1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

NGHIEN CU v GIAO DC DO DC

72 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh Hưởng Của Kinh Tế Thị Trường Đến Nhân Cách Đạo Đức Của Sinh Viên Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Tác giả Nguyễn Hữu Quyết, Nguyễn Thị Thúy
Người hướng dẫn ThS. Nguyễn Thị Hạnh
Trường học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Chuyên ngành Giáo dục công dân
Thể loại đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂNNGUYỄN HỮU QUYẾT NGUYỄN THỊ THÚY ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NHÂN CÁCH ĐẠO ĐỨ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - GIÁO DỤC CÔNG DÂN

NGUYỄN HỮU QUYẾT NGUYỄN THỊ THÚY

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

“ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN NHÂN CÁCH ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI”

Chuyên ngành: Giáo dục công dân NGƯỜI HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN THỊ HẠNH

Hà Nội, 2018

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

Đề tài nghiên cứu “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cách

đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” là kết quả của quá

trình nghiên cứu nghiêm túc và thể hiện sự đầu tư, tâm huyết của nhóm tác giả.Nhóm tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Thạc sĩ Nguyễn ThịHạnh, giảng viên khoa Lý luận chính trị - Giáo dục công dân đã tận tình giúp

đỡ, theo sát và hướng dẫn trong suốt quá trình thực hiện đề tài này

Trong quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ từphía các bạn sinh viên đến từ các khoa khác nhau trong trường Đại học Sưphạm Hà Nội đã tận tình giúp đỡ và hỗ trợ nhóm tác giả trong quá trình nghiêncứu

Nhóm tác giả cũng xin gửi lời chân thành cảm ơn Khoa tâm lý - giáo dục,Trung tâm Thông tin và Thư viện - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đã giúp

đỡ nhóm tác giả trong quá trình thu thập tài liệu để thực hiện đề tài

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 10 tháng 03 năm 2018.

Nhóm tác giả

Trang 3

Nguyễn Hữu Quyết Nguyễn Thị Thúy

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người như gốc của cây,

như ngọn nguồn của sông suối Bác Hồ đã viết: “Cũng như sông thì có nguồn

mới có nước, không có nguồn thì sông cạn Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giải mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” [12, Tr.252 – 253]

Ngày nay, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước tađang thay đổi và mở rộng hơn để có thể hội nhập với nền kinh tế thế giới trướccuộc cách mạng 4.0 Điều này đã tác động không nhỏ đến bộ mặt kinh tế củanước ta cũng như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, trong đó phải kể đếnvấn đề nhân cách đạo đức của con người Trong giai đoạn này sự thay đổi vềnhân cách đạo đức của bộ phận giới trẻ, học sinh, sinh viên là vô cùng mạnh

mẽ Đây là tầng lớp đông đảo trong xã hội, sẽ tiếp nối và phát huy các truyềnthống đạo đức tốt đẹp của thế hệ đi trước trong sự nghiệp xây dựng đất nướcbước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Thế nhưng, bên cạnh những tác động tích cực thì kinh tế thị trường cũngmang theo một số những tác động tiêu cực đến suy nghĩ, cách sống, cách làmviệc của giới trẻ hiện nay đặc biệt là tầng lớp sinh viên Do chưa có lập trườngvững vàng nên khi bước vào một nền kinh tế mới thì họ dễ bị sa ngã, hìnhthành những suy nghĩ không tích cực, nhiều sinh viên bị suy thoái về mặt nhâncách đạo đức Hiện tượng sinh viên vì đồng tiền mà làm tất cả, sống thử trướchôn nhân, bỏ học để tham gia những công việc không lành mạnh có lẽ không

Trang 4

còn xa lạ trong các trường đại học, cao đẳng hiện nay Như vậy, đổi mới, mởcửa, thuận lợi, khó khăn, thời cơ, nguy cơ đan xen nhau Trong đó, nhân tố đạođức, giá trị của đời sống tinh thần của sinh viên đang trở thành điểm nóng trong

sự phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới tácđộng của cách mạng 4.0

Nghiên cứu về ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cách đạo đứccủa sinh viên đã có rất nhiều bài nghiên cứu, tuy nhiên các công trình nghiêncứu chưa sâu, chưa phản ánh thực chất của vấn đề và đề tài này chưa đượcnghiên cứu ở sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Trước tình hình đó, nhóm tác giả quyết định chọn đề tài “Ảnh hưởng của

kinh tế thị trường đến nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội” nhằm phát hiện ra thực trạng, tìm hiểu các nguyên nhân và vạch

ra các biện pháp nhằm thay đổi cho phù hợp với hoàn cảnh xã hội và từng cánhân

2. Tình hình nghiên cứu

Khi nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cáchđạo đức của sinh viên, đã có nhiều công trình nghiên cứu, đóng góp những trithức mới cho nhân loại Nhân cách đạo đức sinh viên dưới tác động của kinh tếthị trường được nhiều tác giả tìm hiểu dưới nhiều khía cạnh khác nhau

Bài nghiên cứu Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Lý, Học viện chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh: “Kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền

thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay”.

Bài nghiên cứu đã đề cập tới những giá trị đạo đức truyền thống của con ngườiViệt Nam qua các thời kỳ lịch sử, chỉ ra tác động của kinh tế thị trường ở ViệtNam hiện nay đến việc kế thừa, phát huy và đổi mới những giá trị đạo đứctruyền thống của dân tộc Việt Nam

“Vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học của tác giả Hoàng

Anh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; Bài viết:“Tìm hiểu định hướng

giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của tác giả

Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà Nội, 1994; Hay vấn đề nghiên cứu trong Luận

Trang 5

văn Thạc sĩ: “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới cho

thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đình Quế Ba bài nghiên

cứu trên có điểm chung là các tác giả đã chỉ ra thực trạng nhân cách đạo đứccủa sinh viên nói chung, chưa chỉ ra đối tượng sinh viên cụ thể và các tác giả đãđưa ra được một số biện pháp cụ thể để giáo dục đạo đức và xây dựng nhâncách đạo đức của sinh viên Việt Nam

Bài nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ, NXB Chính trị Quốc gia đãnghiên cứu về sự biến đổi của đạo đức, nghiên cứu về thang giá trị đạo đức

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: “Sự biến đổi của thang giá trị đạo

đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay” Công trình nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra sự

biến đổi của đạo đức, các giá trị đạo đức và sự biến đổi của thang giá trị đạođức trong nền kinh tế thị trường Công trình nghiên cứu chỉ ra việc xây dựngđạo đức mới cho cán bộ quản lý nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay,tác giả đã đưa ra được thực trạng của vấn đề và đề ra được một số giải phápthiết thực cho đề tài nghiên cứu

Như vậy, có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về nhân cách đạo đứcsinh viên dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường Tuy nhiên, nhiền cứu về tácđộng của kinh tế thị trường trong thời đại 4.0 đến nhân cách đạo đức của sinhviên Đại học Sư phạm Hà Nội là một lĩnh vực mà chưa tác giả nào nghiên cứu.Trân trọng và kế thừa thành tựu của những công trình đi trước, chúng tôi cốgắng tìm một hướng sâu hơn, làm rõ hơn thực trạng lối sống sinh viên, đặc biệt

là sinh viên sư phạm dưới ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường trong giai đoạnhiện nay Với sự lựa chọn trên, đây là một hướng nghiên cứu mới về lối sống,đạo đức sinh viên và hi vọng có nhiều đóng góp mới cho công tác giáo dục,phát triển đất nước

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

a. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng nhân cách đạo đứccủa sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp

Trang 6

nhằm phát huy nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm HàNội dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường.

b. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Để thực hiện mục đích nghiên cứu đặt ra ở trên, đề tài nghiên cứu tiếnhành các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về nhân cách đạo đức của sinhviên dưới tác động của kinh tế thị trường

- Khảo sát thực trạng ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cách đạođức của sinh viên tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm góp phần khắc phục và cảithiện tình trạng đó

4. Đối tượng, phạm vi và khách thể nghiên cứu của đề tài

a. Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Với đề tài “Ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cách đạo đức củasinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội”, đối tượng nghiên cứu mà ngườiviết hướng tới đó là nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm

Hà Nội dưới tác động của kinh tế thị trường

b. Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu khoa học chỉ tập trung nghiên cứu về nhân cách đạo đứccủa sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới tác động của kinh tế thịtrường Trong đó, tập trung khái quát thực trạng nhân cách đạo đức của sinhviên ở góc độ: Về lý tưởng, niềm tin và tri thức đạo đức; Về nhận thức và hành

vi trong lớp học; Về tính tích cực xã hội của sinh viên

- Giới hạn về khách thể nghiên cứu:

Khách thể nghiên cứu của đề tài là sinh viên Trường Đại học Sư phạm HàNội

Trang 7

5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Đọc tài liệu, các công trìnhnghiên cứu trước đó về vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài;

từ đó tổng hợp, phân tích và khái quát các thông tin thu được

để xây dựng khái niệm và khung lý thuyết cho đề tài

- Phương pháp quan sát: Quan sát văn hóa ứng xử, giao tiếp sưphạm của các bạn sinh viên

- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Tiến hành nghiên cứu địnhlượng phiếu điều tra là sinh viên các khoa đang theo học tạitrường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn các bạn sinhviên để tiếp nhận được thông tin về vấn đề đạo đức, nhân cáchđạo đức dưới tsc động của kinh tế thị trường

- Phương pháp đánh giá tổng hợp: Căn cứ vào mục đích, nộidung và các yêu cầu đánh giá, thì phương pháp đánh giá tổnghợp có điều kiện và khả năng đáp ứng được tốt và đầy đủ hơn

cả Phương pháp đánh giá tổng hợp đã được sử dụng để đánhgiá các tổng thể tự nhiên phục vụ cho các mục đích khácnhau

- Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học: Sử dụngtính tỷ lệ % và tính trung bình cộng,…

6. Điểm mới của đề tài nghiên cứu

- Chỉ ra được sự khác nhau giữa đạo đức và nhân cách đạo đức.

- Nghiên cứu về ảnh hưởng của kinh tế thị trường trong thời đại 4.0 đến

nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

- Chỉ ra được nguyên nhân và các biện pháp để khắc phục và các giải pháp

để phát huy nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nộidưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường

7. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu

Đề tài góp phần tìm hiểu, nghiên cứu một vấn đề cấp thiết của môn Đạođức học và đáp ứng những đòi hỏi của mục tiêu xã hội; nghiên cứu nhân cáchđạo đức của sinh viên trên nền kinh tế thị trường hiện nay

Trang 8

Trên cơ sở nghiên cứu đó và những kết quả đạt được, nhóm tác giả mong

đề tài sẽ góp phần làm phong phú thêm tài liệu tham khảo cho các giáo viên vàcác bạn sinh viên trong quá trình học tập và nghiên cứu các vấn đề về nhâncách đạo đức

Đề tài còn có tầm quan trọng trong việc định hướng nhân cách đạo đứccho thế hệ trẻ hiện nay, đặc biệt là tầng lớp sinh viên nói chung và sinh viêntrường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng

8. Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, mục lục đề tàiđược chia làm 2 chương như sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nhân cách đạo đức của sinh viên dưới tác động của kinh tế thị trường

Chương 2: Thực trạng và giải pháp để phát huy nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường

Trang 9

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NHÂN CÁCH ĐẠO ĐỨC CỦA SINH VIÊN

DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

1.1. Lịch sử nghiên cứu

1.1.1. Lịch sử nghiên cứu về đạo đức, nhân cách đạo đức

Nghiên cứu về đạo đức, nhân cách đạo đức, đã có nhiều tác giả quan tâmvới rất nhiều đề tài, tài liệu, bài viết về vấn đề này dưới nhiều cách tiếp cận dựatrên những khía cạnh khác nhau

Chỉ thị số 06-CT/TW của Bộ Chính trị ngày 7/11/2006 về tổ chức cuộc

vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và đến ngày

18/05/2007, Bộ giáo dục và đào tạo đã đưa ra chỉ thị số 2516/BGD&ĐT về việc

thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí

Minh” trong ngành giáo dục Nội dung cơ bản của cuộc vận động của Bộ

- Mỗi người tự liên hệ, tự phê bình, kiểm điểm cá nhân; tổ chức để quầnchúng ở nơi công tác và nơi cư trú góp ý cho cán bộ, đảng viên

- Các cơ quan, đơn vị xây dựng tiêu chuẩn đạo đức, lối sống cho cán bộ,đảng viên, công chức để phấn đấu thực hiện phù hợp với tình hình từng cơquan, đơn vị; xây dựng chương trình hành động học tập và làm theo tấm gương

Trang 10

đạo đức Hồ Chí Minh, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, yếu kém; xử lý các saiphạm được phát hiện theo đúng kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước

- Tổ chức tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng

về cuộc vận động [28, Tr.2]

PGS.TS Trần Đăng Sinh và TS Nguyễn Thị Thọ đã biên soạn “Giáo trình

Đạo đức học”, NXB Đại học Sư phạm, năm 2011 bàn về nguồn gốc, bản chất

của đạo đức, các phạm trù cơ bản của đạo đức học, vấn đề đạo đức mới và giáodục đạo đức cho học sinh phổ thông, Theo đó, đạo đức được xác định là mộthình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hộinhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ vớinhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởitruyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội Một số phạm trù cơ bản của đạođức học là phạm trù lẽ sống, phạm trù hạnh phúc, phạm trù lương tâm, phạmtrù nghĩa vụ và phạm trù thiện - ác Tác giả đã chỉ ra vai trò của đạo đức, nhữngnguyên tắc của đạo đức mới: chủ nghĩa tập thể, lao động tự giác, sáng tạo, chủnghĩa yêu nước kết hợp với chủ nghĩa quốc tế và chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủnghĩa Tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và đạo đức, vấn đềtác động của kinh tế thị trường đối với đạo đức, vai trò của đạo đức trong kinh

tế thị trường,…

“Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh”, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật,

Hà Nội, năm 2016 đã đề cập đến đạo đức và xây dựng con người mới, giáo dụccho sinh viên về vấn đề đạo đức cách mạng theo quan điểm của Chủ tịch HồChí Minh Hệ thống nội dung cơ bản của Tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm: Tưtưởng về vấn đề dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc; về chủ nghĩa xã hội

và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa; về Đảng Cộng sản Việt Nam; về đại đoànkết dân tộc và đoàn kết quốc tế; về Nhà nước của dân, do dân, vì dân; về vănhóa, đạo đức, xây dựng con người mới,… Trong đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ

ra đạo đức là gốc của người cách mạng, là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của chủnghĩa xã hội, những chuẩn mực đạo đức của người cách mạng và nhữngnguyên tắc xây dựng đạo đức mới Đạo đức là gốc của người cách mạng vì nóliên quan đến đảng cầm quyền, nó là lòng cao thượng của con người Bác coi

Trang 11

đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng như gốc của cây, ngọn nguồncủa sông suối Vì thế, Hồ Chí Minh cho rằng: “Đảng là đạo đức, là văn minh”.Những chuẩn mực đạo đức cách mạng theo quan điểm của Chủ tịch Hồ ChíMinh đó là: Trung với nước, hiếu với dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vôtư; Thương yêu con người, sống có tình nghĩa; và có tinh thần quốc tế trongsáng Bên cạnh đó, Người nêu ra quan điểm về nguyên tắc xây dựng đạo đứcmới đó là: Nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức; Xây đi đôi vớichống, phải tạo thành phong trào quần chúng rộng rãi; và phải tu dưỡng đạođức suốt đời.

Về chủ đề nhân cách đạo đức, đã có rất nhiều bài viết, bài nghiên cứu với

những hướng nghiên cứu khác nhau như: “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho

thanh niên hiện nay” của tác giả Phạm Đình Nghiệp, Hà Nội, 2001; Luận án

Tiến sĩ, 1999 của tác giả Trần Sĩ Phán: “Giáo dục đạo đức đối với sự hình

thành và phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”;

Bài nghiên cứu: “Giáo dục sự hình thành và phát triển nhân cách con người”

của Nguyễn Thị Nhâm, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốcgia Hà Nội, 2004; Hay Luận văn Thạc sĩ Triết học của tác giả Hoàng Thị Thu

Trang, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013 với đề tài: “Giáo dục đạo đức mới

với sự hình thành phát triển nhân cách sinh viên ở Thái Nguyên hiện nay”.

1.1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến

nhân cách đạo đức của sinh viên

Khi nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cáchđạo đức của sinh viên, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu, với nhiều hìnhthức và khía cạnh khác nhau

Bài nghiên cứu Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Lý, Học viện chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh: “Kế thừa và đổi mới những giá trị đạo đức truyền

thống trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường Việt Nam hiện nay”.

“Vấn đề xây dựng nhân cách đạo đức sinh viên trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Triết học của tác giả Hoàng

Anh, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Bài viết:“Tìm hiểu định

hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế thị trường” của

tác giả Thái Duy Tuyên chủ biên, Hà Nội, 1994; Hay vấn đề nghiên cứu trong

Trang 12

Luận văn Thạc sĩ: “Quan hệ kinh tế và đạo đức với việc xây dựng đạo đức mới

cho thế hệ trẻ hiện nay ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Đình Quế.

Bài nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ, NXB Chính trị Quốc gia đãnghiên cứu về sự biến đổi của đạo đức, nghiên cứu về thang giá trị đạo đức

trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam: “Sự biến đổi của thang giá trị đạo

đức trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện nay”.

1.2. Nhân cách, nhân cách đạo đức của sinh viên

1.2.1. Khái niệm nhân cách

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về nhân cách, mỗi khái niệm lại cónhững ưu điểm và hạn chế riêng Vì vậy, tùy theo cách hiểu và mục đích mà cóthể lựa chọn các khái niệm phù hợp Nhân cách con người là một trong nhữngvấn đề phức tạp, có nhiều cách tiếp cận và có nhiều quan điểm khác nhau đó làcác quan điểm tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây

Quan điểm của Aixtot - nhà Triết học Hy Lạp cổ đại, ông quan niệm conngười là “sinh vật chính trị”, một quan điểm bàn tư tưởng về nhân cách, có ýnghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu tâm lý học của phương Tây

Phơrơt (1856 - 1939) người sáng lập ra trường phái Phân tâm học, cấu trúcnhân cách con người gồm: Cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi, tương ứng với vô thức,

ý thức và siêu thức

Trong việc xem xét nhân cách, quan điểm duy vật lịch sử xuất phát từ conngười hiện thực “Nó xuất phát từ những tiền đề hiện thực và không phút nào xarời những tiền đề ấy Những tiền đề ấy là, những con người, không phải nhữngcon người trong sự cô lập và sự cứng nhắc tưởng tượng của họ mà là những conngười trong quá trình phát triển hiện thực của họ dưới những điều kiện nhấtđịnh, quá trình phát triển mà người ta có thể quan sát bằng kinh nghiệm” [1,Tr.30]

Hay Triết học Mác - Lênin xem “nhân cách là một chỉnh thể cá nhân, cótính lịch sử - cụ thể Nó tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò chủ thểcủa nhận thức và sự phát triển của xã hội” [2, Tr.33]

Nhưng về cơ bản, dựa trên việc nghiên cứu hệ thống lập trường quan điểmcủa chủ nghĩa Mác - Lênin, các nhà nghiên cứu tâm lý học đã đưa một cáchngắn gọn, cơ bản và đầy đủ khái niệm nhân cách như sau:

Trang 13

“Nhân cách là tổ hợp những đặc điểm, những phẩm chất tâm lý của cá nhân, quy định giá trị xã hội và hành vi xã hội của họ (biểu hiện bản sắc và giá

trị xã hội của con người” [3, Tr.222]

1.2.2. Nhân cách đạo đức và nhân cách đạo đức của sinh viên

Nhân cách đạo đức: “là tổng thể những phẩm chất đạo đức của nhân

cách (nhu cầu, tình cảm, niềm tin, tri thức, lý tưởng, năng lực đạo đức,…) được hình thành một cách lịch sử - cụ thể, được thể hiện, thực hiện trong toàn

bộ hoạt động sống của mình như một cá nhân” [4, Tr.10]

Nhân cách đạo đức của sinh viên là tổng thể những phẩm chất đạo đức

của nhân cách (nhu cầu, tình cảm, niềm tin, tri thức, lý tưởng, năng lực đạo đức,…) của người sinh viên Nhân cách đạo đức sinh viên được thể hiện, thực hiện trong hoạt động học tập, trong hoạt động ứng xử thông qua các quan hệ chủ đạo: quan hệ thầy - trò, bạn bè, tình yêu,…; trong hoạt động xã hội mà tập trung trong các hoạt động văn thể của cá nhân mỗi sinh viên [4, Tr.19]

Nhân cách đạo đức của sinh viên được gắn liền với việc hình thành phẩm

chất và năng lực, đảm bảo được mục tiêu của nền giáo dục Việt Nam: “Mục

tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10,

Tr.7]

Nhân cách đạo đức và đạo đức bên cạnh những mặt tương đồng thì cũng

có sự khác biệt Một số bài nghiên cứu trước cũng đã đề cập đến nhân cách vànhân cách đạo đức nhưng chỉ ra hoặc đã chỉ ra sự khác biệt giữa nhân cách đạođức và đạo đức nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa nêu rõ được điểm khácnhau giữa chúng

Theo quan điểm mác - xít đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa

Mác - Lênin, “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên

tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội”.

Từ khái niệm trên, ta cần phải rút ra một số điểm chú ý như sau:

Trang 14

Một là, đạo đức với tư cách là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã

hội, phản ánh hiện thực đời sống đạo đức xã hội Đạo đức cũng như các quanđiểm triết học, chính trị, nghệ thuật, tôn giáo đều mang tính chất của kiến trúcthượng tầng Chế độ kinh tế - xã hội là nguồn gốc của quan điểm về đạo đứccon người Các quan điểm này thay đổi theo điều kiện kinh tế - xã hội [5, Tr.6]

Hai là, đạo đức là một phương thức điều chỉnh hành vi của con người.

Loài người đã sáng tạo ra nhiều phương thức điều chỉnh hành vi: phong tục, tậpquán, tôn giáo, pháp luật, đạo đức Đối với đạo đức, sự đánh giá hành vi conngười theo khuôn phép chuẩn mực và quy tắc đạo đức biểu hiện thành nhữngkhái niệm về thiện và ác, vinh và nhục, chính nghĩa và phi nghĩa Và trong xãhội có giai cấp thì bao giờ đạo đức cũng biểu hiện lợi ích của một giai cấp nhấtđịnh Những khuôn phép (chuẩn mực) và quy tắc đạo đức là yêu cầu của cá xãhội hoặc của một giai cấp nhất định đề ra cho hành vi của mỗi cá nhân Baogồm hành vi của cá nhân đối với xã hội (tổ quốc, nhà nước, giai cấp mình vàgiai cấp đối lập ) và đối với người khác Những chuẩn mực và quy tắc đạo đứcnhất định được công luận của xã hội, hay của một giai cấp, dân tộc thừa nhận.Hành vi cá nhân tuân thủ những ngăn cấm, những khuyến khích, những chuẩnmực cho phù hợp với những đòi hỏi của xã hội Do vậy sự điều chỉnh đạo đứcmang tính tự nguyện, và xét về bán chất, đạo đức là sự tự do lựa chọn của conngười

Ba là, đạo đức là một hệ thống các giá trị, các hiện tượng đạo đức thường

biểu hiện dưới hình thức khẳng định, hoặc phủ nhận lợi ích chính đáng hoặckhông chính đáng nào đó Nghĩa là nó bày tỏ sự tán thành hay phản đối trướcthái độ hoặc hành vi ứng xử của các cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng trongmột xã hội nhất định Vì vậy, đạo đức là một nội dung hợp thành hệ thống giátrị xã hội Sự hình thành, phát triển và hoàn thiện hệ thống giá trị đạo đứckhông tách rời sự phát triển và hoàn thiện của ý thức đạo đức và sự điều chỉnhđạo đức [5, Tr.7] Như vậy, chúng ta có thể phân biệt đạo đức và nhân cách đạođức dựa trên những khía cạnh cơ bản như sau:

Thứ nhất, đạo đức là một trong những phương thức, khía cạnh cơ bản để

điều chỉnh hành vi và lối sống của con người, đó sự điều chỉnh một cách tự

Trang 15

nguyện, tự giác, không ép buộc,… sự điều chỉnh ấy đi từ tối thiểu đến tối đatrong mọi hành vi con người Loài người sáng tạo ra nhiều phương thức điềuchỉnh hành vi như: pháp luật, chính trị, tôn giáo, văn hóa, nhưng không cóphương thức nào điều chỉnh hành vi một cách rộng lớn như đạo đức Con ngườicòn tồn tại thì quan hệ xã hội của đạo đức vẫn còn, để cho mọi hoạt động, hành

vi của cá nhân phù hợp với yêu cầu tiến bộ xã hội, nhất thiết phải cần đến sựđiều chỉnh của đạo đức Lịch sử đã chứng minh điều trên, mọi truyền thống đạođức của dân tộc Việt Nam từ thời xa xưa: hiếu, lễ, công dung ngôn hạnh, yêunước, yêu thương con người, đến thời ngày nay nó vẫn được truyền lại và thế

hệ sau vẫn đang thực hiện

Còn nhân cách đạo đức chỉ là một bộ phận, một yếu tố của đạo đức, nó chỉ

là tổng thể những phẩm chất đạo đức của nhân cách như nhu cầu, tình cảm,niềm tin, tri thức, lý tưởng, năng lực đạo đức,… được hình thành một cách lịch

sử - cụ thể, được thể hiện, thực hiện trong toàn bộ hoạt động sống của mìnhnhư một cá nhân

Thứ hai, đạo đức sẽ góp phần thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của xã

hội Đạo đức - với tư cách là một hình thái ý thức xã hội - nó tác động đến tồntại xã hội, đến đời sống kinh tế Nó góp phần thúc đẩy hoặc kìm hãm sự pháttriển kinh tế Nếu như sự tác động ấy là cùng chiều với tồn tại xã hội, thì lúc đó

nó sẽ thúc đẩy tồn tại xã hội nói chung, phương thức sản xuất nói riêng pháttriển Lúc này tính tích cực của nhân cách, của người lao động được phát huy;quan hệ giữa người với người sẽ trở nên thân ái và thân thiện hơn, xã hội sẽphát triển hài hoà hơn Nếu như sự tác động ấy là ngược chiều với sự phát triển

và tiến bộ xã hội thì lúc đó nó sẽ kìm hãm sự phát triển xã hội Ngoài ra, sự tácđộng này có thể có hai tác dụng song trùng, vừa thúc đẩy sự phát triển xã hội ởgóc độ, khía cạnh này, vừa kìm hãm ở góc độ, khía cạnh khác [9, Tr.10]

Còn nhân cách đạo đức với các khía cạnh là tình cảm đạo đức, niềm tinđạo dức, tri thức đạo đức và lý tưởng đạo đức Những khía cạnh đó chỉ đướcthực hiện trong cuộc sống khi nó được vận dụng một cách triệt để, tức là được

Trang 16

thể hiện thông qua năng lực và phẩm chất thực tiễn, từ đó sẽ thể hiện được nănglực và phẩm chất đạo đức của mỗi người

Ví dụ, nghề giáo là một nghề đặc biệt, cũng là một lao động nhưng sản

phẩm là con người, công cụ lao động là nhân cách của chính mình: "dùng nhân

cách để đào tạo nhân cách" Do đó đòi hỏi ở người giáo viên một phẩm chất

đạo đức và năng lực rất cao không thể kể hết những yếu tố cụ thể, chỉ xétnhững điểm chung nhất mà một giáo không thể thiếu:

*Về phẩm chất của người giáo viên: Người giáo viên, phải có một nhâncách mẫu mực, phải có lòng yêu nghề và yêu yêu trẻ Phải luôn luôn là tấmgương sáng cho học sinh, cho mọi người, phải giữ được tư cách đạo đức trongnhà trường, gia đình và xã hội Trong giảng dạy, giáo viên cần phải đặt hiệu quảdạy học - giáo dục lên hàng đầu, thưởng - phạt cần phải công minh, không baoche, thiên vị,… Người giáo viên ngày nay, cần phải có: thế giới quan khoa họcvững vàng (thế giới quan của người giáo viên là thế giới quan của chủ nghĩaduy vật biện chứng, đứng trên lập trường quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin), lý tưởng đạo đức, lý tưởng đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam, lòng yêu nghề,yêu trẻ và một số phẩm chất khác như: lòng khoan dung, nhân đạo, lòng tựtrọng, lòng thương người, đức tính giản dị, đức tính khiêm tốn, khiêm nhường,

… và những phẩm chất về ý chí như: tính sáng tạo, tính mục đích, sự kiênnhẫn, tự tin, tự chủ, tự kiềm chế, Điều này, đúng như Usinxki - nhà giáo dục

người Nga đã khẳng định: “Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh

hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác”.

*Về năng lực của người giáo viên: Cần phải xét trên hai mặt là kiến thứcgiáo dục và kiến thức chuyên môn Nhà giáo dục học Tiệp Khắc vĩ đại

Comenxki cũng từng phát biểu “dưới ánh mặt trời không có nghề nào cao quý

hơn nghề dạy học” Dạy học không phải chỉ là truyền đạt kiến thức chuyên

môn của mình, mà còn mặt nữa là giáo dục, người ta còn gọi là “dạy chữ” và

Trang 17

“dạy người”, hai mặt này cần phải được tồn tại song song đối với người giáoviên, nhất là người giáo viên hiện nay, trong thời đại cách mạng 4.0 thì quátrình dạy học - và giáo dục cần được đảm bảo và nâng cao hơn Disterwey -

một nhà sư phạm người Đức đã nhấn mạnh: “Người thầy giáo tồi là người

mang chân lý đến sẵn, còn người thầy giáo giỏi là người biết dạy học sinh đi tìm chân lý” Khi có đủ tư cách, nhân cách, phẩm chất và năng lực đạo đức,

đạo đức gương mẫu, giáo viên sẽ giúp học sinh của mình hình thành nhân cách

và phẩm chất đạo đức tốt, tránh những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội,phát huy và gìn giữ được những cái hay, cái đẹp trong giá trị đạo đức và tinhhoa văn hóa của dân tộc Việt Nam,… Điều này luôn luôn phải được lồng ghéptrong quá trình người giáo viên giảng dạy, đây chính là quá trình người giáoviên giáo dục học sinh thông qua hoạt động giảng dạy, thông qua việc làm giáoviên chủ nghiệm Kiến thức chuyên môn: là giáo viên phải có tri thức, kiếnthức sâu và rộng, nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ, có phương pháp dạy khoahọc, sáng tạo và phải đổi mới theo yêu cầu của thời đại Kiến thức giáo dục ởđây là việc ứng xử sư phạm một cách hợp lý, cách xử ý tình huống giữa bảnthân mình với học sinh, với đồng nghiệp, với phụ huynh và với xã hội sáng tạo

và hiệu quả Không chỉ vậy, kiến thức giáo dục được thể hiện rõ qua công tácchủ nhiệm lớp, sự quan tâm đến lớp chủ nhiệm, công tác tham vấn hỗ trợ tâm

lý học đường, tổ chức các hoạt động giáo dục, hoạt động trải nghiệm sáng tạocho học sinh,…

“Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng không thể nuôi dạy trẻ với chút ít nhiệt tình”(Can Jung) Là người khoác trên mình màu áo sứ

mệnh của nghề thầy, tôi nhận thấy rằng: Mỗi người giáo viên chúng ta cần phảitích cực trau dồi phẩm chất và năng lực, để trở thành người giáo viên nhân dân,

xứng đáng vơi danh hiệu: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những

nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo vì nó đã sáng tạo

ra những con người sáng tạo” (Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng).

Thứ ba, đạo đức thể hiện giá trị nhân đạo và nhân văn cao cả, nó làm nhân

đạo hoá con người và xã hội loài người Trong xã hội, nếu như con người tự

Trang 18

nhận thức, biết sống vì nhau, vì người khác, biết yêu thương, có “tấm lòng” vànhường nhịn, giúp đỡ, sẻ chia lẫn nhau thì đó sẽ là xã hội văn minh tốt đẹp vànhiều giá trị nhân văn, nhân đạo cao cả Đúng như nhà thơ Tố Hữu từng viết:

“Có gì đẹp trên đời hơn thế Người yêu người sống để yêu nhau”

(Bài ca mùa xuân 1961, Tố Hữu)Còn nhân cách đạo đức cũng thể hiện giá trị nhân đạo, nhân văn nhưngnhân cách đạo đức lại mang tính xã hội Nhân cách đạo đức có tính hai mặt:tích cực và tiêu cực Mặt tích cực, nó giúp bản thân con người điều chỉnh đượchành vi đạo đức để đạt tới giá trị nhân văn, nhân đạo Ngược lại, mặt tiêu cực làkhi con người muốn đạt tới được chân - thiện - mỹ thì sẽ có tham vọng, sẽ dùngrất nhiều thủ đọan khác nhau để đạt được Không chỉ vậy, nhân cách đạo đứctiêu cực có ảnh hưởng về mặt xã hội, nó làm cho các giá trị đạo đức bị mai một

và nhân cách đạo đức con người bị suy thoái, xuống dốc

1.2.3. Một số nhân tố quy định việc hình thành nhân cách đạo đức của

sinh viên

Sự hình thành và phát triển nhân cách đạo đức của mỗi con người đượcquy định bởi nhiều yếu tố khác nhau như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,

xã hội, tâm - sinh lý, nhu cầu và lợi ích,

Thứ nhất, kinh tế - xã hội là một trong những nhân tố quy định việc hình

thành và phát triển nhân cách đạo đức của con người Trong các hoạt động laođộng xã hội và hoạt động sản xuất của con người đều thể hiện tính nục đính, lờiích của cá nhân và của cộng đồng xã hội, nhưng nó lại bị chi phối bởi chế địnhcủa điều kiện lịch sử - xã hội Bởi lẽ, “ con người ta, dù tự giác hay không tựgiác, rút cuộc đều rút những quan niệm đạo đức của mình ra từ những quan hệthực yieexn đang làm cơ sở cho vị trí giai cấp của mình, tức là từ những quan

hệ kinh tế trong đó người ta sản xuất và trao đổi” [7, Tr.136] Như vậy, kinh tế

- xã hội quyết định tới ý thức của con người, kinh tế quyết định mọi hoạt độngcủa đời sống xã hội

Thứ hai, sự hình thành và phát triển nhân cách còn chịu tác động của

truyền thống đạo đức và các yếu tố về văn hóa, giáo dục Giá trị truyền thống

Trang 19

đạo đức, giá trị văn hóa và vấn đề giáo dục có tác động mạnh mẽ đến sự hìnhthành và phát triển nhân cách đạo đức, đó là tác động trực tiếp đến tình cảm đạođức và hành vi đạo đức của con người, nó phụ thuộc vào việc vận dụng nhữnggiá trị truyền thống trong bối cảnh mới để phù hợp với xã hội và bản thân mỗingười Những giá trị truyền thống, những chuẩn mực đạo đức xã hội được phảnánh trong thế giới quan, phương pháp luận, tri thức, pháp luật, thẩm mỹ,… Vìthế, nhân cách đạo đức con người được nảy sinh từ quá trình giáo dục và tựgiáo dục, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết:

“Ngủ thì ai cũng như lương thiện,Tỉnh dậy phân ra kẻ dữ, hiền;

Hiền, dữ phải đâu là tính sẵn,Phần nhiều do giáo dục mà nên”

(Nửa đêm, Hồ Chí Minh)

Thứ ba, một trong những yếu tố quy định việc hình thành nhân cách đạo

đức của sinh viên là đặc điểm về tâm sinh lý và lứa tuổi Ở độ tuổi này, “sinhviên đã bước đầu hình thành thế giới quan để nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộcsống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là những trí thức tương lai, ở các

em sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở đại học là cơ hội tốt

để sinh viên được trải nghiệm bản thân, vì thế, sinh viên rất thích khám phá,tìm tòi cái mới, đồng thời, họ thích bộc lộ những thế mạnh của bản thân, thíchhọc hỏi, trau dồi, trang bị vốn sống, hiểu biết cho mình, dám đối mặt với thửthách để khẳng định mình Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi này làtình cảm ổn định của sinh viên, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp

- một động lực giúp họ học tập một cách chăm chỉ, sáng tạo, khi họ thực sự yêuthích và đam mê với nghề lựa chọn [27, Tr.3]

Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ

so với các lứa tuổi khác như: tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có nănglực và tình cảm trí tuệ phát triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khámphá), có nhu cầu, khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám

Trang 20

đối mặt với thử thách Song, do hạn chế của kinh nghiệm sống, sinh viên cũng

có hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này cótác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên” [27,Tr.5]

Như vậy, đặc điểm về tâm - sinh lý lứa tuổi có vai trò quan trọng trongviệc hình thành nhân cách, nhân cách đạo đức sinh viên Nhân cách đạo đứcsinh viên có thể biến đổi theo hướng tích cực và tiêu cực Chúng ta có thể khắcphục những hạn chế tiêu cực và phát huy những mặt tích cực bằng cách chuyển

từ giáo dục giá tri đạo đức xã hội sang tự giáo dục đạo đức cá nhân

Ngoài ra, việc hình thành nhân cách đạo đức của sinh viên phụ thuộc vào

hệ thống nhu cầu, lợi ích của sinh viên trong hoạt động học tập, nghiên cứu vàhoạt động xã hội Yếu tố này là yếu tố có tác động tích cực đến việc hình thành

và phát triển nhân cách của sinh viên

1.3. Kinh tế thị trường và tác động của kinh tế thị trường đến nhân

cách đạo đức của sinh viên

1.3.1. Khái niệm kinh tế thị trường

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế thị trường, ở nhiều bàinghiên cứu, với cách tiếp cận khác nhau lại có những định nghĩa khác nhau vềkinh tế thị trường

“Kinh tế thị trường nói chung là những hình thức phát triển cao của kinh

tế hàng hoá, một hình thức mà ở đó hầu hết các quan hệ kinh tế trên diễn ra trênthị trường, chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế vốn có của nó Kinh tế thịtrường là kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trường, diễn ra trong môitrường cạnh tranh và lấy lợi nhuận làm động lực thúc đẩy” [29, Tr.2]

Trong tác phẩm “Tư bản” của C Mác, ông đã cho rằng: “Kinh tế thịtrường là kinh tế hàng hóa phát triển tới trình độ cao So sánh kinh tế hàng hóagiản đơn với kinh tế thị trường C Mác đã chỉ rõ kinh tế hàng hóa giản đơn làsản xuất nhỏ, phân tán vận động theo công thức H – T – H, vẫn chủ yếu hướngvào giá trị sử dụng, còn kinh tế thị trường là sản xuất lớn, tập trung, trình độ xãhội hóa cao, vận động theo công thức T – H – T’, nhằm vào giá trị thặng dư”.PGS.TS Trần Đăng Sinh và TS Nguyễn Thị Thọ trong cuốn giáo trìnhĐạo đức học đã chỉ ra khái niệm về kinh tế thị trường: “Kinh tế thị trường làmột kiểu tổ chức kinh tế với các quan hệ kinh tế, hoạt động kinh tế được thực

Trang 21

hiện thông qua thị trường; là nền kinh tế vận động theo các quy luật thị trườngtrong đó quy luật giá trị giữ vai trò chi phối thông qua quan hệ cung - cầu trênthị trường” [5, Tr.124]

Như vậy, kinh tế hàng hóa là là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong

đó sản phẩm sản xuất ra để trao đổi,để bán trên thị trường Mục đích của sảnxuất trong kinh tế hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu trực tiếp củangười sản xuất ra sản phẩm mà nhằm để bán, tức là để thỏa mãn nhu cầu củangười mua, đáp ứng nhu cầu của xã hội

“Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa, trong

đó toàn bộ các yếu tố “đầu vào” và “đầu ra của sản xuất đều thông qua thị trường Kinh tế hàng hóa và kinh tế thị trường không đồng nhất với nhau, chúng khác nhau về trình độ phát triển Về cơ bản chúng có cùng nguồn gốc và cùng bản chất”.

Theo C Mác, sản xuất và lưu thông hàng hóa là hiện tượng vốn có củanhiều hình thái kinh tế - xã hội Những điều kiên ra đời và tồn tại của kinh tếhàng hóa cũng như các trình độ phát triển của nó do sự phát triển của lực lượngsản xuất tạo ra [6, Tr.327 - 328]

1.3.2. Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị

trường ở Việt Nam hiện nay

Tính tất yếu khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ởnước ta được dựa trên cơ sở khách quan như: sự phân công lao động xã hội,hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, quan hệ hàng hóa - tiền tệ,…

Sự phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuấthàng hóa chẳng nhũng không mất đi, mà trái lại còn được phát triển cả về chiềurộng và chiều sâu Phân công lao động trong từng lĩnh vực, từng địa phươngcũng ngày càng phát triển Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện

ở tính phong phú, đa dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ratrao đổi trên thị trường

Trong nền kinh tế nước ta, tồn tại nhiều hình thức sở hữu, đó là hình thức

sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân (gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểuchủ, sở hữu tư bản tư nhân), sở hữu hỗn hợp Do đó, tồn tại nhiều chủ thể kinh

tế độc lập, lợi ích riêng nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằngquan hệ hàng hóa - tiền tệ

Trang 22

Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, tuy cùng dựa trên chế độcông hữu về tư liệu sản xuất, nhưng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhấtđịnh, có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh, các lợi ích riêng Mặt khác,các đơn vị kinh tế còn có sự khác biệt về trình độ kỹ thuật - công nghệ, về trình

độ tổ chức quản lý, nên chi phí sản xuất và hiệu quả sản xuất cũng khác nhau.Quan hệ hàng hóa - tiền tệ còn cần thiết trong quan hệ kinh tế đối ngoại,đặc biệt trong điều kiện phân công lao động quốc tế đang phát triển ngày càngsâu sắc, vì mỗi nước là một quốc gi riêng biệt, là người chủ sở hữu đối với cáchàng hóa đưa ra trao đổi trên thị trường thế giới Sự trao đổi ở đây phải theonguyên tắc ngang giá

Như vậy, khi kinh tế thị trường ở nước ta là một tồn tại tất yếu, kháchquan, thì không thể lấy ý chí chủ quan mà xóa bỏ nó được [6, Tr 328, 329]

1.3.3. Tác động của kinh tế thị trường đến nhân cách đạo đức của sinh

viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Ngày nay, dưới thời đại của cách mạng 4.0, kinh tế thị trường không chỉ

có tác động đến nhân cách đạo đức của sinh viên Việt Nam mà kinh tế thịtrường còn tác động đến nhân cách đạo đạo đức của sinh viên trường Đại học

Tác động không đáng kể

Không tác động Toàn

trường

Thông qua bảng số liệu và biểu đồ trên, chúng ta có thể thấy rằng hơn50% sinh viên sư phạm đều cho rằng kinh tế thị trường có tác động rất lớn đếnđạo đức và nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội.Trong đó, 59,48% cho rằng là kinh tế thị trường trong thời đại 4.0 có tác độngrất lớn đến nhân cách đạo đức, 31,45% có tác động tương đối, 9,03% có tácđộng không đáng kể và không tác động chỉ chiếm 0,05%

Theo sự khảo sát qua phiếu hỏi, quan sát và phỏng vấn, các bạn sinh viêntrường Đại học Sư phạm Hà Nội đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau Theo đó,các bạn sinh viên cho rằng:

Trang 23

- Kinh tế thị trường có tác động rất lớn đến nhân cách đạo đức của sinhviên trường Đại học Sư phạm Hà Nội Đó là tác động đến hầu hết về vấn đề họctập, rèn luyện, sinh hoạt, hoạt động đoàn thể, văn hóa ứng xử với thầy cô, bạn

bè và mọi người xung quanh

- Kinh tế thị trường có tác động tương đối lớn đến nhân cách đạo đức củasinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội 31,45% bạn sinh viên cho rằng kinh

tế thị trường trong thời đại 4.0 chỉ tác động đến việc học tập và rèn luyện

- Một bạn sinh viên (xin phép không nói tên), đến từ khoa tự nhiên trongtrường chia sẻ: Kinh tế thị trường, đặc biệt trong giai đoạn cách mạng 4.0 ngàynay, nó tác động tới tất cả những thứ của sinh viên chúng ta, nào là việc học

tập, việc tham gia các hoạt động và cả vấn đề việc làm của sinh viên nữa Nhiều

khi mình muốn tập trung vào học tập nhưng lại không có tiền để tiêu, muốngiúp đỡ bố mẹ nữa nên mình phải đi làm để đỡ tiền cho bố mẹ

- Thạc sĩ Nguyễn Phương Linh, giảng viên khoa Tâm lý - giáo dục đã chorằng: “ Kinh tế thị trường không chỉ tác động tới nhân cách của sinh viên sưphạm mà nó tác động đến tất cả mọi người Kinh tế thị trường về cơ bản khôngphải là xấu, nó đem lại nhiều lợi ích Tích cực là nó thúc đẩy sự phát triển củanền kinh tế xã hội, tạo điều kiện, tạo cơ hội cho sự phát triển, nâng cao chấtlượng cuộc sống Tuy nhiên, đi kèm với cái lợi ích đó là những thách thức rất làlớn đó là con người phải có sự cố gắng rất là nhiều để có được một chỗ đứngtrong xã hội, kiếm được nhiều giá trị trong thời buổi kinh tế như thế này Cùngvới việc đó là các “mánh khóe, thủ thuật” được nảy sinh trong con người để cóthể kiếm cho mình nhiều lợi ích hơn mà lại tốn ít công sức và trí tuệ hơn Cùngvới việc đó thì sinh viên sư phạm cũng không ngoại lệ Chúng ta cừa có cơ hội

là có nhiều tri thức, có đồng lương hợp lý hơn, có việc làm nhiều hơn, mở rộnghơn Bên cạnh đó thách thức về việc làm sao chúng ta có đủ kiến thức để sống,

để khẳng định mình và kiếm được tiền để nuôi sống bản thân Kiếm được nhiềutiền dựa trên năng lực của mình là vấn đề thách thức rất là lớn Vấn đề đạo đức,đạo đức nghề nghiệp, làm sao để có được trình độ thực sự chứ không phải làbằng cấp mà mua được đó là thách thức rất là lớn”

Như vậy, dưới sự tác động của kinh tế thị trường thì nhân cách đạo đứccon người sẽ biến đổi cả về mặt tích cực và tiêu cực Nó tác động đến mọi tầng

Trang 24

lớp trong xã hội và sinh viên sư phạm chúng ta cũng không nằm ngoài sự tácđộng đó

2.1.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội là trường trọng điểm, đầu ngành trong

hệ thống các trường sư phạm, là trung tâm lớn nhất về đào tạo giáo viên, nghiêncứu khoa học - đặc biệt là khoa học giáo dục - của cả nước Sứ mạng củaTrường là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao có trình độ đại học và trên đạihọc, bồi dưỡng nhân tài cho hệ thống giáo dục quốc dân và xã hội; nghiên cứukhoa học cơ bản, khoa học giáo dục và khoa học ứng dụng đạt trình độ tiêntiến; cung cấp dịch vụ giáo dục và khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế Trường có vai trò nòngcốt cho hệ thống các trường sư phạm trong việc đào tạo, bồi dưỡng giảng viên

và cán bộ quản lí giáo dục, phát triển các chương trình đào tạo, biên soạnchương trình, giáo trình, sách giáo khoa cho các bậc học, tư vấn các cấp quản lýxây dựng chính sách giáo dục

Trang 25

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội không những đào tạo ra những sinhviên giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà còn có nhân cách đạo đức tốt đẹp.Nhưng trong những năm gần đây, một số bộ phận nhỏ sinh viên Sư phạm đã cónhững lệch lạc về nhân cách đạo đức Chính vì vậy, tôi đã lựa chọn trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội để tiến hành nghiên cứu.

2.1.2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát thực trạng nhân cách đạo đứccủa sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải phápnhằm phát huy nhân cách đạo đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm HàNội dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường

2.1.3. Mẫu nghiên cứu

Sau khi tìm hiểu về địa bàn nghiên cứu, trên cơ sở quan sát sinh viên vàphỏng vấn giảng viên, cán bộ, nhân viên tại trường Đại học Sư phạm Hà Nội,chúng tôi chọn mẫu nghiên cứu thuận tiện gồm 120 sinh viên các khoa khácnhau của trường Đại học Sư phạm Hà Nội để tiến hành khảo sát thực trạng vềnhân cách đạo đức của các sinh viên Cụ thể: 03 lớp, 18 khoa, gồm 120 bạnsinh viên, trong đó có 46 sinh viên nam và 74 sinh viên nữ, các câu hỏi quaphiếu khảo sát và phỏng vấn trực tiếp Việc lựa chọn này giúp nhóm so sánhmức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến việc ảnh hưởng của kinh tế thị trườngđến nhân cách đạo đức của sinh trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Bảng: Tổng số sinh viên tham gia khảo sát

SV điều tra Khoa Văn Khoa Toán Khoa Hóa

2.1.4. Phương pháp nghiên cứu

a. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Trang 26

Mục đích: Khái quát hóa những vấn đề lý luận liên quan đến đề tài làm

cơ sở cho nghiên cứu thực tiễn

Nội dung: Đọc và phân tích các tài liệu lý luận có liên quan đến vấn đề

nghiên cứu ở các góc độ Triết học, Xã hội học, Giáo dục học, Đạo đức học,Tâm lý học, Nghiên cứu các văn bản, quy chế sinh viên, điều lệ của trườngĐại học để làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và làm căn cứ đánh giá thực tiễn

Phân tích, hệ thống hóa kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về cácvấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu đã được công bố

Quy trình tiến hành nghiên cứu

Bước 1: Tìm kiếm, phân loại và lựa chọn các tài liệu trong và ngoàinước về nhân cách đạo đức

Bước 2: Phân tích, tổng hợp các vấn đề lý luận liên quan đến nội dungnghiên cứu của đề tài

Bước 3: Viết đề cương chi tiết

Bước 4: Hỏi ý kiến chuyên gia về các nội dung lý luận trình bày trongcông trình nghiên cứu

Bước 5: Xây dựng nội dung lý luận về nhân cách đạo đức, ảnh hưởngcủa kinh tế thị trường đến nhân cách

b. Phương pháp điều tra viết

Mục đích: Tìm hiểu thông tin về sinh viên, những ảnh hưởng của kinh

tế thị trường đến nhân cách đạo đức của sinh viên Trên cơ sở đó xây dựng một

số biện pháp thay đổi

Nội dung: Tổng hợp tiếu sử sinh viên, những yếu tố ảnh hưởng đến

nhân cách đạo đức của sinh viên, những biện pháp thay đổi thực trạng

Quy trình tiến hành nghiên cứu

Bước 1: Làm quen với sinh viên trong các giờ học môn chung, trongthời gian ra chơi tại trường

Bước 2: Tìm hiểu những thông tin cơ bản về sinh viên thông qua bạn bècùng lớp, cùng khoa

Bước 3: Thăm dò các khó khăn, suy nghĩ của các bạn sinh viên thôngqua phiếu tự ghi của các bạn

Bước 4: Trao đổi với giảng viên về mục đích, cách trả lời, phươnghướng sử dụng kết quả trả lời các phiếu hỏi

c. Phương pháp quan sát

Mục đích: Thu thập thông tin để có cái nhìn toàn diện, khách quan về

nhân cách của sinh viên do ảnh hưởng của kinh tế thị trường

Trang 27

Nội dung: Xem xét mối quan hệ của sinh viên với giảng viên, bạn bè.

Cách thức học tập, hoạt động của sinh viên ở trường Thái độ và phương thứcphản ứng của sinh viên trong các tình huống hàng ngày

Quy trình tiến hành nghiên cứu:

Bước 1: Quan sát biểu hiện thái độ, hành vi của sinh viên thông qua cácgiờ học môn chung, các giờ ra chơi

Bước 2: Ghi chép và phân tích những biểu hiện hành vi bất thường củasinh viên Những ưu, nhược điểm của sinh viên trong các hành vi ứng xử

Bước 3: Tìm nguyên nhân của những biểu hiện, hành vi lệch chuẩn ởsinh viên

d. Phương pháp trắc nghiệm

Mục đích: Sử dụng trắc nghiệm nhằm khảo sát thực trạng nhân cách

đạo đức của sinh viên và nguyên nhân gây ra nó

Quy trình tiến hành nghiên cứu:

Bước 1: Sử dụng phiếu điều tra để khảo sát thực trạng nhân cách sinhviên

Bước 2: Xử lý trắc nghiệm, tìm ra những sinh viên có biểu hiện hành vilệch chuẩn

Bước 3: Tiến hành kiểm tra lại kết quả với những sinh viên có biểu hiệnhành vi lệch chuẩn

e. Phương pháp phỏng vấn

Mục đích: Tìm hiểu thêm thông tin về sinh viên, thực trạng nhân cách

đạo đức của sinh viên,

Nội dung: Thực hiện phỏng vấn một số sinh viên có biểu hiện lệch

chuẩn

Quy trình tiến hành nghiên cứu:

Bước 1: Sau khi tiến hành trắc nghiệm, gặp trực tiếp một số sinh viên

có biểu hiện lệch chuẩn để tìm hiểu rõ hơn

Bước 2: Trao đổi với các giảng viên về những biện pháp để thay đổithức trạng

2.2. Thực trạng ảnh hưởng của kinh tế thị trường đến nhân cách đạo

đức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế,việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống cũng như việc xâydựng hệ giá trị đạo đức mới ở nước ta đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phảiđược giải quyết

Trang 28

1 Về lý tưởng, niềm tin và tri thức đạo đức của sinh viên

trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Thực tế cho thấy, trong đời sống xã hội đã có những biểu hiện xem nhẹnhững giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc, chạy theo thị hiếu không lànhmạnh Cuộc đấu tranh giữa cái tiến bộ và cái lạc hậu, giữa lối sống lành mạnhtrung thực, có lý tưởng với lối sống ích kỉ, thực dụng,.… đang diễn ra hàngngày Bên cạnh những hệ giá trị mới được hình thành trong quá trình hội nhập,những cái tiêu cực cũng đang xâm nhập vào đạo đức, lối sống của nhiều tầnglớp nhân dân, đặc biệt là đội ngũ học sinh, sinh viên Trong số đó, một bộ phậnkhông nhỏ của sinh viên trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng bị ảnh hưởng

Để chuẩn bị cho hành trang vào đời, các bạn không chỉ mang theo vốnkiến thức được học mà phải là người có đạo đức tốt, xứng đáng cương vị là mộtsinh viên, hay nói đúng hơn “trước khi thành tài thì phải thành nhân” Chủ tịch

Hồ Chí Minh kính yêu đã từng nói: “Có tài mà không có đức thì là người vô

dụng, có đức mà không có tài thì làm gì cũng khó” qua đó cũng đủ hiểu Người

coi trọng như thế nào về đạo đức lối sống, nhân cách đạo đức con người Yếu tố

đó không những quyết định kết quả học tập mà quyết định đến tương lai vàcuộc đời của mỗi bạn “Giới trẻ là tương lai của giáo hội và nhân loại” Nhưngthực tế, liệu nó có tốt đẹp như người ta tưởng không? Đặc biệt là với một bộphận sinh viên Sư phạm- thế hệ giảng viên, giáo viên tương lai của đất nước?Nhân loại sẽ đi tới đâu, khi sinh viên Sư phạm có lối sống thực dụng chỉchạy theo những giá trị vật chất mà bỏ quên những giá trị tinh thần Tình trạngsinh viên Sư phạm sống buông thả, không coi trọng giá trị đạo đức đã và đangdiễn ra rất nhiều Bằng chứng là các phương tiện truyền thông đã đăng tải cácbài viết phản ánh về thực trạng này Nhiều hình ảnh sinh viên Sư phạm đánhnhau, gây gổ với bạn bè, giảng viên, thậm chí là sinh viên Sư phạm giết ngưởiđược đăng tải Những hành vi tàn bạo này được đăng trên mặt báo chỉ là nhữngtảng băng nổi, thực tế còn nhiều hơn nữa

Bên cạnh đó, tình trạng sinh viên Sư phạm sống thử và quan hệ tình dụctrước hôn nhân ngày càng tăng cao Theo Tiến sĩ Tâm lí Huỳnh Văn Sơn, Đạihọc Sư phạm TP HCM, việc các bạn trẻ quan hệ trước hôn nhân không chỉ ảnhhưởng của văn hóa phương tây mà còn do lối sống quá dễ dãi, đánh mất truyền

Trang 29

thống tốt đẹp của người Á Đông, đó là: tôn trọng lễ nghĩa gia phong, công dungngôn hạnh, hiếu tiết lễ nghĩa, Đồng thời tình trạng nạo phá thai cũng đang ởmức báo động.

Hơn nữa, một số đông sinh viên Sư phạm đang chạy theo vòng xoáy của

“văn hóa tốc độ” Từ những sách báo không lành mạnh, đến những băng đĩaphim sex được trao cho nhau cách dễ dàng, từ những quán Karaoke buổi tốiđến những vũ trường, quán bar thâu đêm, rồi vào những ngôi nhà nghỉ

Nguy hiểm hơn là các phim ảnh đồi trụy có tác động tiêu cực đến nhâncách các bạn Đau lòng hơn nữa số đông trong những bạn đó gia đình đâu cókhá giả gì Để có tiền gửi lên thành phố cho con ăn học cha mẹ các bạn ở quê

đã phải bòn từng gánh rau, đấu thóc, đã làm việc hết mình mông một ngàyđược nhìn thấy con thành đạt Thương con họ còn cố giành giùm mua cho conđiện thoại, xe máy, máy tính xách tay để tiện học tập và đi lại Ngờ đâu, tất cảđều vào tiệm cầm đồ chỉ sau vài cuộc ăn chơi trác tán hoặc sau vài đòn thất thủtrong các trò cá độ hoặc lô đề Các bạn nữ thì bị ảnh hưởng quá nhiều củanhững bộ phim lãng mạn Hàn Quốc Từ cách ăn mặc đến đầu tóc hay phongcách thời trang các bạn đều thể hiện sao cho giống thần tượng của mình.Nghiêm trọng hơn nữa, các bạn còn chạy theo một kiểu tình cảm phương tâychớp nhoáng không giới hạn Cụm từ “sống thử” đã trở nên quá quen thuộc vớicác bạn sinh viên Sư phạm hiện nay Hai người sống chung với nhau như vợchồng, nếu cảm thấy không hợp thì chia tay một cách nhẹ nhàng

Có nhiều sinh viên bị ám ảnh bởi quan niệm “trẻ không chơi - già hốihận” nhưng không phải họ đang tận dụng tuổi trẻ mà đang liều lĩnh phí phạmtuổi xuân thì đúng hơn Rồi một ngày khi tất cả đã quá muộn các bạn phải đauđớn khi rơi vào hoàn cảnh: “ Ngước nhìn tương lai mồ hôi toát, quay đầu quákhứ nước mắt rơi”

Thêm vào đó, ngôn ngữ và phong cách giao tiếp của sinh viên Sư phạmcũng ảnh hưởng khá nhiều Cách ăn nói của sinh viên thay đổi, nhiều khi hơingỗ ngược Từ lâu, trở thành sinh viên Sư phạm là mơ ước và mục tiêu phấnđấu của những người trẻ Trong mắt mọi người sinh viên Sư phạm là người họccao, hiểu biết rộng, ăn nói lịch sự có văn hóa Nhưng tình trạng nói tục chửi thềlại tồn tại ở sinh viên Sư phạm rất nhiều Họ nói và cư xử không tế nhị và nói

Trang 30

cách khác là lệch chuẩn Từ khi nào họ đã làm cho ngôn ngữ tiếng Việt trở nên

“giàu đẹp hơn” Những cụm từ khá quen thuộc ở sinh viên Sư phạm như: vãi,chất vãi chưởng, hãm, Họ nói ra những từ ngữ bậy bạ mà không hề thấy ngạingùng và nao núng Nhiều trường hợp sinh viên Sư phạm gặp các thầy cô của

họ nhưng lại bước qua nhanh chóng mà không chào hỏi Sinh viên Sư phạmthường được người ta biết đến là những con người “mô phạm”, nhưng thử hỏithực tế có màu hồng như chúng ta nghĩ?

Lý tưởng, niềm tin và tri thức đạo đức ấy của sinh viên Sư phạm được nhàthơ Vũ Đức Cảnh đã minh chứng qua bài thơ “Nghề giáo”:

Có nghề nào hạnh phúc đến thế chăng?

Nghề mình đó với bảng đen phấn trắng,

Gieo yêu thương vào tâm hồn trong trắng,

Mang đến cho đời nhiều hoa trái ngát hương.

Có nghề nào nhắc đến bỗng thấy thương?

Cuộc sống dù nghèo, áo mặc cần phải đẹp,

Suy nghĩ thật nhiều, khi chỉ mua đôi dép,

Thon thót giật mình khi hàng xóm cưới xin.

Có nghề nào nhẫn nhịn đến khó tin?

Mọi chuyện thầy luôn sai còn phụ huynh thì

đúng,

Không dám đôi co vì mình là người công chúng,

Tích uất ức vào lòng sinh bệnh tật quanh năm.

Có nghề nào luôn bận bịu quanh năm?

Đi dạy cả tuần ngày nghỉ làm giáo án,

Dạy quanh năm chẳng tham quan du lịch,

Lúc hè về, tiền ít khó đi tour (1).

Có nghề nào bị ném đá te tua,

Hơi một tí lên truyền hình, báo chí,

Họ từng là học trò sao ném đá thầy mạnh thế,

Thầy cô oằn mình chịu rìu búa cựu học sinh.

Có nghề nào con cái sợ phát kinh?

Chẳng dám theo nghề mẹ cha nuôi mình lớn,

Bộ đội, công an, ngân hàng, doanh nghiệp lớn,

Bố mẹ về, con kế nhẹ nhàng thay.

Có nghề nào chịu trăm đắng ngàn cay?

Dạy thêm ngoài giờ bị coi là vi phạm Thầy cô nào cũng "quyền rơm vạ đá"

Chẳng dám mắng học trò khi chúng hỗn, chúng hư.

Có nghề nào sống khép nép như SƯ, Bởi bất cứ khi nào cũng thành người vi PHẠM, Tặc lưỡi, tại số trời, coi như mình bị hạn, Chẳng có lỗi gì vẫn xin lỗi để được yên.

Cần hiểu rằng, thầy cô chẳng là tiên, Cũng uống, ăn, buồn, vui như người khác, Cần sự cảm thông cùng sẻ chia gánh vác, Cùng thầy cô vun trồng cho trái ngọt hương thơm.

Có nghề nào nghe thấy đến là thương?

Gắn bó cuộc đời bằng bảng đen phấn trắng, Dẫu cuộc đời nhiều thay đen đổi trắng, Nhưng tấm lòng thầy chẳng đổi trắng thay đen.

Có nghề nào nhiều đổi mới thế không?

Cả thầy trò vần xoay trong cơn lốc, Người bảo dở, kẻ bảo hay nhưng học trò vẫn học, Thầy như thỏi thép hồng nằm "dưới búa - trên đe" Mỗi đông về sương giá, lạnh tái tê,

Thầy vẫn ấm vì tình yêu của những người trò nhỏ,

Là động lực giúp thầy vượt muôn ngàn gian khó, Vững lái con đò, đưa em đến bờ vui.

19/11/2016

2 Về nhận thức và hành vi trong học tập

Trang 31

Trong học tập sinh viên Sư phạm đã tích cực tiếp thu, tích lũy được

những kiến thức bổ ích đồng thời cải thiện và nâng cao thêm vốn kiến thứccủa mình Có những thay đổi trong nhận thức và trong hành động của bảnthân mình

Trong nhận thức: nhận thức được trách nhiệm ý nghĩa của việc học tậpdẫn tới học tập cố gắng không ngừng, đồng thời cũng luôn tự giác tìm tòinhững kiến thức mới mẻ

Trong hành động: học tập không ngừng cố gắng: học đi đôi với hành.Nhà trường không ngừng đổi mới phương pháp dạy học, làm sao cho phù hợpvới xu thế mới, đáp ứng nhu cầu của xã hội, thay đổi tư duy, tạo cho sinh viêntính năng động, sáng tạo trong học tập và nghiên cứu khoa học Phong trào: “

mùa thi nghiêm túc”, “ Nói không với tiêu cực trong giáo dục”,.… luôn được

sinh viên Sư phạm hưởng ứng qua việc ký cam kết hàng ngày đã thể hiện rõquyết tâm của nhà trường và sinh viên trong việc tạo ra một môi trường họcđường trong sạch và vững mạnh

Rất nhiều sinh viên ở các khoa khác nhau có thành tích cao trongnghiên cứu khoa học nhận giấy khen và phần thưởng

Trang 32

GD&TĐ - Đề tài “Xây dựng mô hình từ điển giải thích tiếng Việt theo chủ điểm cho học sinh tiểu học” của sinh viên Lê Thanh Nga - Trường Đại học Sư phạm

Hà Nội đạt giải nhất cuộc thi Sinh viên nghiên cứu khoa học năm 2017.

GS.TS Đỗ Việt Hùng trao Giấy khen cho sinh viên Lê Thanh Nga K65 khoa Ngữ văn - giải nhất cấp Bộ và sinh viên Vũ Thị Mai Anh - K63

-khoa Sinh học - giải nhất cuộc thi EURÉKA

Điểm nổi bật đầu tiên khi chúng ta nghĩ về sinh viên Sư phạm đó lànhững con người mô phạm, năng động và sáng tạo Chính sinh viên Sư phạm

là những người tiên phong trong mọi công cuộc cải cách, đổi mới về kinh tế,giáo dục, văn hóa,… Trong đầu họ luôn đầy ắp các ý tưởng độc đáo và thú vị;

và họ tận dụng mọi cơ hội để biến các cơ hội đó thành hiện thực Ước mơ củanghề sư phạm là đem những gì mới mở, độc đáo và sáng tạo tới mọi người,tới học sinh Vì họ yêu lớp học, yêu giảng đường, yêu ánh mắt trẻ thơ

Trang 33

PGS.TS Dương Minh Lam - Trưởng phòng Khoa học Công nghệ trao giấy khen

cho sinh viên đạt giải

Không chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự tạo ra cơ hội Đã có nhiều sinh viênnhận được bằng phát minh sáng chế; và không ít trong số những phát minh ấyđược áp dụng, được biến thành sản phẩm hữu ích trong thực tiễn

Với thế mạnh là được đào tạo vừa toàn diện vừa chuyên sâu, sinh viên

có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội của đất nước Tronghọc

tập, sinh viên Sư phạm không ngừng đổi mới phương pháp học sao cho lượngkiến thức họ thu được là tối đa Không chờ đợi thụ động dựa vào thầy cô, họ tựmình đọc sách, nghiên cứu, lấy thông tin, tài liệu từ mọi nguồn Phần lớn sinhviên đều có khả năng thích nghi cao với mọi môi trường sinh sống và học tập

Trang 34

Cuộc thi sáng tạo Robot SPKT mở rộng lần thứ 4 – mở rộng kết nối, thắp

lửa đam mê

Ngoài những tấm gương sáng, hiện nay một bộ phận không nhỏ sinh viên

Sư phạm chưa có thái độ nhận thức đúng đắn đối với việc học tập Theo mộtcuộc khảo sát của Phó GS-Tiến sĩ Phạm Công Khanh-Trường Sư phạm Hà Nội:

“64% sinh viên chưa tìm được phương pháp học tập phù hợp với đặc điểm nhậnthức cá nhân 36,1% sinh viên bộc lộ phong cách thụ động, ngại nêu lên thắcmắc và ý kiến của mình để đóng góp vào việc học tập trên lớp mà chỉ thíchgiảng viên cho nghe Mặc dù trong các cuộc chơi nhậu nhẹt số đông trong họ làngười tiên phong, sôi nổi, chơi hết mình 50% sinh viên không thực sự tự tinvào năng lực, trình độ của mình 40% sinh viên cho rằng mình không có khảnăng tự học 70% sinh viên cho rằng mình không có khả năng nghiên cứu 55%sinh viên không thực sự hứng thú với việc học tập” (theo tuổi - trẻ online).Những con số đó thật bất ngờ Đáng buồn thay cho một thế hệ tương lai đangngày càng xuống dốc Không những vậy, có những sinh viên còn tỏ thái độ vô lễvới giảng viên, làm ồn trong lớp, phát biểu linh tinh, huýt sáo Do họ nghĩmình đã lớn, có thể bày tỏ ý kiến thoải mãi Sinh viên ngày nay tiếp cận quánhiều phương tiện truyền thông hiện đại như điện thoại di động, truyền hình

Trang 35

cáp, internet nên dễ bị tiêm nhiễm những tư tưởng xấu Các bạn nam thì vùimình trong nhậu nhẹt, cờ bạc Số khác lại lao vào các trò vô bổ trong thế giới ảo(như Võ lâm truyền kì, Đột kích, Audition, Đế chế, )

3 Về tính tích cực xã hội của sinh viên trường Đại học Sư

phạm Hà Nội

Sinh viên Sư phạm vô cùng năng động, tích cực trong các hoạt độngĐoàn thể Các câu lạc bộ của trường ngày càng trở nên phong phú, đa dạng cáchoạt động nhằm phát triển các kỹ năng mềm cho các bạn sinh viên Đặc biệtcâu lạc bộ thanh niên xung kích được phát triển một cách rất tốt, hình thành từcác khoa cho đến cấp trường và hoạt động rất hiệu quả Sự năng động của sinhviên còn được thể hiện ở việc tham gia tích cực các hoạt động xã hội như y tế,

từ thiện… Ngoài giờ học, những sinh viên – tuyên truyền hiến máu nhân đạolại ngược xuôi đi lại mang kiến thức về hiến máu đến mọi người, mọi nhà…Bằng sự năng động, sinh viên luôn tự cập nhật thông tin, kiến thức, làm mớimình nhù hợp với sự thay đổi và phát triển của xã hội Rõ ràng, năng động vàsáng tạo là những ưu điểm nổi bật của sinh viên Việt Nam thời đại mới Sinhviên năng động hơn tham gia nhiệt tình các hoạt động chung của xã hội Điểnhình là sinh viên tham gia tình nguyện như: Mùa hè xanh, Tiếp sức mùa thi…Thanh niên là lực lượng xunh kích đi đầu trong các hoạt động xã hội, “Đâu cầnthanh niên có, đâu khó có thanh niên” Thế hệ trẻ ngày nay bên cạnh sự hưởngthụ cuộc sống sung túc no đủ, vẫn luôn nhận thức được được đồng bào ta vẫncòn nhiều khó khăn vất vả Những màu áo xanh tình nguyện, vai mang balôtìm đến với đồng bào các vùng quê xa xôi hẻo lánh Thật bất ngờ, họ đã làmnhững điều tưởng chừng như không thể, với đôi chân ngày nào chưa một lầnlội bùn, với đôi bàn tay chưa biết đến cầm cuốc hay đào đất

Trang 36

Cuộc thi Tìm hiểu Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Hội diễn tuyên truyền ca khúc cách mạng năm 2018, do Đoàn Thanh niên trường Đại học Sư phạm

Hà Nội tổ chức

“Rạng rỡ sắc xuân” - Hội thi tôn vinh vẻ đẹp, tài năng và sự sáng tạo của nữ nhà

giáo, nữ sinh ĐHSP Hà Nội chào mừng Quốc tế phụ nữ 8/3

Ngày đăng: 15/12/2021, 09:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w