MỘT SỐ KỲ QUAN ĐỊA CHẤT TIÊU BIỂU Ở VÙNG BIỂN VÀ VEN BỜ VIỆT NAM Trần Đức Thạnh, Nguyễn Hữu Cử, Đinh Văn Huy Viện Tài nguyên và Môi trường Biển TÓM TẮT Kỳ quan địa chất ở vùng biển và v
Trang 1MỘT SỐ KỲ QUAN ĐỊA CHẤT TIÊU BIỂU Ở VÙNG BIỂN VÀ VEN BỜ VIỆT NAM
Trần Đức Thạnh, Nguyễn Hữu Cử, Đinh Văn Huy
Viện Tài nguyên và Môi trường Biển
TÓM TẮT
Kỳ quan địa chất ở vùng biển và ven bờ Việt Nam phong phú và đa dạng thuộc về 3 nhóm: nhóm thuỷ vực; nhóm đảo và bán đảo; nhóm tổ hợp đá - trầm tích – hang động Mười kỳ quan được giới thiệu tiêu biểu cho các nhóm, kiểu khác nhau, đó là: 1 Bán đảo Hải Vân; 2.Đảo Cát Bà; 3 Quần đảo Bái Tử Long; 4.Vùng cửa sông Đồng Nai; 5.Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai; 6.Vịnh Hạ Long; 7 Ghềnh Đá Đĩa Tuy An; 8 Bãi biển Lăng Cô; 9 Cồn cát ven biển Bình Trị Thiên; 10 Rạn san hô Trường Sa
Các đặc điểm nổi bật của các kỳ quan này là tính thẩm mỹ, tiếp đến là tính
kỳ vỹ, tính độc đáo và tính tiêu biểu Trong đó, nhiều kỳ quan đạt được 3 – 4 thuộc tính Các kỳ quan địa chất còn thể hiện cả tính địa đới và phi địa đới của các quá trình bờ
và biển Việt Nam Một số kỳ quan có tiềm năng xây dựng thành công viên địa chất quốc tế hoặc quốc gia.
MỞ ĐẦU
Trên thế giới, vấn đề di sản địa chất đã được quan tâm nhiều và đã có được
cơ sở khoa học hệ thống [17, 18, 19], trong khi vấn đề kỳ quan địa chất được quan tâm nhiều về hướng ứng dụng [5, 7] Gần đây, nay ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về vấn đề bảo tồn địa chất, di sản địa chất hoặc tiếp cận xây dựng các công viên địa chất [1,3, 9, 12, 16, 20] Tuy nhiên, vấn đề kỳ quan địa chất còn rất mới, ít được quan tâm [6] và chưa có công trình nào xem xét hệ thống kiểu loại các kỳ quan địa chất ở vùng biển và bờ biển
Kỳ quan địa chất ở vùng biển và ven bờ Việt Nam phong phú và đa dạng Tiềm năng sử dụng chúng rất lớn liên quan đến các lĩnh vực phát triển kinh tế du lịch; phát huy các giá trị văn hoá và thẩm mỹ, phát huy các giá trị khoa học và giáo dục; bảo tồn tự nhiên và góp phần khảng định chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển Bước đầu có thể xác định các đối tượng kỳ quan địa chất ở vùng biển và bờ biển Việt Nam gồm 12 kiểu thuộc về 3 nhóm: nhóm thuỷ vực; nhóm đảo và bán đảo; nhóm tổ hợp đá - trầm tích – hang động Trong phạm vi bài viết này, xin được giới thiệu 10 kỳ quan đại diện cho các nhóm, kiểu khác nhau Thứ tự xắp xếp ở đây theo trình tự các nhóm kiểu, không phản ánh mức độ cao thấp về giá trị của chúng
Trang 21 Bán đảo Hải Vân
Bán đảo Hải Vân nằm giữa Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng, vươn ra biển 12km, là bán đảo đá gốc vươn xa nhất bờ Việt Nam Bán đảo được cấu tạo từ phức
hệ đá mac ma Hải Vân, tuổi Trias muộn, đặc trưng cho giai đoạn xâm nhập -hoạt hoá Mesozoi rìa phía bắc địa khối Kontum, chủ yếu gồm các granitoid khác nhau, xâm nhập trong ba pha Lớp thổ những từ vỏ phong hoá granit giàu
vi khoáng, khá dày do nằm ở vùng nóng ẩm, mưa nhiều, đã tạo nên rừng nhiệt đới xanh tốt bốn mùa
Đây là phần nhánh kéo dài của dãy Bạch Mã (1.444 m) đâm ngang ra Biển Đông, nơi kết thúc của dải Trường Sơn Bán đảo là ranh giới khí hậu giữa miền bắc có mùa đông lạnh và miền nam nóng ấm quanh năm, là ranh giới tự nhiên phía nam của bờ tây vịnh Bắc Bộ Đây cũng là vùng giao thoa của thế giới động thực vật trên cạn và dưới biển của hai miền nam - bắc Nhiều thế
kỷ trước, nơi đây là biên ải giữa đại Việt và Chiêm Thành, chứng kiến bao sự kiện bi hùng của lịch sử
Phong cảnh bán đảo hùng vĩ với bốn bề biển, trời, mây, núi Phía bắc là đầm Lập An trong xanh và bãi cát biển Lăng Cô trắng muốt, chạy dài tới tận Mũi Chân Mây Đông Phía nam là vịnh Đà Nẵng hình cánh cung nằm sát kề bán đảo Sơn Trà Đèo Hải Vân cao 496m, vắt ngang qua bán đảo Hải Vân, là một trong những đèo cao nhất Việt Nam, quanh co uốn lượn, địa thế hiểm trở, chênh vênh mà đẹp lung linh, huyền ảo, gắn với nhiều di tích văn hoá và lịch
sử, được tiền nhân đề tặng cho hậu thế sáu chữ " Thiên hạ đệ nhất hùng quan" Xuyên qua bán đảo có đường hầm Hải Vân dài 6280m, dài nhất Đông Nam Á Đây là một danh thắng quốc gia được công nhận từ năm 1998
Hình 1 Đèo Hải Vân trên bán đảo Hải Vân
(nguồn: Wikipedia)
Hình 2 Khu vực Bến Bèo, đảo Cát Bà (Ảnh: Trần Văn Điện)
2.Đảo Cát Bà
Đảo Cát Bà rộng 144 km2, là đảo đá vôi lớn nhất ở ven bờ tây Biển Đông, là một trong những đảo đá vôi lớn trên thế giới (đảo đá vôi Middle Caicos thuộc Anh
Trang 3trên vùng Carribê, rộng khoảng 155km2), các đỉnh có độ cao 100-250m, cao nhất 331m Tách rời đảo chính còn có trên 300 hòn nhỏ Đảo cấu tạo từ trầm tích
cacbonat và silit của các Hệ tầng Phố Hàn (D3 - C 1 ph), Cát Bà (C 1 cb) và Bắc Sơn (C - P bs), chứa phong phú hoá thạch san hô, tay cuộn, trùng lỗ và huệ biển, nhiều
khi xuất hiện trên bề mặt đá phong hoá như những bức hoạ khảm sinh động Ranh giới chuyển tiếp Devon - Cacbon tại đây có giá trị di sản địa chất quý hiếm
Cảnh quan karstơ nhiệt đới độc đáo, với nhiều hang động đẹp (Hoa Cương, Trung Trang v.v.), các giếng, phễu karstơ và các thung lũng karstơ phát triển trên nền đứt gãy kiến tạo như ở Trung Trang và Gia Luận Trên vách bờ đảo, có thể gặp lớp đá nằm ngang, đơn nghiêng hay uốn nếp mềm mại Ăn mòn hoá học của
nước biển và mài mòn do sóng, dòng triều tạo nên các hàm ếch chân vách và các
hang luồn xuyên qua các khối đá, làm tăng tính kì dị, độc đáo của các hòn đá vôi hình chóp và hình tháp Tên của chúng thường thể hiện hình dáng của vạn vật như hòn Ớt, Hòn Chuông, Mai Rùa, Lã Vọng, Đuôi Rồng, gợi cảm thiên nhiên thanh mịch như Hang Thuỷ, Vườn Quả, hay phong cảnh hùng vĩ như Đá Lở, Hòn Báo,
Sư Tử v.v
Đảo lớn, nên ven rìa có một số thung lũng sông, suối karstơ bị biển chìm ngập, tạo nên các vịnh hẹp, kéo dài như Tùng Gấu, vịnh Thỏ Rừng, có hình dáng kỳ lạ và phong cảnh tuyệt đẹp Nhiều hồ karstơ rộng tới vài ha bị nước biển xâm nhập, biến thành các hồ nước mặn, gọi là các áng (áng Thảm, áng Vẹm v.v) Do tách biệt với biển bên ngoài, nơi đây còn tồn tại một số yếu tố của hệ sinh thái biển cổ, có tính nguyên bản lưu tồn từ 6 - 8 nghìn năm trước, khi biển tiến Holocen mới tràn vào Một số áng nửa kín, có san hô viền bờ phát triển tạo nên hiện tượng “ám tiêu vòng giả” hết sức độc đáo và kỳ thú [13]
Đảo Cát Bà có tiềm năng xây dựng thành công viên địa chất quốc tế, hiện đã được công nhận là vườn Quốc gia (1998), Khu dự trữ sinh quyển thế giới (2004) và nằm trong danh mục 15 khu bảo tồn biển Việt Nam
3 Quần đảo Bái Tử Long
Quần đảo Bái Tử Long (Quảng Ninh) là một hệ thống trên nghìn hòn đảo cấu tạo từ các đá lục nguyên và cacbonat Paleozoi, nằm trên đới uốn nếp Caledonit Katazia Với vai trò của ba hệ thống đứt gãy hoạt động trong tân kiến tạo
và kiến tao hiện đại có phương tây bắc - đông nam, đông bắc - tây nam và á vĩ tuyến, vòng cung đảo Bái Tử Long được xem là phần tương đồng của vòng cung Đông Triều mở rộng về phía biển, xen với các bồn trũng hẹp
Các đảo đá lục nguyên như Trà Bản, Trà Ngọ, Ba Mùn, Minh Châu, Sậu Nam, Thoi Xanh v.v thường có hình thái rất hẹp, kéo dài và khá cao, phổ biến 8-150m, cao nhất 325m (Trà Bản) Các đảo đá vôi có hình thái và cảnh quan ít
Trang 4nhiều tương tự vịnh Hạ Long Viền bờ nhiều đảo có các rạn san hô (Ba Mùn), các bãi cát biển (Ngọc Vừng), các doi cát (Thoi Xanh) và các bãi lầy sú vẹt
Hình thái các đảo thường tạo chuỗi kéo dài, được gọi là dạng tràng hạt [21],định hướng xếp song song với bờ lục địa, tạo nên kiểu bờ biển nguyên sinh
Dalmatic điển hình [8,11] Đây là một quần đảo có mật độ đảo thuộc loại dày
đặc, vốn là đồi và núi thấp chịu quá trình xâm thực, bóc mòn yếu và bị biển tiến sau băng hà lần cuối làm ngập chìm Bờ của chúng chịu tác động của các quá trình biển, nhưng các đặc điểm kiến trúc - hình thái chưa bị biến đổi sâu sắc Cảnh quan quần đảo rất đẹp, đa dạng hơn Vịnh Hạ Long Nhiều đảo còn giữ được rừng nguyên sinh xanh tốt và nhiều loài động vật hoang dã, đặc biệt là Vườn Quốc gia Bái Tử Long mà trung tâm là đảo Ba Mùn [14]
Hình 3 Quần đảo Bái Tử Long nhìn từ
ảnh vệ tinh Landsat
Hình 4 Đầm lầy sú vẹt Cần Giờ ở vùng cửa sông hình phễu Đồng Nai (Nguồn: Wikipedia).
4.Vùng cửa sông Đồng Nai
Vùng cửa sông Đồng Nai nằm ở rìa phía bắc Châu thổ sông Mê Kông, được tạo nên từ phần cửa của các nhánh sông chính là Đồng Nai, Sài Gòn, Sông Ngã Bảy, sông Thị Vải và sông Dinh Cửa Soài Rạp và vịnh Ghềnh Rái là các hợp phần của vùng cửa sông hình phễu Đồng Nai, từ năm 1952 đã được nhà Điạ lý Xôviết Xamoilov xếp vào hàng những vùng cửa sông hình phễu điển hình của thế giới [15]
Vùng cửa sông hình phễu Đồng Nai phát triển trên nền ngập chìm không đền bù trầm tích, có cấu trúc nửa kín, có thể hạn chế sóng gió lớn từ biển, thuỷ triều biên độ lớn, khả năng sa bồi ít và luồng lạch sâu rộng nhờ động lực triều thống trị tạo nên xâm thực sâu Đây là nơi phát triển các đầm lầy sú vẹt (mangrove marshes) rộng nhất Đông Nam Á điển hình cho vùng ven bờ nhiệt đới với hệ thống lạch triều phân nhánh dày đặc Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Rừng ngập mặn Cần Giờ trong vùng cửa sông được UNESCO công nhận đầu tiên ở Việt Nam rộng trên 75 nghìn ha
Trang 5Vùng cửa sông có lợi thế phát triển các cảng lớn với các hoạt động công nghiệp, hàng hải, dịch vụ và du lịch đi kèm, có cảng lớn Sài Gòn, gần đây phát triển mở rộng các cụm cảng Sao Mai - Bến Đình, Thị Vải - Phú Mỹ Đây là cửa ngõ ra biển ở phía nam trong mối quan hệ phát triển vùng kinh tế trọng điểm thành phố Hồ Chí Minh - Bà Rịa - Vũng Tàu
5.Hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên Huế), kéo dài 70 km dọc bờ biển theo hướng tây bắc - đông nam, có diện tích 216km2, rộng 1 10 km, sâu 1 -2m, sâu nhất 10m, ngăn cách với biển qua hệ thống cồn cát đồ sộ và thông với biển qua hai cửa Thuận An, Tư Hiền Hệ đầm phá thuộc cỡ lớn trên thế giới, thuộc
loại lớn nhất Đông Nam Á, lớn nhất và tiêu biểu nhất trong số 12 đầm phá ven
bờ Miền trung Việt Nam, đặc trưng cho đầm phá nhiệt đới gió mùa, nằm ở vùng mưa nhiều và mùa mưa trùng mùa đông lạnh [15]
Đồng bằng aluvi cổ ven bờ thoải và rộng, nguồn bồi tích cát phong phú và sóng mạnh đã hình thành hệ cồn cát chắn ngoài để tạo đầm phá trong điều kiện biển tiến Holocen dâng chậm lại vào khoảng 3 - 4 nghìn năm trước trên nền kiến tạo nâng yếu Cảnh quan đầm phá thật đẹp với vùng nước yên tĩnh, trong xanh, có
hệ cồn cát hùng vĩ ở phía biển, có các đầm lầy cửa sông hoang dã với các đàn chim nước cư trú dày đặc Các thảm cỏ biển như những cánh rừng dưới đáy nước trong xanh Những bãi biển rất đẹp như Thuận An, Vinh Hiền phía rìa ngoài đầm phá.v.v Vùng đầm phá còn có nhiều các di tích khảo cổ, lịch sử, văn hóa, tập quán,
lễ hội v.v góp phần cho phát triển để du lịch sinh thái và địa chất Hệ đầm phá
có tiềm năng được công nhận là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc tế
Hình 5 Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai
nhìn từ ảnh vệ tinh Landsat.
Hình 6 Địa hình karstơ dạng chóp Vịnh Hạ Long nhìn qua hang Bồ Nâu (Ảnh: Waltham Tony).
6.Vịnh Hạ Long
Vịnh Hạ Long là mẫu hình tuyệt vời về karstơ trưởng thành trong điều kiện nhiệt đới ẩm, có đủ tất cả các cấp bậc của địa hình karstơ, các hệ thống hang động
cổ, hang động đang hoạt động và cả hang động tạo ra do quá trình biển Tại đây phổ biến kiểu địa hình karstơ hình chóp kiểu Phong Tùng và hình tháp kiểu Phong Linh
Trang 6Các chóp và tháp bị biển tràn ngập cánh đồng karstơ, tách rời nhau tạo nên cảnh quan vô cùng đặc sắc [12, 16]
Biển còn làm chìm một số phiễu karstơ, biến chúng thành những hồ nước mặn nằm sâu trong lòng đảo, như cụm hồ Ba Hầm Biển cũng tạo nên những ngấn vách, có khi ăn sâu thành hàm ếch, hang luồn, tô vẽ thêm vẻ kỳ vĩ cho cảnh quan karstơ Hang động vịnh rất phong phú, đa dạng và thuộc về ba nhóm chính Nhóm thứ nhất là di tích các hang ngầm cổ, tiêu biểu là hang Sửng Sốt - động Tam Cung, động Lâu Đài, động Thiên Cung, hang Đầu Gỗ, động Hoàng Long và Thiên Long Nhóm thứ hai là các hang nền karstơ, tiêu biểu là Trinh Nữ, Bồ Nâu, Tiên Ông và Hang Trống Nhóm thứ ba là những hang hàm ếch biển, tiêu biểu là ba hang luồn khu hồ Ba Hầm, hang luồn ở đảo Bồ Hòn
Karstơ vịnh Hạ Long có ý nghĩa toàn cầu và có tính nền tảng cho khoa học địa mạo Về độ cao, độ dốc và số lượng các tháp đá vôi thì Vịnh đứng sau vùng Yangshu, Quảng tây, Trung Quốc Nhưng Hạ Long có thêm quá trình biển ngập và xâm thực biển đã tạo lên những nét mới làm cho địa mạo karstơ vịnh trở thành độc nhất vô nhị trên thế giới Vịnh hai lần được công nhận là di sản thế giới về mỹ học (1994), địa chất học (2000) và đang có cơ hội được bầu chọn là một trong bẩy kỳ quan thiên nhiên của thế giới
7 Ghềnh Đá Đĩa Tuy An
Ghềnh Đá Đĩa thuộc xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, có diện tích khoảng 1km2, nằm trải dài 300m bên bờ biển , trông xa như một chồng đĩa khổng lồ, nửa chìm, nửa nổi, có một lõm trũng ở giữa
Ghềnh được cấu tạo từ các cột đá Bazan tuổi Pliocen thuộc hệ tầng Đại Ngao [3] xếp chặt xít với nhau, nhiều màu sắc, phổ biến là đen huyền và xám nâu Các cột đá có chiều dài khác nhau, xếp thẳng đứng, xiên, uốn lượn hoặc gần nằm ngang Các cột thường dài đến 3 4m, thiết diện 30 40cm, có khi 60 -70cm, phổ biến hình ngũ giác, ít hơn là tứ giác và lục giác, bị khe nứt tách ngang thành từng lớp dày 10 – 20cm tạo thành hình các chồng đĩa
Hiện tượng đá bazan phong hoá dạng cột, dạng cầu không phải hiếm gặp Tuy nhiên, trong trường hợp tại ghềnh Tuy An, các hình khối được tạo ra do hai
hệ thống khe nứt vuông góc với nhau, phân bố đều đặn là hiện tượng rất hiếm gặp Có lẽ tính đồng nhất rất cao của thành phần dung nham và môi trường phun trào đã tạo ra trạng thái kỳ lạ này Do khối đá nằm sát bờ biển, có
lẽ môi trường biển đã có tác động quan trọng đến quá trình phong hoá, bào mòn và tạo nên hình thái xuất lộ độc đáo Hình khối, cấu trúc tự nhiên và sự xắp xếp trong không gian dường như do bàn tay của con người tạo ra đã mang lại những nét độc đáo và kỳ diệu của Ghềnh Đá Đĩa
Trang 7Tuy quy mô nhỏ hơn, Ghềnh Đá Đĩa Tuy An có thể sánh với điểm trụ đá
Bazan dạng cột Boscarró ở Garrotxa, Tây Ban Nha, được coi là một trong mười
kỳ quan địa chất đứng đầu Châu Âu [5] Gềnh Đá Đĩa Tuy An được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng là thắng cảnh quốc gia năm 1998, có triển vọng xây dựng thành công viên địa chất kết hợp với bảo tồn địa chất ngoài trời
Hình 7 Ghềnh Đá Đĩa Tuy An (Ảnh:
Nguyễn Hữu Cử)
Hình 8 Bãi biển Lăng Cô (Ảnh: Nguyễn Hữu Cử)
8 Bãi biển Lăng Cô
Bãi biển Lăng Cô (Thừa Thiên Huế) nằm ở phía Bắc đèo Hải Vân trên quốc
lộ 1A, cách trung tâm thành phố Huế 80km về phía Nam, và cách khu Bạch Mă 24km Đây là là một danh thắng thiên nhiên nổi tiếng của tỉnh Thừa Thiên Huế, nằm tại khu vực có phong cảnh vào loại đẹp nhất ở Việt Nam Dưới góc độ thẩm
mỹ và kinh tế, bãi biển Lăng Cô được xem là một trong 25 bãi biển tốt nhất Việt Nam [2] Dưới góc độ kỳ quan địa chất, bãi biển Lăng Cô được xem là tiêu biểu cho các bãi biển Việt Nam
Bãi có thành phần cát mịn và cát trung, màu xám trắng, vàng nhạt, nằm tựa lưng vào hệ cồn cát tuổi Holocen giữa - muộn, rộng khoảng 200 - 300m, kéo dài 12km từ mũi Chân Mây Đông đến cửa Đầm Lập An Không chỉ phong cảnh rất đẹp, đây còn là một trong những bãi biển dài nhất ven bờ Việt Nam, thẳng tắp đến kỳ lạ, minh chứng cho tính ổn định cao của trắc diện dọc Trắc diện ngang bãi phát triển rất hoàn chỉnh Đới bãi sau nổi cao, phẳng và rộng do sóng vỗ có độ cao khá ổn định sau khi vượt qua vùng đáy nông thoải vào bờ Đới bãi trước rất thoải và hình thái khá ổn định do dao động triều không lớn và chân bãi mở lấn xuống dưới mực triều thấp nhất Đáy biển trước bãi, nông thoải và lượn sóng Ra phía biển, sau rãnh nông sát chân bãi là dải cồn ngầm nông thoải trải dài dưới dải sóng vỡ bạc đầu tăng thêm khả năng an toàn cho người tắm biển
Dải bãi biển Lăng Cô cùng với dải bờ phía đông bắc bán đảo Hải Vân tạo nên một vịnh hở, đang được xem là một trong những vịnh đẹp nhất thế giới
9 Cồn cát ven biển Bình Trị Thiên
Trang 8Các cồn cát đồ sộ ven biển Bình Trị Thiên phân bố trên chiều dài 250km, rộng khoảng 67 nghìn hecta, riêng Quảng Bình 39 nghìn hecta, chiếm khoảng hai phần ba diện tích của dải cồn cát ven bờ biển Miền Trung kéo dài từ Hà Tĩnh đến Ninh Thuận
Các cồn cát có độ cao10- 40m, có khi đạt 50 - 60m, thường có 2- 3 hệ thống ngăn cách nhau qua các trũng hẹp, hoặc có đoạn chồng phủ trực tiếp lên nhau.Ở nam Quảng Bình, ba hệ từ phía biển vào có độ caolần lượt là 10 - 15m, 30 - 40m và
10 - 20m xen với các trũng nằm giữa cao 5 -15m.Chúng có hướng thoải phía biển
và hướng dốc hơn phía lục địa, thành phần cát nhỏ, cát trung màu xám vàng (cồn phía biển) và xám trắng (cồn phía lục địa)
Tổng khối lượng cát của hệ thống cồn khoảng 16km3, là một con số quá lớn so với tổng lượng cát các sông Bình Trị Thiên đưa ra biển trong suốt cả Holocen Nguồn cát đồ sộ này có nguồn gốc sông Hồng cổ nằm trên thềm lục địa Vịnh Bắc Bộ và được sóng biển di chuyển ngang vào bờ trong quá trình dâng cao của biển tiến Holocen [21] Bồi tích cát phong phú, mùa khô trùng mùa nóng, gió biển thổi mạnh vuông góc với bờ là tiền đề thành tạo các cồn cát đồ sộ ven biển Bình Trị Thiên, thể hiện tính phi địa đới của quá trình bờ Việt Nam.Các cồn cát đang di lấn về phía lục địa với tốc độ thường 2 - 5m/năm, có khi 10 -15m/năm Tại Thừa Thiên Huế, biên độ di chuyển cồn cát về phía lục địa đã được xác định khoảng 250m trong khoảng 1200 năm qua
So sánh với một số cồn cát ven biển quy mô đồ sộ nhất thế giới:
- Đại cồn cát Pilat nằm ở vịnh Arcachon, Pháp, trên bờ Đại Tây Dương, rộng 0,5– 3km, cao nhất 117m, thể tích 60 triệu m³, thuộc loại đồ sộ nhất châu Âu
- Cồn cát Oregon ở bờ biển Miền Tây nước Mỹ, dài khoảng 73km, cao nhất đến 152m, nằm trong khu công viên quốc gia rộng 110 km²
- Cồn cát Cronulla nằm trên bán đảo Kurnell, Australia, rộng 4km2 có đỉnh 40m cao hơn và chân 90m thấp hơn mực biển, đang di động về phía bắc 8m/năm
- Cồn cát Curonian trải dài trên bán đảo Sambian, thuộc Lithuania và Nga, chắn ngoài đầm phá Curonian trênbờ biển BanTích,dài trên 52km, (phần thuộc Lithuania) rộng 0,4 – 3,8km, cao trung bình 35m, cao nhất 60m
Có thể thấy, các cồn cát ven biển Bình Trị Thiên là một công trình kỳ
vỹ của thiên nhiên, tầm cỡ thế giới, theo Trần Đình Gián (1962) có quy mô đồ
sộ chỉ đứng sau các cồn cát ven biển miền nam Italy [4]
Đồi sa mạc cát Bình Trị Thiên tạo nên cảm giác mạnh về thiên nhiên hoang sơ, bao la, bí ẩn và cuộc đời sinh động của các thực thể cát, có giá trị cao cho du lịch địa chất Chúng có vai trò vô cùng quan trọng đối với điều hoà môi trường và phòng chống thiên tai như hạn chế sức tàn phá của gió biển, bão, sóng biển và sóng thần, điều hoà nước ngầm và hạn chế xâm nhập mặn v.v
Trang 9Hình 9.Hệ thống cồn cát ven biển Bình
Trị Thiên Ảnh vệ tinh Modis.
Hình 10 Mặt rạn san hô Nam Yết, Trường Sa (Ảnh: Nguyễn Đăng Ngải)
10 Rạn san hô Trường Sa
Các rạn san hô Quần đảo Trường Sa nằm trong khoảng 5º - 12º N trên cao nguyên ngầm bị chia cắt có diện tích trên 300 ngàn cây số vuông Quần đảo bao gồm hàng trăm đảo nổi, đá, bẵi nông, bẵi ngầm với trên 130 nơi đẵ được đặt tên, thuộc về 8 cụm lớn là Song Tử, Thị Tứ, Loại Ta, Nam Yết, Sinh Tồn, Bình Nguyên, Trường Sa và Thám Hiểm Đây là một trong những vùng phân bố rạn san hô lớn nhất thế giới Hệ thống rạn san hô phát triển hết sức đa dạng và phong phú về kiểu loại, bao gồm các rạn vòng (atolls), các bãi ngầm (coral banks) , các bẵi nông (coral soals), các đá (coral reefs) nằm lập lờ mặt nước và các đảo nổi (coral islands/cays) Quần đảo Trường Sa có 23 đảo nổi, độ cao trung bình 2-4m, rộng trung bình 5-16ha Lớn và cao nhất là đảo Thái Bình diện tích tới 43ha và độ cao đạt tới 5m Một số đảo có hình thái biến dạng rất mạnh do bồi tụ, xói lở bãi theo mùa gió [10, 11]
Các rạn san hô phát triển trên các dạng địa hình dương phần lớn có chân nằm ở độ sâu 1500-2500m, có vỏ trái đất kiểu lục địa dày 24-26km Các thành tạo rạn trên có hình thái phụ thuộc cấu trúc địa chất và hướng gió thịnh hành với trục dài phân bố theo hướng đông bắc - tây nam hoặc bắc - nam
Sự phát triển của rạn san hô Trường Sa là một hiện tượng kỳ lạ, dường như liên tục từ Miocen giữa, không tựa vào các đảo (thường là núi lửa)
bị sụt chìm như giả thuyết của Đac Uyn Các yếu tố độ mặn, độ trong, nhiệt độ cao và ổn định tạo cơ hội cho các san hô tạo rạn phát triển vươn lên theo kịp mức dâng cao của mực biển Đặc biệt, đảo Trường Sa, diện tích 9ha, đứng đơn
lẻ, vươn lên từ độ sâu trên dưới 2000m, thuộc kiểu rạn hình tháp nhọn (pinnacle reef)
Hình thái các rạn vòng rất điển hình Các rạn vòng tiêu biểu là Song
Tử, Nam Yết và Sinh Tồn, nằm trong các đường đẳng sâu 100-200m, có các
Trang 10vụng nằm giữa với đường kính 20-30km, đôi nơi tới 100km, sâu trung bình là 50m, đôi khi 70-80m Trên vành khuyên của rạn vòng điển hình thường có mặt đầy đủ các đá, bãi nông và một vài đảo nổi
Về quy mô, rạn vòng Bãi Cỏ Rong ở Trường Sa rộng 8866km2, có kích thước lớn thứ ba trong số các rạn vòng trên thế giới chỉ đứng sau bãi Saya de Malha, phía nam đảo Xây Xen (thuộc chủ quyền của Mauritius, Ấn Độ Dương), rộng 35000km2 và Bãi Great Chagos (thuộc Anh, Ấn Độ Dương, phía nam Maldivers), rộng 12642km2 Hệ thống rạn san hô Trường Sa là một kỳ quan địa chất học, đồng thời là kỳ quan sinh thái Đó là một công trình thiên nhiên kỳ
vỹ trên biển của Việt Nam và của nhân loại, có giá trị rất lớn về du lịch và bảo tồn tự nhiên
KẾT LUẬN
Do đặc điểm địa chất, hoàn cảnh địa lý nhiệt đới gió mùa, các kỳ quan địa chất vùng biển và ven bờ Việt Nam rất phong phú và đa dạng mà 10 kỳ quan trên có thể chưa đại diện đầy đủ cho ba nhóm cơ bản Đặc điểm nổi bật của các kỳ quan này là tính thẩm mỹ, tiếp đến là tính kỳ vỹ Có trường hợp
kỳ vỹ trở thành thuộc tính hàng đầu như trường hợp cồn cát ven biển Bình Trị Thiên Tính chất độc đáo của kỳ quan đan xen vào từng trường hợp cụ thể và có trường hợp trở thành yếu tố giá trị chủ yếu nhất như trường hợp Ghềnh Đá Đĩa Tính chất tiêu biểu nổi trong trường hợp với đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và bãi biển Lăng Cô Rất nhiều kỳ quan đạt được ba tiêu chí thẩm mỹ, kỳ vỹ và độc đáo như trường hợp Vịnh Hạ Long, quần đảo Bái Tử Long, rạn san hô Trường Sa v.v
Các kỳ quan vùng biển và ven bờ Việt Nam thể hiện được tính địa đới và phi địa đới của các quá trình bờ và biển của vùng nhiệt đới ẩm có chế độ gió mùa Sự biểu hiện bề ngoài của kỳ quan là hình thể và cảnh quan, liên quan trực tiếp đến địa mạo học, nhưng về bản chất đều do các thuộc tính địa chất quyết định, quan hệ với thành phần vật chất, cấu trúc – kiến trúc và các quá trình động lực của môi trường địa chất có tính kế thừa quá khứ - hiện tại Chắc chắn trong tương lai, các kỳ quan địa chất vùng biển và ven bờ Việt Nam sẽ thu hút sự quan tâm của cả giới khoa học và quản lý
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lê Đức An, 2008 Tiến tới xây dựng các công viên địa chất ở Việt Nam: Lược khảo về các di sản địa mạo Các Khoa học về trái đất 30 (1), 49- 57
2 Vũ Tuấn Cảnh và nnk, 1995 Luận chứng khoa học kỹ thuật xây dựng và phát triển hệ thống du lịch biển Việt Nam Báo cáo đề tài KT 03 - 18