Một số vấn đề lí luận cơ bản và thực tiễn về mô hình nông thôn mới
Một số lý luận cơ bản về mô hình nông thôn mới
Nông thôn là khu vực địa lý nơi cộng đồng sinh sống gắn bó với nhau, có mối quan hệ chặt chẽ trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Hiện nay trên thế giới chưa thống nhất định nghĩa về nông thôn Có nhiều quan điểm khác nhau.
Có hai quan điểm chính về cách xác định vùng nông thôn: một là dựa vào trình độ phát triển cơ sở hạ tầng, và hai là dựa vào chỉ tiêu tiếp cận thị trường cùng với sự phát triển hàng hóa Nhóm chuyên viên của Liên hợp quốc đã giới thiệu khái niệm CONTINIUM để so sánh và phân tích mối quan hệ giữa nông thôn và đô thị.
Khái niệm nông thôn là tương đối và biến đổi theo thời gian, phản ánh sự thay đổi về kinh tế xã hội của từng quốc gia Tại Việt Nam, điều này có thể được hiểu như một sự phát triển liên tục trong các lĩnh vực nông nghiệp, văn hóa và đời sống cộng đồng.
Nông thôn là khu vực cư trú của cộng đồng dân cư, chủ yếu là nông dân, tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa-xã hội và môi trường dưới một thể chế chính trị cụ thể, đồng thời bị ảnh hưởng bởi các tổ chức khác.
Phát triển nông thôn là một phạm trù rộng được nhận thức với rất nhiều quan điểm khác nhau.
(1) (Giáo trình Phát triển nông thôn, trường ĐHNN Hà Nội, trang 11, 2005)
Theo Ngân hàng Thế giới (1975), phát triển nông thôn là chiến lược cải thiện điều kiện sống kinh tế và xã hội cho nhóm người nghèo ở vùng nông thôn, nhằm đảm bảo rằng những người nghèo nhất trong cộng đồng này được hưởng lợi từ sự phát triển.
Phát triển nông thôn nhằm nâng cao vị thế kinh tế và xã hội cho người dân thông qua việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực địa phương, bao gồm nhân lực, vật lực và tài lực.
Phát triển nông thôn có nhiều tác động tích cực, bao gồm việc hiện đại hóa nền văn hóa nông thôn trong khi vẫn bảo tồn giá trị truyền thống Quá trình này đòi hỏi ứng dụng khoa học và công nghệ, đồng thời khuyến khích sự tham gia của cộng đồng dân cư vào các chương trình phát triển, với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho cư dân nông thôn.
Phát triển nông thôn toàn diện tại Việt Nam nhấn mạnh tính bền vững về môi trường, được xây dựng dựa trên các chiến lược kinh tế xã hội của Chính phủ.
Phát triển nông thôn là quá trình bền vững nhằm cải thiện kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, với mục tiêu nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân nông thôn Quá trình này cần sự hỗ trợ tích cực từ Nhà nước và các tổ chức khác.
Mô hình nông thôn mới
Xây dựng mô hình nông thôn mới là một chính sách phát triển toàn diện cho nông nghiệp và nông thôn, nhằm giải quyết nhiều vấn đề cụ thể và mối quan hệ giữa các chính sách và lĩnh vực khác Chính sách này tập trung vào việc tổng hợp và bao quát, khắc phục tình trạng rời rạc và duy ý chí trong quản lý, tạo nên sự cân đối và tính tổng thể trong phát triển.
(2) Giáo trình Phát triển nông thôn, Trường ĐHNN Hà Nội, trang 19, 2005
(3) Giáo trình Phát triển nông thôn, Trường ĐHNN Hà Nội, trang 20, 2005
Mô hình nông thôn mới được các nhà nghiên cứu hình dung là những cộng đồng theo tiêu chí hiện đại, kết hợp giữa thành tựu khoa học và công nghệ với việc gìn giữ bản sắc văn hóa Việt Nam Mục tiêu chung là phát triển làng nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hợp tác hóa, dân chủ hóa và văn minh hóa.
Mô hình nông thôn mới được xác định bởi các tính chất như đáp ứng yêu cầu phát triển thông qua đổi mới tổ chức, vận hành và cải thiện cảnh quan môi trường Mô hình này cần đạt hiệu quả cao trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội, đồng thời phải vượt trội hơn so với mô hình cũ Nó cũng cần chứa đựng các đặc điểm chung có thể được phổ biến và áp dụng trên toàn quốc.
Mô hình nông thôn mới được định nghĩa là tổng thể các đặc điểm và cấu trúc hình thành một tổ chức nông thôn theo tiêu chí hiện đại, nhằm đáp ứng yêu cầu mới trong bối cảnh hiện nay Mô hình này đại diện cho sự tiến bộ so với mô hình nông thôn cũ, mang lại sự phát triển toàn diện cho khu vực nông thôn.
Những đặc điểm đặc trưng của mô hình nông thôn mới từ đề án của
Được xây dựng trên đơn vị cơ bản là cấp làng - xã.
Vai trò của người dân được nâng cao, nêu cao tính tự chủ của nông dân.
Người dân cần chủ động xây dựng kế hoạch phát triển, đồng thời thu hút sự tham gia tích cực của tất cả các thành viên trong cộng đồng nông thôn để đạt được mục tiêu hiệu quả cao.
Việc thực hiện kế hoạch cần dựa vào nguồn lực tự có của người dân, thay vì phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ bên ngoài.
Các tổ chức nông dân hoạt động mạnh, có tính hiệu quả cao.
Nguồn vốn từ bên ngoài được phẩn bổ và quản lý sử dụng có hiệu quả.
(4) Phan Xuân Sơn, Nguyễn Cảnh, Xây dựng mô hình nông thôn mới nước ta hiện nay, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia
Trên đây là những đặc điểm tạo nên nét riêng biệt của mô hình nông thôn mới chưa từng có trước kia.
2.1.2 Điều kiện cần có để xây dựng mô hình nông thôn mới theo Đề án của Bộ NN&PTNT
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước về xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới
Nền nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt với cơ hội lớn trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu phát triển mạnh mẽ Do đó, việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác trong lĩnh vực phát triển nông nghiệp nông thôn trở thành yếu tố then chốt thúc đẩy sự phát triển kinh tế đất nước hiện nay.
Xây dựng nông thôn mới ở Trung Quốc
Trung Quốc, với nền tảng nông nghiệp mạnh mẽ, đã chứng kiến phần lớn người lao động phụ thuộc vào lĩnh vực này Do đó, cải cách kinh tế ở nông thôn đóng vai trò then chốt trong quá trình cải cách kinh tế toàn diện của đất nước.
Năm 1978, Trung Quốc đã chính thức bãi bỏ chế độ phân phối bình quân ở nông thôn, chuyển sang nguyên tắc "làm hết năng lực, phân phối theo lao động" Điều này đồng nghĩa với việc tăng cường quản lý định mức và trả thù lao cho người lao động dựa trên số lượng và chất lượng công việc thực hiện.
Từ năm 1980, Trung Quốc bắt đầu thí điểm khoán sản lượng đến hộ và khoán toàn bộ đến hộ gia đình nông dân, và đến năm 1982, các biện pháp này chính thức được thực hiện trên toàn quốc Đến cuối năm 1984, 98,2% số thôn, 96,3% số hộ và 98,6% đất canh tác đã áp dụng phương pháp khoán sản lượng Sự giải phóng năng lực sản xuất cho hàng trăm triệu hộ nông dân đã tạo ra bước nhảy vọt trong kinh tế nông thôn Trung Quốc, với tỷ lệ tăng trưởng giá trị tổng sản lượng nông nghiệp đạt 11,5%/năm trong giai đoạn 1980 - 1985, gấp 3,5 lần so với giai đoạn 1953 - 1980.
Vào tháng 3/2006, Trung ương Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc đã công bố Bản “tài liệu số 1” nhằm giải quyết vấn đề nông thôn, với mục tiêu xây dựng “Nông thôn mới xã hội chủ nghĩa” trong kế hoạch 5 năm 2006 – 2010 Tài liệu nhấn mạnh vào việc điều chỉnh mối quan hệ trong phân phối thu nhập, tập trung tăng thu nhập cho tầng lớp có mức sống trung bình và thấp Đặc biệt, chính sách “Cho nhiều, lấy ít, nuôi sống” được áp dụng mạnh mẽ cho nông dân, cùng với các giải pháp toàn diện về phát triển nông thôn, xã hội và dân chủ Sự thay đổi này đánh dấu một giai đoạn mới trong phát triển kinh tế và xã hội của Trung Quốc.
Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Hàn Quốc, từng chịu ảnh hưởng nặng nề từ chiến tranh, đã thực hiện cải cách ruộng đất vào năm 1954, dẫn đến sự phát triển mạnh mẽ và biến đổi sâu sắc trong nền nông nghiệp Những thành tựu trong phát triển nông thôn của Hàn Quốc cung cấp nhiều kinh nghiệm và bài học quý giá cho các quốc gia nông nghiệp trên toàn thế giới.
(5) TC Nông thôn mới, Đào Thế Tuấn, số 175 + 176, 5/2006, tr 53-54
Hàn Quốc triển khai chương trình "làng mới" nhằm phát triển nông thôn, tập trung vào việc đặt người dân làm trung tâm Chương trình này không chỉ giúp người dân tăng cường niềm tin mà còn huy động toàn bộ năng lực của họ để tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
Chương trình “làng mới” được tổ chức nhằm xây dựng một hệ thống phát triển nông thôn liên kết chặt chẽ từ trung ương đến địa phương Mỗi làng sẽ bầu ra từ 5 đến 10 thành viên để thành lập “Ủy ban Phát triển làng mới”, có nhiệm vụ lập kế hoạch và triển khai các dự án phát triển nông thôn.
Chương trình hoạt động theo nguyên tắc cơ bản: "Nhà nước cung cấp vật tư, nhân dân đóng góp công sức." Nhân dân có quyền quyết định loại công trình ưu tiên xây dựng, đồng thời chịu trách nhiệm về thiết kế, chỉ đạo thi công và nghiệm thu công trình Nội dung thực hiện bao gồm các bước cụ thể để đảm bảo hiệu quả và chất lượng công trình.
Để xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, bước đầu tiên là phát huy nội lực của nhân dân, bao gồm việc ngói hóa nhà ở và lắp đặt hệ thống thông tin, nhằm cải thiện đời sống và sinh hoạt cho nông dân.
Để tăng thu nhập cho nông dân, cần thực hiện các dự án thúc đẩy hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, xây dựng các vùng chuyên canh và nâng cao năng suất cây trồng.
Trong thời gian qua, đã đạt được nhiều kết quả tích cực với 12 loại dự án, bao gồm mở rộng đường nông thôn, thay mái lá cho nhà ở, lắp đặt cống và máy bơm Bên cạnh đó, việc xây dựng các trạm giặt công cộng cho làng và sân chơi cho trẻ em cũng đã được triển khai.
Sau 8 năm thực hiện, từ năm 1971-1978 tốc độ phát triển nông nghiệp tăng 6,9%; 3/5 đất hoang được nông hộ khai thác sử dụng có hiệu quả cao; toàn bộ nhà nông thôn được hóa ngói Sau 20 năm đã có 84% rừng được trồng trong phong trào phát triển làng mới Sau 6 năm thực hiện, thu nhập trung bình hộ tăng gấp 3 lần từ 1025USD năm1972 lên 2061USD năm1977 và thu nhập các hộ nông thôn cao tương đương với các hộ của thành phố
Đài Loan, với nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, đã triển khai chiến lược phát triển nông thôn từ năm 1949 đến 1953, tập trung vào việc "lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp" và "lấy công nghiệp phát triển nông nghiệp".
Đài Loan đã triển khai nhiều chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp nhằm nâng cao đời sống nông dân, bao gồm “Chương trình phát triển nông thôn tăng tốc”, “Tăng thu nhập của nông trại và tăng cường chương trình tái cấu trúc nông thôn”, và “Chương trình cải cách giai đoạn II” Những chương trình này tập trung vào việc cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và tăng cường thu nhập cho nông dân.
Tập huấn các nông dân hạt nhân.
Mở rộng quy mô sản xuất nông nghiệp.
Quy hoạch và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên.
Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao công nghệ mới.
Chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.
Tăng thêm phúc lợi cho nông dân.
2.2.2 Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
Lịch sử phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu có liên quan
Mô hình quy hoạch xây dựng nông thôn mới 12/01/2009 (6)
Hiện nay, công tác quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn ở nước ta còn hạn chế, mới chỉ đạt 20% số xã Do đó, việc nghiên cứu và xây dựng mô hình nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng là vô cùng cần thiết.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa X đã định hướng xây dựng nông thôn mới, nhằm đáp ứng nhu cầu của cộng đồng xã hội và người nông dân Việt Nam Mục tiêu của mô hình này là góp phần phát triển đất nước, đồng thời giảm dần khoảng cách sống giữa khu vực đô thị và nông thôn.
Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn với điều kiện tiện nghi giảm dần khoảng cách với cuộc sống đô thị.
Tổ chức quy hoạch và kiến trúc công trình phải góp phần kích cầu về kinh tế và đảm bảo đáp ứng yêu cầu CNH nông nghiệp, nông thôn.
Tổ chức quy hoạch và kiến trúc công trình theo hướng hiện đại hoá.
Tổ chức quy hoạch và kiến trúc phải giữ gìn và phát huy bản sắc truyền thống, vùng, miền.
Một số mô hình nông thôn tại các vùng miền
Hình 2.1 Vùng miền Tây Nam Bộ (Đồng bằng sông Cửu Long)
Trong vùng, dân cư chủ yếu được phân loại thành các hình thái sau: dân cư vùng ngập sâu, dân cư vùng ngập vừa và nông, dân cư miệt vườn, cùng với dân cư phân bố theo kênh rạch.
+ Các vấn đề cần tập trung trong xây dựng nông thôn mới đối với dân cư vùng ngập lũ.
(6 ) TS.KTS.Nguyễn Ðình Toàn, Viện trưởng Viện Kiến trúc Quy hoạch Ðô thị Nông thôn
Hình 2.2 Vùng Đồng bằng sông Hồng
Các hình thái dân cư chủ yếu trong vùng: Dân cư thị tứ thương mại-
TTCN, dân cư làng truyền thống, dân cư làng nghề (làng truyền thống và làng nghề mới), dân cư dọc quốc lộ, dân cư làng ven đô).
Các vấn đề cần tập trung trong xây dựng nông thôn mới: Dân cư làng truyền thống, thuần nông, dân cư làng ven đô, dân cư làng nghề
(làng nghề truyền thống và làng nghề mới).
Các hình thái dân cư chủ yếu trong vùng: Dân cư vùng cây công nghiệp, dân cư vùng cây lâm nghiệp, Bản làng dân tộc
(Ê Đê, Ba Na, J’Rai), dân cư khu vực biên giới.
Các vấn đề cần tập trung trong xây dựng nông thôn mới, bản làng dân tộc (Ê Ðê, Ba Na, J’Rai), dân cư khu vực biên giới.
Mô hình đô thị làng quê Quảng Nam 06/04/2009 (7)
Mô hình quy hoạch đô thị làng quê tại Quảng Nam đã hệ thống hóa các làng truyền thống, làng nghề truyền thống và làng công nông thương trong bối cảnh đô thị hóa nhanh tại tỉnh này, một khu vực có tiềm năng kinh tế và du lịch lớn Nghiên cứu đánh giá thực trạng các yếu tố truyền thống và hiện đại, đồng thời phân tích mối liên hệ giữa các xóm, ấp và đô thị Đề xuất hai mô hình thí điểm tại Quảng Nam: Làng nghề gốm cổ Thanh Hà (Hội An) và Thôn 2, xã Tam Tiến, Núi Thành cùng khu đất phía Tây phường Cửa Đại, Hội An Đề tài này góp phần thực hiện nghị quyết số 26-NQ/T.Ư về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, với khối lượng tư liệu phong phú và khảo sát kết hợp kinh nghiệm quốc tế, có thể áp dụng tại Quảng Nam và mở rộng ra toàn quốc.
Hội đồng nhất trí nghiệm thu đề tài với kết quả xuất sắc.
(7)TS.KTS.Nguyễn Ðình Toàn, Viện trưởng Viện Kiến trúc Quy hoạch Ðô thị Nông thôn
Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu
Đặc điểm tự nhiên, kinh tế-xã hội làng Thanh Sầm xã Đồng Thanh huyện
3.1.1.1 Vị trí địa lý và địa hình
Xã Đồng Thanh là một xã đồng bằng thuần nông Có ranh giới địa lý:
Phía Đông giáp xã Song Mai.
Phía Tây giáp xã Phú Thịnh.
Phía Nam giáp xã Hùng An.
Phía Bắc giáp xã Vĩnh Xá.
Xã có mạng lưới sông ngòi phong phú với sông Kim Ngưu, sông Cửu An và sông Mùng Sáu tháng Giêng chảy qua Ngoài ra, kênh Tây cũng chảy qua xã, bắt nguồn từ huyện Văn Giang và kéo dài đến Kim Động.
Làng Thanh Sầm nằm ở phía Nam trung tâm xã, xa các tuyến giao thông và khu vực hành chính Người dân chủ yếu sống bằng nông nghiệp, bên cạnh đó còn có các nghề phụ như mộc, lề, xay sát, thêu đan hạt cườm và buôn bán nhỏ.
Xã Đồng Thanh mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa Một năm phân hóa thành hai mùa rõ rệt mùa mưa và mùa khô.
Hệ thống sông ngòi chằng chịt với 3 con sông chính là Kim Ngưu (2,8km), Cửu An và Mùng Sáu tháng Giêng (1,7km), cùng với kênh Tây (2km) đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tưới tiêu chủ động trên 100% diện tích Tuy nhiên, vào mùa mưa, tình trạng ngập úng xảy ra, gây khó khăn trong việc lưu thông.
Làng Thanh Sầm do có điều kiện địa hình đất thấp rất khó khăn trong việc đi lại nhất là về mùa mưa.
Xã Đồng Thanh sở hữu mạng lưới sông ngòi phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho hệ thống thủy lợi, đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp Tổng diện tích đất tự nhiên của xã là 564,4 ha và trong 3 năm qua, diện tích này không có sự biến đổi.
Năm 2006, diện tích đất nông nghiệp 348 ha, chiếm 61,66% trong tổng diện tích đất tự nhiên; đất phi nông nghiệp: 199,52 ha, chiếm 35,35%; đất chưa sử dụng: 16,88 ha, chiếm 2,99%.
Trong năm 2007, diện tích đất nông nghiệp tăng 2,64%, đạt 357,18 ha, trong khi đất phi nông nghiệp tăng 0,79%, đạt 201,10 ha Đáng chú ý, đất chưa sử dụng giảm mạnh 36,26%, chỉ còn 6,12 ha Sang năm 2008, diện tích đất nông nghiệp tiếp tục tăng nhẹ 0,08% so với năm trước, trong khi đất phi nông nghiệp tăng 1,35% Đất chưa sử dụng lại tiếp tục giảm xuống còn 50,82 ha.
Qua 3 năm diện tích đất nông nghiệp tăng bình quân 1,35%, đất phi nông nghiệp tăng 1,07%, đất chưa sử dụng giảm 57,08% (đạt 42,92%).
Trong thôn, ngoài việc trồng lúa, người dân còn trồng cam đường canh xen canh với đỗ tương trên diện tích đất nông nghiệp, với những thửa đất lớn hơn 1 ha, giúp tăng thu nhập cho họ Qua 3 năm, diện tích đất nông nghiệp đã tăng bình quân 1,35%.
Năm 2007, đất NN/hộ tăng 4,46% so với năm 2006, năm 2008 vẫn tiếp tục tăng 5,71% Tính bình quân qua 3 năm đất NN/hộ tăng 5,13%, đất NN/khẩu giảm 2,07%.
Do lao động nông nghiệp qua 3 năm tăng mạnh 17,4% trong khi đất nông nghiệp qua 3 năm chỉ tăng 2,87% Nên đất NN/lao động bình quân qua
Bảng 3.1 Tình hình đất đai của xã Đồng Thanh qua 3 năm 2006-2008
Danh mục Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Tốc độ phát triển (%)
I Tổng diện tích đất tự nhiên 564.4 100 564.4 100 564.4 100 100 100 100
- Đất trồng cây hàng năm 301.80 92.49 320.51 92.90 321.30 93.05 106.20 100.25 103.18
+ Đất trồng cây hàng năm khác 74.44 24.67 51.45 16.05 52.35 16.29 69.12 101.75 83.86
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 21.70 6.24 12.17 3.41 12.17 3.40 56.08 100 74.89
2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 1.58 0.79 1.58 0.79 1.58 0.78 100 100 100
2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 6.54 3.28 6.68 3.32 6.77 3.32 102.14 101.35 101.74
2.5 Đất sông suối&mặt nước chuyên dùng 17.27 8.66 17.32 8.61 17.74 8.70 100.29 102.42 101.35
II Một số chỉ tiêu bình quân
3 Đất NN/lao động NN (m 2 /lao động) 99.18 - 91.13 - 76.11 - 91.88 83.52 87.60
Nguồn: Ban Thống kê xã
Năm 2008, làng Thanh Sầm có tổng diện tích tự nhiên 121 ha, trong đó 73 ha dành cho sản xuất nông nghiệp Người dân chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp, đồng thời trồng thêm các loại cây như cam đường canh và xoài để đa dạng hóa sản xuất nông nghiệp.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình dân số và lao động
Năm 2008, xã có tổng cộng 6.128 người, trong đó 5.543 người làm nông nghiệp chiếm 90,45% và 585 người phi nông nghiệp chiếm 9,55% Trong ba năm qua, dân số xã tăng trung bình 5,4%, với số nhân khẩu nông nghiệp tăng 4,9% và số nhân khẩu phi nông nghiệp tăng mạnh 41,9% Xu hướng này phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với mục tiêu phát triển chung.
Trong ba năm qua, số hộ nông nghiệp đã giảm trung bình 4,57%, trong khi số lao động nông nghiệp tăng 9,38% Đáng chú ý, lao động phi nông nghiệp tăng mạnh 143,5%, gấp 15,2 lần so với lao động nông nghiệp.
Qua 3 năm tỷ lệ sinh toàn xã tăng bình quân 3,03%, số nhân khẩu/hộ và lao động/hộ cũng có xu hướng tăng với các mức tương đương là 7,8% và 20%.
Lao động trong xã đang chuyển hướng sang nghề phi nông nghiệp, với nhiều người làm việc tại Hà Nội và các tỉnh lân cận do vị trí xã cách đường liên tỉnh 39B chỉ 5-6 km Ngoài ra, một số hộ gia đình đã chuyển sang các ngành nghề như thêu đan hạt cườm xuất khẩu, phù hợp với xu hướng phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của xã.
Làng Thanh Sầm có tổng số 1300 nhân khẩu, với 321 hộ, là làng có số hộ và nhân khẩu nhiều đứng thứ 2 sau làng Vĩnh Đồng.
Bảng 3.2 Tình hình dân số, lao động xã Đồng Thanh qua 3 năm 2006-2008
Danh mục ĐVT Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Tốc độ phát triển (%)
SL CC (%) SL CC (%) SL CC (%) 07/06 08/07 BQ
Nhân khẩu phi NN người 72 1.31 223 3.64 145 2.37 309.72 65.02 141.91
Lao động phi NN người 127 3.86 240 6.34 753 16.60 188.98 313.75 243.50
II Một số chỉ tiêu BQ
Nguồn: Ban Thống kê xã
Làng Thanh Sầm có khoảng 40% lao động làm việc trong ngành phi nông nghiệp, chủ yếu di chuyển đến Hà Nội và các tỉnh lân cận hoặc xuất khẩu lao động Một số lao động tham gia vào nghề thêu đan hạt cườm, trong khi nhiều thanh niên có trình độ tìm kiếm cơ hội làm ăn ở nơi khác và gửi tiền về hỗ trợ gia đình Việc sử dụng và phân bố hợp lý nguồn lao động trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn cho kinh tế làng.
3.1.2.2 Tình hình cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tố thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống Việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng không chỉ thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, mà còn giúp cải thiện cơ cấu kinh tế nông thôn, xóa đói giảm nghèo và thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành phố.
Tính đến năm 2007, hệ thống đường giao thông toàn xã có 4 km đường nhựa, tăng 14,29% so với năm 2006 và giữ nguyên đến năm 2008, với mức tăng bình quân 6,9% trong 3 năm Đường liên thôn được bê tông hóa với mức tăng bình quân 14,57% trong cùng khoảng thời gian Sự hoàn thiện và nâng cấp rõ rệt của các tuyến đường liên thôn, liên xã đã mang lại nhiều lợi ích, đặc biệt là việc bê tông hóa hầu hết các tuyến đường thôn xóm, giúp người dân thuận tiện hơn trong việc di chuyển và vận chuyển hàng hóa, đồng thời nâng cao vệ sinh môi trường làng xóm.
Hệ thống giao thông tại làng Thanh Sầm đã được bê tông hóa đến 90%, đảm bảo chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu di chuyển của người dân Tính đến năm 2007, làng có 5,4 km đường liên thôn, trong đó khoảng 60% đã được bê tông hóa, cùng với 12 km đường nội đồng Đến năm 2008, thêm 1,052 km đường nội thôn và 2 km đường nội đồng đã được bê tông hóa, nâng cao chất lượng hạ tầng giao thông trong khu vực.
Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu Đề tài được thực hiện tại làng Thanh Sầm xã Đồng Thanh huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên.
Tôi tiến hành điều tra 3 loại mẫu phiếu điều tra gồm: UBND Xã, Ban phát triển cộng đồng, hộ.
Tôi đã tiến hành điều tra 30 hộ nông dân với các nhóm hộ được phân chia theo mức độ kinh tế, bao gồm hộ giàu, hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo, với tỷ lệ 5:10:10:5 Kết quả điều tra được thể hiện trong bảng dưới đây.
Hộ điều tra Hộ giàu Hộ khá Hộ TB Hộ nghèo
3.2.2 Điều tra thu thập số liệu
Các số liệu, thông tin được xử lý và chọn lọc của:
Các Sở - Chi cục Kinh tế hợp tác xã và Phát triển nông thôn
Số liệu thống kê của xã Đồng Thanh
Các tài liệu thu thập cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình của khu vực nghiên cứu Chúng được chọn lọc và phân loại theo từng nội dung, tạo nền tảng thông tin cho quá trình nghiên cứu.
Từ đó đưa ra các định hướng và giải pháp nhằm giải quyết vấn đề.
Là số liệu được điều tra, phỏng vấn thu thập tại làng Thanh Sầm xã Đồng Thanh huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên Thông qua các phương pháp sau:
Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA - Rapid Rural Appraisal) là một cách tiếp cận giúp người dân địa phương chia sẻ và phát huy kinh nghiệm sống Phương pháp này cũng hỗ trợ họ trong việc phân tích các điều kiện cần thiết để lập và thực hiện kế hoạch phát triển bền vững.
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của nông dân (PRA - Participatory Rural Appraisal) cho phép người dân nông thôn chia sẻ và phân tích kiến thức về cuộc sống và điều kiện sống của họ Phương pháp này không chỉ giúp người dân tham gia vào việc lập kế hoạch mà còn thực hiện giám sát và đánh giá, từ đó khuyến khích họ tìm hiểu sâu hơn về cộng đồng của mình, thay vì chỉ dựa vào cán bộ.
Các ảnh hưởng tác động của mô hình sẽ được các bên liên quan (người dân, ban phát triển cộng đồng, ban giám sát) tham gia đánh giá.
Bộ công cụ SWOT (ma trận phân tích) là phương pháp hữu ích giúp xác định các điểm mạnh và điểm yếu bên trong một tổ chức hoặc hoạt động, đồng thời cũng phân tích các cơ hội và thách thức từ môi trường bên ngoài.
Một ma trận có 4 ô tương đương với các phần: S- Mặt mạnh,
W- Mặt yếu, O-Cơ hội, T-Thách thức.
Hãy cùng người dân địa phương thảo luận và ghi nhận ý kiến đóng góp để cải thiện từng khía cạnh Tập trung vào việc khắc phục các điểm yếu và rào cản, đồng thời khai thác và phát huy những điểm mạnh cũng như cơ hội tiềm năng.
Nội dung O-Cơ hội T-Thách thức
Phương pháp điều tra xã hội học bao gồm việc sử dụng công cụ giám sát và tiến hành phỏng vấn các tác nhân liên quan đến đời sống của người dân trong làng Phương pháp này bao gồm cả phỏng vấn theo phiếu điều tra và phỏng vấn với câu hỏi mở, nhằm thu thập thông tin đa dạng và sâu sắc.
3.2.3 Tổng hợp và xử lý số liệu
Sau khi thu thập và điều tra số liệu, các dữ liệu này được xử lý và tổng hợp bằng chương trình EXCEL, nhằm phục vụ cho việc phân tích tài liệu thông qua phân tổ thống kê.
Phương pháp thống kê mô tả được áp dụng để phân tích thực trạng phát triển kinh tế - xã hội tại làng Thanh Sầm, xã Đồng Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2006 - 2008 Phương pháp này sử dụng các chỉ tiêu tổng hợp như số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân nhằm cung cấp cái nhìn tổng quát về tình hình phát triển của địa phương trong khoảng thời gian này.
Bài viết này so sánh định lượng sự khác biệt giữa trước và sau khi thực hiện đề án xây dựng mô hình nông thôn mới tại làng Thanh Sầm, xã Đồng Thanh, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy những thay đổi rõ rệt trong đời sống và hạ tầng của cộng đồng sau khi áp dụng đề án.
So sánh định tính: Sử dụng những chỉ tiêu về mặt xã hội và môi trường để đánh giá.
Trong quá trình so sánh ta cũng có thể kết hợp giữa so sánh định tính và định lượng để phân tích vấn đề.
Phương pháp cân đối: là phương pháp tạo nên sự logic và phù hợp giữa các số liệu, nhằm làm nổi bật lên vấn đề cần phân tích
Phương pháp thống kê kinh tế.
3.2.5 Phương pháp chuyên gia chuyên khảo Đây là phương pháp dựa trên ý kiến của các chuyên gia, các nhà khoa học, các hộ nông dân sản xuất giỏi Đồng thời tra cứu các công trình đã được nghiên cứu công bố, từ đó lựa chọn kế thừa, vận dụng với điều kiện và khả năng nghiên cứu đề tài.
Các chỉ tiêu nghiên cứu
3.3.1 Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển kinh tế
Mức độ tăng trưởng kinh tế của xã, làng.
Mức độ thực hiện kế hoạch đóng nguồn kinh phí.
Tổng hợp nguồn kinh phí nhân dân đóng góp cho các hoạt động.
Tỷ lệ đóng góp kinh phí = * 100
So sánh kết quả đạt được từ trước và sau khi thực hiện đề án.
Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp - phi nông nghiệp.
Cơ cấu ngành nông nghiệp: trồng trọt - chăn nuôi.
Cơ cấu ngành phi nông nghiệp: TTCN & Xây dựng, thương mại - dịch vụ và ngành khác.
Một số chỉ tiêu bình quân:
Tổng GT sản xuất/ha đất NN
Lương thực bình quân/người
Năng suất bình quân/người….
Các chỉ tiêu về số lượng các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tại thôn, xã nhằm phát triển kinh tế xã
Kinh phí làng Tổng kinh phí
3.3.2 Chỉ tiêu đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng
3.3.3 Chỉ tiêu đánh giá về mặt xã hội
Tỷ lệ tăng, giảm hộ giàu và hộ nghèo.
Mức độ chênh lệch giàu nghèo.
Mức độ ưu tiên của các họat động trong , mục tiêu phát triển.
Mức độ cải thiện về đời sống và điều kiện sinh hoạt: thu nhập bình quân đầu người.
Số ngày công tham gia lao động trực tiếp
3.3.4 Chỉ tiêu về phát triển con người
Cơ cấu các nhóm hộ tham gia thành lập BPTT.
Tính tự chủ của người dân trong việc tham gia lập kế hoạch phát triển thôn.
Sự công bằng trong cộng đồng cư dân nông thôn
Tỷ lệ người dân tham gia các cuộc họp thôn
Tỷ lệ các nhóm hộ tham gia thành lập BPTT
3.3.5 Chỉ tiêu đánh giá mức độ bảo vệ môi trường
Đánh giá mức độ đảm bảo vệ sinh môi trường: tỷ lệ hộ dùng nước sạch, tỷ lệ đường thôn xóm được bê tông hóa,….
Các chỉ tiêu quan trọng trong phát triển kinh tế bao gồm tốc độ tăng trưởng, tốc độ phát triển liên hoàn và tốc độ phát triển bình quân, cùng với thu nhập bình quân của người dân.
Số người tham gia họp làng Tổng số nhân khẩu của làng
Số hộ tham gia thành lập BPTTTổng số hộ của làng