Đây không chỉ là cuộcchiến dai dẳng, ác liệt nhất trong lịch sử Australia và Hoa Kỳ, chính thức biếnmiền Nam Việt Nam thành tiền đồn của chủ nghĩa thực dân Mỹ kiểu mới đểngăn chặn và đẩy
Trang 1KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
AUSTRALIA - VAI TRÒ ĐỒNG MINH CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-1975)
GVHD:PGS TS Hoàng Văn Việt
SVTH: Nguyễn Minh Giang
MSSV: 1656110037
Ngành:Australia học
TP HỒ CHÍ MINH, 2020
Trang 2KHOA ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
AUSTRALIA - VAI TRÒ ĐỒNG MINH CHIẾN LƯỢC CỦA HOA KỲ TRONG
CHIẾN TRANH VIỆT NAM
(1954-1975)
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2020
Trang 3Ý KIẾN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
….………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 4Ý KIẾN CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN
….………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn PGS.TS Hoàng Văn Việt đã tận tình giúp tác giảtrong quá trình thực hiện Khóa luận tốt nghiệp này Tác giả cũng xin gửi lời chân thànhcảm ơn Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,
và Thư viện Trung tâm Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã luôn tạo điều kiệnthuận lợi cho quá trình tác giả thực hiện Khóa luận tốt nghiệp này Đồng thời, tác giảcũng xin cảm ơn quý thầy cô, bạn bè, gia đình đã luôn ở bên cạnh giúp tác giả vượt quamọi khó khăn trong quá trình thực hiện đề tài, góp phần làm nên kết quả của Khóa luận
tốt nghiệp “Australia - vai trò đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ trong Chiến tranh
Việt Nam (1954-1975)”.
Tác giả
Nguyễn Minh Giang
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của cá nhân tác giả dưới
sự hướng dẫn của PGS TS Hoàng Văn Việt Các dữ liệu được sử dụng để phân tíchtrong đề tài đều có nguồn gốc, trích dẫn rõ ràng, cụ thể, được công bố và trích dẫn theođúng quy định quốc tế Các kết luận trong đề tài đều do tác giả tự tìm hiểu, phân tíchmột cách đầy đủ nhất có thể và chưa từng được nhóm công bố trên bất kỳ công trìnhnghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả
Nguyễn Minh Giang
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Đội huấn luyện quân sự của Australia tại Việt NamANZUS Australia-New Zealand United States Security
Hiệp ước an ninh Australia - New Zealand - Hoa Kỳ
Đô-la Australia
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổng sản phẩm quốc nội
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương
Lực lượng Không quân Hoàng gia Australia
Trung đoàn Hoàng gia Australia
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á
Trang 8MỤC LỤC
Ý KIẾN CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC 1
Ý KIẾN CỦA CÁN BỘ PHẢN BIỆN 2
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
MỤC LỤC 1
TÓM TẮT ĐỀ TÀI 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
4 Mục đích nghiên cứu 13
5 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu 14
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 15
7 Bố cục đề tài 16
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 18
1.1 Đồng minh và đồng minh chiến lược - một hình thức liên minh dựa trên lợi ích lâu dài 18
1.1.1 Khái niệm đồng minh 18
1.1.2 Khái niệm đồng minh chiến lược 18
1.1.3 Các phân loại đồng minh 21
1.2 Chiến tranh Việt Nam - một loại hình chiến tranh của chủ nghĩa thực dân Mỹ kiểu mới 23
1.2.1 Khái niệm chủ nghĩa thực dân mới 23
Trang 91.2.2 Chiến tranh Việt Nam - một cuộc chiến tranh lâu dài và đẫm máu
do chủ nghĩa thực dân Mỹ kiểu mới tiến hành 29
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ DẪN ĐẾN SỰ HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐỒNG MINH AUSTRALIA - HOA KỲ TRONG THỜI KỲ CHIẾN TRANH VIỆT NAM 34
2.1 Các nhân tố bên ngoài 34
2.1.1 Làn sóng chống chủ nghĩa xã hội và chính sách gia tăng vai trò ở Đông Nam Á của Hoa Kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai 34
2.1.2 Sự ra đời và trỗi dậy của chủ nghĩa xã hội Trung Quốc (1949-1956) .35
2.1.3 Sự lớn mạnh của phong trào giải phóng dân tộc sau chiến tranh thế giới thứ hai 38
2.2 Các nhân tố bên trong 41
2.2.1 Khái quát về Australia 41
2.2.2 Lợi ích quốc gia của Australia trong Chiến tranh Việt Nam 43
2.2.3 Tìm kiếm đồng minh chiến lược Australia của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam 48
2.2.3.1 Cơ sở hình thành quan hệ đồng minh Australia - Hoa Kỳ 48
2.2.3.2 Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) 52
2.2.3.3 Vai trò của Australia trong Chiến tranh Việt Nam 75
Tiểu kết chương 2 82
CHƯƠNG 3 QUAN HỆ ĐỒNG MINH CHIẾN LƯỢC AUSTRALIA -HOA KỲ TRONG GIAI ĐOẠN CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-1975)84 3.1 Củng cố và mở rộng liên kết chính trị ngoại giao giữa Australia và Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam 84
Trang 103.2 Hợp tác an ninh quốc phòng trong quan hệ Australia - Hoa Kỳ 88
3.3 Thúc đẩy các hoạt động kinh tế thương mại của Australia với Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam ở miền Nam Việt Nam 96
3.4 Định hình - củng cố và mở rộng các hoạt động trên lĩnh vực văn hóa - giáo dục - khoa học kĩ thuật của Australia ở miền Nam Việt Nam 97
Tiểu kết chương 3 98
KẾT LUẬN 100
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 1 Security Treaty Between Australia, New Zealand And The Usa [Anzus] 1
Phụ lục 2 Danh sách các thủ tướng Australia trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam (1954-1975) 5
Phụ lục 3 Danh sách tổng thống Mỹ tính đến hết giai đoạn chiến tranh Việt Nam (1954-1975) 7
Phụ lục 4 Niên biểu các sự kiện chính của Australia trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam (1954-1975) 9
Phụ lục 5 Bản đồ căn cứ quân sự liên hiệp Hoa Kỳ tại Australia giai đoạn 1954-1975 17
Phụ lục 6 Một số sự kiện ngoại giao Australia - Hoa kỳ 18
Phụ lục 7 Một số hình ảnh quan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ giai đoạn 1954-1975 23
Phụ lục 8 Quân đội các nước đồng minh phụ thuộc Mỹ ở Nam Việt Nam giai đoạn 1964-1973 27
Phụ lục 9 Viện trợ của Mỹ và nhu cầu của Việt Nam Cộng Hòa (1955-1973) 28
Phụ lục 10 Viện trợ quân sự của Hoa Kỳ cho chính quyền Việt Nam Cộng Hòa30 Phụ lục 12 Thư gửi Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ 34
Phụ lục 13 Viện trợ của Australia đối với ASEAN-5 37
Trang 11Phụ lục 14 Số lượng học sinh sinh viên đến Australia học tập theo chương trình
kế hoạch Colombo giai đoạn 1951-1979 38
Phụ lục 15 Viện trợ của Australia về giáo dục và đào tạo giai đoạn 1945-1975 cho các quốc gia Đông Nam Á 39
Phụ lục 16 Buôn bán của Australia với các nước Đông Á đang phát triển (EAS: Asean, Trung Quốc, Hồng Công, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc) giai đoạn 1951-1972 40
Phụ lục 17 Viện trợ chủ yếu của Mỹ cho các nước đang phát triển giai đoạn 1961-1967 (ĐVT: Triệu USD) 41
Phụ lục 18 Viện trợ của Australia cho Việt Nam Cng hòa (1946-1973) (đvt: Đô la Úc) 42
Phụ lục 19 Viện trợ ODA của Australia cho Việt Nam (1973-1975) (đvt: Đô la Úc) 43
Phụ lục 20 Bản ghi nhớ W.R.Myer gửi Kissinger ngày 15/07/1975 44
Phụ lục 21 Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ 46
Phụ lục 22 Phí tổn cho Chiến tranh Việt Nam trong toàn cục lịch sử Mỹ 47
Trang 12TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Australia là một nước tư bản chủ nghĩa hiện đại, có tầng lớp đại tư sản, vàcác tập đoàn tư bản khai khoáng khổng lồ chi phối đáng kể chính sách kinh tế -chính trị xã hội của Australia Với nền tảng tư tưởng chính trị chủ yếu đề caonhững giá trị dân chủ tự do phương Tây, lại có vị trí địa lý đặc biệt là tiền đồncủa phương Tây ở châu Á - Thái Bình Dương, trong bối cảnh luôn phải tìm
kiếm một “chiếc ô bảo hộ” an ninh biên giới phía Bắc từ một “người khổng lồ”
để chống lại mọi mối đe dọa có thể đến từ phương Bắc, Australia đã tìm kiếm,
lôi kéo và “bán mình” cho mối quan hệ đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ
trong suốt thời kỳ Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) Đây không chỉ là cuộcchiến dai dẳng, ác liệt nhất trong lịch sử Australia và Hoa Kỳ, chính thức biếnmiền Nam Việt Nam thành tiền đồn của chủ nghĩa thực dân Mỹ kiểu mới đểngăn chặn và đẩy lùi hoàn toàn ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội Trung Quốctràn xuống khu vực Đông Nam Á, mà còn là bước ngoặt chấm dứt hoàn toàncuộc chiến phi nghĩa của hàng loạt nước đồng minh và Hoa Kỳ với chủ nghĩa
xã hội ở châu Á, để lại bài học sâu sắc cho nhân loại về sự quyết định của tínhchính nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của bất kỳ mối quan hệ đồng minhnào được hình thành trên trường quốc tế Trong bối cảnh đó, đề tài đã trình bày
cụ thể những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ đồng minh chiến lược giữaAustralia và Hoa Kỳ trên các lĩnh vực kinh tế - chính trị - an ninh - văn hóa -giáo dục - khoa học kĩ thuật thông qua các hiện tượng, sự kiện tiêu biểu nhưhiệp ước an ninh phòng thủ song phương nổi tiếng ANZUS, hiệp ước hợp tácvăn hóa - giáo dục - khoa học kĩ thuật FULBRIGHT, và kế hoạch Colombo
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Với diện tích 7,682,300 km2, đường bờ biển dài 36735 km, trong khi dân sốkhoảng 24 triệu người (2019), trong đó 2/3 đều sống tập trung tại vùng biển phíaĐông lục địa, Australia là quốc gia có mật độ dân số thưa thứ tư trên thế giới.Ngay từ khi những người da trắng đầu tiên đến định cư, lục địa này đã bị chi phốibởi cảm giác lo sợ những người Trung Quốc sẽ xâm nhập tràn ngập lãnh thổ, hayngay khi những khu thuộc địa thống nhất thành lập nhà nước Liên bang vào năm
1901, nỗi lo sợ về an ninh quốc phòng khỏi quân phiệt Nhật vẫn luôn thường trựcnhư một lý do khác tiếp nối cho truyền thống tìm kiếm một “người bảo hộ” về anninh cho phía Bắc của lục địa Australia Từ chiến tranh Thái Bình Dương (1942)trở về trước, Anh được xem là người “bảo hộ” chính về an ninh của Australia.Tuy nhiên, kể từ khi chiến tranh Thái Bình Dương bùng nổ, đe dọa trực tiếp đếnthành phố Darwin, quan hệ Anh - Australia dần trở nên lỏng lẻo Thông qua Hiệpước phòng thủ Nam Thái Bình Dương (ANZUS), và Hiệp ước Manila (1951),Australia đã chính thức trở thành đồng minh quan trọng của Mỹ trong tổ chứcHiệp ước Đông Nam Á (SEATO) Quan hệ Australia-Hoa Kỳ trở thành hòn đátảng trong chính sách đối ngoại của Australia Trong bối cảnh đó, Australia đãđứng về hàng ngũ các thế lực đồng minh của Mỹ công nhận quan hệ với chínhquyền Sài Gòn, tìm mọi cách khuất phục ý chí thống nhất dân tộc của chínhquyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và biểu hiện điển hình là việc Australiacùng với Mỹ đưa quân đội tham chiến tại miền Nam Việt Nam trong cuộc Chiếntranh Việt Nam giai đoạn 1965-1973
Chiến tranh Việt Nam - một hình thức chiến tranh của chủ nghĩa thực dânkiểu mới đã trở thành một phần thăng trầm trong lịch sử quan hệ quốc tế củaAustralia với cả Hoa Kỳ, Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác Từ “cuộctình mới mẻ, đằm thắm mà không ít trắc trở” với Hoa Kỳ trong giai đoạn quantrọng này, Australia hậu chiến tranh Việt Nam đã tự chủ hơn trong đường lối đốingoại, mở ra mầm mống manh nha của sự hình thành chính sách Hướng về châu
Á Chính vì tính chất bước ngoặt ấy của sự kiện Australia đưa quân tham chiến
Trang 14tại miền Nam Việt Nam, là một sinh viên chuyên ngành Australia học, tác giả
quyết định chọn nghiên cứu “Australia - vai trò đồng minh chiến lược của Hoa
Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)” làm đề tài Khóa luận tốt nghiệp.
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài sẽ là một tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu liên quan đến lịch
sử hình thành và phát triển mối quan hệ đồng minh chiến lược của Australia vớiHoa Kỳ trong bối cảnh lịch sử quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoại Australianói chung, giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) nói riêng Đồng thời, đềtài sẽ góp phần cung cấp thêm những luận điểm quan trọng về quan hệAustralia-Hoa Kỳ trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh nói chung và Chiến tranhViệt Nam nói riêng, vai trò của Australia trong cuộc Chiến tranh Việt Nam, cũngnhư những chính sách thể hiện cụ thể mối quan hệ đồng minh chiến lược giữaAustralia và Hoa Kỳ
Bên cạnh đó, đề tài cũng góp phần khẳng định cuộc Chiến tranh Việt Nam
là một cuộc chiến lâu dài nhất, ác liệt nhất, thể hiện sâu sắc nhất mâu thuẫn đốiđầu trong cục diện Đông-Tây sau chiến tranh thế giới thứ hai Chính vì tính chấtphi nghĩa và bản chất của cuộc Chiến tranh Việt Nam là một hình thức nô dịchcủa chủ nghĩa thực dân Mỹ kiểu mới áp đặt tại miền Nam Việt Nam nên cuộcchiến này đã mau chóng biến Hoa Kỳ ngày càng sa lầy vào một cuộc chiếnkhông hồi kết mà thất bại chỉ còn là vấn đề thời gian Qua đó, đề tài còn cho thấytính thực dụng, hai mặt và “phi nghĩa” trong quyết định tham chiến của các nướctrong khối đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ như Australia, Thái Lan, Nhật Bản,Đại Hàn Dân quốc đã bị Hoa Kỳ lôi kéo nhằm thiết lập hành lang bảo vệ vữngchắc các căn cứ quân sự cốt lõi của Hoa Kỳ ở châu Á - Thái Bình Dương khỏi sựcủng cố và mở rộng của chủ nghĩa xã hội ở châu Á Trong đó, để đánh đổi sự bảo
hộ an ninh từ Hoa Kỳ đối với khu vực biên giới phía Bắc của đất nước, Australia
đã phải chấp nhận số lượng đội cố vấn - nhân viên quốc phòng và thanh niênphục vụ nghĩa vụ quân sự bị thương vong bằng tổng số lượng thương vong trong
cả hai cuộc chiến tranh thế giới mà Australia đã quyết định tham chiến cùng Anh
Trang 15Ý nghĩa thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có thể được sử dụng như một nguồn tài liệutham khảo cho các sinh viên, nghiên cứu sinh và những học giả nghiên cứu quantâm đến quan hệ quốc tế của Australia, Hoa Kỳ và cuộc Chiến tranh Việt Nam(1954-1975) Qua đó, đề tài góp phần bổ sung kiến thức cho cá nhân tác giả vềkinh nghiệm nghiên cứu khoa học nói chung và lịch sử, chính trị và quan hệ quốc
tế của Australia thời hiện đại, trong Chiến tranh Lạnh nói riêng, cụ thể là quan hệđồng minh chiến lược của Australia với Hoa Kỳ trong giai đoạn 1954-1975.Qua kết quả nghiên cứu của cá nhân tác giả, đề tài còn cho thấy đồng minh làmột hình thức tập hợp lực lượng phổ biến trong quan hệ quốc tế đương đại, khimọi mâu thuẫn khu vực và thế giới đều xoay quanh cuộc đối đầu lưỡng cực Yalta.Tuy nhiên, vì những toan tính lợi ích cho bản thân quốc gia, giới tinh hoa trongcác đảng cầm quyền mang tính “diều hâu” đã biến nó thành hình thức thức tậphợp lực lượng phi nghĩa, mang tính chất nô dịch, hòng ngăn chặn và đẩy lùi chủnghĩa xã hội mở rộng ảnh hưởng sang phía Đông của châu Á Bên cạnh đó, kể từsau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, khoảng thời gian đơn cực tạm thời của Hoa
Kỳ đã chính thức chấm dứt sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1997 và
sự kiện ngày 11/9, trật tự thế giới “nhất siêu đa cường” đa trung tâm quyền lực
đã và đang ngày càng được định hình rõ nét trong quan hệ quốc tế hiện nay.Những hình thức tập hợp lực lượng mới nhằm hợp tác, thúc đẩy phát triển vănhóa - giáo dục - khoa học kĩ thuật đã ngày càng gây được ảnh hưởng to lớn trênthế giới Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng sản sinh ra các siêu tập đoàn đa quốc gia(TNC) có mạng lưới liên kết sâu rộng đến hầu khắp các quốc gia trên thế giới,tiếp tục ngầm thực hiện sứ mệnh của chủ nghĩa tư bản hiện đại trong bối cảnhquốc tế mới, hòng xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa xã hội trên trường quốc tế
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu riêng rẽ về đất nước Australia, những côngtrình nghiên cứu các vấn đề nội tại Australia với Việt Nam trong Chiến tranhViệt Nam còn khiêm tốn, chưa được chú trọng đáng kể Đề tài này đã kế thừanhững thông tin cơ bản về địa lý - quan hệ quốc tế - thể chế chính trị của
Trang 16Australia, như công trình Australia ngày nay của Vũ Tuyết Loan (Viện Nghiên
cứu Đông Nam Á) nói về kinh tế - văn hóa - chính trị - xã hội hiện đại của
Australia, hay công trình Những vấn đề địa lý Australia của Nguyễn Văn Tài
(Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố HồChí Minh) đã nói về những yếu tố địa lý liên quan đến sự biệt lập và dồi dào,giàu có về địa lý tự nhiên của Australia cũng như những đặc điểm địa lý nhânvăn - dân cư của Australia có ảnh hưởng quyết định đáng kể đến sự định hìnhquan hệ đối ngoại của Australia nói chung và quan hệ đồng minh chiến lược vớiHoa Kỳ của Australia nói riêng Bên cạnh đó, việc nghiên cứu quan hệ đối ngoạicủa Australia ở Việt Nam hiện nay vẫn còn khá ít ỏi Hầu như chưa có một côngtrình chính thống nào ở Việt Nam khai thác toàn diện đề tài về vai trò đồng minhchiến lược với Hoa Kỳ của Australia trong Chiến tranh Việt Nam Công trình
“Quan hệ quốc tế của Australia trong những năm 90 của thế kỷ XX” của Gareth
Evans (Dịch bởi Nguyễn Bảo Thanh Nghị, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn,Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh) được xem là công trình tương đốibao quát về các giai đoạn chủ yếu trong quan hệ quốc tế và chính sách đối ngoạicủa Australia đối với các khu vực Á - Phi - Âu - Mỹ trong nửa cuối thế kỷ XX.Bên cạnh đó, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc giaThành phố Hồ Chí Minh đã có nhiều bài viết và luận văn, luận án liên quan đến
quan hệ đối ngoại Australia của tác giả Đỗ Thị Hạnh Ở công trình “Quan hệ của
Australia với Đông Nam Á từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa thập niên 90”, “Sự tiến hóa trong chính sách Việt Nam của Australia”, tác giả Đỗ Thị Hạnh
đã hướng đến những cơ sở, nền tảng dẫn đến sự điều chỉnh chính sách củaAustralia từ sau Chiến tranh Việt Nam, vị trí không thể thiếu của Chiến tranhViệt Nam trong hoạch định chính sách Đông Nam Á của Australia, thông qua đócho thấy vai trò của Australia trong Chiến tranh Việt Nam Tạp chí Nghiên cứuLịch sử, tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, tạp chí Nghiên cứu Ấn Độ và châu Á và tạpchí Khoa học & Công nghệ Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng cómột số bài viết khoa học của các học giả Vũ Lê Thái Hoàng, Huỳnh Tâm Sáng,Phạm Thị Yên, Trịnh Thị Định liên quan đến quan hệ đồng minh chiến lược giữaAustralia và Hoa Kỳ từ trong và sau Chiến tranh Việt Nam đến nay Nhìn chung,
Trang 17những bài viết khoa học này tập trung vào quan hệ Australia và Hoa Kỳ sauChiến tranh Việt Nam, đặc biệt là từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, trong đó,phần đề cập đến quan hệ Australia và Hoa Kỳ từ trong Chiến tranh Việt Nam chỉmang tính dẫn nhập, mở đầu, tóm tắt sơ lược cho một giai đoạn nền tảng trong
quan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ Trong khi đó, “Địa chính trị
trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia” của tác giả Nguyễn Văn Dân
hệ thống hóa các quan điểm và lý thuyết địa chính trị, làm rõ bản chất và vị trí vai trò của địa chính trị, thông qua đó đưa ra cái nhìn đúng đắn về địa chính trị,trong đó đặc biệt là quan điểm địa chính trị trong chiến lược-chính sách phát triểncủa Hoa Kỳ
-Ở trong nước, hiện nay, về vai trò đồng minh chiến lược Australia-Hoa Kỳtrong Chiến tranh Việt Nam, chỉ có một số thông tin đại diện tiêu biểu được nhắc
đến trong các công trình “Chính sách của Australia đối với ASEAN từ 1996 đến
nay” của tác giả Hoàng Hữu Thám (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân
văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), cũng như công trình “Quan hệ Australia - Việt
Nam trong giai đoạn 1991-2013” của tác giả Huỳnh Tâm Sáng (Viện Hàn lâm
Khoa học xã hội Việt Nam) Đề tài “Australia- vai trò đồng minh chiến lược
của Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)” cũng kế thừa những
thông tin cần thiết về mối quan hệ gắn bó chặt chẽ Australia-Hoa Kỳ trong
“Quan hệ Úc - Mỹ từ đầu thế kỷ XXI đến nay” của Đoàn Thanh Thảo (Trường
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh), đặc biệt
là quan hệ chính trị - an ninh được xây dựng trên nền tảng quan hệ đồng minhchiến lược Australia-Hoa Kỳ trong Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)
Nước ngoài
Kỷ yếu hội thảo khoa học lịch sử Quân đội Australia và Chiến tranh Việt
Nam do đơn vị chuyên môn Lịch sử quân đội tổ chức năm 2002 nói về những
yếu tố quân sự, kinh nghiệm, cách thức chuẩn bị - đào tạo Đội Quân huấnAustralia tại Việt Nam từ tháng 10/1962, cũng như cách thức những chính sáchcấp cao chi phối những hoạt động triển khai, sự tương tác với các đại đội bộ binhtrong Trung đoàn Bộ binh Hoàng gia New Zealand, sự hợp nhất các đại đội này
Trang 18với các tiểu đoàn của Trung đoàn Hoàng gia Australia Bên cạnh đó, các bàitham luận của hội thảo cũng xem xét, phân tích các khía cạnh tương tác giữaAustralia và Hoa Kỳ cũng như các lực lượng viễn chinh Đại Hàn, Thái Lan, Hoa
Kỳ, và quân lực Việt Nam Cộng hòa Ngoài ra, các bài tham luận cũng trình bàyhai khía cạnh chưa được đề cập đến nhiều trong các văn bản về Chiến tranh ViệtNam ở cả Australia, New Zealand và Hoa Kỳ Đó là tác động với Lực lượngQuân đội Nhân dân, phủ nhận vai trò và chối bỏ tình trạng quốc phòng củaAustralia, và hậu quả về cơ chế - chính sách đối với Quân đội sau khi rút quân vàthất bại của các lực lượng đế quốc chủ nghĩa phương Tây năm 1975
Luận văn tốt nghiệp cử nhân tài năng ngành Lịch sử đề tài “Australia: Một
Quốc gia “Ngoại bang” và nơi tận cùng đế chế của Vương quốc Anh” của Greta
Beale bảo vệ năm 2011 tại Đại học Sydney đã nói về khái niệm tính Da trắng(hay tính Anh) của Australia nhằm đưa ra một quan điểm lịch sử toàn diện vềnhững khó khăn mà cư dân Australia bắt đầu phải đối mặt khi đi đến những cơ sởchuyển hướng quan hệ với vương quốc Anh Bên cạnh đó, luận văn còn trình bày
sự phản đối kịch liệt của cư dân Australia - chủ yếu là con cháu những ngườiAnh di cư từ thế kỷ XIX đến một nơi hoàn toàn không có huyền thoại lập quốc,còn các lãnh tụ quốc gia thì luôn tìm kiếm nó ở tính Anh lý tưởng Ngoài ra,thông qua các ghi chép lịch sử được lưu trữ, luận văn còn xét những trải nghiệmlịch sử toàn diện hơn về sự suy yếu của đế quốc Anh, sự giảm lòng trung thànhcủa các khu thuộc địa tại lục địa Australia và khắp nơi trên thế giới đối với Anh,trong quá trình dòng thác lũ giải phóng dân tộc ngày càng dâng cao, cuồn cuộnchảy trên khắp thế giới
Luận văn thạc sĩ “Quan hệ đồng minh Australia - Hoa Kỳ: Holt, LBJ
(Lyndon Baines Johnson) và Chiến tranh Việt Nam” của tác giả Adam Scanlon
bảo vệ tại Đại học Victoria vào năm 2013 đã nói về sự tham chiến của Australiatrong Chiến tranh Việt Nam như một phương tiện đảm bảo sự hiện diện của Hoa
Kỳ ở châu Á - Thái Bình Dương trước nguy cơ cao về sự rút lui của Anh khỏi bờĐông kênh đào Suez Luận văn đã trình bày chủ yếu vai trò của liên minhAustralia - Hoa Kỳ dưới thời kỳ Harold Holt theo quan điểm của các báo cáođược các cơ quan chủ chốt của chính phủ Australia chuẩn bị Từ đó, luận văn
Trang 19nhấn mạnh ảnh hưởng của nhân tố quốc phòng - an ninh dẫn đến sự hình thànhkhối liên minh giữa Australia và Hoa Kỳ Đặc biệt, luận văn đã đồng thời lấp vàokhoảng trống của lịch sử khi đã phân tích chi tiết chuyến thăm cấp tổng thốngHoa Kỳ đầu tiên đến Australia vào năm 1966 trong khi sự tham gia của Hoa Kỳ ởChiến tranh Việt Nam ngày càng đi xuống Luận văn cũng đã xem xét nhân tốAnh và sự rút lui khỏi bờ đông kênh đào Suez như một ảnh hưởng mang tínhquyết định đến quyết định đi tới thỏa thuận đồng minh chung giữa Australia vàHoa Kỳ Luận văn cũng cho thấy mặc dù ngoài mặt, Harold Holt và tổng thống
Mỹ Johnson đã có những động thái thể hiện sự thống nhất (All way LBJ) nhưng
trong lòng, Australia vẫn thờ ơ trước những nỗ lực của Mỹ sau khi rút quân khỏiNam Việt Nam, đứng bên ngoài sự phát triển chính sách Việt Nam của Hoa Kỳhậu hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam
Trong khi đó, luận án tiến sĩ “Đánh giá lại khối liên minh ANZUS: Chiến
lược và ngoại giao giữa Australia - New Zealand và Hoa Kỳ giai đoạn 1945-56”
của Andrew Mathew Kelly đã được bảo vệ tại Đại học Western Sydney vào năm
2016 lại nói về mối quan hệ tay ba tam giác Australia - New Zealand - Hoa Kỳ từcuối năm 1945 đến hết cuộc khủng hoảng kênh đào Suez qua các tài liệu lưu trữrộng rãi của cả Australia - New Zealand và Hoa Kỳ Từ đó, luận án nhấn mạnhnỗi hoài nghi về ảnh hưởng của việc Hoa Kỳ thay thế vị trí lãnh đạo của Anh ởchâu Á Thái Bình Dương đối với tương lai khu vực láng giềng cận Bắc Australia.Đồng thời, luận án đã phân tích vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ trong quan hệ vớiAustralia và New Zealand đến giữa những năm 1950 Luận án cũng đã xem xétthực tế hiếm khi Hoa Kỳ chia sẻ vai trò lãnh đạo đối với Australia hay NewZealand từ việc tham khảo đến thực tiễn các vấn đề lớn nhỏ khác nhau ở châu ÁThái Bình Dương
Trên số 2 quyển 2 năm 2014 của tạp chí Nghiên cứu Lịch sử Đông Bắc Á
thuộc Qũy Lịch sử Đông Bắc Á cũng có bài viết “Liên minh Australia - Hoa Kỳ,
sự công nhận về ngoại giao với CHND Trung Hoa và khủng hoảng Kim Môn
-Mã Tổ 1954-1955” của tác giả Andrew Kelly đã nói về sự khác biệt giữa hai lăng
kính khác nhau của Hoa Kỳ và Australia đối với vấn đề công nhận về mặt ngoạigiao với nhà nước CHND Trung Hoa như một cách thức để ngăn chặn quá trình
Trang 20bành trướng của chủ nghĩa xã hội Trung Quốc xuống Đông Nam Á Từ nhữngphân tích, xem xét động thái của Australia và Hoa Kỳ đối với vấn đề Đài Loan,tác giả Andrew Kelly nhấn mạnh tính đa diện - đa tuyến thể hiện đầy mâu thuẫnphức tạp trong mối quan hệ đồng minh Australia - Hoa Kỳ ngay từ khi mới đượcthiết lập Bên cạnh đó, bài viết “Australia, cuộc thử nghiệm Marshall và quá trìnhphi tập trung hóa Singapore giai đoạn 1955-1956” của Andrea Benvenuti đăng
trên số 43 tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á học của Đại học Quốc gia Singapore
lại nói về mối đe dọa khu vực cực Bắc Australia đến từ sự thất thủ của Singaporethuộc Anh Từ những xem xét tài liệu ngoại giao của Australia đối với lăng kínhcoi cư dân chính ở Singapore là bộ phận dễ bị tổn thương trước chủ nghĩa xã hộiđến từ quê nhà Trung Quốc, bài viết đã làm sáng tỏ cách tiếp cận của chínhquyền Robert Menzies đối với quá trình chính trị của Singapore giai đoạn1955-1956 Bài viết đã góp phần vào nguồn tài liệu nghiên cứu chính sách củaAustralia ở Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai
4 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện với các mục đích chính:
Phân tích nền tảng quan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ quaviệc mô tả khái quát những lợi ích quốc gia chiến lược của mỗi nước đạt đượctrong Chiến tranh Lạnh nói chung, Chiến tranh Việt Nam nói riêng
Làm rõ những phương diện hợp tác trong quan hệ đồng minh chiến lược củaAustralia với Hoa Kỳ và xu hướng phát triển của những phương diện đó trongthời gian Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)
Tìm hiểu về vai trò của Australia trong Chiến tranh Việt Nam giai đoạn1965-1973 để cung cấp những ý nghĩa chiến lược mà mối quan hệ đồng minhchiến lược hình thành trên cơ sở nào, có thể thay đổi như thế nào và ảnh hưởngđến tính chất, đặc điểm của quan hệ giữa hai nước trên những lĩnh vực khác nhautrong bối cảnh Chiến tranh Lạnh như thế nào Từ đó, đề tài có thể cung cấp thêmdẫn chứng cụ thể về thực tiễn cho lý thuyết về đồng minh trong quan hệ quốc tế
Trang 21Các quốc gia là những chủ thể luôn tồn tại và phát triển trong môi trườngquan hệ quốc tế với các vai trò cụ thể khác nhau theo thời gian Cụ thể, Khóaluận sẽ phân tích, làm rõ vai trò đồng minh chiến lược của Australia trong mốiquan hệ với Hoa Kỳ trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), đặc biệt
là khi Australia và Hoa Kỳ đưa quân trực tiếp tham chiến tại Việt Nam trongkhoảng giai đoạn 1965-1973 Mục đích là Khóa luận sẽ tập trung nghiên cứuquan hệ đồng minh chiến lược của Australia với Hoa Kỳ trên những lĩnh vựcchính trị - ngoại giao, an ninh - quốc phòng, và kinh tế Khóa luận tiếp cận vai tròđồng minh chiến lược của Australia ở cả phương diện chính trị học và quan hệquốc tế, để đánh giá vai trò của Australia trong Chiến tranh Việt Nam nói riêng
và trong mối quan hệ với Hoa Kỳ trong Chiến tranh Lạnh nói chung Từ vai tròđồng minh chiến lược của Australia, Khóa luận cố gắng cung cấp cái nhìn đầy đủhơn về đường lối đối ngoại của Australia đối với Việt Nam nói riêng, Đông Nam
Á nói chung trong Chiến tranh Lạnh dưới sự chi phối chủ đạo của quan hệAustralia-Hoa Kỳ trong giai đoạn này
Để đạt được những mục đích nghiên cứu đã nêu ra ở trên, Khóa luận phảihoàn thành những nhiệm vụ nghiên cứu là:
So sánh - phân tích - tổng hợp các tài liệu liên quan đến lợi ích quốc gia màAustralia và Hoa Kỳ đạt được, ý nghĩa của các lợi ích quốc gia đến sự hình thànhquan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ
Trên cơ sở đó, tiến hành đánh giá, nhận xét, khái quát, phân tích và đưa rakết luận về quan hệ đồng minh chiến lược của Australia với Hoa Kỳ trên nhữnglĩnh vực chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa giáo dục
5 Đối tượng - phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng chính là vai
trò của Australia trong mối quan hệ đồng minh chiến lược với Hoa Kỳ, tìm hiểu
và phân tích trên các lĩnh vực chính trị, an ninh quốc phòng, kinh tế, văn hóa giáodục và khoa học kĩ thuật Trong đó, tập trung chủ yếu trên ba lĩnh vực chính làchính trị - an ninh quốc phòng - kinh tế
Trang 22Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Liên bang Australia, khu vực miền Nam Việt Nam
-nơi Australia đưa quân tham chiến (trải trên các địa bàn chinh là Núi Đất, LongTân, Bình Ba thuộc Phước Tuy và thành phố Sài Gòn, nay là Bà Rịa - Vũng Tàu
và thành phố Hồ Chí Minh)
Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung vào giai đoạn Chiến tranh Việt Nam
(1954-1975), trong đó, giai đoạn Australia đưa quân tham chiến tại miền NamViệt Nam (1965-1973) được chú trọng hơn hết
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Phương pháp lịch sử - logic: Vai trò của Australia trong bối cảnh lịch sử của
Chiến tranh Lạnh nói chung và Chiến tranh Việt Nam nói riêng, chịu sự chi phốibởi những chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam, đặc biệt là miền Nam ViệtNam thay đổi dần theo từng giai đoạn qua các đời tổng thống Eisenhower,Kennedy, Johnson, Nickson, qua đó làm rõ sự hình thành và phát triển vai tròđồng minh chiến lược của Australia trong quan hệ với Hoa Kỳ giai đoạn1954-1975 Thông qua những nguyên nhân sâu xa cốt lõi về lợi ích chung đượcnghiên cứu trong quan hệ giữa Australia và Hoa Kỳ, phương pháp logic cho phépxâu chuỗi các nhân tố cơ sở hình thành quan hệ đồng minh chiến lược giữaAustralia-Hoa Kỳ từ các nhân tố nội tại hai nước đến nhân tố bối cảnh lịch sửkhu vực - thế giới và thời đại Trên cơ sở xâu chuỗi các khía cạnh với nhau, đề tàiđánh giá được những vai trò của Australia trong quan hệ đồng minh chiến lượcvới Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị - an ninh quốc phòng - kinh tế
Phương pháp chính trị học: quan hệ đồng minh chiến lược của Australia
với Hoa Kỳ được xây dựng trên những nền tảng chung được rút ra từ lợi ích quốcgia của mỗi nước, thông qua đó thay đổi cán cân so sánh quyền lực của mỗi nước
ở khu vực Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung Đồng thời, tương quanquyền lực giữa hai nước cũng được đảm bảo, và cải thiện theo thời gian Vì vậy,vai trò đồng minh chiến lược của Australia còn cần phải được nghiên cứu dướigóc nhìn của chính trị học về quyền lực
Trang 23Phương pháp quan hệ quốc tế: Phân tích ý nghĩa vai trò của đồng minh
trong quan hệ quốc tế Cụ thể trong Khóa luận, phương pháp quan hệ quốc tếgiúp làm rõ ý nghĩa vai trò của đồng minh Australia trong chiến lược toàn cầucủa Hoa Kỳ, vai trò này đã tác động đến quan hệ giữa hai nước, chịu sự chi phốibởi sự điều chỉnh chính sách của cả hai nước trong bối cảnh chung của cuộcChiến tranh Việt Nam mà cả Australia và Hoa Kỳ đều là các nhân tố tham giatrực tiếp
Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đánh giá sự tương đồng và dị biệt trong
lợi ích quốc gia của mỗi nước tại Việt Nam, khi đưa quân tham chiến trực tiếp tạimiền Nam Việt Nam, từ đó thấy được những mối liên hệ và xung đột trong lợiích so sánh của hai nước theo thời gian tại khu vực Đông Nam Á nói chung vàViệt Nam nói riêng qua các thời kỳ 1954-1962, 1962-1965, 1965-1973, và1973-1975
Phương pháp liên ngành: quan hệ đồng minh chiến lược giữa Australia
-Hoa Kỳ được thể hiện trên nhiều mặt: chính trị - ngoại giao, an ninh - quốcphòng, kinh tế - thương mại, nên khi tìm hiểu và nghiên cứu quan hệ này đòi hỏiphải sử dụng kiến thức của những ngành học liên quan Như vậy, Khóa luận sẽđược thực hiện dưới cái nhìn bao quát và toàn diện nhất, trên các cơ sở nền tảngnhư địa lý, văn hóa chính trị và kinh tế
Nguồn tư liệu để thực hiện đề tài:
Các sách trắng quốc phòng, sách trắng ngoại giao, văn kiện, bài phát biểu của
6 đời tổng thống Hoa Kỳ phát động và thực hiện Chiến tranh Việt Nam
Sách nghiên cứu bằng tiếng Việt và tiếng Anh
Các tạp chí nghiên cứu bằng tiếng Việt và tiếng Anh đạt chuẩn ISSN, ISBNCác trang mạng điện tử Internet, website điện tử trực tuyến của các cơ quanthông tấn liên quan đến chính trị, quan hệ quốc tế bằng tiếng Việt và tiếng Anh
7 Bố cục đề tài
Ngoài mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từviết tắt, Khóa luận được kết cấu thành 3 chương 10 tiết Trong đó:
Trang 24CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trình bày những khái niệm cơ bản liên quan đến đối tượng nghiên cứu của
đề tài, bao gồm các khái niệm đồng minh, chiến lược, đồng minh chiến lược,chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa thực dân mới Từ đó, chứng minh bảnchất của mối quan hệ đồng minh chiến lược trong quan hệ quốc tế, sự xuất hiện
và tình hình phát triển của nó, cũng như những xu hướng tính chất chung củaquan hệ đồng minh chiến lược trong quan hệ quốc tế Đồng thời, cho thấy bảnchất của cuộc Chiến tranh Việt Nam là một hình thức chiến tranh của chủ nghĩathực dân mới mà Hoa Kỳ là một đại diện tiêu biểu, đã áp dụng ở nhiều khu vựctrên thế giới (Á, Phi, Mỹ Latinh), trong đó có miền Nam Việt Nam
CHƯƠNG 2 CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH QUAN HỆ ĐỒNG MINHAUSTRALIA - HOA KỲ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-1975)Trình bày những nền tảng vai trò lần lượt của Australia và Hoa Kỳ trongcuộc Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), từ đó tác giả sử dụng phương pháp sosánh - đối chiếu làm rõ những lợi ích chiến lược chung mà Australia và Hoa Kỳđạt được khi hợp tác và tham chiến trực tiếp trong Chiến tranh Việt Nam(1954-1975) Ngoài ra, vai trò của nhân tố khu vực và thế giới như sự kết thúccủa chiến tranh thế giới thứ hai với bài học kinh nghiệm lịch sử về vai trò củakhối đồng minh trong chiến tranh trên trường quốc tế cũng là một trong nhữngnền tảng định hình nên quan hệ đồng minh chiến lược Australia - Hoa Kỳ trongChiến tranh Việt Nam (1954-1975)
CHƯƠNG 3 QUAN HỆ ĐỒNG MINH CHIẾN LƯỢC AUSTRALIA HOA KỲ TRONG GIAI ĐOẠN CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-1975)Trình bày những nội dung và thành tựu cụ thể trong quan hệ đồng minhchiến lược Australia-Hoa Kỳ giai đoạn 1954-1975 trên từng lĩnh vực cụ thể gồm:lĩnh vực chính trị - ngoại giao, lĩnh vực quân sự - an ninh quốc phòng, lĩnh vựckinh tế và lĩnh vực văn hóa - giáo dục - khoa học kĩ thuật
Trang 25-CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Đồng minh và đồng minh chiến lược - một hình thức liên minh dựa trên lợi ích lâu dài
1.1.1 Khái niệm đồng minh
Đồng minh là sự cam kết chính thức giữa các quốc gia nhằm phối hợp haytương trợ lẫn nhau để đối phó với vấn đề chung nào đó Mục đích của đồng minh
là cộng sức mạnh của các nước trong liên minh để tạo được quyền lực lớn hơnnhằm kiềm chế, cân bằng hoặc vượt hơn với quyền lực của đối thủ, đảm bảo lợiích cho các thành viên Sự hình thành đồng minh là một biện pháp tập hợp lựclượng, đó cũng là cách thức thay đổi cán cân so sánh quyền lực nhanh nhất.Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các liên minh quân sự-chính trị chiếm vị tríđáng kể Đó là sự cam kết phối hợp giữa hai hay nhiều quốc gia hỗ trợ lẫn nhau
về an ninh và quân sự Trong các liên minh chính trị-quân sự đó có thể tồn tại cácmối quan hệ kinh tế, văn hóa, xã hội, nhưng những mối quan hệ ấy không trởthành sức mạnh nổi trội, căn bản trong liên minh, chúng chỉ giúp củng cố mốiquan hệ cơ bản và nổi trội nhất trong liên minh là quan hệ chính trị-quân sự Đốivới các mối quan hệ kinh tế, văn hóa xã hội khi trở thành nổi trội, chiếm ưu thế
về căn bản, các tập hợp lực lượng đó có xu hướng trở thành liên hiệp, tổ chứcquốc tế hơn là trở thành đồng minh Đồng minh hay quan hệ đồng minh thườngxuất hiện khi có xung đột, đấu tranh, mà lịch sử thế giới lúc nào cũng đầy rẫyxung đột - đấu tranh, nên có thể nói đồng minh là hiện tượng tồn tại nhiều xuyênsuốt trong lịch sử nhân loại [Hoàng Khắc Nam; 236-237]
1.1.2 Khái niệm đồng minh chiến lược
Chiến lược theo Đại từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học Việt Namxuất bản năm 2002 có nghĩa là có tính chất toàn cục, được vận dụng suốt trongmột giai đoạn nhằm mục đích nhất định Như vậy, đồng minh chiến lược có thểđược hiểu là sự liên kết đặc biệt vì lợi ích quốc gia chung trên nhiều lĩnh vực màmỗi bên chủ thể đều có tầm quan trọng sống còn, mang tính chiến lược, xuyênsuốt trong một giai đoạn đối với lợi ích quốc gia ngắn hạn hoặc dài hạn của bênchủ thể còn lại Đồng minh chiến lược vì vậy có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến sự
Trang 26phát triển môi trường an ninh của mỗi chủ thể, quyết định phạm vi không giansinh tồn, mở rộng ảnh hưởng và phát triển an ninh quốc phòng của mỗi bên.Trên thế giới, các đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ còn bao gồm nhữngnước không thuộc NATO (Major Non-NATO Ally - MNNA), là những nước Á,Phi, Mỹ Latinh như: Hàn Quốc, Nhật Bản, Philippines, Thái Lan, Australia, vàNew Zealand Theo đó, Hoa Kỳ và những nước MNNA đều có trách nhiệm vànghĩa vụ quân sự, làm hậu phương cho nhau trong các cuộc chiến tranh xung độttrên phạm vi toàn cầu, hỗ trợ nhau trên mọi lĩnh vực, đặc biệt mang tính sống còn
là lĩnh vực an ninh quân sự quốc phòng - lĩnh vực được ràng buộc ở mức độ caonhất bằng Hiệp ước phòng thủ chung
Theo bài viết Cooperation Among Democraties: The European Influence
on US Foreign Policy của Thomas Risse-Keppen do NXB Đại học Princeton
xuất bản năm 1995, trong chủ nghĩa hiện thực, các quốc gia cố gắng giữ cân bằnghơn là liên kết, các đồng minh hình thành vì các quốc gia vừa và nhỏ cần liên kết
để cùng đối phó với một mối nguy cơ đe dọa chung, để cùng có khả năng tồn tạitrong hệ thống quốc tế hỗn loạn, vô chính phủ Các hình thức của đồng minh, vìvậy, cũng thay đổi theo sức mạnh của quốc gia Đó là lý do các cường quốckhông cần liên kết với nhau cũng có thể đảm bảo sự tồn tại của họ trong cơ cấulưỡng cực tại từng khu vực nói riêng cũng như trên toàn thế giới nói chung Vìvậy, đồng minh chỉ tồn tại khi lợi ích của các bên tham gia đang trong quá trìnhdần đạt được tối ưu hóa Các nước đồng minh trong mối quan hệ với cường quốcchủ yếu có thể được xem như một vốn quý trong cuộc cạnh tranh giữa hai bá chủtranh nhau vị trí bá quyền Những lợi ích đạt được càng có ý nghĩa quan trọngđối với nước bá quyền, việc thu nhận các nước đồng minh vừa và nhỏ ngày càng
có ý nghĩa Nhưng một đồng minh ly khai có thể khiến các cường quốc lo ngạidẫn đến một loạt phản ứng như hiệu ứng Domino
Trong khi đó Waltz trong The origins of alliance cho rằng các nước đồng
minh liên kết với cường quốc chủ yếu để đối phó với mối đe dọa hơn là vớinhững sức mạnh kinh tế - quân sự Các nước đồng minh vừa và nhỏ cảm thấy bị
đe dọa trước những đối thủ vừa gần gũi về địa lý, vừa có lực lượng quân độ
Trang 27mang tính phòng vệ vượt trội và còn luôn mang tư tưởng tấn công, bành trướngảnh hưởng Sự gần gũi về mặt địa lý giữa Trung Quốc và Australia, thiên hạ quan
và học thuyết Nhất biên đảo của người Trung Quốc cùng với ưu thế về dân số,lực lượng chiến đấu kết hợp với tư tưởng Mao mang khuynh hướng dân tộc chủnghĩa cao tột độ là mối đe dọa xuất phát từ Trung Quốc dẫn đến việc ra đờiANZUS Cả ba nhân tố này tạo nên mối đe dọa mang tên Cộng sản (Trung Quốc).Trung Cộng chứ không phải Việt Cộng, mới là mối đe dọa an ninh thực sự có thểtấn công Australia theo nhận thức đương thời vào những năm 50 của thế kỷ XX
Waltz cũng cho rằng “sự đóng góp của các quốc gia vừa và nhỏ đối với đồng
minh thực sự có ích ngay cả trong thế giới lưỡng cực Vì vậy, các chính sách và chiến lược của các cường quốc chủ yếu được hình thành phụ thuộc những tính toán và lợi ích riêng của các cường quốc chủ yếu đó.” Đó là lý do, mặc dù Hoa
Kỳ mạnh hơn cả Nhật Bản, Nam Triều Tiên, Đài Loan, Philippines nhưng cácnước đồng minh châu Á Thái Bình Dương này đã có ảnh hưởng đáng kể đối vớichính sách đối ngoại của Hoa Kỳ, thậm chí đối với khu vực chứa đựng lợi quốcgia sống còn của Hoa Kỳ là Mỹ Latinh
Trong khi đó, theo lý thuyết tự do chủ nghĩa về quan hệ quốc tế, các nềndân chủ tư sản (dân chủ tự do) ít khi gây chiến với nhau vì cùng chia sẻ một nhậnthức chung về hòa bình, do các quy chuẩn dân chủ điều chỉnh các tiến trình quyếtđịnh trong nước của họ Vì cùng một nhận thức cộng đồng và chia sẻ các giá trịbản sắc chung, họ có thể khắc phục những rào cản trong hợp tác quốc tế, và lập
ra các liên minh Các quy chuẩn điều chỉnh quan hệ tương tác trong các liên kếtđồng minh đó vì vậy sẽ phản ánh các giá trị chung, và mang nét tương đồng, ítmâu thuẫn với các quy chuẩn của tiến trình ra quyết định trong nước
Quyền lực là yêu cầu then chốt đối với việc bảo đảm độc lập và lãnh thổquốc gia Nó có ý nghĩa quyết định đối với việc ngăn chặn xâm lược và gây ảnhhưởng với các quốc gia khác về các vấn đề quốc tế Hay nói theo giáo sư Samuel
Huntington phát biểu “Quyền lực cho phép người ta tạo dựng môi trường cho
riêng họ để phản ánh lợi ích của họ Đặc biệt, nó khiến cho một quốc gia có khả năng bảo vệ an ninh và ngăn ngừa, giảm bớt hoặc đánh bại những mối đe dọa an ninh đó” Bao giờ một quốc gia còn muốn khẳng định vị thế, thúc đẩy lợi ích
Trang 28quốc gia và vị thế chủ động hơn, quốc gia đó còn cần đến quyền lực HansMorgenthau và các nhà chiến lược theo chủ nghĩa hiện thực cho rằng hệ thốngquan hệ quốc tế là cuộc đấu tranh giành và giữ quyền lực, suy nghĩ và hành độngtheo lợi ích quốc gia, và suy nghĩ, hành động đó được xác định bằng quyền lực.
Sự hợp tác giữa các quốc gia có những hạn chế của nó, chủ yếu vì nó bị kiềm chếbởi logic của cuộc cạnh tranh an nnh mà không một sự hợp tác đồng minh nào cóthể loại bỏ được Do đó, các quốc gia cuối cùng, về cơ bản, chỉ có thể dựa vàobản thân để bảo đảm an ninh, cũng như chỉ có thể dựa vào các đồng minh đểchống lại kẻ thù chung
Những chính sách cơ bản để thực thi các chiến lược chính sách đối ngoạidựa trên quyền lực phần lớn là các chính sách mang tính cưỡng chế Chính sách
cơ bản nhất là răn đe và bảo đảm khả năng phòng vệ quốc gia thông qua duy trìlực lượng quân sự mạnh Còn các đồng minh như Australia là nhân tố then chốttrong chiến lược phòng vệ và răn đe đó Australia là một trường hợp điển hìnhtrong số các đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ được thành lập trong thời kỳchiến tranh, còn Việt Nam Cộng hòa chính là đồng minh chiến lược điển hìnhtrong việc cung cấp viện trợ quân sự bao gồm vũ khí, cố vấn, tài chính và nhữnghình thức viện trợ khác cho một chính phủ thân Mỹ
1.1.3 Các phân loại đồng minh
Đồng minh là một hình thức tập hợp lực lượng liên kết với nhau để ngănngừa hay chống lại những mối nguy hại chung đe dọa từ bên ngoài Đồng minh
có thể tìm kiếm sự ủng hộ dựa trên nền tảng ý thức hệ hoặc lợi ích quốc gia.Đồng minh là sự cam kết chính thức giữa các chủ thể về việc tương trợ, phối hợphành động cùng nhau trước những mối hiểm nguy hiện hữu hoặc tiềm ẩn Vì vậy,đồng minh chỉ có thể xuất hiện sau khi một hiệp ước ràng buộc giữa các bênđược ký kết Trong môi trường quan hệ quốc tế phức tạp, đồng minh có thể đượchình thành theo hai hình thức cơ bản: đồng minh giữa các nước tương đồng vềtrình độ phát triển kinh tế xã hội, vị trí địa lý và cơ tầng văn hóa; đồng minh giữamột hay nhiều nước lớn (siêu cường thế giới, hay cường quốc chủ yếu) với mộthay nhiều nước vừa và nhỏ (cường quốc khu vực, cường quốc tầm trung, hoặc
Trang 29quốc gia đang phát triển) Nhìn chung, sự ra đời và phát triển của các đồng minhđều phụ thuộc vào bối cảnh lịch sử thời đại sản sinh ra mối quan hệ đồng minh
đó, và lợi ích quốc gia mà các bên chủ thể đạt được khi tham gia liên minh vớinhau trước cùng một bên chủ thể khác được xem là mối hiểm họa chung đối vớilợi ích quốc gia của các bên tham gia hình thành đồng minh Và dù theo hìnhthức đồng minh nào trong hai hình thức cơ bản trên, quyền lực đều luôn nằm saucác lý do tồn tại dẫn đến việc hình thành đồng minh Quan hệ đồng minh là đểgia tăng quyền lực và tạo cán cân có lợi cho riêng mình [Hoàng Khắc Nam; 239]Việc tham gia là đồng minh của nhau có thể giúp các bên chủ thể được giatăng sức mạnh, có cơ hội nâng cao tiềm lực quốc gia, củng cố sức mạnh tổng hợpquốc gia, và dần dần sử dụng kết quả của quá trình củng cố nội lực đó để làmthay đổi cán cân so sánh quyền lực trong mối quan hệ đồng minh Như vậy, đồngminh là sản phẩm của bối cảnh thời đại kết hợp với lợi ích quốc gia chung củacác bên chủ thể có tương đồng hoặc khác biệt về ý thức hệ, trình độ kinh tế xãhội, cơ tầng văn hóa và vị trí địa lý trong bối cảnh cục diện chung của thời đại
Nó vừa có thể giúp các bên tham gia tận dụng thời gian liên minh để củng cố nộilực sức mạnh quốc gia, vừa có thể giúp duy trì ổn định an ninh chung để tạo ranhững bước chuyển ngoặt quan trọng đối với cục diện khu vực sau khi lợi íchquốc gia của các bên tham gia đồng minh thay đổi
Trong đời sống chính trị quốc tế, các cường quốc chủ yếu, siêu cường luônnắm giữ vị trí chủ đạo, then chốt, có xu hướng tìm mọi cách mở rộng phạm vikhông gian chiến lược chịu sự chi phối của họ Trong khi đó, các nước nhỏ hơn,bao gồm cường quốc tầm trung, cường quốc khu vực và các quốc gia đang pháttriển có xu hướng nỗ lực hình thành đồng minh có lợi nhất cho bản thân để có thểduy trì và cải thiện tương quan quyền lực theo hướng tối đa hóa lợi ích của quốcgia Vì vậy, khi lợi ích quốc gia của các bên chủ thể tham gia liên minh khôngcòn tương thích với nhau, đồng minh dễ biến mất, và bị thay thế bằng một đồngminh khác Những thay đổi về lợi ích quốc gia là nguyên nhân sâu xa dẫn đếnliên minh, hình thành đồng minh và đồng minh chiến lược Đó là lý do giải thíchkhi các đồng minh theo hình thức đồng minh giữa các nước tương đồng trình độphát triển kinh tế xã hội, vị trí địa lý và cơ tầng văn hóa thường khó chấp nhận sự
Trang 30lãnh đạo lâu dài của một nước có mức chênh lệch quyền lực không lớn hơn mìnhbao nhiêu, còn các đồng minh theo hình thức đồng minh có tính bắt buộc, cưỡngchế giữa một hay nhiều nước lớn với một hay nhiều nước vừa và nhỏ thì dễ đổ vỡhơn do các nước vừa và nhỏ không tìm thấy được lợi ích nào của mình trong đó.Nếu như bá quyền trong liên minh gia tăng quyền lực mạnh lên, và chiếm
ưu thế vượt trội trong liên minh, các thành viên khác có thể sẽ vẫn duy trì vai tròđồng minh cho đến khi thực sự mạnh lên và rút ngắn khoảng cách mức độ chênhlệch quyền lực Tuy nhiên, nếu như mối nguy cơ đe dọa chung giữa các chủ thểtham gia đồng minh lại gia tăng quyền lực, chiếm ưu thế vượt trội với chủ thểđóng vai trò bá quyền trong liên minh, thì các thành viên khác có thể từ bỏ vai tròđồng minh và chuyển sang khối liên minh khác Nếu như trong lịch sử, do cácxung đột gay gắt, mang tính nhất thời làm cho chuyển động cán cân quyền lựcgiữa các nước lớn chi phối trong QHQT diễn ra nhanh chóng, nên hiện tượngđồng minh không tồn tại lâu dài sau khi kết thúc các xung đột, chiến tranh; thìtrong thời hiện đại, do các thách thức bất ổn an ninh thường phức tạp và mangtính dài hạn hơn các xung đột có thể giải quyết ngay trong lịch sử, nên chuyểnđộng của cán cân quyền lực giữa các nước lớn cũng tương đối ổn định hơn, vàhiện tượng đồng minh vì vậy cũng ổn định tương đối lâu dài hơn so với tronglịch sử Đó cũng là một phần lý do khiến cho phong trào Không liên kết, hệthống các tổ chức hiệp ước đồng minh quân sự NATO, ANZUS, … vẫn tồn tạicho đến ngày nay [Hoàng Khắc Nam; 241-243]
1.2 Chiến tranh Việt Nam - một loại hình chiến tranh của chủ nghĩa thực dân Mỹ kiểu mới
1.2.1 Khái niệm chủ nghĩa thực dân mới
Chủ nghĩa thực dân liên quan đến việc kiểm soát chính thức chính trị vớiquốc gia thuộc địa, bao gồm việc sáp nhập lãnh thổ và giành chủ quyền lãnh thổquốc gia Khác với chủ nghĩa đế quốc mang hàm ý liên quan đến việc thực hiệnquyền kiểm soát hay ảnh hưởng đối với quốc gia khác một cách chính thức hoặckhông chính thức, trực tiếp hoặc gián tiếp, trên khía cạnh chính trị hoặc kinh tế
Trang 31mà không nhất thiết bao gồm việc xâm chiếm, sáp nhập lãnh thổ hay kiểm soáttrực tiếp về mặt chính trị với quốc gia khác [Đào Minh Hồng; 92]
Chủ nghĩa thực dân phương Tây được hình thành từ thời kỳ chủ nghĩatrọng thương phát triển cực thịnh, đỉnh cao là những phát kiến địa lý củaChristopher Columbo, Vasco De Gama, Amerigo Vespuci, Michael Magienlan,v.v đã mở đường cho những hành trình đào vàng, cơn sốt khát khao cháy bỏngvàng bạc châu báu, kim cương từ các châu Á, Phi, Mỹ Latinh của các ông hoàng
bà chúa châu Âu, … Tiếp sau vàng bạc, nguyên nhiên liệu, hương liệu, gia vịgiành được từ các nền văn minh phương Đông, người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha,
Hà Lan, Anh, Pháp đã lần lượt giành quyền kiểm soát các tuyến đường hàng hảihuyết mạch qua Ấn Độ Dương, Đại Tây Dương Sau khi chủ nghĩa trọng thươngphát triển mạnh mẽ hơn dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật lầnthứ nhất bắt nguồn từ nước Anh, mâu thuẫn do sự phát triển không đồng đều giữacác nước đế quốc càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết, hệ thống quân chủchuyên chế phương Đông sau hàng ngàn năm tồn tại và bị kìm kẹp khỏi nhữngđộng lực phát triển đã ngày càng mục rỗng, thối nát Từ Trung Hoa, Ấn Độ,Xiêm La, Philippines, Indonesia, lần lượt các quốc gia quân chủ chuyên chếphương Đông đều trở thành thuộc địa truyền thống của phương Tây Tình trạngkìm kẹp, cột chặt nền kinh tế mất cân đối của các nước thuộc địa vào chính quốcphương Tây ngày càng làm cho xã hội các quốc gia phương Đông trở nên lạc hậu,kém phát triển hơn so với mẫu quốc
Ở các thuộc địa khai thác thuộc châu Á, thực dân cố gắng duy trì thế lựcphong kiến đầu hàng, tầng lớp tư sản mại bản mang tư duy thỏa hiệp, cải lươnglàm công cụ hỗ trợ đắc lực để kìm hãm những phản ứng nổi dậy đấu tranh củangười dân bản địa Song do mâu thuẫn dân tộc ngày càng sâu sắc giữa nhữngngười bản địa bị bòn rút kinh tế và tầng lớp thống trị chủ yếu phát triển nhữngngành công nghiệp làm giàu cho kinh tế chính quốc, phục vụ các cuộc chiến củachính quốc, nên phong trào giải phóng dân tộc dưới hình thức đấu tranh tôn giáobản địa mang tính thần quyền, phong trào đấu tranh nông dân dưới ngọn cờphong kiến, phong trào đấu tranh của công nông theo tư tưởng xã hội chủ nghĩa,v.v lần lượt nổ ra tại các quốc gia châu Á Tuy nhiên, thắng lợi của phong trào
Trang 32giải phóng dân tộc vào những năm 1940, 1950 vẫn không làm sụp đổ hoàn toànchủ nghĩa thực dân, mô hình chủ nghĩa thực dân kiểu cũ thất bại, các quốc giaphương Tây nỗ lực xây dựng mô hình thuộc địa kiểu mới cho chủ nghĩa thực dânmới Theo đó, các chính quốc thực dân tìm cách gây dựng chính quyền do ngườibản địa cùng màu da, tôn giáo hoặc lợi ích kinh tế với thực dân đứng đầu, từ đóđảm bảo quyền lợi và chỉ huy gián tiếp của thực dân Những chính phủ bù nhìntay sai đã được dựng lên tại Nam Phi, Nam Việt Nam, Congo, Brazil, Nam TriềuTiên, Philippines, v.v Hầu hết chúng chỉ hoạt động mạnh mẽ và phát triển trongđiều kiện có sự ủng hộ, hậu thuẫn của chính quốc về quân sự, quân đội và kinh tế,sau khi không còn được sự hỗ trợ đó từ chính quốc phương Tây, các chính quyềnnày hoặc sụp đổ nhanh chóng như Nam Phi, Trung Hoa Dân quốc, Việt NamCộng hòa hoặc trở thành độc tài quá độ đi lên dân chủ tự do theo hướng thânphương Tây (Đại Hàn Dân quốc, Philippines và Brazil là những ví dụ điển hình).Theo từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, chủ nghĩa thực dân mới là mộthình thức mới của chủ nghĩa thực dân nhằm duy trì sự thống trị và sự bóc lột củachủ nghĩa đế quốc đối với các nước mới giành được độc lập và đang phát triển tạichâu Á, Phi, Mỹ Latinh sau chiến tranh thế giới thứ hai Chủ nghĩa thực dân cũ
đã cơ bản bị sụp đổ từng mảng lớn từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, song saukhi trao trả độc lập cho các dân tộc béo bở phụ thuộc, để làm giàu cho chínhquốc, các nước Âu Mỹ tiếp tục từng bước điều chỉnh để thích ứng với tình hìnhmới bằng các chính sách và hình thức thống trị mới thay cho hình thức cũ trướcđây, từ đó thắt chặt vòng vây đối với các nước phụ thuộc Đặc biệt, cụ thể đối vớichính sách thực dân mới của Mỹ, được luận án tiến sĩ Lịch sử thế giới của tác giả
Vũ Quý Tùng Anh đã xác định bao gồm các nội dung chính là: duy trì chế độthực dân bằng các phương pháp và hình thức mới trên các phương diện chính trị,quân sự, kinh tế đối với nhân dân các nước đã giành được độc lập, chẳng hạndùng vũ lực để bảo vệ hệ thống thực dân, bóc lột qua hình thức viện trợ và cố vấn,xâm lược về mặt kinh tế qua hình thức đầu tư vốn, cho vay, trợ cấp, từ đó gâysức ép về mặt chính trị, thành lập các đội quân bản xứ do họ trực tiếp huấn luyện
và chỉ huy thông qua viện trợ và cố vấn quân sự, từ đó kêu gọi quân đội đồngminh tham gia tại các căn cứ quân sự được thiết lập ở nước ngoài
Trang 33Theo TS Trần Nhu trong bài viết “Chủ nghĩa thực dân mới - quái thai của
thế kỷ XX” đăng trên tạp chí Lý luận chính trị, tháng 7/2001, chủ nghĩa thực dân
mới là sản phẩm của chính sách “chia để trị” mà các nước đế quốc thực dân đãthực hiện trong thời kỳ chủ nghĩa thực dân cũ, là sản phẩm của chính sách “câygậy và củ cà rốt” mà Hoa Kỳ đã thực hiện trong tham vọng bá chủ toàn cầu củamình từ Chile, Uruguay, Paraway, Bolivia đến Greneda, Nicaragua, Columbia,Angola, Mozambique, Congo, v.v bằng đủ mọi thủ đoạn (dựng lên chính quyềnđộc tài quân sự do tướng lĩnh đầu bò trung thành đứng đầu, đưa quân xâm lược,chi tiền cho bọn bù nhìn tay sai mua chuộc tầng lớp nhân dân, và thủ đoạn tiếnhành chiến tranh tiêu diệt lực lượng cách mạng tả khuynh, nuôi dưỡng, cung cấptiền bạc, vũ khí cho các cuộc nội chiến triền miên, coi các phe phái là nhữngcông cụ có thể thay ngựa giữa dòng bất cứ lúc nào, từ đó thực thi chính sáchkhống chế các quốc gia trong tầm kiểm soát của Mỹ) dựng lên một chính quyềntận tụy cúc cung phục vụ cho lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ Chủ nghĩa thực dânmới còn là sản phẩm của các sách lược đối với những nước theo chế độ xã hộichủ nghĩa, những nước không “phục tùng” theo nước Mỹ, cũng như của chính
sách can thiệp sâu vào những khu vực cần “bảo vệ lợi ích chiến lược quốc gia
của Mỹ” (chẳng hạn bể dầu khổng lồ ở Trung Đông, mỏ vàng bất tận ở
Congo, …) nhưng làm ngơ trước các cuộc thanh trừng sắc tộc đẫm máu, thậm chí
là tài trợ vũ khí các lực lượng chống đối chính quyền đương đại, từ đó chờ thời
cơ chín muồi nhảy vô can thiệp bằng mọi cách để tiếp tục đảm bảo lợi ích kinh tếcủa Hoa Kỳ tại các quốc gia này
Về cơ bản, chủ nghĩa thực dân mới vẫn tồn tại những chức năng chính làkìm hãm các nước đang phát triển trong tình trạng lệ thuộc mà chủ nghĩa thựcdân cũ để lại, liên tục được tái lập trên cơ sở hệ thống quan hệ kinh tế quốc tế củachủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa thực dân mới không chỉ không thể trông đợi sự pháttriển của chủ nghĩa thực dân mới ở các nước đang phát triển để thúc đẩy chế độ
đó, buộc phải sử dụng các cách thức khác nhau để thúc đẩy quá trình đó, mà cònphải điều tiết quá trình phát triển của chủ nghĩa thực dân mới, kìm giữa trongkhuôn khổ, và không để cho các “đồng minh” như Việt Nam Cộng hòa thoát khỏi
sự kiểm soát của đế quốc như Hoa Kỳ Theo đó, các nước đế quốc như Hoa Kỳ
Trang 34toan tính gắn bó cho được lợi ích của các tập đoàn, tầng lớp, nhóm cầm quyềntrong các nước đang phát triển với các mục tiêu của tư bản độc quyền ở các nước
đế quốc chủ nghĩa Có thể nói chủ nghĩa thực dân mới là một bộ phận hợp thànhtrong chính sách điều tiết của tư bản độc quyền nhà nước đối với sản xuất tư bảnchủ nghĩa vì việc duy trì vùng phụ thuộc về kinh tế của các nền kinh tế tư bảnchủ nghĩa đã hoặc quá trưởng thành là điều tất yếu nhằm đáp ứng lợi ích tái sảnxuất tư bản một cách bình thường trong các nước đế quốc chủ nghĩa Ngoài ra,chủ nghĩa chống cộng là cái cốt lõi chủ yếu xuyên qua mọi hình thức hợp tác củachủ nghĩa thực dân mới Chủ nghĩa thực dân mới nỗ lực đối lập các nước đangphát triển với các nước xã hội chủ nghĩa, từ đó làm cho tương quan lực lượngthay đổi theo hướng có lợi cho chủ nghĩa đế quốc trong cuộc cạnh tranh chiếnlược trở thành hệ thống chính trị chiếm ưu thế chủ đạo trên toàn thế giới Bêncạnh đó, chủ nghĩa thực dân mới còn phục vụ cho việc phá hoại mặt trận thốngnhất chống đế quốc của chủ nghĩa xã hội, phong trào công nhân - cộng sản quốc
tế, phong trào giải phóng dân tộc, cũng như cho việc thành lập những tiền đồn vềchính trị, quân sự để chống lại các căn cứ địa cách mạng của chủ nghĩa xã hội,của thế giới Thứ Ba, của phong trào Không Liên Kết (Non-alignment)[V.Đ.Sê-ti-nin; 9-12]
Chủ nghĩa thực dân mới được xác định rõ nhất ở Hoa Kỳ kể từ khi JohnKennedy lên nắm quyền Trong đó, chiến lược “Những biên giới mới” củaKennedy dựa trên cơ sở những giải pháp chính trị dài hạn và tích cực sử dụngnhân tố Nhà nước trong xác định phương hướng và cách thức bành trướng của tưbản độc quyền Johnson sau đó đã tiếp tục thực hiện đường lối “Những biến giớimới” trên lập trường bảo thủ hơn, ít chinh phục hơn Đến thời kỳ nắm quyền củaJohnson đã bộc lộ sự cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền Mỹ, tâm trạng khôngmuốn gánh vác phí tổn của các tập đoàn tư bản tư nhân Hoa Kỳ cho sự bànhtrướng của các nước “đồng minh mới” Đến thời kỳ Nickson, vai trò tham giatrực tiếp của tư bản tư nhân Hoa Kỳ vào quá trình mở rộng sự bành trướng củachủ nghĩa thực dân mới đã được tập trung tăng cường ở đặc biệt các nước đangphát triển “ưu tiên” trong các khu vực bị bành trướng Viện trợ kĩ thuật được sử
Trang 35dụng nhiều hơn Nhìn chung, chủ nghĩa thực dân mới chính là một công cụ phục
vụ cho tư bản độc quyền nhà nước Hoa Kỳ [V.Đ.Sê-ti-nin; 18-23]
Khác với sự phân bố các lợi ích kinh tế (về khối lượng ngoại thương, quy
mô đầu tư), châu Á được phân gần 2/3 viện trợ Trong đó, các nước chủ yếu nhậnviện trợ của Hoa Kỳ là Ấn Độ, Việt Nam Cộng hòa, Pakistan, Brazin, Đại HànDân quốc, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ, Guam, Philippines, Israel, Argentina, Mexico,Indonesia, Colombia, và Đài Loan Năm 1969, tám nước đứng đầu đã nhận được77% viện trợ của Hoa Kỳ cho các nước Á-Phi-Mỹ Latinh [Đỗ Thị Hạnh; 50-52]Việc bành trướng tư bản chiếm vị trí trung tâm trong chính sách của chủnghĩa thực dân mới Xuất khẩu tư bản là một trong những dấu hiệu chủ yếu củachủ nghĩa tư bản độc quyền, là hình thức bóc lột quốc tế phát triển nhất, hoànthiện nhất và chiếm ưu thế nhất Chỉ có tư bản khi được đầu tư ra nước ngoài mới
có thể củng cố sự thống nhất của nền kinh tế TBCN của đế quốc, tác động đếnviệc lựa chọn con đường phát triển và tiến trình phát triển của các nước đồngminh, cuối cùng đảm bảo cho sự ổn định tương đối của các tổ chức độc quyềntrong quan hệ kinh tế quốc tế.[Đỗ Thị Hạnh; 99-100]
Để duy trì và củng cố các lợi ích của thực dân mới ở các khu vực có phongtrào giải phóng dân tộc đang phát triển, đế quốc thực dân mới đã quán triệt thôngqua toàn bộ các chính sách kinh tế - chính trị - quân sự, bao gồm: thông qua việntrợ kinh tế và đầu tư trực tiếp, trao đổi không ngang giá để lũng đoạn nền kinh tế
và bóc lột nhân dân các nước thuộc địa kiểu mới Viện trợ kinh tế của Hoa Kỳtheo đó chỉ được xem như sợi dây thòng lọng của chủ nghĩa thực dân mới đểbuộc chặt các nước nhận viện trợ lệ thuộc vào Hoa Kỳ hơn Chẳng thế mà tổng
thống Kennedy và Johnson đều từng lần lượt tuyên bố: “viện trợ kinh tế của Hoa
Kỳ cho các nước đang phát triển là một công cụ quan trọng để chống lại chủ nghĩa xã hội, tạo ra cho Hoa Kỳ những thị trường mới tiếp nhận hàng hóa Mỹ,
và vì hơn 80% số viện trợ của Hoa Kỳ là hàng hóa nên thật là điên rồ mới cắt viện trợ cho các nước đang phát triển” và “những nước nào muốn nhận viện trợ của Hoa Kỳ theo chương trình Liên minh vì tiến bộ phải hạ giá hàng hóa xuất khẩu và cung cấp cho tư bản tư nhân Mỹ mọi điều kiện thuận lợi để làm giàu”.
Trang 361.2.2 Chiến tranh Việt Nam - một cuộc chiến tranh lâu dài và đẫm máu
do chủ nghĩa thực dân Mỹ kiểu mới tiến hành
Theo tác giả Đào Minh Hồng trong Sổ tay thuật ngữ quan hệ quốc tế, chiến
tranh là cuộc đấu tranh vũ trang có tổ chức giữa các đơn vị chính trị đối kháng,gây ra tối thiểu 1000 người tử trận trong cuộc xung đột đó Chiến tranh có thểlàm xuất hiện hoặc biến mất các chủ thể quan hệ quốc tế, có thể làm tăng hoặcgiảm quyền lực quốc gia trong quan hệ quốc tế, đồng thời có thể dẫn đến sự thayđổi trong cán cân lực lượng đảm bảo ổn định trong môi trường quan hệ quốc tế.Chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh có sức ảnh hưởng lâu dài nhấtgiữa Đông -Tây trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh Diễn ra ở miền chiến lược củaĐông Á, Chiến tranh Việt Nam từ đầu đến cuối là cuộc chiến dai dẳng, thu hút sựủng hộ và viện trợ trực tiếp về quân sự của Trung Quốc, buộc Hoa Kỳ và Liên
Xô phải trực tiếp lao vào cuộc chiến, và diễn ra trên nhiều mặt khác nhau Đây làcuộc chiến tranh dài nhất mà Hoa Kỳ tham gia Là cuộc chiến tranh Đông - Tâyđiển hình trong thời kỳ chiến tranh, Chiến tranh Việt Nam dù không lôi kéo sựhiện diện của quân đội đồng minh đến từ Trung Quốc như chiến tranh Triều Tiên1950-1953 nhưng vẫn phản ánh quan hệ quốc tế Đông-Tây phức tạp hơn nhiềulần so với chiến tranh Triều Tiên 1950-1953 Quan hệ tương hỗ giữa các nước tưbản chủ nghĩa phương Tây bị lôi cuốn quanh vấn đề Chiến tranh Việt Nam nhưgiữa Australia và Hoa Kỳ cũng phức tạp hơn nhiều so với quan hệ tương hỗAustralia - Hoa Kỳ quanh vấn đề Đài Loan
Theo nghị quyết của hội nghị Potsdam, ở Đông Dương, quân đội Anh sẽtiếp nhận quân đội Nhật Bản đầu hàng từ vĩ tuyến 16 trở vào Nam, quân độiTrung Hoa dân quốc sẽ tiếp quản từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc Trong khi Anh muốnduy trì sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương theo hiệp định Yalta, Trung HoaDân Quốc không muốn điều đó Để dung hòa lợi ích của các bên, Liên Xô vàHoa Kỳ quyết định ủng hộ các lực lượng dân tộc chủ nghĩa Việt Nam, chấp nhậnnhững người bản xứ mà đứng đầu là một chiến sĩ cộng sản: Hồ Chí Minh -Nguyễn Ái Quốc - người đã khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày02/09/1945 Tại hội nghị Sơ bộ ngày chín tháng Ba năm 1946, đại diện của Pháp
Trang 37là Sainteny kiên quyết bác bỏ điều kiện của Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanhđại diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về việc nhập Nam Kỳ vào Việt NamDân chủ Cộng hòa Quốc gia Việt Nam được thành lập và cuộc chiến tranh ĐôngDương lần thứ nhất (19/12/1946-07/05/1954) đã bùng nổ giữa Pháp-Việt trongbối cảnh cả hai siêu cường Hoa Kỳ và Liên Xô đều giữ thái độ trung lập.
Với những hoạt động xây dựng công cụ chủ nghĩa thực dân mới, tấn côngđánh phá lực lượng và phong trào cách mạng miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ và
bộ máy chính quyền Sài Gòn tay sai do Ngô Đình Diệm đứng đầu đã biến miềnNam Việt Nam từ một chiến trường chống chủ nghĩa thực dân cũ thành mộtchiến trường phản kích các lực lượng cách mạng, thành một thuộc địa kiểu mới,một căn cứ quân sự, một bàn đạp để ngăn chặn chủ nghĩa xã hội Trung Quốc gâydựng ảnh hưởng sâu rộng xuống Đông Nam Á Sau khi gạt bỏ các phần tử ĐạiViệt, Quốc dân đảng, Liên tôn Cao-Hòa-Bình, các phần tử tướng lĩnh thân Pháp,chính quyền liên hiệp Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đúng đầu, Hoa Kỳ đã vạch
ra kế hoạch bầu cử riêng rẽ Quốc hội ở miền Nam, ban hành hiến pháp riêng, lậpnên nền Đệ nhất cộng hòa ở miền Nam Việt Nam, tuyên bố đặt Cộng sản ngoài
vòng pháp luật Sau hai năm thực hiện “Tố cộng diệt cộng”, chính quyền Sài Gòn
đã nâng lên thành Quốc sách, cho quân đội ồ ạt càn quét tàn phá toàn miền NamViệt Nam, khiến hàng vạn cán bộ đảng viên bị truy lùng, khủng bố, giam cầmtrong 4 năm liên tiếp từ 1956-1959 Được Hoa Kỳ đổ tiền vào cho chế độ chínhquyền Sài Gòn hơn 1,1 tỷ USD chỉ trong vòng 4 năm từ 1954-1957, chính quyềnNgô Đình Diệm ngày càng được củng cố: hệ thống tổ chức các đảng Cần laonhân vị, Phong trào cách mạng quốc gia, Thanh niên cộng hòa, Phụ nữ liên đới,v.v từ trung ương tới địa phương nhằm chống phá cách mạng Trong bối cảnhHoa Kỳ không ngừng ủng hộ-chi viện cho chính quyền-quân đội Sài Gòn, chủtrương đấu tranh chính trị đòi thực thi hiệp định Geneve đã không còn phát huytác dụng
Trước sự ra đời của luật số 21 của chính quyền Sài Gòn, nghị quyết TW 15của Đảng Lao động Việt Nam và các quân khu mật vụ, gián điệp từ trung ươngtới địa phương của cả hai bên, cộng với sự bất mãn ngày càng dâng cao củangười dân Nam Bộ đối với chính quyền Ngô Đình Diệm, chế độ chính quyền tay
Trang 38sai của chủ nghĩa thực dân mới tại miền Nam Việt Nam đã bắt đầu bất ổn, khôngthịnh trị như những năm đầu mặc dù viện trợ, lực lượng cố vấn, hệ thống hậu cần,thiết bị chiến trường, cũng như quân lực của Hoa Kỳ cho miền Nam vẫn khôngngừng gia tăng, thậm chí là đứng trong 10 khu vực nhận viện trợ của Hoa Kỳnhiều nhất thế giới.
Đồng thời, theo Lutz Bachr trong Nhìn nhận của người Mỹ đối với Chiến
tranh Việt Nam và vai trò của phong trào kháng chiến tại miền Nam Việt Nam,
đây cũng là cuộc chiến tranh kéo dài nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, là cuộc chiếnquan trọng thứ hai theo số lượng công dân Hoa Kỳ tham gia làm nhiệm vụ trongsuốt bất thời khoảng thời gian nào của một cuộc chiến tranh, và là cuộc chiếnquan trọng thứ tư theo số lực lượng vũ trang Hoa Kỳ hy sinh trong một cuộcchiến Gần 9 triệu công dân Hoa Kỳ đã mặc quân phục trong suốt giai đoạnChiến tranh Việt Nam (1954-1975) và 1/3 số đó đã phục vụ tại Việt Nam, nhữngnam thanh niên đi quân dịch phục vụ trong các lực lượng quân đội Hoa Kỳ chiếmđến gần một nửa số người chết tại Việt Nam, gần 5% số người chết trong binhchủng lính thủy đánh bộ; và trong số các trường hợp quân đội Hoa Kỳ tử vong tạiĐông Nam Á trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam (1954-1975), 95% tử vongtại miền Nam Việt Nam, 2% tử vong tại miền Bắc Việt Nam và 3% tại những nơikhác thuộc khu vực Đông Nam Á; đặc biệt, trong số lực lượng sĩ quan quân độiHoa Kỳ hi sinh tại Việt Nam, có đến 86% là người Caucasus
Như vậy, có thể thấy đúng như theo Báo cáo đề dẫn tại Hội nghị Đấu tranh
xóa bỏ tàn dư văn hóa chủ nghĩa thực dân mới tại Thành phố Hồ Chí Minh ngày
14-17/01/1978, Hoa Kỳ đã lợi dụng tư cách là một nước đồng minh tham chiếnđánh bại phát xít để giành giật, chèn ép, cướp đoạt và xóa bỏ vai trò bảo vệ chủyếu của các chế độ thuộc địa cũ, giúp Pháp đánh dân tộc Việt Nam, từ đó dầntừng bước gạt bỏ người bạn đồng minh, tuyên bố không can thiệp Hiệp địnhGeneve, để rồi sau đó độc chiếm miền Nam Việt Nam từ tay chính phủ liên hiệpPháp Và quân lực Việt Nam Cộng hòa cũng là một đội quân bản xứ có nhiệm vụbảo vệ chính quyền Sài Gòn do Hoa Kỳ dựng lên, đồng thời có nhiệm vụ bảo vệnhững chính sách dài hạn của Hoa Kỳ trong việc hiện thực hóa mưu đồ bá chủ
Trang 39toàn cầu Vì vậy, có thể nói, đây cũng là một công cụ quân sự điển hình của chủnghĩa thực dân mới tại miền Nam Việt Nam.
Tiểu kết chương 1
Tóm lại, đồng minh là một hiện tượng phổ biến trong quan hệ quốc tế màxung đột - chiến tranh luôn là xu hướng cơ bản; đồng minh là hình thức tập hợplực lượng dựa trên vị trí địa lý, cơ tầng văn hóa, những giá trị văn hóa chung cóthể cùng chia sẻ, bối cảnh lịch sử thời đại, trình độ phát triển kinh tế xã hội, mức
độ bị đe dọa của lợi ích quốc gia và được đảm bảo bởi sự cam kết chung là mộthiệp ước thành văn để đối phó với một đối thủ hay vấn đề chung có khả năng làmảnh hưởng đến lợi ích quốc gia của các nước trong khối Ngoài ra, giữa các nướcđồng minh luôn tồn tại một mối quan hệ cơ bản, nổi trội nhất có khả năng củng
cố mối quan hệ tương hỗ giữa các nước trong khối Trong đó, mối quan hệ tươngthích về lợi ích quốc gia là nhân tố quan trọng nhất góp phần duy trì quan hệđồng minh giữa các nước trong khối trong quá trình đấu tranh để đối phó với kẻthù chung, nguy cơ chung Quyền lực là nội dung cốt lõi sâu xa nhất của các mốiquan hệ đồng minh dựa trên lợi ích quốc gia Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt giữ chomối quan hệ đồng minh tồn tại và phát triển Khi cán cân quyền lực thay đổi theohướng đạt mức tối ưu hóa với các nước trong quan hệ đồng minh hay quá trìnhđấu tranh để đối phó với kẻ thù chung, nguy cơ chung kết thúc là lúc quan hệđồng minh biến mất, hoặc bị thay thế bằng một mối quan hệ đồng minh khác Cónhiều cách phân loại đồng minh dựa trên mức độ liên kết thành viên trong khốinhư đồng minh chiến lược, đồng minh toàn diện, đồng minh chiến lược toàn diện;dựa trên cách thức hình thành quan hệ đồng minh như quan hệ đồng minh giữamột/nhiều nước lớn với các nước vừa và nhỏ có chung kẻ thù cần phải đối phó,đồng minh giữa các nước vừa và nhỏ trong khu vực địa lý có chung kẻ thù đến từbên trong hay bên ngoài khu vực chứa đựng lợi ích cơ bản của họ
Sau nhiều thế kỷ mở rộng hệ thống thuộc địa nhờ các cuộc đại phát kiếnđịa lý, mở rộng thị trường nguyên liệu và nhân công giá rẻ ở các nền kinh tếthuộc địa và cột chặt các nền kinh tế đó vào các nền kinh tế tư bản chủ nghĩaphương Tây, chủ nghĩa thực dân cũ đã bị phá vỡ dần từng mảng bởi phong trào
Trang 40giải phóng dân tộc trên thế giới sau chiến tranh thế giới thứ hai mà đỉnh cao là sựkiện Năm Châu Phi (1960) Chủ nghĩa thực dân mới - một hình thức nô dịch mớicủa chủ nghĩa thực dân thông qua hệ thống chính quyền tay sai có xu hướng thânthế lực đế quốc tư bản phương Tây - đã được dựng lên hàng loạt tại các quốc gianằm trong khu vực cần phải đảm bải quyền lợi của tư bản phương Tây Được sựhậu thuẫn mạnh mẽ của đế quốc tư bản chủ nghĩa phương Tây về quân sự vàkinh tế, các chính quyền tay sai độc tài có xu hướng thân phương Tây đã giántiếp tạo cơ hội cho chủ nghĩa thực dân mới bóc lột qua các gói viện trợ, cho vay,trợ cấp có điều kiện cũng như qua hệ thống cố vấn quân sự có thể chỉ huy từchính quốc Là sản phẩm của tham vọng bá chủ toàn cầu của Hoa Kỳ, chủ nghĩathực dân mới chính là công cụ đắc lực giúp Hoa Kỳ can thiệp công việc nội bộcủa các quốc gia “không phục tùng” có khả năng đe dọa khu vực chứa lợi íchquốc gia chiến lược của Hoa Kỳ, đồng thời, từ đó khống chế các quốc gia nàytrong vòng kiểm soát của Hoa Kỳ Chủ nghĩa thực dân mới không chỉ góp phầncột chặt nhóm lợi ích của giới chóp bu quân sự trong chính quyền tay sai với tưbản độc quyền nhà nước tại Hoa Kỳ, cô lập các nước thuộc thế giới Thứ Ba vớicác phong trào giải phóng dân tộc có xu hướng xã hội chủ nghĩa mà còn củng cố
hệ thống tư bản chủ nghĩa trong cuộc đối đầu Đông - Tây, biến hệ thống tư bảnchủ nghĩa dần trở thành hệ thống chủ đạo trên trường quốc tế theo hướng tối ưuhóa lợi ích quốc gia của Hoa Kỳ Dưới thời kỳ cầm quyền của Kennedy vàLyndon Baines Johnson, quan hệ đồng minh Hoa Kỳ - Việt Nam Cộng hòa làmối quan hệ điển hình cho loại hình chủ nghĩa thực dân mới dùng những gói việntrợ kĩ thuật, xuất khẩu tư bản và cột chặt lợi ích kinh tế để phục vụ tư bản độcquyền nhà nước Hoa Kỳ Sau khi Hoa Kỳ chấm dứt sự ủng hộ kinh tế và quân sựmạnh mẽ, chính quyền tay sai thân Mỹ này đã sụp đổ hoàn toàn mà không hề quaquá trình quá độ từ độc tài quân sự dân chủ hóa đi lên dân chủ như Đại Hàn