1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khu bo tn bin quc gia bch long v t

18 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 2,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với hoàn cảnh đặc thù của một huyện đảo nhỏ xa bờ, việc xây dựng và phát huy các giá trị của KBTB BLV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm chủ qu

Trang 1

T¹p chÝ

biÓn khoa häc vµ c«ng nghÖ

2014

(T.14) 3A

Số đặc biệt kỷ niệm 55 năm thành lập Viện Tài nguyên và Môi trường biển

(1959 - 2014)

Trang 2

Tạp chí Khoa học và Công nghệ Biển; Tập 14, Số 3A; 2014: 281-291

DOI: 10.15625/1859-3097/14/3A/5204 http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst

KHU BẢO TỒN BIỂN QUỐC GIA BẠCH LONG VỸ - TIỀM NĂNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY GIÁ TRỊ

Trần Đức Thạnh * , Nguyễn Văn Quân, Trần Đình Lân Nguyễn Thị Minh Huyền, Đinh Văn Huy

Viện Tài nguyên và Môi trường biển-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

*

E-mail: thanhtd@imer.ac.vn Ngày nhận bài: 5-8-2014

TÓM TẮT: Nhờ có nhiều giá trị bảo tồn quý giá được quan tâm nghiên cứu chi tiết, cùng với

sự nỗ lực về mặt quản lý của cả thành phố Hải Phòng và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn,

khu bảo tồn biển Bạch Long Vỹ đã được thành lập Đây là khu bảo tồn biển đầu tiên ở Việt Nam

được Thủ tướng chính phủ ký quyết định thành lập Để bảo tồn và phát huy các giá trị này, quy

hoạch sử dụng và quản lý không gian tối ưu là giải pháp quan trọng hàng đầu Để nâng cao nhận

thức về giá trị bảo tồn làm nền tảng cho bảo tồn bền vững, cần phải tôn vinh các danh hiệu tự nhiên

và văn hóa cho Bạch Long Vỹ về kỳ quan sinh thái, di sản địa chất, tài nguyên vị thế và văn hóa

biển đảo Để góp phần tạo dựng lợi ích theo hướng phát triển bền vững, có thể xây dựng một số

thương hiệu cho các sản phẩm biển liên quan đến khu bảo tồn Bạch Long Vỹ như: du lịch sinh thái,

Bào ngư, Hải sâm và Mực

Từ khóa: Khu bảo tồn biển, danh hiệu, thương hiệu, Bạch Long Vỹ.

MỞ ĐẦU

Hình 1 Đảo BLV nhìn từ vệ tinh IKONOS

ngày 13/10/2006

Hình 2 Đảo BLV nhìn từ phía Tây Nam

Đảo Bạch Long Vỹ (BLV) nằm giữa vịnh Bắc Bộ (VBB), thuộc thành phố Hải Phòng có khoảng cách 135 km đến cảng Hải Phòng (hình 1, 2) Trong hệ thống các đảo ven bờ Việt

Trang 3

Nam, đây là một trong ba đảo xa nhất, chỉ sau

Hòn Hải thuộc quần đảo Phú Quý và đảo Thổ

Chu [1] Với vị thế đặc biệt, tài nguyên phong

phú, điều kiện ưu tiên và yêu cầu của hoàn

cảnh lịch sử [2, 3], BLV được giao đảm trách

đầy đủ chức năng của một đơn vị hành chính

cấp huyện theo Nghị định số 15/CP ngày

09/12/1992 của Chính phủ [4, 5] Trong 10

huyện đảo ven bờ của Việt Nam, huyện đảo

BLV có diện tích chỉ đứng trên huyện đảo Cồn

Cỏ [3]

Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số

397/TTg Ngày 27/7/1994 phê duyệt luận chứng

kinh tế kỹ thuật tổng thể xây dựng huyện đảo

BLV trở thành một đơn vị hành chính cấp

huyện phát triển kinh tế - quốc phòng - xã hội

toàn diện, một trung tâm dịch vụ hậu cần nghề

cá của ngư trường VBB BLV cũng là khu bảo

tồn biển (KBTB) đầu tiên ở Việt Nam được

Thủ tướng Chính phủ kí quyết định thành lập

Với hoàn cảnh đặc thù của một huyện đảo nhỏ

xa bờ, việc xây dựng và phát huy các giá trị của

KBTB BLV có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối

với phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm chủ

quyền quốc gia trên VBB

QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG

Kể từ năm 1993, Viện Tài nguyên và Môi

trường biển (Viện TNMTB) và các cơ quan

khoa học khác bắt đầu thực hiện nhiều chuyến

khảo sát trên đảo và vùng nước quanh đảo

BLV Đáng chú ý là trong các năm 1998 -

1999, theo nhiệm vụ được giao của Bộ

KHCN&MT, Viện TNMB đã tiến hành điều tra

nghiên cứu tổng thể đa dạng sinh học biển và

đã đề xuất 15 KBTB Việt Nam, trong đó có

KBTB BLV để trình Chính phủ xem xét Đây

là cơ sở quan trọng để Bộ Thủy sản và sau này

là Bộ NNPTNT xây dựng luận chứng trình

Chính phủ và sau 10 năm, ngày 26/5/2010 Thủ

tướng Chính phủ đã ra Quyết định số

742/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch hệ thống 16 KBTB

Việt Nam đến năm 2020, trong đó từ 2010 đến

2015 sẽ tiến hành quy hoạch và đưa vào hoạt

động 16 KBTB, trong đó có KBTB BLV

Kết quả điều tra, nghiên cứu cho thấy khu

vực biển đảo BLV có những đặc trưng điều

kiện tự nhiên nổi bật về địa chất [6-8]; động lực

bờ, trầm tích và địa hình [9, 10]; đất, vỏ phong

hóa và thảm thực vật trên đảo [11, 12]; tài

nguyên phi sinh vật, vị thế và các di sản, kỳ quan thiên nhiên [2, 5, 13, 14] Khu vực biển đảo có nguồn tài nguyên sinh vật biển phong phú và đa dạng, bao gồm các hệ sinh thái đặc thù và các nhóm thực vật biển [5, 14, 16], động vật biển [5, 17, 18], đặc biệt là san hô và rạn san hô [19-21] với tiềm năng to lớn để xây dựng KBTB Tuy nhiên, các kết quả điều tra và nghiên cứu cũng xác định đây là một khu vực biển đảo có môi trường và các hệ sinh thái nhạy cảm, dễ bị tổn thương dưới tác động của con người và biến đổi khí hậu [22-25] Đồng thời,

là một hòn đảo tiền tiêu giữa vịnh Bắc Bộ [1, 3,

5, 15], nên việc xây dựng KBTB BLV góp phần quan trọng khảng định chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích Quốc gia của Việt Nam trên VBB

Vào các năm 2005 - 2007, thành phố Hải Phòng đã giao cho Viện TNMTB thực hiện hai

dự án: “Quy hoạch tổng thể các KBTB Hải Phòng” và “Quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế xã hội huyện đảo BLV đến năm 2010 và 2020” Trong hai dự án này, KBTB BLV đã được phác thảo rõ nét và cụ thể hơn

Trên cơ sở Quyết định số 742/QĐ-TTg, thành phố Hải Phòng (thông qua Chi cục KTBVNTS, Sở NNPTNN) và Cục KTBVNTS cùng giao cho Viện TNMTB là đơn vị tư vấn hành nghiên cứu quy hoạch chi tiết KBTB BLV

Qua nhiều bước thủ tục, hồ sơ quy hoạch

đã được trình và ngày 31/12/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2630/QĐ-TTg

về việc thành lập KBTB BLV Đây là KBTB

đầu tiên ở Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ

ký quyết định thành lập Các KBTB đã được

thành lập như Hòn Mun (2001), Cù Lao Chàm (2004), Phú Quốc (2007), Cồn Cỏ (2010) và Hòn Cau (2011) đều do chủ tịch UBND các tỉnh ký quyết định

KBTB BLV có tên tiếng Anh là: "Bach Long Vy National Marine protected areas", thuộc loại: “Khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh” Đối tượng bảo tồn: HST rạn san hô, HST rong - cỏ biển, bãi giống, bãi đẻ và các loài thủy sinh vật sinh sống trong khu vực Phạm vi KBTB là vùng đất liền trên đảo và vùng biển quanh đảo có ranh giới bên ngoài xác định theo đường nối các điểm lồi của đường đẳng sâu 30 m, nằm trong hệ tọa độ:

Trang 4

Khu bảo tồn biển Quốc gia Bạch Long Vỹ …

107042'20"Đ - 107044'15"Đ - 20007'35"B -

20008'36B, tổng diện tích 27.008,93 ha

(hình 3) Quy hoạch KBTB BLV phù hợp với

quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện đảo

Hình 3 Khu bảo tồn biển Quốc gia

Bạch Long Vỹ [15]

TIỀM NĂNG VÀ GIÁ TRỊ BẢO TỒN

Tiềm năng bảo tồn

Vị trí địa lý BLV là đảo xa bờ nhất của Việt

Nam trong VBB [1, 2], nằm ở giữa vịnh, cách

Hòn Dấu - Hải Phòng 110 km, cách đảo Hạ Mai

70 km và cách mũi Ta Chiao - Hải Nam 130 km

Điều kiện địa lý xa bờ là thuận lợi lớn cho xây

dựng và phát triển KBTB, tránh được nhiều sức

ép từ phát triển dân sinh - kinh tế

Điều kiện tự nhiên KBTB nằm giữa VBB

nên độ muối cao và ổn định (32 - 33%o); độ

trong cao (6 - 25 m); chất đáy chủ yếu là đá, đá

gốc, cuội sỏi thuận lợi cho các quần xã động

thực vật đáy sinh sống do có nhiều hang hốc và

nền đáy cứng để bám, trú [10]; chất lượng nước

biển còn tương đối tốt

Đa dạng sinh học Với một vùng biển đảo

chỉ rộng gần 80 km2, đã có mặt 4 hệ sinh thái (HST) khác nhau, đáng chú ý trong số này có HST rạn đá - san hô có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì tài nguyên và môi trường khu vực nên chỉ số đa dạng HST rất cao Đến nay, thuộc KBTB BLV đã ghi nhận được tổng cộng 1.502 loài , trong đó có 1.090 loài sinh vật biển, 367 loài thực vật trên cạn và 45 loài chim,

lưỡng cư, bò sát và 451 loài cá [5]

Hiện trạng rạn san hô Rạn san hô KBTB

thuộc loại tốt nhất ở miền Bắc Việt Nam, độ phủ của rạn nhiều nơi trước đây đạt đến 90%, đến nay, những điểm tốt nhất chỉ còn 30 - 50% Với 94 loài san hô phát hiện được trong một khu vực tương đối nhỏ cho thấy đa dạng sinh học của san hô rất cao, đặc biệt là khu vực Đông Bắc đảo, nơi có đến hơn 80 loài được ghi

nhận [5, 19-21]

Giá trị bảo tồn

Giá trị bảo vệ và duy trì nguồn lợi hải sản

KBTB nằm trên một trong 8 ngư trường lớn của VBB và là ngư trường tốt nhất trên vịnh, có trữ lượng cá khoảng 78.000 tấn, khả năng khai thác khoảng 38.000 tấn/năm; trữ lượng động vật đáy khoảng 1.500 tấn và khả năng khai thác khoảng 750 tấn/năm; trữ lượng mực khoảng 5.000 tấn và khả năng khai thác khoảng 2.500 tấn/năm KBTB còn có tiềm năng lớn về nguồn lợi bào ngư, hải sâm, cá mú (hình 4) và nhiều loại đặc sản khác có giá trị thực phẩm và

sinh vật cảnh (hình 5)

Giá trị bảo vệ các loài quý hiếm Phần đất

liền trên đảo và phần biển của KBTB có nhiều loài động, thực vật có giá trị kinh tế cao, nhiều loài là các loài quý hiếm được ghi trong Sách

Đỏ Việt Nam đang có nguy cơ bị tuyệt chủng hoặc có giá trị về khoa học, sinh thái môi trường [15] Các loài cần được đặc biệt quan

tâm bảo vệ và lưu tồn gồm: Bào ngư (Haliotis

diversicolor), Ốc đụn cái (Trochus maculatus),

Ốc đụn đực (T pyramis), Ốc hương (Nerita

albicilla), Ốc xà cừ (Turbo marmoratus), Ốc sứ

trắng nhỏ (Ovula costellata), Trai ngọc (Pinctada martensii), Trai ngọc nữ (Pteria

pinguin), Vọp tím (Asaphis dichotoma), Sút

(Anomalocardia squamosa), Mực thước

(Loligo formosana), Mực nang vân hổ (Sepia

Trang 5

tigris), Tôm hùm đỏ (Panulirus longipes), Tôm

hùm bông (P ornatus), Sam đuôi tam giác

(Tachypleus tridentatus), Hải sâm trắng

(Holothuria scabra), Cá mú (Cephalopholis

miniatus), Cá song (Epinephelus towvina), Cá

ngừ chấm (Euthynuus offinis), Rong Đông

(Hypnea panosa), Rong guột chùm (Caulerpa

racemosa)

Hình 4 Cá mú (Cephalopholis boenack) ở

KBTB BLV (Nguồn: Viện TNMTB)

Hình 5 Cá cảnh Chim cờ (Heniochus

acuminatus) ở KBTB BLV

(Nguồn: Viện TNMTB)

Giá trị nơi sinh cư Môi trường nước trong,

ít ô nhiễm, các bãi đá tảng, đá gốc trên vùng

triều và dưới triều, các tập đoàn san hô mọc trên

chúng, các quần thể rong biển (hình 6, 7) là nơi

sinh cư lý tưởng của các loài động vật đáy, cá

san hô do có nhiều hang hốc, khe rãnh để trú

ngụ, trốn tránh kẻ thù Nền đáy cứng cũng là

những giá thể tốt cho rong biển, tảo biển bám và

phát triển cung cấp thức ăn sơ cấp cho quần xã

động vật sống trên rạn Diện tích rạn đá - san hô rộng là điều kiện rất thuận lợi để bảo tồn nguồn giống sinh vật, cung cấp giống cho các vùng biển ven bờ Nhờ các dòng hải lưu chảy trong VBB, nguồn giống sinh vật tôm cua, cá, thân mềm sẽ được đưa vào các vùng nước ven bờ của Việt Nam và Trung Quốc [15]

Hình 6 Rong Quạt Úc (Padina australis)

ở đáy biển KBTB BLV (Nguồn: Viện TNMTB)

Hình 7 Thảm rong Mơ (Sargassum)

ở đáy biển KBTB BLV (Nguồn: Viện TNMTB)

Giá trị phục vụ du lịch KBTB có nước

trong, bãi cát đẹp ở phía Tây Nam đảo, có các RSH với khu hệ động, thực vật phong phú, màu sắc muôn màu muôn vẻ ở phía Tây và Bắc đảo, các công trình kiến trúc lạ mắt như đường hầm xuyên đảo, nhà đèn với ngọn hải đăng trên đỉnh núi, trạm khí tượng - hải văn, âu tàu, không khí trong lành nên có tiềm năng du lịch lớn, nếu cơ

sở hạ tầng về nơi ăn, chỗ ở, đặc biệt là khả

Trang 6

Khu bảo tồn biển Quốc gia Bạch Long Vỹ … năng cung cấp nước sinh hoạt dược đầu tư có

thể tổ chức phục vụ các đoàn du lịch đông

người [3, 5, 15]

Giá trị phục vụ nghiên cứu khoa học Do

nằm giữa VBB nên đây là một điểm lý tưởng và

cần thiết để thiết lập các trạm quan trắc về khí

tượng, hải văn và môi trường không khí và nước

liên quan đến cả Việt Nam và Trung Quốc Ở

đây có thể thiết lập một trạm nghiên cứu sinh

học thực nghiệm các loài sinh vật biển, tiện lợi

vì sẽ giảm bớt được những chi phí tốn kém trong

việc xử lý môi trường nuôi, trồng

TỔ CHỨC KHÔNG GIAN

KBTB BLV có các mục tiêu và nhiệm vụ

như sau:

Bảo tồn và phát triển bền vững các loài

động, thực vật sống và phát triển trong KBTB,

các loài động vật thủy sinh hoang dã, các loài

đặc hữu và quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng

Góp phần tăng cường công tác bảo vệ quốc

phòng, an ninh, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc

Phục vụ các hoạt động nghiên cứu khoa học, tham quan, du lịch sinh thái và hợp tác quốc tế; xây dựng và thực nghiệm các mô hình bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên, phát huy giá trị và chức năng kinh tế của HST trong

và xung quanh KBTB

Duy trì và bảo vệ nguồn tài nguyên, đa dạng sinh học biển, bao gồm HST rạn san hô, HST rong - cỏ biển, HST vùng triều và HST

rừng - trảng cỏ trên đảo

Phát huy vai trò bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tài nguyên trên đảo, môi trường gắn liền với bảo

vệ và phát triển văn hóa biển đảo, các di tích lịch

sử, giá trị nhân văn, góp phần ổn định đời sống

và sản xuất của nhân dân trên đảo

Cải thiện cơ sở hạ tầng KBTB và vùng biển đảo nhằm không ngừng cải thiện điều kiện sinh sống của cư dân trên và ngư dân các địa phương khác đến hoạt động kinh tế ở vùng biển ven đảo Nâng cao nhận thức cộng đồng về các giá trị của KBTB và các phương pháp sử dụng bền vững tài nguyên thủy sinh

Bảng 1 Quản lý và sử dụng không gian trong quy hoạch chi tiết KBTB BLV

1 Vùng tri ề u b ả o v ệ nghiêm ng ặ t 4,92

2 Vùng bi ể n b ả o v ệ nghiêm ng ặ t 2.452,14

3 Du l ị ch l ặ n ng ầ m trong khu b ả o v ệ nghiêm ng ặ t 113,09

4 Ph ụ c h ồ i và b ả o v ệ san hô 1.449,68

5 Ph ụ c h ồ i và b ả o v ệ bào ng ư 444,31

6 Ph ụ c h ồ i và b ả o v ệ h ả i sâm 993,00

7 Ph ụ c h ồ i và b ả o v ệ rong, t ả o, c ỏ bi ể n 1.606,87

8 Ph ụ c h ồ i và b ả o v ệ bãi tri ề u r ạ n đ á 23,97

9 Ph ụ c h ồ i và b ả o v ệ bãi cát bi ể n 11,07

10 Ph ụ c h ồ i và b ả o v ệ r ừ ng sinh thái và phòng h ộ trên đả o 71,06

11 Phát tri ể n c ơ s ở h ạ t ầ ng, dân sinh, kinh t ế và qu ố c phòng trên đả o 118,78

12 Phát tri ể n du l ị ch trên đả o 12,09

13 Phát tri ể n du l ị ch t ắ m bi ể n 5,44

14 Tôn t ạ o và phát tri ể n bãi t ắ m bi ể n 1,99

15 Phát tri ể n c ả ng và vùng n ướ c âu c ả ng 52,97

16 Nuôi tr ồ ng th ủ y s ả n và khai thác h ạ n ch ế 281,48

17 Du l ị ch l ặ n ng ầ m trong phân khu phát tri ể n 30,51

18 Phân khu phát tri ể n khác 6.384,18

19 Vành đ ai b ả o v ệ 3.277,84

20 Vùng bi ể n phía ngoài KBTB 9.673,55

Trang 7

Tổng diện tích KBTB Bạch Long Vỹ là

27.008,93 ha; trong đó: phân khu bảo vệ

nghiêm ngặt: 2.570,15 ha; phân khu phục hồi

sinh thái: 4.599,96 ha; phân khu phát triển:

6.887,44 ha; vùng biển phía ngoài KBTB:

9.673,55 ha; vành đai bảo vệ: 3.277,84 ha

(bảng 1)

Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: là vùng biển

được bảo toàn nguyên vẹn, được quản lý và bảo

vệ chặt chẽ để theo dõi diễn biến tự nhiên của

các loài động, thực vật, các HST thuỷ sinh tiêu

biểu HST rạn san hô được xem là sinh cảnh

chủ đạo được ưu tiên bảo vệ tập trung chủ yếu

ở phía Bắc và Tây Bắc của đảo Phạm vi bảo vệ

của phân khu này kéo dài từ đường đẳng sâu 2 -

30 m

Phân khu phục hồi sinh thái: Là vùng biển

được quản lý, bảo vệ để phục hồi, tạo điều kiện

cho các loài thuỷ sinh vật, các HST tự tái tạo tự

nhiên Một số HST sẽ được ưu tiên phục hồi

bao gồm: rừng trên đảo, rừng phòng hộ ven

đảo, rạn san hô, vùng triều rạn đá Đi kèm với

chúng là các đối tượng sinh vật biển như bào

ngư, hải sâm, san hô tạo rạn đang có nguy cơ bị

đe dọa cao bởi các tác động từ tự nhiên và con

người Phạm vi bảo vệ của phân khu này nằm

ngoài khu bảo vệ nghiêm ngặt và bao gồm phần

đất rừng trên đảo và ven đảo, phần biển kéo dài

tới đường đẳng sâu 30 m

Phân khu phát triển: Là phần diện tích còn

lại của KBTB, được tiến hành các hoạt động

được kiểm soát như: nuôi trồng thuỷ sản, khai

thác thuỷ sản, du lịch sinh thái, đào tạo và

nghiên cứu khoa học Trên quan điểm cần đẩy

mạnh song song giữa phát triển kinh tế huyện

đảo với hoạt động bảo tồn, các khu vực được

quy hoạch trong phân khu phát triển bao gồm:

(1) phần quỹ đất trên đảo để phát triển cơ sở hạ

tầng, dân sinh, kinh tế và quốc phòng trên đảo;

(2) phát triển các hoạt động du lịch: du lịch trên

đảo, tắm biển và du lịch lặn ngầm, (3) phát

triển cảng bến và vùng nước âu cảng, (4) các

hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản và

khai thác hạn chế Phân khu phát triển nằm

xen kẽ với phân khu phục hồi sinh thái và có

tác dụng bổ trợ lẫn nhau về cả các mục tiêu bảo

tồn, phát triển kinh tế và hỗ trợ có hiệu quả các

hoạt động quản lý

Ngoài ba phân khu chủ đạo kể trên, KBTB còn có vùng biển bao phía ngoài, nơi tồn tại song song các hoạt động phát triển có kiểm soát

và một đường bao bảo vệ, ngăn chặn các hoạt động gây hại cho khu BTB để kiểm soát từ xa

TÔN VINH CÁC GIÁ TRỊ TỰ NHIÊN VÀ VĂN HÓA

Bảo tồn tự nhiên, bao gồm bảo vệ cảnh quan tự nhiên và nơi cư trú của sinh vật, các đối tượng kỳ quan - di sản về địa chất và sinh vật, các HST và đa dạng sinh học là định hướng quan trọng hướng tới phát triển bền vững tại vùng biển đảo BLV [5] Xây dựng và phát triển KBTB BLV, không chỉ có ý nhgĩa

về bảo vệ tự nhiên và đa dạng sinh học, mà còn

có các ý nghĩa về kinh tế, khoa học, giáo dục và thực hiện chủ quyền quốc gia trên biển trong thời kỳ hội nhập

Tôn vinh giá trị kỳ quan sinh thái

Trong danh mục đề xuất phân cấp và phương thức bảo vệ các khu vực kỳ quan sinh thái tiêu biểu ở các vùng biển đảo Việt Nam [15], BLV được xếp vào kỳ quan sinh thái cấp quốc gia với hình thức bảo vệ và tôn vinh; là KBTB cấp Quốc gia vừa mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Trong danh sách 108 KBTB ưu tiên của các nước khu vực Đông Nam

Á, có 4 KBTB của Việt Nam được đề nghị đưa vào danh sách này là BLV, Cát Bà, Côn Đảo và quần đảo Nam Du [27] Rạn san hô BLV ngày càng được thế giới biết đến và đánh giá cao [20, 21] Đây là căn cứ để khi việc xây dựng và phát triển tốt KBTB BLV, có thể đề nghị nâng cấp thành KBTB khu vực Đông Nam Á

Tôn vinh giá trị di sản - kỳ quan địa chất

Trong danh mục đề xuất các khu vực kỳ quan địa chất tiêu biểu ở các vùng biển đảo Việt Nam, BLV được đề xuất là một di sản -

kỳ quan địa chất với hình thức tôn vinh là khu danh thắng địa chất cấp Quốc gia [15] Diện tích rạn đá-san hô quanh đảo BLV có quy mô không gian thuộc loại lớn nhất ở vùng biển VBB Đây là một đảo đá Đệ tam duy nhất trên vịnh, nằm giữa vịnh trên một khối nâng cục bộ phân cách hai bồn trũng Đệ tam là sông Hồng phía Tây Nam và Bắc Bộ phía Tây Bắc [6] Đảo có hình thái của một quả đồi thoải, chân đồi được viền bởi một hệ thống các bậc thềm

Trang 8

Khu bảo tồn biển Quốc gia Bạch Long Vỹ … biển cổ và hiện đại điển hình, các bãi biển xinh

đẹp, cát vàng mịn nổi bật trên nền nước biển

xanh trong Vùng triều rạn đá điển hình và rộng

với các lớp đá phân lớp gần nằm ngang, được

tô điểm bởi các “mạch”, “tường” đá cát kết rắn

chắc tạo nên nét độc đáo và cảnh quan đẹp [5]

Tôn vinh giá trị vị thế đặc biệt

Trong danh mục 24 khu vực có vị thế đặc

biệt ở các VBĐ Việt Nam, BLV được xếp hạng

có tầm quốc gia và quốc tế [15] Đảo BLV có

vị trí quan trọng về địa - tự nhiên, địa - kinh tế

và địa - chính trị, là một vị trí ưu tiên đối với

phát triển kinh tế biển - đảo của đất nước; vị trí

trung tâm trong không gian kinh tế VBB; trực

thuộc Hải Phòng - trung tâm kinh tế lớn nhất ở

Duyên hải phía Bắc; địa bàn thuận lợi cho phát

triển nhiều loại hình dịch vụ biển như hậu cần

nghề cá, dầu khí, du lịch, tìm kiếm cứu nạn và

y tế, môi trường, ngân hàng và viễn thông

Về địa - chính trị, đảo có những giá trị rất lớn

về khẳng định, mở rộng và đảm bảo chủ quyền

và lợi ích quốc gia trên biển; an ninh quốc

phòng liên quan tới phần phía Bắc của đất nước

[3, 15]

Tôn vinh giá trị văn hóa biển đảo

Đảo BLV là một điểm sáng của văn hoá

Việt Nam trên biển, xứng đáng được xây dựng

thành một thương hiệu văn hóa biển đảo của

Việt Nam

Hòn đảo giữa biển khơi vẫn mang huyền

thoại đậm chất Việt Người Việt nhận mình là

con Rồng, cháu Tiên và Rồng là một hình

tượng thiêng liêng nhưng quen thuộc trong đời

sống văn hóa và tâm linh từ hàng nghìn năm

trước Hạ Long, Bái Tử Long và BLV có chung

một truyền thuyết đẹp về Rồng Thủa xưa, khi

người Việt gặp nạn giặc ngoại xâm, Ngọc

Hoàng đã sai Rồng mẹ đưa theo một đàn Rồng

con xuống hạ giới giúp dân đánh giặc Nơi

Rồng mẹ xuống chính là vịnh Hạ Long, nơi

Rồng con xuống là vịnh Bái Tử Long, còn nơi

đuôi Rồng quẫy nước trắng xóa là đảo Bạch

Long Vỹ (Đuôi Rồng Trắng) BLV còn có

những tên đẹp khác như Phù Thuỷ Châu (hòn

ngọc nổi trên mặt nước) và Hoạ Mi (đảo hình

dáng chim hoạ mi)

Đi lễ chùa và thờ Phật là một phần không

thể thiếu của đời sống tâm linh và văn hoá

người Việt, dù ở hòn đảo nhỏ giữa biển khơi

Chùa Bạch Long được xây dựng và hoàn thành ngày 22/3/2009, được thiết kế với diện tích

300 m2 trong khuôn viên 1.000 m2 toạ lạc ở khu vực trung tâm đảo Chùa sẽ để lại dấu ấn cùng thời gian, mãi mãi góp phần khẳng định chủ quyền quốc gia trên vùng biển đảo BLV

“Bạch Long Vỹ đảo quê hương” như tên bài hát của nhạc sỹ Huy Du là hình ảnh tuyệt đẹp của tình yêu quê hương nơi biển đảo Đó là tình yêu thiết tha với thiên nhiên và con người nơi đảo xa của Tổ quốc, ở đó có thôn xanh Phủ Thuỷ Châu với trúc anh đào xanh thắm, quê hương của bào ngư với sóng bạc đầu và gió biển rì rào năm tháng Hòn đảo đầy nắng gió giữa biển xanh ấy ngày càng được khu vực và thế giới biết đến như một đảo ngọc trù phú, an toàn, hòa bình và hữu nghị của Việt Nam

XÂY DỰNG CÁC THƯƠNG HIỆU Thương hiệu du lịch sinh thái BLV

BLV có đủ điều kiện để phát triển thành một điểm du lịch - nghỉ dưỡng, phục vụ cho những người đi biển, khai thác biển và cho du khách ưa thích du lịch sinh thái

BLV ở vị trí trung tâm, cách các điểm du lịch ven bờ như Cô Tô, Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn và Trà Cổ trong tầm bay 1 h - 1

h 30’ bằng thuỷ phi cơ Các tàu du lịch biển có thể dễ dàng ghé vào đảo trong các hành trình xuyên biển BLV có cảnh quan thiên nhiên nổi

và ngầm đẹp, độc đáo (hình 8, 9) với một đảo kích thước không quá nhỏ, có đủ không gian đồi, thềm bãi cát biển và bãi tảng Đó là một hòn đảo xanh, nổi trên mặt biển xanh, sạch đầy hấp dẫn và quyến rũ

BLV có khu rạn san hô ngầm phát triển nhất VBB, độ phủ lớn, đa dạng sinh học cao, cảnh quan ngầm còn được bảo vệ tốt Đó là một dạng tài nguyên quý giá, một môi trường

lý tưởng cho du lịch ngầm và du lịch khoa học Ngoài nguồn lợi cá biển, BLV có những đặc sản quý và hấp dẫn phục vụ du khách như bào ngư, ốc nón, hải sâm, bàn mai

Nhiều đảo, quốc gia đảo lấy du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn Theo báo cáo của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), rạn san hô thế giới có giá trị ước tính khoảng 100.000 - 600.000 USD/km2/năm Ở

Trang 9

Inđônêxia, du lịch là ngành chủ yếu sử dụng

san hô, ước tính trị giá 1 triệu USD/km2 Ở

vùng biển Caribê, giá trị tương tự thu được từ

0,2 - 1 triệu USD Theo kết quả nghiên cứu gần

đây của Viện Hải dương học, giá trị kinh tế của

rạn san hô trong KBTB đảo Hòn Mun (Khánh

Hòa) từ việc giải trí là 17 triệu USD/năm; giá

trị trên diện tích 1 km2 của HST san hô Hòn

Mun do khai thác cá là 36,207 nghìn USD, do

thu từ du lịch là 15 nghìn USD, còn giá trị chức

năng sinh thái, bảo vệ bờ là 60,145 nghìn USD

Tổng cộng là 111,352 nghìn USD/km2 [5]

Hình 8 Phong cảnh thiên nhiên trên đảo BLV

(Nguồn: Viện TNMTB)

Hình 9 Sinh cảnh ngầm với san hô dạng khối

(Galaxea sp.) ở BLV (Nguồn: Viện TNMTB)

Ước tính được tổng giá trị kinh tế HST rạn

san hô biển Cát Bà - Hải Phòng được tiền tệ

hoá, có giá trị tổng cộng xấp xỉ 11,4 tỷ đồng/1

ha rạn san hô/năm hay 614 ngàn USD/1

ha/năm Trong đó, nguồn thu chủ yếu là từ du

lịch là khoảng 9,2 tỷ đồng/1 ha/năm Tổng giá trị kinh tế của HST rạn san hô biển Long Châu (Hải Phòng) xỉ xấp xỉ 1,71 tỷ đồng/1 ha rạn san hô/năm (quy đổi từ 92 ngàn USD/1 ha/năm), trong đó đóng góp chủ yếu là nhóm giá trị sử dụng trực tiếp từ nguồn lợi thủy sản, còn khai thác giá trị du lịch vẫn còn là tiềm năng Tổng giá trị kinh tế HST rạn san hô đảo BLV có thể xấp xỉ so với Cát Bà, nếu như du lịch trở thành hiện thực ở vùng biển đảo này [5]

Như vậy, nếu tổ chức tốt, du lịch cũng sẽ trở thành hoạt động kinh tế chính của đảo, phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường tự nhiên, sinh thái và phát triển bền vững và mỗi năm có thể thu lợi đến hàng triệu USD

Thương hiệu Bào ngư (Haliotis diversicolor)

BLV

Hình 10 Bào ngư chin lỗ ở BLV (Haliotis

diversicolor) (Nguồn: Viện TNMTB)

Đây là một sản phẩm nổi tiếng từ lâu và

Hải Bào là một trong những tên gọi của đảo Đây là món ăn ngon và bổ dưỡng, có tính bổ

âm, tăng khí, bổ thận, giúp mắt sáng, tăng cường sinh lực và chống suy nhược cơ thể Thời thuộc Pháp là sản vật được các thương thuyền người Hoa cập đảo mua gom và bán sang Quảng Đông (Trung Quốc) Tuy nhiên, sau này đã có lệnh bào ngư khai thác không được đưa bán sang Trung Quốc, mà chỉ được bán tại Việt Nam [28] Bào ngư phân bố chủ yếu ở phía Đông và Đông Nam đảo, đến độ sâu

20 m nước (hình 10), nơi đá gốc có cấu trúc kiểu vỉa hàm ếch hướng sóng, là giá bám rất tốt cho loài này Trước đây sản lượng bào ngư khoảng 50 tấn/năm, sau đó bị suy giảm nghiêm trọng, gần đây đang được phục hồi do các biện

Trang 10

Khu bảo tồn biển Quốc gia Bạch Long Vỹ … pháp bảo vệ tích cực Nếu đầu tư khoa học và

công nghệ, có thể tạo sản phẩm Bào ngư nuôi

với lượng hàng lớn phục vụ tiêu dùng và xuất

khẩu, tạo nên thương hiệu nổi tiếng và mang lại

lợi ích kinh tế lớn

Thương hiệu Hải sâm BLV

Thương phẩm bao gồm Hải sâm trắng

(Holothuria scabra) và Hải sâm đen (Holothuria

vagabunda), (hình 11) cũng là sản phẩm có

tiếng từ lâu, nhưng sản lượng ngoài tự nhiên

không lớn Hải sâm là đặc sản khan hiếm, tiêu

thụ trong nước và xuất khẩu với giá thương

phẩm hiện nay khoảng 60.000 đồng - 70.000

đồng/kg tươi và 100 USD/kg-200 USD/kg khô

Theo Đông y, hải sâm vị mặn, tính ấm có công

dụng bổ âm, bổ thận, ích tinh, dưỡng huyết và

nhuận táo; thường được dùng để chữa các chứng

bệnh như tinh huyết hao tổn, hư nhược, tiểu tiện

nhiều lần, táo bón và bổ trợ trong điều trị bệnh

suy thận Hải sâm còn có khả năng phòng chống

khối u, chống chứng máu loãng, giảm mỡ máu

và giảm đường huyết

Hình 11 Hải sâm đen ở BLV (Holothuria

vagabunda) (Nguồn: Viện TNMTB)

Việc bảo tồn nguồn lợi và nguồn giống

nhân tạo phát triển từ hải sâm bản địa BLV có

thể phát triển nuôi trồng, tạo Hải sâm mang

thương hiệu BLV có sản lượng lớn Tại Bình

Thuận, Hải sâm trắng (Holothuria scabra) loài

tương tự ở BLV, đang được nuôi thử nghiệm

(2013-2015) tại hai huyện Tuy Phong và Hàm

Thuận Nam Quy mô thử nghiệm nuôi trên 6 ao

nuôi (trung bình 3.500 m2/ao) và thả hơn

40.000 con giống

Thương hiệu Mực BLV

Mực BLV và mực Cô Tô thịt rất ngon,

được thực khách ưa chuộng và giá bán luôn cao

hơn mực các vùng khác ở Việt Nam Mực phân

bố xung quanh đảo có 12 loài, trữ lượng trữ lượng khoảng 5.000 tấn và khả năng khai thác khoảng 2.500 tấn/năm, trong đó có các loài

mực quý như: Mực thước (Loligo formosana)

là loài mực ống có thân hình trụ, dài tối đa

30 cm, đầu nhỏ hơn thân, ăn tạp, chủ động bắt mồi, ban đêm thường nổi lên tầng mặt để kiếm

mồi Mực nang vân hổ (Sepia tigris) cơ thể

hình trứng, dài tối đa 430 mm, mặt lưng thân có nhiều vân hình gợn sóng giống da hổ, ăn tạp, chủ động bắt mồi, sống ở biển khơi và vào mùa sinh sản, di cư vào các vùng ven bờ đẻ trứng

KẾT LUẬN

Với sự nỗ lực của thành phố Hải Phòng và

Bộ NNPTNT và hố trợ tư vấn của các cơ quan khoa học, đặc biệt là Viện TNMTB, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 2630/QĐ-TTg ngày 31/12/2013 về việc thành lập KBTB BLV Khu bảo tồn này có một tầm quan trọng đặc biệt vì nằm ở một đảo tiền tiêu nên có ý nghĩa lớn đối với việc khảng định chủ quyền, quyền chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển Khu bảo tồn không chỉ có giá trị cao về đa dạng sinh học, mà còn có các sản phẩm biển nổi tiếng như bào ngư và hải sâm, có quan hệ mật thiết về mặt nguồn lợi với ngư trường BLV

quan trọng nằm gần

Để tạo nền tảng vững chắc cho xây dựng và phát triển KBTB BLV, cần xây dựng và tôn vinh các danh hiệu về tự nhiên, văn hóa như kỳ quan sinh thái, di sản địa chất, vị thế và văn hóa biển đảo Đồng thời, nỗ lực xây dựng thương hiệu cho một số sản phẩm biển liên quan đến KBTB như du lịch sinh thái, Bào ngư, Hải sâm

và Mực Việc xây dựng và quảng bá các danh hiêu và thương hiệu sẽ mang lại những lợi ích kinh tế và chính trị quan trọng, phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững và hài hòa giữa bảo tồn và phát triển tại vùng biển đảo giữa

VBB

Lời cảm ơn: Các tác giả chân thành cảm ơn đề

tài cấp nhà nước Mã số KC.09.08/11-15:

“Lượng giá kinh tế các HST biển - đảo tiêu biểu phục vụ phát triển bền vững một số đảo tiền tiêu ở vùng biển ven bờ Việt Nam” đã tạo điều kiện và hỗ trợ để hoàn thành bài báo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Đức An, 2008 Hệ thống đảo ven bờ Việt

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w