Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà con người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” Tổng giám đố
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN THI ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA HỌC
Câu 1 Thuật ngữ - khái niệm và cách tiếp cận văn hóa học (tài liệu 1, 2) 2
Câu 2 Tính đặc thù của đối tượng nghiên cứu của văn hóa học từ khía cạnh văn hóa học (tài liệu 1, 2, 3, 4) 2
Câu 3 Vai trò của tiếp xúc và tiếp biến văn hóa (tài liệu 1, 2, 3, 4) 4
Câu 4 Khái niệm văn hóa và Bình diện thứ nhất: Phổ quát và đặc thù (tài liệu 1, 2, 3, 4) 4
Câu 5 Khái niệm văn hóa và Bình diện thứ hai: Sinh thái văn hóa và tiếp biến văn hóa (tài liệu 1, 2, 3, 4) 5
Câu 6 Khái niệm văn hóa và Bình diện thứ ba: Bản sắc văn hóa (tài liệu 1, 2, 3, 4) 6
Câu 7 Văn hóa học (culturalogy) và khoa học văn hóa (cultural studies) (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 11
Câu 8 Văn hóa học với các ngành khoa học có nghiên cứu về văn hóa (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 11
Câu 9 Quan điểm tiếp cận chỉnh thể luận trong văn hóa học (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 13
Câu 10 Quan điểm tiếp cận so sánh trong văn hóa học (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 14
Câu 11 Quan điểm tiếp cận tương đối luận trong văn hóa học (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 15
Câu 12 Lược sử quan niệm về văn hóa (cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX - cuối thế kỷ XX) (tài liệu 1, 2, 3, 4) 17
Câu 13 Định nghĩa văn hóa từ góc độ văn hóa học (tài liệu 1, 2, 3, 4) 18
Câu 14 Các đặc trưng và chức năng cơ bản của văn hóa (tài liệu 1, 2, 3, 4) 18
Câu 15 Cấu trúc của hệ thống văn hóa (tài liệu 1, 2, 3, 4) 19
Câu 16 Lý thuyết hệ thống - cấu trúc trong nghiên cứu văn hóa học (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 20
Câu 17 Thuyết đặc thù lịch sử (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 20
Câu 18 Chức năng luận (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 21
Câu 20 Các lý thuyết trong trào lưu hậu hiện đại (tài liệu 2, 3, 4, 5, 6) 23
Câu 21 Các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu định tính trong văn hóa học (tài liệu 4, 5) 25
Câu 22 Các phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu định lượng trong văn hóa học (tài liệu 4, 5) 26
Trang 2Câu 1 Thuật ngữ - khái niệm và cách tiếp cận văn hóa học (tài liệu 1, 2)
Theo nghĩa hẹp, giới hạn theo chiều sâu, văn hóa được hiểu là những giá trị
tinh hoa của nó như văn hóa nghệ thuật, nếp sống văn hóa
Theo nghĩa hẹp, giới hạn theo chiều rộng, văn hóa được dùng để chỉ những giá
trị trong từng lĩnh vực như văn hóa kinh doanh, văn hóa giao tiếp
Theo nghĩa hẹp, giới hạn theo không gian, văn hóa được dùng để chỉ những
giá trị đặc thù của từng vùng như văn hóa Trường Sơn - Tây Nguyên, văn hóa Nam
Bộ
Theo nghĩa hẹp, giới hạn theo thời gian, văn hóa được dùng để chỉ những giá
trị tương ứng trong từng giai đoạn như văn hóa Hòa Bình, văn hóa Đông Sơn
Theo nghĩa rộng, văn hóa được xem là bao gồm tất cả những gi do con người
sáng tạo ra Hồ Chí Minh viết trong Nhật ký trong tù: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục
đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo
và phát minh đó là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cùng với biểu hiện của nó mà con người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.” Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayo
viết trong tạp chí Người đưa tin UNESCO số 11/1989: “Đối với một số người, văn
hóa chỉ bao gồm những kiệt tác tuyệt vời trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo, đối với
những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động.” Cách hiểu thứ hai được cộng đồng quốc tế chấp nhận
tại hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa tại Venise năm 1970
Theo cách định nghĩa mô tả, liệt kê các thành tố của văn hóa E.B.Tylor coi
văn hóa là một phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen mà con người đã đạt được như một thành viên của xã hội Định nghĩa miêu tả có ưu điểm là giúp nhận diện cụ thể và
chính xác đối tượng, nhưng có nhược điểm là tính khái quát thấp, không thể liệt kêhết đối tượng phức tạp, và khi đối tượng thay đổi thì định nghĩa không còn phù hợp.Theo cách định nghĩa nêu đặc trưng, khuynh hướng thứ nhất coi văn hóa là nhữngsản phẩm hay kết quả nhất định Đó là những giá trị, truyền thống, nếp sống, chuẩnmực, tư tưởng, thiết chế xã hội, biểu tượng, ký hiệu, thông tin mà một cộng đồng đãsáng tạo, kế thừa và tích lũy Khuynh hướng thứ hai coi văn hóa là những quá trình,hoạt động sáng tạo, quy trình, công nghệ, phương thức tồn tại - sinh sống và pháttriển, cách thức thích ứng với môi trường, cách thức ứng xử với con người Khuynhhướng thứ ba coi văn hóa là những quan hệ, cấu trúc giữa các hệ giá trị, giữa conngười với tự nhiên Định nghĩa nêu đặc trưng có ba ưu điểm là 1 có tính khái quátcao, 2 ngắn gọn, và 3 luôn phù hợp với đối tượng khi đối tượng thay đổi Tuy nhiên,định nghĩa nêu đặc trưng có một nhược điểm là tính chính xác kém Định nghĩa nêuđặc trưng thích hợp với những đối tượng phức tạp và không ổn định
Câu 2 Tính đặc thù của đối tượng nghiên cứu của văn hóa học từ khía
cạnh văn hóa học (tài liệu 1, 2, 3, 4)
Trang 33Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa Trong suốt lịch sử hình thành và
phát triển của mình, con người luôn sáng tạo để làm nên các giá trị văn hóa Một
trong số những giá trị văn hóa được con người sáng tạo ra chính là con người có văn
hóa Con người sáng tạo ra văn hóa, đồng thời cũng chính là sản phẩm của văn hóa
Đối với mỗi cá nhân, văn hóa là môi trường có sẵn mà đứa trẻ sau khi lọt lòng mẹ
được nhúng vào Nếu sau khi ra đời, đứa trẻ bị đưa vào rừng, bị bứt khỏi cái nôi văn
hóa, nó sẽ lớn lên như một con thú Chỉ có sống trong môi trường văn hóa, nó mới
trở thành người Tùy thuộc sống ở môi trường văn hóa nào, đứa bé sẽ hình thành
nhân cách văn hóa nấy Một đứa trẻ do một bà mẹ Việt Nam sinh ra và được lớn lên
ở Việt Nam, nó sẽ mang trong mình dòng máu văn hóa Việt Nam Trên phương diện
con người, những sản phẩm văn hóa tiêu biểu nhất là các danh nhân Họ luôn xuất
hiện ở mọi dân tộc, mọi thời đại Các danh nhân văn hóa là những đại diện xuất sắc
nhất cho nền văn hóa của dân tộc, của thời đại; đồng thời, họ cũng là những người
góp phần quan trọng nhất vào việc phát triển, nâng tầm nền văn hóa của dân tộc
trong lịch sử
Văn hóa tạo nên các nhóm xã hội, và các nhóm xã hội đó lại tác động mạnh
mẽ đến sự bảo tồn và phát triển của văn hóa Nhóm xã hội nào cũng đồng thời vừa
bảo tồn vừa phát triển văn hóa của dân tộc, song tùy theo tính chất của từng nhóm xã
hội, vai trò của chúng trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc sẽ khác nhau
Các nhóm xã hội càng có tính đồng nhất cao càng có khả năng bảo tồn văn hóa dân
tộc tốt, các nhóm xã hội càng có tính đa dạng cao càng có khả năng phát triển văn
hóa dân tộc tốt Trên thế giới đâu đâu con người cũng tiến đến những tổ chức xã hội
tương đồng, nhưng mỗi cộng đồng dân tộc lại có những nét đặc thù riêng trong cách
tổ chức Các cộng đồng làm nông nghiệp thường khép kín hơn, có tính đồng nhất
cao hơn nên bền vững hơn, trì trệ hơn Các cộng đồng làm thương nghiệp, công
nghiệp thường có quan hệ giao lưu rộng hơn, dễ dàng biến đổi hơn, phát triển nhanhhơn, dễ hòa nhập hơn
Hoạt động, phương thức hoạt động, công nghệ hoạt động của con người tạo ravăn hóa, và bản thân cũng là văn hóa Song không phải mọi hoạt động đều có tínhchất này Con người là một loài động vật bậc cao hoàn hảo, không bị giới hạn bởikhông gian cư trú, có thể sinh tồn ở bất cứ nơi nào trên mặt đất, chỉ trong thời gianngắn đã có thể học hỏi và tiếp thu bất cứ loại hoạt động phức tạp nào Con người cóthể hành động một cách linh hoạt và sáng tạo không theo bất kỳ một chương trìnhnào Con người có thể hoạt động một cách tự do vượt qua khỏi giới hạn của bảnnăng do tự nhiên quy định Những hoạt động sáng tạo này chỉ có thể có và phát triểntrong môi trường xã hội, trong sự giao tiếp thường xuyên với đồng loại Đó là hoạtđộng xã hội - sáng tạo Chỉ có hoạt động xã hội - sáng tạo mới có khả năng tạo ravăn hóa và là một phần của văn hóa Chỉ có những hoạt động mang tính nhân bản, vìlợi ích của con người mới tạo ra văn hóa, và là văn hóa Hoạt động sáng tạo theonghĩa hẹp có tác dụng phát triển vốn văn hóa dân tộc Hoạt động tái tạo không pháttriển vốn văn hóa dân tộc, nó có tác dụng bảo tồn và phổ biến các giá trị văn hóa.Với tư cách là một khoa học lý luận, văn hóa học có nhiệm vụ nghiên cứu vănhóa như một đối tượng riêng biệt trên cơ sở những tư liệu do các ngành dân tộc học,
sử học, ngôn ngữ học, khảo cổ học, tôn giáo học cung cấp với mục đích phát hiệncác đặc trưng, những quy luật hình thành và phát triển Nghiên cứu văn hóa dân tộckhông chỉ tìm hiểu cái gì? Mà còn tìm hiểu tại sao? Như thế nào? Nhờ đi vào chiềusâu, tìm tòi những mối liên hệ có tính bản chất giữa các sự kiện, văn hóa học chophép biết được một dân tộc sống ở đâu, ăn như thế nào, có thể nói được dân tộc đómặc và ở ra sao, suy nghĩ và ứng xử như thế nào Từ đó có thể lý giải các tư liệu vănhóa mà con người bắt gặp được
Trang 44Với tư cách khách thể nghiên cứu của Văn hóa học, văn hóa có thể được hiểu
như kinh nghiệm xã hội của con người thông qua việc tích lũy có chọn lọc, việc áp
dụng những hình thức hoạt động và tác động lẫn nhau, được lựa chọn trên cở sở phù
hợp với tiêu chí không làm tổn hại tính đoàn kết của cộng đồng, được củng cố bởi hệ
thống các giá trị, quy tắc, chuẩn mực, truyền thống, … Văn hóa được thể hiện trong
hệ thống các quy định có tính điều chỉnh như phong tục, đạo đức, luân lý, nghi
thức, … Chúng được vật thể hóa trong các đặc điểm của các kết quả hoạt động của
con người nhằm thỏa mãn quyền lợi và nhu cầu của cá nhân hoặc tập thể Văn hóa lànội dung cơ bản của mọi phương thức giao tiếp giữa người với người để hình thànhcác đặc điểm mã văn hóa của loại giao tiếp đó Chúng xác định nội dung và phươngpháp của quá trình xã hội hóa nhân cách con người Chúng được chuyển giao từ thế
hệ này sang thế hệ khác qua các truyền thống, phong tục, định hướng, giá trị, quy tắc
Và văn hóa là cốt lõi nội dung của quá trình tái sản xuất xã hội, của các đặc điểmlịch sử cụ thể mang tính địa phương trong các hệ thống
Câu 3 Vai trò của tiếp xúc và tiếp biến văn hóa (tài liệu 1, 2, 3, 4)
Văn hóa theo nghĩa rộng đóng vai trò điều chỉnh trong việc xác lập môi trường
sinh thái nhân văn hài hòa Tiếp xúc và tiếp biến văn hóa vừa là tiền đề vừa là động
lực của sự phát triển Tiếp xúc và tiếp biến là nhu cầu tự nhiên và cũng là điều kiện
của sự phát triển, sự tiến hóa văn hóa Tiếp xúc và tiếp biến văn hóa tạo nên sự dung
hợp, tổng hợp, tích hợp văn hóa ở cộng đồng Mỗi tộc người đều có những nét vănhóa riêng biệt từ điều kiện giao tiếp - trao đổi - cộng cư - di cư, các tộc người sẽ cóquá trình học hỏi văn hóa lẫn nhau để tiếp thu những sắc thái văn hóa của nhau Tiếpxúc và tiếp biến văn hóa tạo nên những khác biệt cho các cộng đồng tộc người tạicác vùng văn hóa
Câu 4 Khái niệm văn hóa và Bình diện thứ nhất: Phổ quát và đặc thù (tài
liệu 1, 2, 3, 4)
Sự tiến triển của văn hóa học thời kỳ hậu chủ nghĩa Stalinist đã chứng tỏ sự
hợp lý của nó đối với những truyền thống dân tộc của thuyết phổ quát lẫn đối với
những mô hình đa nguyên tự do Văn hóa là một chỉnh thể của những lĩnh vực, hoạt
động, bao hàm tính đa dạng của các nền văn hóa, mỗi nền văn hóa có cơ sở hình
thành riêng Trong khi quan tâm đến văn hóa với tư cách là cái toàn thể (a whole),
văn hóa học cũng thừa nhận tính đa dạng của những cái toàn thể ấy (wholes) và
phân biệt chúng bằng “giá trị” Nếu trong một nền văn hóa, những lĩnh vực chuyên
biệt và đa dạng được liên kết bởi một trực giác chung, tính đặc thù của trực giác
chung đó sẽ giúp phân biệt các nền văn hóa khác nhau ở cấp độ toàn cầu Bình diện
này của văn hóa học được phát triển xuyên suốt với Aleksei Losev trong những
nghiên cứu của ông về mĩ học cổ định, giữ tính đặc thù của nó trên tất cả các cấp độphân tích Losev chỉ rõ rằng đằng sau những lý thuyết trừu tượng nhất về phép biệnchứng của sự đồng nhất và khác biệt của trường phái Platon, và thẳm sâu trong toàn
bộ tính cổ xưa tồn tại một trực giác mạnh mẽ và không thể chối bỏ về một trực giáccủa toàn bộ hiện thực với tư cách là một cơ thể sống Hai bình diện phổ quát và đặcthù của văn hóa học là không thể chia tách nhưng tầm quan trọng của mỗi bình diệnkhông giống nhau trong từng công trình nghiên cứu Từ thập niên 1920, trong khiBakhtin nhấn mạnh đến bản chất đối thoại của nền văn hóa trong những khác biệtnội tại và ngoại biên của nó, Losev lại thiên về lý thuyết hóa tính đồng nhất của vănhóa như một biểu thị đa diện của một trực giác căn bản và nguyên sơ
1.1 Bình diện thứ hai: Ổn định và biến đổi (tài liệu 1, 2, 3, 4)
Trang 5Câu 5 Khái niệm văn hóa và Bình diện thứ ba: Sinh thái văn hóa và tiếp
biến văn hóa (tài liệu 1, 2, 3, 4)
Mối quan hệ tương tác giữa tự nhiên, xã hội và văn hóa gắn liền với những
nghiên cứu Jullian Stuard (1902-1972) Hướng cơ bản trong các công trình này là
tìm hiểu sự thích nghi của con người xã hội với môi trường xung quanh, tìm hiểu và
nhận biết các đặc điểm của hệ thống chỉnh thể xã hội dưới tác động của các hệ sinh
thái Sinh thái học văn hóa là một mô hình lý thuyết nhằm tìm hiểu mối quan hệ qua
lại giữa con người và môi trường tự nhiên bao quanh, mà văn hóa là sản phẩm của
mối quan hệ đó Những người theo thuyết sinh thái học văn hóa cho rằng văn hóa
mỗi tộc người được tạo ra bởi những nguồn tài nguyên và ranh giới của môi trường
chung quanh, kể cả những thay đổi của môi trường đó Kiểu văn hóa được hiểu là
một tập hợp những nét khu biệt cho một lối sống do kết quả thích nghi với môi
trường xung quanh Nó là hạt nhân của văn hóa - cái gắn liền với các hoạt động tạo
ra phương thức tồn tại và các thiết chế xã hội Tiếp cận sinh thái học văn hóa vì vậy
đòi hỏi phải tìm hiểu sâu nội dung, đặc điểm cũng như những hệ quả tinh thần của
một nền văn hóa ở môi trường tự nhiên đã hình thành nên chúng
Việc nhận thức con người là một bộ phận của tự nhiên, nằm trong một chỉnh
thể thống nhất không đồng nghĩa với việc tách rời nó khỏi việc phải sống hài hòa với
tự nhiên, thúc đẩy nhiều nhà nghiên cứu xét sự ảnh hưởng của môi trường đến các
thành tố văn hóa trong đời sống con người Điều kiện môi trường nơi tộc người cư
trú có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành các yếu tố văn hóa đảm bảo đời sống Có
thể nói, sinh sống lâu đời trong một môi trường sinh thái quen thuộc nên mỗi tộc
người đã hình thành nên những kiểu thích ứng với môi trường nhất định, tạo nên
những truyền thống sinh hoạt kinh tế xã hội - văn hóa riêng Sự thích nghi của con
người với điều kiện tự nhiên nơi cư trú có thể được thể hiện trong những đặc trưng
văn hóa cũng có thể thể hiện trong những đặc trưng nhân chủng Sự thay đổi củanhững điều kiện tự nhiên cũng như việc xuất hiện những cảnh quan văn hóa đa dạngvới những yếu tố nhân chủng ở mức độ nhất định gắn liền với tộc người và được thểhiện trong những đặc trưng văn hóa của tộc người đó Vì vậy, cuộc sống ngườinguyên thủy vốn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên nên dấu ấn của môi trường đếncác khía cạnh khác nhau của tộc người đó còn rõ ràng Cùng một tộc người nhưngsinh sống trong môi trường khác nhau, trải qua một thời gian nhất định cũng hìnhthành những yếu tố văn hóa khác nhau bởi chính điều kiện tự nhiên hoặc do sự vaymượn những tộc người sống trong địa bàn đó Tinh thần cơ bản của thuyết sinh tháihọc văn hóa là lao động sáng tạo của con người đã làm nên một thiên nhiên thứ hai,
và con người là một thực thể mang tính sinh vật, nên cái thế giới nhân tạo dù vượtqua giới hạn của tự nhiên vẫn không thể là cái gì nằm ngoài thiên nhiên thứ nhất(thiên nhiên thiên tạo) vì vậy, mối quan hệ giữa hai cái thế giới thiên nhiên phảiluôn được tính đến trong cuộc sống con người Thuyết sinh thái học văn hóa đã chỉ
ra mối quan hệ gắn bó giữa môi trường tự nhiên và văn hóa, trong đó các môi trường
tự nhiên đặc thù là cơ sở cho việc hình thành các mô hình văn hóa khác nhau Lýthuyết sinh thái học văn hóa muốn mở rộng khuôn khổ cho việc giải thích các vấn đềcủa đời sống xã hội Vì mỗi tộc người đều sinh sống trên một lãnh thổ nhất định, màmôi trường địa lý nơi tộc người đó sinh sống trong mối quan hệ qua lại với thiênnhiên đã ghi dấu ấn và tác động sâu sắc đến văn hóa của chính tộc người đó nênmuốn tìm hiểu những đặc trưng của văn hóa tộc người cần phải quan tâm đến khôngchỉ lịch sử tộc người mà cả môi trường nơi tộc người đó sinh sống Tuy nhiên, lýthuyết sinh thái học văn hóa chưa làm rõ sự tác động ngược trở lại của văn hóa đốivới môi trường tự nhiên
Trang 6Câu 6 Khái niệm văn hóa và Bình diện thứ tư: Bản sắc văn hóa (tài liệu 1, 2,
3, 4)
Bản sắc theo đại từ điển tiếng Việt là sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng khác, tính
chất riêng tạo thành đặc điểm chính Nói cách khác, bản sắc là đặc điểm căn bản,
đặc thù của riêng một cá nhân hoặc cộng đồng Ngoài là hệ thống giá trị bền vững
được định hình và phát triển trong suốt tiến trình lịch sử của nền văn hóa, bản sắc
văn hóa còn là một kiểu quan hệ Trong đó, hệ giá trị của bản sắc văn hóa được hình
thành trong lịch sử, không ngừng tự hoàn thiện, tiếp thu, và bổ sung những nội dung
mới tiến bộ Bản sắc văn hóa là cái cốt lõi bên trong, cái sức mạnh tiềm tàng, là sức
sống bên trong của mỗi nền văn hóa, là động lực nội sinh thúc đẩy sự phát triển xã
hội Bản sắc văn hóa được thể hiện một cách sâu sắc và cô động trong hệ giá trị
chính trị, nghệ thuật, đạo đức Bản sắc văn hóa thường được phát triển theo quy luật
kế thừa và tái tạo để ngày càng sâu sắc hơn các giá trị vốn có trong tiến trình phát
triển của nền văn hóa
Bản sắc là những giá trị gốc, căn bản, cốt lõi, lâu bền, được biểu hiện ra ngoài
Nếu văn minh chỉ ra trình độ phát triển của một xã hội, thì bản sắc văn hóa chỉ ra
những giá trị tồn tại lâu bền hơn cả ở một nền văn hóa Nói đến giá trị lâu bền hơn
cả được thể hiện ra ngoài, con người thường gán cho những giá trị văn hóa vật chất
lớn mà muốn làm được những công trình kiến trúc vĩ đại như thế thì phải hội đủ điều
kiện về nhân lực, vật lực và môi trường Tuy nhiên, thực tế, bản sắc văn hóa là cái
tinh thần được các công trình có giá trị vật chất đó thể hiện Cái tinh thần được vật
chất hóa trở thành sức mạnh Bản sắc văn hóa là cái ổn định tĩnh tại trong một thời
gian dài Là hệ thống các giá trị sống cốt lõi ít bị biến đổi, bản sắc văn hóa vừa phổ
quát vừa đặc thù, và được chọn lọc dựa trên tính cách tâm lý, trải nghiêm lịch sử, và
môi trường sống của các dân tộc, tộc người Được biểu hiện thành sắc thái bên ngoài,
bản sắc văn hóa phân biệt cá nhân, cộng đồng, dân tộc này với các cá nhân, cộngđồng, dân tộc khác
Trong một khoảng thời gian ngắn, tinh thần là cái biến động, còn vật chất làcái ổn định Nhưng trong một khoảng thời gian lâu dài, vật chất bị hủy hoại theo sựhủy hoại của chất liệu tạo nên vật thể ấy Còn cái tinh thần sẽ mang tính ổn định hơn,khó thay đổi được Chẳng hạn, tính cách dân tộc vô cùng bền vững Việc nhận diệnmột giá trị văn hóa có phải đặc trưng bản sắc không phụ thuộc vào ba dấu hiệu:Thứ nhất, giá trị văn hóa đó đã tồn tại tương đối lâu dài
Thứ hai, giá trị văn hóa đó có tác dụng chi phối các cách ứng xử và hoạt độngcủa văn hóa
Thứ ba, giá trị văn hóa đó có khả năng cùng với các đặc trưng bản sắc còn lạikhu biệt nền văn hóa đó với các nền văn hóa khác
Đặc trưng bản sắc không phải là cái duy nhất chỉ có ở nền văn hóa đó Nhưngbản sắc văn hóa trong chỉnh thể phối hợp với cả các đặc trưng còn lại phải cho phépphân biệt được một nền văn hóa với các nền văn hóa khác Như vậy, nhìn chung,bản sắc văn hóa là hệ thống giá trị tinh thần ổn định tương đối lâu dài hơn cả trongtruyền thống văn hóa, tạo nên tính đặc thù của nền văn hóa, khu biệt nền văn hóa đóvới các nền văn hóa khác Bản sắc văn hóa là cái gốc ổn định của một nền văn hóa,
nó thể hiện ở lĩnh vực tinh thần rõ hơn lĩnh vực vật chất, ở đàn bà rõ hơn đàn ông, ởnông thôn rõ hơn thành thị, ở người già rõ hơn người trẻ, … Bởi vì mang tính ổnđịnh tương đối lâu bền, nên bản sắc văn hóa vẫn có thể được điều chỉnh, biến đổi dù
sự điều chỉnh, biến đổi diễn ra rất chậm, và khó khăn Vì vậy, trong quá trình côngnghiệp hóa - hiện đại hóa xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cái bản sắc
Trang 77nông thôn - căn tính nông dân vẫn tiềm ẩn qua hành động, suy nghĩ của người Việt.
Ngoài ra, còn có những đặc trưng bản sắc quan trọng nhất, trực tiếp liên quan đến
cách tư duy, hành động và ứng xử của con người, gắn liền với bản sắc văn hóa là
tính cách dân tộc
Bản sắc vốn có nghĩa là sự đồng nhất, đồng nhất hóa làm nên bản sắc của đối
tượng Đó là ý niệm của cá nhân về bản thân trong cộng đồng mà họ đang hiện hữu
Nó giúp con người cảm nhận sự tồn tại và vị thế của họ trong các mối quan hệ xung
quanh, từ đó mang đến ý thức về cội nguồn, phẩm giá, kinh nghiệm và những kỳ
vọng về cộng đồng Vì vậy, bản sắc là vấn đề có tính bản thể luận, mỗi người đều có
nhu cầu xác định bản thân, trả lời câu hỏi tôi là ai và tôi thuộc về đâu trong quan hệ
với kẻ khác Suy cho cùng, bản sắc là sự nhận thức về sự tồn tại của mỗi cá nhân
trong quan hệ với xã hội Ở phương Tây, dưới quan niệm khách quan, cá nhân gắn
với tính xã hội trong cộng đồng, thu nhận các mô thức văn hóa và tự nhận mình
thuộc về cộng đồng đó Dưới quan niệm chủ quan, bản sắc văn hóa là tình cảm
thuộc về một cộng đồng, thông qua các biểu hiện mà cá nhân tạo ra từ thực tiễn xã
hội Ở Việt Nam, bản sắc văn hóa là những giá trị đặc trưng, nền tảng, cốt lõi, bền
vững của một nền văn hóa góp phần khu biệt và nhận diện nền văn hóa ấy với những
nền văn hóa khác, chứ không phải là một vấn đề thuộc về ý niệm cá nhân hay tình
cảm cá nhân như ở phương Tây Tựu trung, bản sắc văn hóa là ý thức của chủ thể
văn hóa trong quá trình sáng tạo, giao lưu, tiếp biến, giữ gìn và phát triển văn hóa
Bản sắc văn hóa là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách,
phẩm chất và bản lĩnh của mỗi dân tộc, là dấu hiệu cơ bản để phân biệt dân tộc này
với dân tộc khác Bản sắc văn hóa làm cho từng dân tộc hiện lên với những nét độc
đáo, phân biệt với các dân tộc khác Bản sắc văn hóa được hình thành, tồn tại và
phát triển xuyên suốt quá trình lịch sử lâu dài của dân tộc, các đặc trưng văn hóa ấy
mang tính bền vưỡng, trừu tượng và tiềm ẩn Nói cách khác, bản sắc văn hóa là tổng
thể tính cách, tính chất, biểu hiện của một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển,giúp cho dân tộc đó giữ vững được tính duy nhất, tính thống nhất của bản thân dântộc đó trong quá trình phát triển Bản sắc văn hóa thể hiện ra trong tất cả các lĩnhvực của đời sống Mỗi cộng đồng dân tộc tạo ra bản sắc văn hóa riêng của cộngđồng dân tộc đó trên cơ sở những điều kiện địa lý, hoàn cảnh lịch sử của dân tộc đó.Bản sắc văn hóa sinh ra trong một điều kiện nhất định, có sinh ra, vận động, biến đổi
và phát triển Tuy nhiên, trong lịch sử, không có nền văn hóa hoàn toàn bản địa,hoàn toàn không bị lai tạp, phát triển nội bộ dân tộc Con đường hình thành bản sắcvăn hóa gắn liền với quá trình giao lưu văn hóa với các cộng đồng dân tộc bên ngoài.Các cộng đồng dân tộc, nền văn hóa tiếp thu, vay mượn, biến hóa và bổ sung trên cơ
sở cái vốn có của cộng đồng dân tộc, nền văn hóa đó
Bản sắc văn hóa dân tộc là những giá trị đặc trưng khu biệt dân tộc này với dântộc khác Những giá trị đó nằm chủ yếu trong tâm thức của con người và được thểhiện ra trong mọi mặt của đời sống, trong mọi hoạt động, mọi quan hệ của con người
và mọi di sản văn hóa của dân tộc Bản sắc văn hóa là cái cốt lõi, cái đặc thù, cáiđịnh hình làm nên tính riêng biệt, độc đáo của văn hóa dân tộc Bản sắc văn hóađược hình thành, giữ gìn và phát huy trong quá trình phát triển của dân tộc Bản sắcvăn hóa làm nên cái cốt lõi vững chắc giúp nền văn hóa luôn giữ được tính duy nhất,tính thống nhất nhất quán trong quá trình phát triển Bản sắc văn hóa là nội lực củadân tộc, là những nét độc đáo của truyền thống, không chỉ giữ gìn những giá trị vốn
có mà còn kế thừa có chọn lọc những yếu tố văn hóa ngoại sinh Bản sắc văn hóacòn là sự phản ánh tính ổn định tương đối của văn hóa Sự thay đổi các giá trị vănhóa vốn có thường diễn ra chậm chạp, trừu tượng, vì vậy, dù bản sắc văn hóa cóthay đổi thì nó vẫn không bị biến mất hoàn toàn
Bản sắc được nhận thức hợp lý trên cả hai mặt: mặt bản chất bên trong và mặtbiểu hiện ra bên ngoài Trong đó, mặt bên trong phản ánh tính đồng nhất của một đối
Trang 88tượng nhất định, mặt bên ngoài phản ánh những dấu hiệu riêng của sự vật làm cơ sở
để phân biệt với sự vật khác
Bản sắc là danh từ chỉ tính chất đặc biệt vốn có, tạo thành phẩm cách riêng, là
những giá trị hạt nhân tiêu biểu nhất, bản chất nhất mà biểu hiện của chúng có ở mọi
lĩnh vực sinh hoạt hàng ngày của cộng đồng dân tộc Nói cách khác, đó là bản sắc
của nhóm người cùng chung sống trong một vùng lãnh thổ, cùng nói một thứ tiếng,
cùng niềm tin vào một hệ thống tôn giáo tín ngưỡng, … Bản sắc văn hóa là tổng thể
các giá trị đặc trưng mang tính bản chất tương đối bền vững của nền văn hóa, được
hình thành và phát triển qua quá trình lịch sử lâu dài của nền văn hóa đó Những giá
trị mang bản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc là sản phẩm được hình thành tất yếu
bởi hoàn cảnh địa lý, lịch sử và chính trị Bản sắc văn hóa là hệ thống những giá trị
truyền thống điển hình, bao gồm những thành tố cơ bản của nền văn hóa được xác
lập, tồn tại và phát triển trong lịch sử, được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn
hóa khác nhau Hệ giá trị đó có thể được điều chỉnh, tiếp biến và thay đổi theo thời
gian, định hình phù hợp với sự tiến hóa của lịch sử, sau một quá trình phát triển lâu
dài của tự nhiên và xã hội
Bản sắc giúp con người tạo dựng đặc trưng khác biệt, từ đó định vị bản thân
trong các hình thái xã hội khác nhau, giúp con người có sự tự trọng và được tôn
trọng Hệ giá trị văn hóa bao gồm toàn bộ những giá trị mà chủ thể của nền văn hóa
đó đã tích lũy được Toàn bộ hệ giá trị văn hóa luôn biến động, bắt đầu từ cái gốc là
hệ giá trị bản sắc văn hóa vốn chỉ bao gồm giá trị tinh thần Có những giá trị văn hóa
là chuẩn mực trong cộng đồng tộc người này, lại không được chấp nhận ở cộng đồng
tộc người khác Có những giá trị văn hóa ở thời điểm này là chuẩn mực, khuôn mẫu,
ở thời điểm khác lại là lỗi thời Khi nói về những giá trị văn hóa của một nền văn
hóa với những giá trị nói chung nghĩa là nói về những giá trị của tộc người đã vượt
ra khỏi giới hạn lãnh thổ địa bàn cư trú truyền thống của tộc người đó ảnh hưởng
đến những tộc người khác Mỗi quốc gia đều có bản sắc, là nhận thức về bản thânquốc gia đó Bản sắc giúp định hình các mục tiêu mà quốc gia đó theo đuổi Cáchthức các quốc gia hiện thực hóa mục tiêu phụ thuộc vào cách các quốc gia đó nhậnthức về bản thân trong mối quan hệ với các quốc gia khác trong quan hệ quốc tế.Các bản sắc xã hội của quốc gia có thể mang tính hợp tác hoặc xung đột, và lợi íchcủa quốc gia vì vậy luôn biến đổi tùy thuộc vào bản sắc mà quốc gia đó xác định.Nhìn chung, bản sắc là một hiện tượng bao gồm cả những nhân tố ổn định và nhữngquá trình tương tác, xây dựng hay phát triển
Về phương pháp nghiên cứu, xuất phát từ quan niệm văn hóa được tạo nên bởikiểu quan hệ tương tác của con người, bản sắc văn hóa được nghiên cứu từ khíacạnh mỗi nền văn hóa đều tự phân biệt bản thân với các nền văn hóa khác bàng cáchlựa chọn những kiểu phương án giải quyết riêng trước mỗi tình huống Xuất phát từcách tiếp cận hoạt động với văn hóa, bản sắc văn hóa lại được nghiên cứu từ cáckiểu lựa chọn riêng của cá nhân, dân tộc và nét khu biệt các kiểu lựa chọn riêng củatừng cá nhân, dân tộc đó làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hóakhác nhau Trong cách tiếp cận theo hệ giá trị, văn hóa là sự thống nhất toàn bộnhững cái mà ở đó các giá trị đã được mọi người thừa nhận và thực hiện, còn giá trịđược xem là tất cả những cái mà mọi người mong muốn đạt tới hoặc là tất cả nhữngphương tiện để đạt tới mong muốn đó Bản sắc văn hóa là những nét văn hóa riênglàm nên hệ giá trị được chấp nhận, được xem như phù hợp, được đem vào hiện thựchóa nhằm thỏa mãn nhu cầu của cộng đồng trong bối cảnh lịch sử nhất định Tuynhiên, mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng, bao gồm những giá trị phù hợp với nó
Trang 99sắc thái gốc của một nền văn hóa, là những giá trị đặc trưng riêng không thể pha trộn
trong cội nguồn văn hóa mỗi dân tộc Là tổng thể các đặc trưng văn hóa được hình
thành, tồn tại và phát triển suốt quá trình lịch sử lâu dài, bản sắc văn hóa chịu sự quy
định của bối cảnh lịch sử, hoàn cảnh địa lý, tâm lý dân tộc, từ đó tạo nên truyền
thống của dân tộc Bản sắc văn hóa là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững, nên các sắc
thái biểu hiện của nó tương đối cụ thể, và khả biến Mỗi đặc trưng văn hóa trở thành
bản sắc văn hóa khi nó chứa đựng cả sắc thái văn hóa và giá trị văn hóa Giá trị văn
hóa làm nên cái lõi, cốt lõi của bản sắc văn hóa, nó nhấn mạnh đến tính nhân sinh và
tính giá trị của bản sắc văn hóa trước nhu cầu của cá nhân, cộng đồng, dân tộc
Bản sắc văn hóa không chỉ là sự tổng hòa các khuynh hướng cơ bản trong sáng
tạo văn hóa của dân tộc, vốn được hình thành trong quá trình vận động không
ngừng của nền văn hóa trong mối liên hệ với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên,
các thể chế, tín ngưỡng; mà còn là mối liên hệ thường trực có tính định hướng của
văn hóa tộc người với văn hóa khu vực và văn hóa nhân loại Bản sắc văn hóa không
chỉ gồm những đặc điểm riêng có ở một nền văn hóa, mà còn gồm những đặc điểm
văn hóa chung với nhiều nền văn hóa khác nhưng lại có những đường nét phân biệt
riêng khác với khuôn mẫu đã đúc sẵn nên nó do sự khác biệt về đặc điểm tự nhiên và
điều kiện lịch sử cụ thể Vì vậy, bản sắc văn hóa là tổng thể những giá trị văn hóa
đặc sắc, tương đối ổn định lâu dài của một nền văn hóa, được sáng tạo và tích lũy
nên trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài của nền văn hóa đó, làm cho nền văn
hóa đó hiện ra những nét độc đáo khu vực với những nền văn hóa khác Bản sắc văn
hóa được tiếp cận từ góc độ giá trị là những giá trị đặc trưng, giá trị căn cốt, giá trị
tiêu biểu về văn hóa của một nền văn hóa Và trong văn hóa, giá trị được coi là yếu
tố trung tâm cốt lõi của một nền văn hóa song không phải giá trị văn hóa nào cũng
có thể trở thành giá trị văn hóa tiêu biểu và đặc trưng của nền văn hóa Chỉ những
giá trị văn hóa đặc trưng nhất do con người lao động và sáng tạo ra mới là bản sắc
văn hóa Hình thức biểu hiện của bản sắc văn hóa vô cùng đa dạng, phong phú: 1
thế giới quan và nhân sinh quan, 2 cách thức tư duy, lối sống và lý tưởng thẩm mỹ,
3 ngôn ngữ, trang phục, phong tục, lễ nghi, kiến trúc, tác phẩm văn học nghệ thuật.Những giá trị tinh thần kết tinh bản sắc văn hóa là sự phản ánh quá trình tồn tại vàphát triển cơ sở tinh thần của cộng đồng, định hướng giá trị và thúc đẩy phát triểnquá trình dựng nước và giữ nước của các cộng đồng, dân tộc Nói cách khác, bản sắcvăn hóa có vai trò cố kết cộng đồng, tạo nên sức mạnh tổng hợp nội tại của dân tộc,giúp cộng đồng, dân tộc vượt qua những khó khăn thử thách
Bản sắc văn hóa là hệ giá trị luôn vận động, kế thừa và tiếp biến, đảm bảo pháttriển phù hợp với thời đại, yêu cầu của lịch sử Bản sắc văn hóa vận động và pháttriển theo quy luật phát triển của lịch sử xã hội, của dân tộc, của thời đại Các giá trịvăn hóa của giai đoạn sau được lựa chọn, tiếp thu theo quy luật kế thừa và tái tạo
Đó cũng là sự thích nghi của các giá trị văn hóa vốn có trước những yêu cầu của lịch
sử, thể hiện mối quan hệ giữa truyền thống và giá trị đang định hình, từ đó tạo nên
sự phát triển liên tục của nền văn hóa Bản sắc văn hóa xuất phát từ yêu cầu pháttriển của dân tộc, mà tiếp thu, chắt lọc những yếu tố ngoại sinh, bản địa hóa, biến nóthành yếu tố truyền thống, trên cơ sở đó, bồi đắp bản sắc văn hóa trong quá trìnhgiao lưu - tiếp biến văn hóa tộc người với các nền văn hóa, các cộng đồng, dân tộckhác Nhờ đó, bản sắc văn hóa gắn kết những giá trị cốt lõi của cộng đồng, dân tộcvới sự phát triển của xã hội nhân loại, mà vẫn không đánh mất bản sắc, không bịđồng hóa, hòa tan vào nền văn hóa khác Bản sắc văn hóa cũng luôn gắn liền vớihoạt động thực tiễn của cộng đồng, dân tộc Nó là sản phẩm của quá trình hoạt độngthực tiễn, chinh phục tự nhiên, hoàn thiện bản thân con người Bản sắc văn hóa phảnánh mối liên hệ giữa con người với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trườngnhất định trong lịch sử Bản sắc văn hóa được hình thành và phát triển toàn diệntrong cộng đồng, dân tộc trong chính quá trình con người vừa thích nghi vừa đối phóvới môi trường tự nhiên vừa sáng tạo và tích lũy các giá trị văn hóa, vừa xây dựngnhững truyền thống mang đậm dấu ấn của con người Tóm lại, bản sắc văn hóa
Trang 1010mang tính ổn định tương đối, tính lịch sử, tính thời đại, tính dân tộc và tính nhân
sinh sâu sắc
Bản sắc vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm của quá trình trong đó các
giá trị cung cấp những ý nghĩa có tính biểu tượng, thúc đẩy sự tự nhận thức của cá
nhân với tư cách là thành viên của cộng đồng trên cơ sở tương tác, so sánh với cá
nhân, cộng đồng khác Vì vậy, một cá nhân có thể có nhiều bản sắc khác nhau tùy
thuộc từng lĩnh vực so sánh Một người có thể vừa mang bản sắc văn hóa Việt Nam,
bản sắc văn hóa Phật giáo, bản sắc văn hóa giới, bản sắc văn hóa nghề nghiệp,
những bản sắc văn hóa này có thể chồng lấn nhau mà không hề mâu thuẫn Một
cộng đồng cũng có thể mang nhiều bản sắc khác nhau tùy thuộc từng lĩnh vực so
sánh Một quốc gia có thể vừa mang bản sắc văn hóa gốc nông nghiệp, bản sắc văn
hóa Đông Nam Á, bản sắc văn hóa Đông Á, bản sắc văn hóa phương Nam, bản sắc
văn hóa phương Đông Song bản sắc nào sẽ nổi trội tùy vào từng thời điểm, từng
mối quan hệ so sánh
Nếu phân loại trên cơ sở chủ thể, bản sắc được chia thành bản sắc cá nhân và
bản sắc cộng đồng Nếu phân loại trên cơ sở lĩnh vực, bản sắc được chia thành bản
sắc văn hóa, bản sắc chính trị, bản sắc tôn giáo, bản sắc nghệ thuật Nếu phân loại
trên cơ sở quy mô, bản sắc được chia thành bản sắc khu vực, bản sắc quốc gia, bản
sắc dân tộc, bản sắc cộng đồng/bản sắc nhóm Văn hóa được xem là hệ giá trị làm
nền tảng cho bản sắc cộng đồng Vì vậy, văn hóa góp phần tạo nên bản sắc liên kết
những người cùng sống trong một xã hội nhất định
Bản sắc văn hóa nảy sinh từ văn hóa, có thể được xác định bởi tầng lớp, giới
tính, chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ Thời hiện đại, nó thường được xác định bởi
chủ nghĩa dân tộc Bản sắc có nguồn gốc từ những gắn kết về mặt tộc người, dựa
trên sự chia sẻ chung về ngôn ngữ, lịch sử và huyền thoại Bản sắc văn hóa là kết
quả của cách nhìn từ bên trong hoặc theo cách những gì người khác nhìn nhận bản
thân Nói một cách khác, bản sắc cho thấy cách nhìn nhận bản thân như thế nào vàcách người khác nhìn nhận bản thân như thế nào Bên cạnh đó, có thể nói, bản sắcvăn hóa là tất cả những nét đặc sắc của dân tộc được tạo thành trong quá trình lịch
sử lâu dài, qua các cuộc giao lưu - tiếp biến văn hóa, để tồn tại và phát triển Nhưvậy, bản sắc vừa là căn tính vừa là đặc trưng giúp phân biệt cộng đồng, dân tộc nàyvới cộng đồng, dân tộc khác
Trong hoạt động nhận thức, con người có một quan hệ bất biến giữa thế giớibiểu tượng ở trong trí óc với thế giới tự nhiên khách quan Mỗi cá nhân, cộng đồng
sẽ biểu hiện mối quan hệ này thành những kiểu lựa chọn riêng theo thời gian dựatrên các quy ước xã hội được ấn định và tạo nên dấu ấn riêng Bản sắc văn hóa, nóicách khác, chính là cái tạo nên những nét độc đáo của nền văn hóa, khu biệt nó vớinền văn hóa khác Bản sắc văn hóa vì vậy cũng chính là đóng góp lớn nhất của mỗinền văn hóa vào lịch sử nhân loại Bản sắc văn hóa là những nét đặc thù được khắchọa bởi những hằng số cấu trúc chiều sâu (những hằng số kết tinh thành những giátrị nhân cách xã hội, lý tưởng thẩm mĩ, thói quen tiềm ẩn trong tâm thức), như sợidây ràng buộc các thành viên của cộng đồng, tạo nên ý thức tự giác tộc người vàkhác biệt với các cộng đồng dân tộc khác
Bản sắc giúp con người tự hào gìn giữ những cái thuộc về bản thân, và những
ký ức mà người khác nghĩ và nhớ đến họ Con người không thể dùng nhãn quan chủquan để nói rằng lối sống của dân tộc này hay giai đoạn lịch sử này là kém cỏi, cònlối sống của dân tộc kia, giai đoạn lịch sử kia là văn minh Họ chỉ có thể tạo đượccho bản thân cái gọi là bản sắc văn hóa để người khác có thể nhận diện họ Dấu ấnbản sắc là điều con người học hỏi, duy trì và phát triển từ người khác, từ thế hệ trước,cùng với thành quả mà họ tạo nên và có được Đó là hành trang để hướng tới tươnglai, giúp con người có thêm kiến thức và kinh nghiệm để tiến lên phía trước, là độnglực khi hướng tới tương lai
Trang 112 Đặc điểm chung của văn hóa học với tư cách là một khoa học (tài liệu 1, 2, 3, 4)
Câu 7 Văn hóa học (culturalogy) và khoa học văn hóa (cultural studies) (tài
liệu 2, 3, 4, 5, 6)
Culturalogy là một chuyên ngành của khoa học xã hội và nhân viên Nga, có
nền móng từ những công trình của Nikolai Danilevski (1822-1885) và Pavel
Florensky (1882-1937), phát triển đến đỉnh cao trong những thạp niên 1960-1980
với những công trình của Mikhail Bakhtin (1895-1975), Aleksei Losev (1893-1988),
Yuri Lotman (1922-1993), Georgy Gachev, và Sergei Averintsev Culturalogy
nghiên cứu tính đa dạng văn hóa, những phương thức tương tác và chức năng của
các nền văn hóa mới tư cách là một siêu ngành (metadiscipline) trong khoa học nhân
văn nhằm khái quát và liên kết sự đa dạng của những hiện tượng văn hóa vốn được
các ngành khoa học nhân văn khác nghiên cứu một cách biệt lập Văn hóa trong
cultural studies thực hiện chức năng vừa là đối tượng nghiên cứu vừa là nơi định vị
của hoạt động và phê bình chính trị Culturology lại xác định văn hóa là nơi định vị
của những thực tiễn chính trị thông qua viễn cảnh của những bối cảnh vốn có của
chúng Một thực hành tín ngưỡng hay một tác phẩm nghệ thuật được giải mã không
phải chỉ để hé lộ một thông điệp chính trị được mã hóa Ngay cả những hoạt động
của một đảng phái chính trị cũng có thể được xem xét qua lăng kính của văn hóa học
như độ khúc xạ những mã nghi lễ, trò chơi ngôn từ hay những cổ mẫu tâm lý
Cultural studies cố gắng vạch rõ và điều hòa sự phân rẽ tri thức để vượt qua sự
phân hóa giữa những dạng tiềm thức và những dạng thức phổ quát của tri thức
Cultural studies cho rằng có tồn tại một sự đồng nhất chung và quyền lợi chung giữa
người quan sát và cái được quan sát Còn culturology cố gắng tiếp cận văn hóa bằng
những thuật ngữ riêng của nó để tạo lập một ngôn ngữ chỉnh thể luận, tránh sa vào
bất kỳ phương diện đơn lẻ nào của văn hóa Cultural studies quan tâm đến sự đánhgiá đạo đức của xã hội hiện đại và những phạm vi cơ bản của hoạt động chính trị.Truyền thống của cultural studies là can dự vào sự tái cấu trúc xã hội thông qua sựphê bình chính trị Vì vậy, cultural studies hướng đến mục đích hiểu và biến đổinhững cấu trúc ưu trội ở bên ngoài xã hội tư bản công nghiệp
Cả cultural studies và culturology đều đặt mục tiêu vượt qua giới hạn tri thức
tự do thuần túy Cultural studies tập trung vào những dạng thức văn hóa có tínhchính trị, và những dạng quyền lực về văn hóa, nhằm mục đích giải cấu trúc trongnghiên cứu văn hóa Culturology lại hướng đến việc mở rộng và nâng cấp những ýnghĩa của biểu tượng văn hóa vượt qua ý nghĩa thực dụng tầm thường Từ quanđiểm văn hóa là một cái toàn thể, culturology phê phán chính trị, xem chính trị nhưmột dạng của sự hô hào, như một dạng quan hệ của quyền lực, như một thứ chủnghĩa thực dụng hẹp hòi Nói cách khác, culturology không hướng đến sự đối lập
mà hướng đến sự vượt qua một thực tiễn văn hóa có sẵn để sử dụng những mã hóa
đa tầng và giải mã từng hiện tượng của nhân loại
Cultural studies hướng đến việc xác định vấn đề trọng tâm trong phạm vi củanhững thực tiễn văn hóa và mối quan hệ của những thực tiễn văn hóa với quyền lực
Từ đó, vạch ra những mối quan hệ quyền lực và xác định bằng cách nào những mốiquan hệ này ảnh hưởng và định hình những thực tiễn văn hóa Culturology lại hướngđến việc xác định văn hóa với tư cách là nơi những thực tiễn tồn tại
Câu 8 Văn hóa học với các ngành khoa học có nghiên cứu về văn hóa (tài
liệu 2, 3, 4, 5, 6)
Trang 12Sự gắn bó nhiều nhất giữa văn hóa học với nhân học và xã hội học liên quan
đến chủ thể là con người Trong khi đối tượng của văn hóa học là văn hóa, đối tượng
của nhân học là con người Quan hệ giữa con người và văn hóa là quan hệ giữa chủ
thể và sản phẩm Văn hóa học có nhiệm vụ phát hiện các quy luật hình thành, vận
động của văn hóa, cũng như diện mạo các hệ thống vùng văn hóa, tiểu vùng văn hóa,
nền văn hóa Trong khi đó, nhân học có nhiệm vụ tìm hiểu nguồn gốc, sự tiến hóa
của con người và sự hình thành các chủng tộc Việc nghiên cứu văn hóa đối với văn
hóa học vì vậy là mục đích cuối cùng, nhưng với nhân học đó chỉ là một phương tiện
Phương pháp nghiên cứu của nhân học là phương pháp thực nghiệm, coi trọng việc
quan sát - tham dự, điều tra thực địa là những điều không thể thiếu của nhân học hay
dân tộc học Trong khi đó, việc quan sát - điều tra chỉ mang tính bổ sung, không phải
yêu cầu bắt buộc vì phương pháp nghiên cứu của văn hóa học là phương pháp làm
việc với tư liệu do các khoa học xã hội và nhân văn khác cung cấp
Vì đối tượng của xã hội học là xã hội với tất cả mối liên hệ bên trong cũng như
bên ngoài của nó, nên xã hội học gần gũi với nhân học hơn là văn hóa học Nhân học
nhìn đối tượng từ xã hội được quan sát, còn xã hội học nhìn đối tượng từ xã hội của
người quan sát Tương tự như nhân học, xã hội học cũng chỉ coi việc nghiên cứu văn
hóa (mục đích cuối cùng của văn hóa học) là một phương tiện nhằm tìm hiểu tổ chức
vận hành và phát triển của xã hội Xã hội học cũng là một ngành khoa học xã hội
thực nghiệm, sử dụng các tư liệu thu thập được bằng phương pháp điều tra, không
giống như văn hóa học chỉ sử dụng phương pháp điều tra xã hội học để bổ sung
thêm cho các tư liệu sẵn có do các ngành khoa học khác cung cấp Nhân học cũng
như xã hội học đều là khoa học xã hội, trong khi văn hóa học lại là khoa học nhân
văn gần với khoa học xã hội Phần giáp ranh giữa nhân học và văn hóa học là nhân
học văn hóa và văn hóa học nhân loại, phần giáp ranh giữa xã hội học và văn hóa
học là xã hội học văn hóa và văn hóa học xã hội Trong đó, nhân học văn hóa là một
bộ phận của nhân học, xã hội học văn hóa là một bộ phận của xã hội học Chỉ vănhóa học nhân loại và văn hóa học xã hội mới thuộc về văn hóa học
Khi xem xét văn hóa trong thời gian, mối quan hệ giữa văn hóa học với sử họcđứng trước sự hình thành của môn văn hóa học lịch sử Khi xem xét văn hóa trongkhông gian, mối quan hệ giữa văn hóa học với địa lý học đứng trước sự hình thànhcủa môn văn hóa học địa lý Văn hóa học lịch sử là một bộ phận của văn hóa học cóđối tượng là văn hóa nhìn trong thời gian, còn sử học văn hóa là một bộ phận của sửhọc có đối tượng là lịch sử nhìn trong phạm vi văn hóa Việt Nam văn hóa sử cươngcủa Đào Duy Anh là thuộc văn hóa học lịch sử, còn Đại cương lịch sử văn hóa ViệtNam của Nguyễn Khắc Thuần và Lịch sử văn hóa Việt Nam giản yếu của NguyễnThừa Hỷ là thuộc sử học văn hóa Tương tự như vậy, văn hóa học địa lý là một bộphận của văn hóa học có đối tượng văn hóa nhìn trong không gian, còn địa lý họcvăn hóa là một bộ phận của địa lý học có đối tượng là địa lý nhìn trong những sự vật
- sự việc - hiện tượng văn hóa
Khu vực học giới hạn đối tượng nghiên cứu theo không gian, có nhiệm vụ xemxét đồng thời các vấn đề văn học, sử học, địa lý học, triết học, kinh tế học, văn hóahọc, xã hội học, sinh thái học trong mối quan hệ biện chứng lẫn nhau giữa chúng.Còn văn hóa học giới hạn đối tượng theo lĩnh vực, không giới hạn đối tượng theokhông gian, và có nhiệm vụ xem xét đồng thời văn hóa dân tộc cũng như văn hóanhân loại
Những người theo chủ nghĩa chức năng đánh giá thấp vai trò của lịch sử đốivới văn hóa Họ cho rằng, hoạt động của hệ thống hiện hành trong xã hội cụ thể làquan trọng hơn cả, vì vậy họ không chú ý đến việc tái cấu trúc văn hóa mà tập trungnghiên cứu các xã hội như là nó không bị ảnh hưởng bởi thời gian
Đầu thế kỷ XX, những tư tưởng của nhà xã hội học Pháp Durkheim chiếm vịtrí ưu thế trong nghiên cứu xã hội học và nhân học thời ấy Durkheim cho rằng xã
Trang 1313hội nào cũng tồn tại một thực thể mà ông gọi là ý thức tập thể, đóng vai trò quyết
định hệ thống giá trị, niềm tin của các thành viên và những hành vi của họ Mặc dù
coi ý thức tập thể là một thực thể mang tính cách tâm lý, nhưng Durkheim không
giải thích nó bằng hành vi tâm lý cá nhân Theo ông, đơn vị chính xác của sự phân
tích này là những sự kiện xã hội Những luật lệ xã hội và luật lệ hành vi tồn tại trước
khi cá nhân sinh ra, gia nhập xã hội, cá nhân đó phải học hỏi và tuân thủ chúng
Alfred Louis Kroeber là một trong những nhà nhân học hiện đại tiêu biểu đi
theo và phát triển tư tưởng nhân học văn hóa xã hội ấy trong các nghiên cứu Ông đã
tiếp tục tư tưởng của E Durkheim cho rằng mặc dù con người là giá mang văn hóa
nhưng không phải vì vậy mà việc nghiên cứu văn hóa bị thu hẹp vào tâm lý học cá
nhân Khác với Boas, ông cho rằng cá nhân không quan trọng trong việc phân tích
văn hóa, nhưng về mặt phương pháp, ông chú ý tới việc chiết trung các phương pháp
tổng thể - thực chứng với phương pháp tham dự - dân tộc học, trong đó quan điểm
chủ đạo vẫn là văn hóa giữ vai trò quyết định hành vi cá nhân Theo ông, văn hóa là
những khuôn mẫu vượt quá và kiểm soát cá nhân Ông chứng minh các khuôn mẫu
nghệ thuật xuất hiện và biến mất một cách độc lập với các nghệ sĩ phát minh như thế
nào
Với trường phái nhân học địa văn hóa do E Rassen và L Frobenius và
F.Grebner chủ xướng, Rassen phủ nhận sự thống nhất phát triển của văn hóa nhân
loại và văn hóa chịu sự quy định của những điều kiện địa lý Theo ông, ít có khảnăng các dân tộc khác nhau lại sản sinh ra các hiện tượng văn hóa giống nhau, nếu
có sự giống nhau thì đó là kết quả của sự vay mượn Frobenius đã củng cố và pháttriển luận điểm trên bằng những kết quả điền dã ở châu Phi Đầu thế kỷ XX, trên cơ
sở học thuyết ấy, Grebner đã nêu lên thuyết vòng văn hóa quan điểm căn bản là: Mỗihiện tượng văn hóa chỉ sinh một lần ở một trung tâm, còn nếu nó ở các vùng khác thì
do nó được truyền bá từ một trung tâm đầu tiên Vì thế, nhiệm vụ của dân tộc học lànghiên cứu sự phân bố địa lý của các hiện tượng văn hóa và tìm ra các vòng văn hóa.Trong nhân học sinh thái hiện đại, F Boas là người có ảnh hưởng mạnh nhất, vàKroeber là người học trò xuất sắc nhất của ông Kroeber nghiên cứu văn hóa trongmối liên hệ với môi trường sinh thái bao quanh nó Trong tác phẩm “vùng tự nhiên
và vùng văn hóa của thổ dân Bắc Mỹ”, hệ bản đồ về sự phân bố thực vật, địa chất,khí tượng liên quan đến văn hóa của thổ dân đã được Kroeber trình bày rất thuyếtphục J Steward sau đó đã tiếp tục phát triển cách tiếp cận sinh thái học văn hóatrong việc phân tích văn hóa Ông nhấn mạnh đến sự thích nghi của văn hóa cá nhânvới những điều kiện môi trường riêng biệt Theo ông, những nền văn hóa ở nhữngmôi trường tương tự nhau sẽ có xu hướng phát triển theo những quá trình giốngnhau và sẽ tạo nên những đáp trả tương tự nhau đối với những thách thức của môitrường Ông gọi những đặc điểm văn hóa đó với những phong tục là hạt nhân vănhóa
Câu 9 Quan điểm tiếp cận chỉnh thể luận trong văn hóa học (tài liệu 2, 3, 4,
5, 6)
Giai đoạn đầu tiên trong phân tích văn hóa một dân tộc hoặc một thời kỳ lịch
sử xa xôi nào đó được phát triển trong khuôn khổ giải quyết các vấn đề nhân văn của
tư liệu, chủ yếu mang tính chất mô tả kinh nghiệm Ở giai đoạn này, các phương
pháp được sử dụng cho phép các nhà nghiên cứu tháo gỡ những rào cản "không
hiểu" thời đại khác hoặc nền văn hóa khác Ở đây, việc sử dụng các phương phápphân tích khác nhau là nhằm hướng tới làm rõ các chứng cớ để giải thích và đạt tớicấp độ lý luận Đồng thời, được tạo dựng và được phổ biến là mô hình phân loại và
mô hình miêu tả để nhận biết văn hóa Các mô hình này chỉ đưa ra những mô tả cấu