, việc đọc nói chung làm tròn những chứcnăng mô phạm hoặc mang lại thành tích Những văn bản thường mô tả việc đọcnhư một hoạt động của đàn ông Tuy nhiên, những nhà văn nam thỉnh thoảngkhuyến khích đàn bà đọc, chính bởi vì những hiệu quả tốt khả dĩ của nó, nhưng họphát ra một thông điệp hàm hồ bởi sự cảnh báo về những nguy cơ của việc đọc.Chẳng hạn, một người bình luận nam biện luận một cách chống chế rằng nói chunggiáo dục giúp đỡ đàn bà kiềm chế dục tình của họ, trong khi một bình luận namkhác khác nhắc nhở độc giả rằng vài thiếu nữ đã tự tử ở Hà nội sau khi đọc những
29 Mộng Tuyết, “Bông hoa đua nở”, Nam Phong 146 (tháng Một, 1930), trang 11.
30 Bài xã thuyết, “Chị em ta đối với báo chí và sách vở”, Phụ nữ tân văn, số ra 22 tháng Sáu,
1933, trang 2 In nghiêng theo nguyên văn.
Trang 16cuốn sách độc hại.31 Sự hiểu biết đạo đức này về việc đọc, tốt nhất thì vẫn hàm hồtrong thông điệp của nó, đang thay đổi chậm chạp Những bài viết của SươngNguyệt Anh và Mộng Tuyết chỉ ra rằng việc đọc có thể phát triển cả đạo đức vàluôn trí tuệ của đàn bà Đến thập niên 1920 và 1930, lời kêu gọi đàn bà hãy có giáodục và học đọc thì thông thường, dù cho những kết quả vẫn chỉ là sơ sài.
Trong các trang của tờ Nữ giới chung và Phụ nữ tân văn và luôn cả những tờ
báo khác, vai trò đạo đức của việc đọc và việc viết thường được nhấn mạnh cùnglúc rằng việc đọc ngày càng ít bị xem như một hoạt động bị giới tính Hơn nữa,trong khi dường như có sự đồng ý về nhu cầu đạo đức, không có đồng thuận nào
về một đạo đức như thế phải ra sao Kết quả là sự hỗn mang, khi các nhà văn cốgắng tạo nghĩa cho những ảnh hưởng phương Tây, Trung quốc, và Việt nam lên xãhội Việt và phác hoạ một dòng chảy hiện đại–nhưng mang tính Việt nam
Các trang của tờ Nữ giới chung, 1918
Nữ giới chung là tờ báo của đàn bà đầu tiên ở Việt nam Sương Nguyệt Anh
(?–1921)–một nữ nhà thơ trứ danh, một quả phụ, và là con gái thứ năm của nhà áiquốc miền Nam Nguyễn Đình Chiểu–đảm nhiệm việc biên tập và xin bài đăng báotrong năm 1918 Đầu tiên, dường như Sương Nguyệt Anh muốn tờ báo đề cao đạođức Nho giáo và nuôi dưỡng một cảm thức về cộng đồng giữa những độc giả bêntrong khuôn khổ của sự hợp tác Pháp–Việt Chẳng hạn, bà viết rằng nước Pháp làmột “người mẹ nuôi dưỡng yêu thương chúng ta như cô con gái út.” 32 Tuy nhiên,những ấn tượng ban đầu làm lạc hướng Trong mục này tôi sẽ thảo luận cung cáchnhững nhà bình bút của tờ báo xử sự như những người bênh vực cho đàn bà, trướchết bằng việc thúc đẩy nữ học và rồi cẩn trọng cứu xét những ý tưởng về nam nữbình quyền và nữ quyền.33
31 Thiếu Sơn, “Sự học và đàn bà”, Phụ nữ tân văn, số ra ngày 7 tháng Chín, 1993, trang 8; T.V.,
“Câu chuyện đọc sách,” Phụ nữ tân văn, số ra ngày 21 tháng Chạp, 1933, trang 6.
32 T.V., “Câu chuyện đọc sách,” trang 2.
33 “Quyền” có nghĩa là “quyền lợi, sức mạnh, và quyền uy” có một phạm vi ngữ nghĩa học khác
so với “những quyền” của người Anh Hơn nữa, nữ quyền được tranh luận trong khung cảnh
Trang 17Trong số báo đầu tiên, Sương Nguyệt Anh đề ra quan điểm của bà về vai tròcủa một tờ báo phụ nữ:
Khi tờ báo này xuất hiện ngày nay, mục đích thiết yếu nhất của nó là đưa rasáng kiến về nữ học [Nó] sẽ không dám chen vào trong chính trị, cũng sẽkhông dám kiêu ngạo cạnh tranh với đàn ông.34
E rằng lời phát biểu này đã bị hiểu sai, Sương Nguyệt Anh đã làm sáng tỏ quanđiểm của bà thêm nữa, phát biểu rằng tờ báo sẽ không thảo luận về nữ quyềnnhưng tập trung vào nữ học: một chủ đề bao gồm mọi thứ từ việc đọc sách tới nuôidưỡng tứ đức: công, dung, ngôn, và hạnh.35 Cũng trong bài xã thuyết đó, bà chorằng nhu cầu là để “bày tỏ sự sáng nghĩa về chủng tộc, gắn kết với nhau làm mộtBắc, Trung, Nam, [và] xây dựng một cộng đồng lớn.”36
Nhiều thành viên của giới ưu tú tán dương sự hợp tác Pháp–Việt, và vạchđến một vài lãnh vực trong đó người Pháp đã thi triển ảnh hưởng của họ lên đờisống của đàn bà Một ít người than thở sự thiếu sót về tiến bộ tổng quát của đàn bà
Vài nhà bỉnh bút của tờ Nữ giới chung xem việc nữ học như một ưu tiên rõ ràng và
ít nhìn thấy lí do để không giáo dục đàn bà Thậm chí Nguyễn Mạnh Bổng (viếtdưới một trong những bút danh nữ của ông, là Nguyễn Song Kim) phát biểu, “sựthông minh của đàn bà nước ta thì chẳng thua gì đàn ông.”37 Nhưng đàn bà phải đốimặt với vô số chướng ngại Thứ nhất, các nhà bỉnh báo xác quyết, đàn bà không
quyền đầu phiếu của đàn bà ở phương Tây, một đề xuất có tầm quan trọng ngoại vi ở Việt nam.
Vì thế đàn bà Việt hiểu “nữ quyền” ít hơn trong những hạn từ về đầu phiếu so với trong xã hội và văn hoá.
34 Sương Nguyệt Anh, “Lời tựa đầu,” trang 1.
35 Như trên.
36 Như trên., trang 3.
37Nguyễn Song Kim, (tức Nguyễn Mạnh Bổng), “Việc nữ học”, Nữ giới chung, số ra ngày 19
tháng Bảy, 1918, trang 3 Những nhà bỉnh bút khác đã lặp lại cảm giác này Về những bút danh của Nguyễn Mạnh Bổng, xin xem Phạm Thị Ngoạn, “Dẫn nhập vào tạp chí Nam phong (1917–
1934)”/ Introduction au Nam phong (1917–1934), Tạp chí của Hội Nghiên cứu Đông dương bộ
48, số 2–3, (Quý 2–3 năm 1973), trang 239, 403.
Trang 18được coi trọng nhiều như đàn ông Thứ hai, đàn bà không thể tìm thấy những cuốnsách phù hợp:
như ai cũng biết những cuốn sách xưa về việc giáo huấn đàn bà con gái–ngoại trừ những tác phẩm về luân lí–chắc chắn ngày nay không phù hợp.Thế giới xưa là một thế giới riêng của đờn ông trong khi thế giới ngày nayđược chia sẻ với đờn bà.38
Sương Nguyệt Anh cũng chỉ luôn rằng trong hiện tại, có ít sách chữ Nho hay tiếngPháp phù hợp cho đàn bà con gái.39
Trong hoàn cảnh này, những nhà báo của tờ Nữ giới chung đã tranh luận chủ
đề về bình quyền của phụ nữ xen với chủ đề về nữ học trong một cung cách lạlùng Một mặt, nữ học dường như là một mục đích cụ thể có thể đo lường đượctrong hạn từ về số sách cho đàn bà, số nữ sinh, và những thước đo có thể địnhlượng khác Đối lại, bình quyền của phụ nữ thì mơ hồ hơn: những nhà bỉnh bút của
tờ Nữ giới chung khó khăn để xác định ý nghĩa của khái niệm này Trong số báo
đầu tiên, Sương Nguyệt Anh đã phát biểu rằng tờ báo sẽ không thảo luận những đềxuất Bà mau chóng phá huỷ lời hứa Sau khi chính bà viết về chủ đề này, các nhàbỉnh báo khác cũng tham gia cuộc thảo luận
Những người viết trong tờ Nữ giới chung tránh né những hàm ý chính trị của
khái niệm về bình quyền và tập trung vào ý nghĩa văn hoá đối với xã hội về sự bìnhquyền giữa các giới Những người viết này, nhiều người có một căn cước bị khuônđúc bởi những khái niệm về những hệ cấp “tự nhiên” giữa các nhóm xã hội và cácgiới tính, tranh đấu để thanh thoả với những khái niệm về bình đẳng và bình quyền
và mò mẫm giải thích những quan niệm này với độc giả của họ
Trong một tiểu luận sớm, Sương Nguyệt Anh phát biểu rằng bình quyền cónghĩa “rằng đàn bà có cùng những quyền lợi như đàn ông….”40 Sương Nguyệt Anhkhông ôm lấy cái nhìn này về bình đẳng Như những nhà nữ quyền phương Tây, bà
38 Sương Nguyệt Anh, “Xã thuyết – Bàn về sách dạy đờn bà”, Nữ giới chung, số ra ngày 4 tháng
Tư, 1918, trang 1.
39 Như trên.