1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

CHNG II PHAP LUT v CHNG CNH TRANH

93 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chương II Pháp Luật Về Chống Cạnh Tranh Không Lành Mạnh
Người hướng dẫn ThS. Lê Văn Tranh
Trường học ĐH Luật TP.HCM
Chuyên ngành Luật Cạnh tranh
Thể loại bài giảng tham khảo
Định dạng
Số trang 93
Dung lượng 819,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, nhà làm luật đã sử dụng 2 phương pháp để phát triển định nghĩa hành vi “cạnh tranh không lành mạnh”: o Một là, dựa vào dấu hiệu đặc trưng: CTKLM “là hành vi của doanh nghiệp tr

Trang 1

Môn học: Luật Cạnh tranh

Nội dung: Chương II

Hình thức: Bài giảng tham khảo

GV: Ths Lê Văn Tranh

Trường: ĐH Luật TP.HCM

CHƯƠNG II PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

Mục đích:

Người học hiểu được:

+ Khái niệm, đặc điểm, điểm mới của hành vi CTKLM;

+ Nhận biết và phân tích được hành vi CTKLM theo LCT và luật khác có liên quan;

+ Nhận biết được nguyên tắc, thẩm quyền và chế tài áp dụng đối với hành vi CTKLM

+ Sách, giáo trình: Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp trong thương mại, Giáo trình Luật Cạnh tranh

Phương pháp: Thuyết giảng/bài tập tình hống/học nhóm/thuyết trình

Trang 2

Nội dung gồm:

1 Khái niệm hành vi CTKLM

2 Đặc điểm của hành vi CTKLM

3 Điểm mới của LCT 2018 về CTKLM

I KHÁI LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH

1.1 Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh và điểm mới của LCT 2018

1.1.1 Định nghĩa khái niệm

mạnh [CTKLM]là hành

vi của doanh nghiệp

trái với nguyên tắc thiện

chí, trung thực, tập

quán thương mại và các

chuẩn mực khác trong

kinh doanh, gây thiệt

hại hoặc có thể gây thiệt

hại đến quyền và lợi ích

hợp pháp của doanh

nghiệp khác” 1

Nội dung định nghĩa về hành vi CTKLM cho thấy:

+ Về kỹ thuật, quy định về hành vi CTKLM đã được thể hiện rõ trong LCT 2018 Theo đó, nhà làm luật đã sử dụng 2 phương pháp để phát triển định nghĩa hành vi “cạnh tranh không lành mạnh”:

o Một là, dựa vào dấu hiệu đặc trưng: CTKLM “là hành vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh”

o Hai là, phương pháp liệt kê (bằng cách nêu cụ thể từng hành vi): được thể hiện trong Điều

45 LCT 2018

+ Về nội dung, quy định về hành vi CTKLM là hành vi “trái với các chuẩn mực trung thực và thiện chí trong KD” mà gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh

nghiệp khác trên thị trường

o Ví dụ: các hành vi lôi kéo khách hàng bất chính, xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh, bán hàng hoá dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh

+ Về biểu hiện: hành vi CTKLM xảy ra ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, nhiều

công đoạn của quá trình kinh doanh Hành vi này luôn bao hàm yếu tố chủ quan của các chủ thể có liên quan và phản ánh nhu cầu tìm kiếm cơ hội để tồn tại và phát triển2 nhưng đã trực tiếp hoặc gián tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích của doanh nghiệp khác Tuy nhiên, quy định về hành vi CTKLM cho thấy khái niệm về hành vi CTKLM chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết, trong thực tế việc áp dụng

sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật đối với từng hành vi cụ thể

1 Khoản 6 Điều 3 LCT 2018

2 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, tr.124

Trang 3

Phân tích thêm:

+ Thông thường, cạnh tranh lành mạnh được hiểu là cạnh tranh trung thực, công bằng, hợp pháp, hợp đạo đức, tập quán kinh doanh; là hình thức cạnh tranh thiện chí, cạnh tranh bằng khả năng, tìm kiếm lợi ích cho bản thân trên cơ sở tôn trọng lợi ích của các chủ thể kinh doanh khác, của người tiêu dùng và lợi ích của xã hội Vì vậy, cạnh tranh không lành mạnh chính là hành vi cạnh tranh đi ngược lại những tiêu chí, những đặc điểm của hành vi cạnh tranh lành mạnh

+ Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh là một trong hai bộ phận cấu thành pháp luật về cạnh tranh nói chung Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ngăn chặn những mưu toan tạo ra lợi thế không chính đáng cho một bên trong tương quan cạnh tranh, buộc các đối thủ cạnh tranh phải tham gia kinh doanh một cách bình đẳng và công bằng Chiếu theo một trong những định nghĩa về cạnh tranh không lành mạnh được phổ biến rộng rãi nhất tại Điều 10 bis Công ước Paris

về Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp3, được bổ sung vào Công ước năm 1900 và được sửa đổi

lần cuối theo Văn bản Stockholm năm 1967, bất kỳ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các thông

lệ trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Việt Nam là một thành viên của Công ước Paris, do đó định nghĩa tại Điều 10bis có

thể coi là nguồn đầu tiên của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam

+ Mặc dù đã phát triển hệ thống các quy định về hạn chế cạnh tranh từ rất lâu (Luật Sherman-1890), các quy định về cạnh tranh không lành mạnh của Hoa Kỳ lại tương đối phân tán Các nhà lập pháp của Hoa Kỳ kết hợp cả hai cách tiếp cận của Châu Âu trong việc điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh, sử dụng các quy định chung về bồi thường thiệt hại dân sự cũng như một

số quy định chuyên ngành, và thậm chí có sự khác biệt giữa pháp luật liên bang và pháp luật các tiểu bang Các quy định cạnh tranh quan trọng nhất có thể kể đến là Đạo Luật vềỦy ban Thương mại liên bang (Đạo luật FTC) (1914) và Luật nhãn hiệu liên bang, hay còn gọi là Luật Lanham (1946) Căn cứ trên các án lệ tại tòa án, đến năm 1964 Ủy ban đã hình thành 3 tiêu chí để đánh giá hành vi cạnh tranh không lành mạnh, đó là: (i) gây thiệt hại cho người tiêu dùng (ii) vi phạm các chính sách xã hội hiện hành; và (iii) vô đạo đức và không cẩn trọng

3 Việt Nam tham gia vào năm 1949

Trang 4

+ Quan niệm về tính không lành mạnh là kết quả của những ý niệm liên quan đến xã hội học, kinh

tế học, đạo đức của một xã hội nhất định nên có thể dẫn đến hiện tượng bị coi là không lành mạnh

ở nước này nhưng được coi lành mạnh ở nước khác Thậm chí trong một quốc gia thì quan niệm

về tính lành mạnh cũng có thể là khác nhau ở mỗi giai đoạn/thời kỳ

+ Cách tiếp cận về hành vi CTKLM trong LCT 2018 được xem khá tương đồng so với LCT 2004,

cả hai định nghĩa của luật đều mô tả những dấu hiệu đặc trưng riêng của hành vi CTKLM và sau

đó “liệt kê” những hành vi/nhóm hành vi CTKLM cụ thể Tuy cả hai đạo luật đều liệt kê hành vi CTKLM nhưng không có nghĩa là “đóng” hoặc “giới hạn” các hành vi chỉ trong LCT mà còn

có dẫn chiếu đến các “hành vi khác” được quy định “trong Luật khác”, “các hành vi CTKLM khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này do Chính phủ quy định” 4 Cách phát

triển định nghĩa về hành vi CTKLM theo cách của 2 đạo LCT có ưu điểm là khát quát, mô phỏng

cơ bản tính chất của hành vi cũng như “đủ rõ để xác định các dấu hiệu nhận dạng hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm: chủ thể thực hiện hành vi, đặc điểm cơ bản của hành vi, đối tượng tác động của hành vi đó” 5

+ Nghiên cứu pháp luật điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thế giới cho thấy có rất

ít quốc gia chọn cách chỉ định nghĩa khái quát về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Thông thường, sau khi đưa ra định nghĩa khái quát [thế nào là hành vi cạnh tranh không lành mạnh],

pháp luật của các nước cũng đều liệt kê các hành vi CTKLM cụ thể Ví dụ:

o Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Thụy Sỹ định nghĩa “cạnh tranh không lành mạnh [và bất hợp pháp] là bất cứ hành vi hoặc phương pháp kinh doanh lừa dối nào hoặc vi phạm nguyên tắc thiện chí mà tác động đến mối quan hệ giữa các đối thủ cạnh tranh hoặc giữa nhà cung cấp/cung ứng và khách hàng” Sau đó luật của nước này cũng đưa ra quy định chi tiết từng hành vi cạnh tranh được xem là không lành mạnh để việc áp dụng luật được thuận lợi và hiệu quả 6

o Luật thương mại lành mạnh, Ủy ban thương mại lành mạnh Đài Loan còn ban hành các hướng dẫn (Guidelines) nhằm hướng dẫn chi tiết về các hành vi thương mại không lành mạnh được quy định trong Luật Trong hướng dẫn chi tiết cho Điều 19 Luật Thương mại lành mạnh,

Trang 5

4 Xem khoản 10, Điều 39 LCT 2004

5 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 69

6 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr.70

Trang 6

Ủy Ban thương mại lành mạnh Đài Loan đã đưa ra các tiêu chí để quyết định xem có hay không các hành vi CTKLM của một doanh nghiệp bị coi là “có thể hạn chế cạnh tranh lành mạnh” Theo đó, để quyết định xem một doanh nghiệp có thực hiện hành vi hạn chế cạnh tranh lành mạnh hay không, hành vi đó phải được xem xét một cách chung hoặc tách biệt nhau, xem

“các phương pháp cạnh tranh” được sử dụng bởi doanh nghiệp có lành mạnh không và xem

“kết quả của phương pháp cạnh tranh” có làm suy yếu “chức năng cạnh tranh tự do trên thị trường” hay không 7

Tóm lại: Các thông tin về kinh nghiệm quốc tế cho thấy cách thức tiếp cận điều chỉnh đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh của các hệ thống pháp luật khác nhau trên thế giới không hoàn toàn giống nhau Có hệ thống nghiêng về biện pháp dân sự, có hệ thống nghiêng về hành

chính và cũng có những hệ thống sử dụng cả biện pháp hình sự Không có một mô hình mẫu cho việc tiếp cận, điều chỉnh các hành vi cạnh tranh không lành mạnh Vì vậy, ở Việt Nam,

việc duy trì chế định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh tại Luật Cạnh tranh vẫn đảm bảo tính hợp lý và có sự tương đồng với một số quốc gia như Nhật Bản, Đài Loan, Úc, Hoa Kỳ

1.1.2 Điểm mới của Luật Cạnh tranh năm 2018 về hành vi CTKLM

7 Bộ Công thương (2017), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế, so sánh pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định

trong Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam, tr

Trang 7

1 - Loại bỏ 4 hành vi:

+ Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;

+ Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

+ Phân biệt đối xử của hiệp hội;

+ Bán hàng đa cấp bất chính

+ Việc bãi bỏ các hành vi này có thể được lý giải bởi các nguyên nhân định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh đã xác định hành vi cạnh tranh không lành mạnh trước hết phải là hành vi

“cạnh tranh” của doanh nghiệp Tuy nhiên, trong số các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được liệt kê và mô tả tại Luật Cạnh tranh 2004, một số hành vi dường như không hướng sự điều chỉnh vào quan hệ “cạnh tranh”

+ Các quy định hiện hành trong Luật cạnh tranh về hành vi cạnh tranh không lành mạnh còn nhiều điểm hạn chế về cách sử dụng từ ngữ pháp lý trong việc định hình cấu thành pháp lý của hành vi; cần nghiên cứu lại tính phù hợp của một số hành vi bị kết luận là cạnh tranh không lành mạnh và cần xem xét về tính bất chính của một số hành vi cụ thể trong các nhóm cạnh tranh không lành mạnh Hơn nữa, có những quy định về một số loại hành vi chưa từng được áp dụng trên thực tế không phải do không xuất hiện hành vi trên thực tế mà vì cách thức mô tả hành vi có thể giúp cho doanh nghiệp tránh được sự vi phạm pháp luật mà vẫn đạt được mục tiêu cạnh tranh không lành mạnh như hành vi khuyến mại bằng cách tặng hàng hóa dùng thử nhưng yêu cầu khách hàng đổi hàng hóa cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất…; các quy định về hành vi bán hàng đa cấp bất chính chỉ đơn giản là sự xâm phạm quyền lợi của người tham gia thông qua các điều khoản trong hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp; hành vi phân biệt đối xử trong khuyến mại cần được xem xét

về tính bất chính trong cạnh tranh Những hạn chế trong các quy định hiện hành không chỉ giảm khả năng điều chỉnh của pháp luật mà còn có thể cản trở sự sáng tạo lành mạnh trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp Trong đó có thể kể đến các lý do cụ thể sau:

o Một là, các hành vi này đã có pháp luật chuyên ngành điều chỉnh như pháp luật về sở hữu trí tuệ, pháp luật về quảng cáo, pháp luật thương mại, pháp luật về hội và bán hàng đa cấp Quy định lược bỏ này nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tránh những xung đột pháp luật không cần thiết xảy ra

o Hai là, bãi bỏ hành vi “phân biệt đối xử của hiệp hội” và “bán hàng đa cấp bất chính” do các hành vi này không mang bản chất cạnh tranh Về bản chất, bán hàng đa cấp bất chính không phải là hành vi CTKLM nhằm tạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Các hành vi được liệt kê tại Điều 48 LCT 2004 chủ yếu xảy ra trong quan hệ giữa doanh

Trang 8

nghiệp bán hàng đa cấp với người tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp Nói cách khác, đây

là dạng hành vi kinh doanh không đúng chuẩn mực đạo đức thông thường nhưng yếu tố cạnh tranh là rất mờ nhạt và thậm chí là không liên quan gì đến quan hệ cạnh tranh Có thể do bối cảnh lịch sử cụ thể của quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh nên bán hàng đa cấp bất chính được đưa vào điều chỉnh tại Luật Cạnh tranh như một hành vi cạnh tranh không lành mạnh

là giải pháp tình thế

o Việc bỏ quy định về hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội được giải thích là do quy định này không có tính khả thi bởi trong điều kiện Việt Nam, khi tầng lớp thương nhân chưa đủ mạnh và các liên kết còn lỏng lẻo, vai trò của các hiệp hội ngành nghề tương đối mờ nhạt, quy định của các hiệp hội chủ yếu mang tính chất khuyến cáo, khuyến nghị Ngay từ đối tượng bị điều chỉnh của hành vi này đã thể hiện sự không phù hợp với định nghĩa về hành vi “cạnh tranh không lành mạnh” Hiệp hội không phải là một chủ thể kinh doanh, và do đó không thể

có hành vi “cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh” Mặt khác, chủ thể thực

sự của hành vi CTKLM này là các doanh nghiệp, do vậy, hành vi này nên được xem xét dưới dạng một thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp hơn là một hành vi CTKLM 8

2 Loại bỏ đối tượng bị

o Quy định như LCT 2004 là “gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước” là quá rộng, không cần thiết vì vấn đề này chỉ có thể đặt ra trong bối cảnh tại những nền kinh tế mà Nhà nước tham gia sâu rộng vào hoạt động kinh doanh và cạnh tranh trực tiếp với các thành phần kinh tế khác trên thị trường Với thực tiễn cải cách, thay đổi tư duy trong quản lý kinh tế hiện nay thì quy định của LCT 2004 không còn phù hợp

o Quy định đối tượng chịu ảnh hưởng/tác động là quyền và lợi ích hợp pháp của“người tiêu dùng” là chưa hợp lý, chưa đúng với bản chất của hành vi 9 bởi suy cho cùng bản chất cạnh tranh không lành mạnh là nhằm gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh, còn việc bảo vệ người tiêu dùng đã có pháp luật người tiêu dùng điều chỉnh

Trang 9

8 Phạm Trí Hùng (2019), Những điểm mới trong quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Kỷ yếu Hội thảo những điểm mới của LCT 2018 và

góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT 2018 – Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 20

9 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2019), Tài liệu Hội thảo “Những điểm mới của Luật Cạnh tranh và góp ý cho Dự thảo Nghị định hướng dẫn Luật Cạnh tranh 2018”, tr 16

Trang 10

3 - Thay đổi một số tên

gọi của điều luật và định

nghĩa về hành vi

CTKLM

+ Thay đổi tên gọi:

o Hành vi “Gièm pha doanh nghiệp khác” trong LCT 2004 được thay thế bằng “Cung cấp

thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác” nhằm diễn đạt phù hợp hơn với bản chất của hành vi Theo đó, cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác là việc bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng

xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó

+ Định nghĩa về CTKLM:

o LCT 2018 không còn sử dụng cụm từ “trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” mà sử dụng cụm từ mới rõ nghĩa hơn, chính xác hơn: “trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh” bởi tiêu chí

“chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” được xem là trừu tượng, mơ hồ, khó xác định Mặt khác, cụm từ “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh” không có những căn cứ pháp lý hoặc cấu thành pháp lý cụ thể để xác định đặc điểm này Vì thế khó thuyết phục

khi áp dụng vào thực tiễn thương mại

o Đối với hành vi “xâm phạm bí mật kinh doanh” theo quy định của Luật Cạnh tranh năm

2004, trong đó “bí mật kinh doanh” theo định nghĩa của Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ được mô tả rất chi tiết, chặt chẽ và gần như không thể chứng minh được trong thực tiễn Trong khi đó, Cục QLCT nhận được nhiều phản ánh về các vụ việc trong đó đối thủ cạnh tranh thông qua người lao động của doanh nghiệp tiếp cận với thông tin bí mật của doanh nghiệp để trục lợi Tuy nhiên, các thông tin thuộc diện bí mật này (ví dụ như giá cả đầu vào, danh sách khách hàng ) không phải là “bí mật kinh doanh” theo Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ,

vì vậy cũng không có cơ sở để xử lý doanh nghiệp xâm phạm thông tin đó về hành vi xâm

phạm bí mật kinh doanh

Trang 11

vi cạnh tranh không lành mạnh hay hành vi thương mại không lành mạnh trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và cũng đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng chưa có quy định điều chỉnh Do đó, việc điều chỉnh các hành vi này là một nhu cầu thực tiễn của pháp luật Việt Nam

và có thể nghiên cứu đưa vào quy định tại Luật Cạnh tranh

+ Theo đó, quy định về hành vi CTKLM mới như sau:

o Lôi kéo khách hàng bất chính bằng các hình thức sau đây: a) Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ, khuyến mại, điều kiện giao dịch liên quan đến hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp nhằm thu hút khách hàng của doanh nghiệp khác; b) So sánh hàng hóa, dịch vụ của mình với hàng hóa, dịch vụ cùng loại của doanh nghiệp khác nhưng không chứng minh được nội dung

o Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành toàn bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó

+ LCT 2018 bổ sung những hành vi này là hợp lý: đây là những hành vi thể hiện rõ bản chất không lành mạnh trong cạnh tranh, đồng thời là những hành vi rất phổ biến mà các doanh nghiệp thường hay sử dụng để CTKLM10

khác “theo tiêu chí của Luật khác” Đó có thể kể đến cách quy định trong Luật SHTT, Luật Giá, Luật

Thương mại, Luật Quảng cáo…

+ Lưu ý: cần lý giải cho sinh viên đặc điểm này

10 Xem trình bày tại: Mục các hành vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể

Trang 12

6 Đánh giá về chế định

Cạnh tranh

Ngày 28 tháng 7 năm 2017, Bộ Tư pháp có Công văn số 201/BC-BTP về việc thẩm định Dự án

Luật Cạnh tranh (sửa đổi) Bộ Tư pháp đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo rà soát và nên đưa các hành

vi cạnh tranh không lành mạnh ra khỏi phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật để đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật Trong trường hợp vẫn giữ phạm vi điều chỉnh bao

gồm hành vi cạnh tranh không lành mạnh (như Luật cạnh tranh năm 2004), đề nghị cần làm rõ mối quan

hệ giữa Luật cạnh tranh với các Luật khác có quy định về cạnh tranh không lành mạnh; làm rõ, đầy đủ các hành vi cạnh tranh không lành mạnhvà xem xét lại cấu trúc của dự thảo Luật cho hợp lý, lô-gíc

Về vấn đề này, Bộ Công Thương tiếp thu và giải trình như sau: giữ nguyên hành vi cạnh tranh

không lành mạnh trong phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật bởi vì về bản chất, cạnh tranh không lành mạnh thể hiện sự cạnh tranh quá mức của doanh nghiệp, vượt khỏi các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng nói chung, qua đó tác động tới lợi ích công Đặc biệt trong trường hợp các hành vi cạnh tranh không lành mạnh do không được xử lý kịp thời đã trở nên phổ biến, gây thiệt hại cho môi trường cạnh tranh nói chung và đông đảo người tiêu dùng Mặc dù nhiều quốc gia sử dụng pháp luật dân sự để giải quyết các tranh chấp liên quan tới hành

vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng tại Việt Nam, do xuất hiện quá phổ biến trong thực tiễn kinh doanh của doanh nghiệp nên nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh vẫn được điều chỉnh tại các pháp luật chuyên ngành như sở hữu trí tuệ, quảng cáo, khuyến mại, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng

và Luật cạnh tranh Bởi vậy, cần thiết phải quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong dự thảo Luật

1.1.3 Đặc điểm hành vi CTKLM

Trang 13

1 - Về chủ thể: thực

hiện hành vi CTKLM là

doanh nghiệp

Chủ thể thực hiện hành vi CTKLM là tổ chức, cá nhân kinh doanh, bao gồm cả cá nhân có đăng ký

kinh doanh và cá nhân không có đăng ký kinh doanh (có thể gọi tắt là doanh nghiệp) Ở đây khái niệm DN được hiểu theo nghĩa rộng và trên phạm vi rộng lớn hơn, các quy định về CTKLM còn có thể áp dụng đối với hành vi của các chủ thể/ nhóm DN hoạt động có tổ chức [hiệp hội] và các cá nhân hành nghề tự

do [bác sĩ, luật sư, kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia…]11

+ Nói cách khác, chủ thể“doanh nghiệp” [DN] theo quy định của LCT 2018 là cách viết tắt, mang tính “quy ước”nên chỉ có ý nghĩa về mặt kỹ thuật soạn thảo, tạo sự thuận lợi nhất định cho việc trích dẫn về sau mà không bao hàm ý nghĩa đồng nhất với khái niệm DN trong LDN hiện hành của

Việt Nam [khái niệm DN trong LCT có nội hàm rộng hơn khái niệm “chuẩn” về DN trong LDN]

11 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb CAND, tr 295

Trang 14

Phân tích thêm:

+ Doanh nghiệp được đề cập trong LCT 2018 bao gồm 2 nhóm:

o Một là, tổ chức, cá nhân kinh doanh [doanh nghiệp] bao gồm: các loại hình DN theo quy

định của LDN; Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác theo quy định của LHX Cá nhân kinh doanh

[có đăng ký kinh doanh và không phải đăng ký kinh doanh] Ngoài ra, nội hàm “doanh nghiệp” theo LCT 2018 còn có: doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ

công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước

và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam [nhóm này được LCT 2018 kế thừa

từ LCT 2004]

o Hai là, đơn vị sự nghiệp công lập Mục tiêu của đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng

then chốt, cơ bản là thực hiện/phục vụ quản lý Nhà nước trong phạm vi, thẩm quyền của mình, việc quy định chủ thể này thuộc đối tượng điều chỉnh của LCT là cần thiết trong tình hình hiện nay bởi nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, việc cho rằng

“đơn vị sự nghiệp công lập” có phải là chủ thể của hành vi CTKLM trong mọi trường

hợp hay không thì cần được xem xét12 trong những trường hợp/hành vi nhất định

+ Trước đây, có chủ thể không phải là DN nhưng vẫn có thể tác động tới cạnh tranh và về bản

chất cũng không thể xem đây là hành vi cạnh tranh [tính ngoại lệ về chủ thể] Cụ thể, “đã có ít nhất một ngoại lệ của đặc điểm này Theo đó, chủ thể của hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội không phải là doanh nghiệp mà là hiệp hội ngành nghề, bao gồm hiệp hội ngành hàng và hiệp hội nghề nghiệp, là tổ chức xã hội – nghề nghiệp đại diện cho lợi ích của các thành viên Hành

vi phân biệt đối xử của hiệp hội cũng không phải là hành vi cạnh tranh mà chỉ là hành vi tác động tới cạnh tranh giữa các thành viên hiệp hội với nhau” 13

+ Đánh giá tổng quát: Theo Điều 2 Luật Cạnh tranh 2018 doanh nghiệp được hiểu là mọi tổ chức,

cá nhân kinh doanh, có nghĩa là bao gồm cả các chủ thể kinh doanh không đăng ký loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp ví dụ như quy định tại khoản 2 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối

và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập

Trang 15

12 Có quan điểm cho rằng, không thể nói đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh khi mà trên thực tế các chủ thể không ở trong vị thế “cạnh tranh” với nhau Cụ thể, chỉ có thể kết luận về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nếu các chủ thể có hành vi bị cấm đối với đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan, bao gồm thị trường sản phẩm liên quan và thị

trường địa lý liên quan (Điều 3 khoản 1 Luật cạnh tranh 2004 dựa trên nguyên tắc được pháp luật các nước thừa nhận rằng “Mọi thương nhân trung thực phải có nghĩa vụ thực hiện

các biện pháp cần thiết để cá biệt hoá sản phẩm của mình nhằm không gây nhầm lẫn với sản phẩm khác”

13 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 71

Trang 16

thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân

dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương”.

2 - Mục đích: nhằm

cạnh tranh trong kinh

doanh

+ Mục đích cạnh tranh trong kinh doanh suy cho cùng đối với mỗi chủ thể đó chính là lợi ích kinh

tế Lợi ích đó có thể biểu hiện ở dạng sản phẩm hữu hình [doanh số, thị phần, thị trường tăng lên] hoặc vô hình [uy tín] Và điều đó trước hết có nghĩa là doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh nhất định so với đối thủ cạnh tranh thông qua hành vi14

+ Trên thị trường, thông thường mỗi hành vi kinh doanh của DN này đều được xem là hành vi cạnh tranh trong tương quan với doanh nghiệp khác Để thu được lợi ích, DN đều phải cạnh tranh với các

DN khác, vì thế mọi hành động/cạnh tranh của DN đều có thể được xem là hợp pháp/ bất hợp pháp, lành mạnh/không lành mạnh

14 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 72

Trang 17

Phân tích thêm:

+ Hành vi CTKLM diễn ra phổ biến trong nền KTTT, nhận thức/tuân thủ pháp luật cũng như văn hoá kinh doanh cũng là yếu tố tác động đến tính lành mạnh hay không lành mạnh trong kinh doanh

+ Về nguyên tắc, cạnh tranh trong kinh doanh là quyền của DN, tuy nhiên bằng những hành vi

“không lành mạnh” để có được lợi ích trong kinh doanh là điều đạo đức và luật pháp không

khuyến khích [thậm chí là lên án hoặc cấm đoán]

+ Ví dụ, việc mạng di động Viettel đã tố giác mạng di động MobileFone về hành vi cạnh tranh không lành mạnh Trong đơn tố giác ngày 17/6/2009, mạng di động Viettel đã nêu rõ hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh của mạng MoblieFone tại địa bàn tỉnh Hải Dương Tại đây, MobiFone đã bán hàng lưu động với chương trình "Đổi sim mạng khác lấy sim MobiFone có 230.000 đồng trong tài khoản” Theo đó, khách hàng có sim của mạng khác (trong đó có Viettel), còn tài khoản dưới 15.000 đồng và còn hạn sử dụng, có thể đổi miễn phí lấy 1sim MobiZone của MobiFone có sẵn trong tài khoản 50.000 đồng, mỗi tháng tặng thêm 15.000 đồng [tặng trong 12 tháng] Như vậy, có thể thấy đây là hành vi khuyến mại trực tiếp gây ảnh hưởng đến đối thủ cạnh tranh của MobiFone

+ Lưu ý: khi xác định hành vi CTKLM, pháp luật cạnh tranh không yêu cầu xem xét đến vị trí của doanh nghiệp trên thị trường [thị phần, sứa mạnh thị trường của doanh nghiệp thực hiện hành vi] Đây chính là điểm khác biệt cơ bản giữa pháp luật chống hạn chế cạnh tranh và pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Tuy vậy, khi xử lý hành vi vi phạm, việc xem xét đến vị trí thị trường của doanh nghiệp để xác định mức độ ảnh hưởng của hành vi là cần thiết làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp xử lý phù hợp với tính chất, mức độ tác hại của hành vi15

+ Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh vừa có tính chất tranh chấp dân sự, vừa có tác động tới trật tự xã hội nói chung, từ đó, có thể được điều chỉnh bởi cả pháp luật về dân sự, hành chính, thậm chí hình sự

15 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 72

Trang 18

3 - Biểu hiện của hành

trong kinh doanh

Nguyên tắc thiện chí, trung thực và áp dụng tập thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh được hiểu như sau:

+ “Thiện chí, trung thực” là nguyên tắc cơ bản trong các quan hệ dân sự, DN luôn đề cao phương châm “buôn có bạn, bán có phường” muốn vậy các thương nhân phải có trách nhiệm với hành vi

của mình trong kinh doanh Trách nhiệm ấy có thể là với người tiêu dung/đối tác hoặc rộng hơn là

xã hội [biểu hiện của trách nhiệm là không làm phương hại đến các trật tự công, không làm phương hại đến lợi ích tư, nền tảng của trách nhiệm đó phải được xây dựng trên hành vi thiện chí/ý định tốt, trung thực/sự ngay thẳng, làm những hành vi được phép làm, không làm sai lệch sự thật và dám

nhận trách nhiệm] Vì thế, trái với nguyên tắc “thiện chí, trung thực” là hành vi không được tôn

trọng/khuyến khích thực hiện

+ “Trái với tập quán thương mại” là biểu hiện của hành vi CTKLM Tập quán thương mại là thói

quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại Tập quán thương mại là cụm từ được sử dụng trong giao thương [đặc

biệt là giao thương quốc tế], nó được xem như là “luật bất thành văn” của nhiều chủ thể vì thế các hành vi cạnh tranh trong kinh doanh “trái với tập quán thương mại” được xem là hành vi cạnh tranh

không lành mạnh

+ “Các chuẩn mực khác trong kinh doanh” là nội dung mới được quy định trong LCT 2018 Thực

tiễn kinh doanh, theo thời gian ngày càng có nhiều quy chuẩn, chuẩn mực được đề cao và được xem

là cách hành động “văn minh” của doanh nghiệp, các chuẩn mực này có thể là về kế toán, về thiết

kế, về thi công xây dựng, về vận tải hàng hoá hoặc là chuẩn mực đạo đức xã hội khác…

Với tính chất đó, hành vi CTKLM là hành vi có tính chất đối lập, đi ngược lại với thông điệp tốt, các đạo đức, tập quán kinh doanh Đặc điểm này phần nào thể hiện nguồn gốc tập quán pháp của pháp luật về CTKLM, bởi các quy định về CTKLM thường được hình thành và hoàn thiện qua bề dày thực tiễn kinh tế xã hội, không thể một sớm một chiều có thể có được

Quan niệm về thiện chí, trung thực, tập quán được đề cập trong định nghĩa hành vi CTKLM là những quy định mang tính “định tính” [tiêu chí “định tính” này lại phụ thuộc vào

Trang 19

hoàn cảnh, lịch sử xã hội] vì thế“có thể có hành vi hôm nay được xem là cạnh tranh không lành mạnh, nhưng một thời gian sau lại có thể được chấp thuận, và ngược lại” 16

Phân tích thêm:

Dưới góc độ kinh tế, tính chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi chiếm đoạt

ưu thế cạnh tranh/hoặc huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp

và đó là căn nguyên hình thành một ưu thế cạnh tranh “giả tạo” Chính vì vậy, pháp luật cần phải

ngăn chặn hành vi này khi nó gây thiệt hại/có khả năng gây thiệt hại đến doanh nghiệp khác Các hành vi này trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh Biểu hiện của các hành vi CTKLM có thể chia làm 3 nhóm17:

o Các hành vi mang tính chất trục lợi, lợi dụng;

o Các hành vi mang tính chất công kích;

o Các hành vi lừa dối, lôi kéo khách hàng

16Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 73.

17 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb CAND, tr 299

Trang 20

4 - Về hậu quả của hành

định này được hiểu: thiệt hại có thể là thực tế/giả định ảnh hưởng đến “quyền, lợi ích hợp pháp”

của DN khác

+ Bên cạnh đối thủ cạnh tranh bị ảnh hưởng trực tiếp, trong một số trường hợp hành vi CTKLM còn có thể ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh không có quan

hệ trực tiếp Và trong một số khác, khi xác định chủ thể kinh doanh bị xâm phạm không nhất thiết

chủ thể đó phải bị “chỉ mặt, đặt tên” mà chỉ thông qua hành vi cạnh tranh có thể khoanh vùng

được [xác định được] một hay một nhóm nhất định chủ thể bị xâm phạm18 + So sánh với pháp luật của các nước châu Âu (Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha) vv… thì cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cụ thể của một chủ thể vô tình hay cố ý đã gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh Như vậy dấu hiệu cạnh tranh không lành mạnh bắt buộc phải có yếu tố thiệt hại xảy ra và ngay cả khi đối thủ cạnh tranh không chứng minh được thiệt hại xảy ra trước tòa án thì tòa án có quyền bác đơn kiện về hành

vi cạnh tranh không lành mạnh Pháp luật châu Âu đưa ra một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh sau đây:

Thâu tóm khách hàng: Đó là hành vi tác động lên khách hàng và bạn hàng, lôi kéo họ về phía mình, bỏ mặc đối thủ cạnh tranh

Ngăn cản: Trực tiếp hay gián tiếp cách ly, ngăn chặn thông tin liên lạc giữa khách hàng với đối thủ cạnh tranh

Bóc lột: Hành vi này khác với sự bóc lột trong khái niệm thông thường mà lợi dụng những ưu thế của đối thủ cạnh tranh để sử dụng với lợi ích cho mình Ví dụ: Đưa ra những sản phẩm là hàng nhái, tương

tự hàng thật của đối thủ cạnh tranh

Vi phạm pháp luật: Đó là những hành vi vi phạm pháp luật hành chính, luật dân sự, luật hình sự gây thiệt hại cho đối thủ cạnh tranh

Gây rối thị trường: Hành vi này không nhằm tới một đối thủ cạnh tranh cụ thể mà gây rối chung trên thị trường để đục nước béo cò

Trang 21

18 Hoàng Minh Chiến (2016), Quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo LCT và một số bất cập, Tạp chí Luật học số 8/2016, tr 32

Trang 22

Trong luật lệ của các nước EU thì cạnh tranh không lành mạnh lại được định nghĩa bằng lời văn khá

mỹ miều: Bất cứ hành vi cạnh tranh nào đi ngược lại các hành động trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh Luật EU chỉ ra ba nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

- Các hành vi gây rối (lộn xộn)

- Các hành vi bôi nhọ, nói xấu

- Các luận điệu lừa dối Như vậy, trong luật EU, luật cạnh tranh chỉ quan tâm đến dấu hiệu hành vi mà không quan tâm đến dấu hiệu

về mặt thiệt hại vật chất do hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra, điều đó làm cho khả năng khởi kiện về một đối thủ cạnh tranh không lành mạnh là rất cao và rất nhanh 19

19 Tham khảo: https://gec.edu.vn/tong-hop/binh-luan-luat-canh-tranh.html Truy cập: 10/4/2020

Trang 23

có thể khi đó doanh nghiệp bị thiệt hại đã “đóng cửa” cơ sở kinh doanh

o Hai là, khách thể chịu tác động bởi hành vi CTKLM là quyền và lợi ích của doanh nghiệp khác Lợi ích của doanh nghiệp khác 20 trước hết là lợi ích của các doanh nghiệp cạnh tranh với doanh nghiệp thực hiện hành vi Tuy nhiên, lợi ích của doanh nghiệp khác cũng còn có thể

là lợi ích của doanh nghiệp không cạnh tranh với doanh nghiệp thực hiện hành vi nhưng phải gánh chịu thiệt hại hoặc có thể bị thiệt hại bởi hành vi đó Doanh nghiệp không cạnh tranh với doanh nghiệp thực hiện hành vi nhưng chịu sự tác động của hành vi đó có thể bao gồm các doanh nghiệp cung ứng hàng hóa, dịch vụ, doanh nghiệp mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp cạnh tranh hoặc bất kỳ doanh nghiệp nào khác 21

+ Đặc điểm [hậu quả] của hành vi CTKLM có thể giúp chúng ta phân biệt được dưới góc độ lý thuyết với hành vi hạn chế cạnh tranh Đối với hành vi hạn chế cạnh tranh không cần phải xác định chính xác đối tượng và mức độ thiệt hại vật chất cụ thể mà pháp luật chỉ cần phân tích bản chất và diễn biến của hành vi để kết luận về những tác động của nó đến tình hình cạnh tranh hiện tại hoặc tương lai trên thị trường liên quan22

1.2 Phương thức chống hành vi CTKLM 23

1.2.1 Quy định hành vi CTKLM

20 Các lợi ích của Nhà nước và của người tiêu dùng được quy định trong LCT 2004 nhưng không còn được quy định trong LCT 2018 (xem lý giải phần 1.1.1 Chương II)

21 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 74

22 Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc, Nguyễn Ngọc Sơn (2006), Pháp luật cạnh tranh tại Việt Nam, Nxb Tư pháp, tr.130

23 Đặc thù của pháp luật cạnh tranh là tiếp cận ở mặt trái của vấn đề (mặt trái của cạnh tranh) vì thế với chức năng kinh tế của mình Nhà nước chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trước hết thông qua công cụ pháp luật Bằng pháp luật, Nhà nước quy định các hành vi nào được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, quy định hậu quả pháp lý của các hành vi đó cũng như quy định việc xử lý chúng

Trang 25

Cách tiếp cận về CTKLM: quy định tính

chất và biểu hiện của

hành vi cạnh tranh

+ Pháp luật cạnh tranh Việt Nam quy định về hành vi CTKLM thông qua mô tả hành vi: “là hành

vi của doanh nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác”

+ Liệt kê từng trường hợp cụ thể tại Điều 45LCT 2018 Ví dụ hành vi:

o Ép buộc khách hàng, đối tác kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng hành vi đe dọa hoặc cưỡng ép để buộc họ không giao dịch hoặc ngừng giao dịch với doanh nghiệp đó; Cung cấp thông tin không trung thực về doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp đưa thông tin không trung thực về doanh nghiệp gây ảnh hưởng xấu đến uy tín, tình trạng tài chính hoặc hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó; Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp cản trở, làm gián đoạn hoạt động kinh doanh hợp pháp của doanh nghiệp đó; Lôi kéo khách hàng bất chính…

Quy định về hành vi CTKLM được quy định trong luật khác như: LTM, LQC, LG, LSTTT…

Trang 26

ta nhấn mạnh đến tính “không trung thực” của hành vi [không đẹp/không phù hợp với đạo đức, văn

hoá kinh doanh] Đây là tiêu chí định tính và có thể thay đổi/khác biệt giữa các quốc gia [phụ thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, quan niệm, tập quán của mỗi nơi] Ví dụ, tại Bỉ và Luxembourg tiêu

chí đó là “thông lệ thương mại trung thực”; tại Tây Ban Nha và Thuỵ Sĩ là “nguyên tắc ngay tình”; tại Italia là “tính chuyên nghiệp đúng đắn”; tại Đức, Hy Lạp và Ba Lan là “đạo đức kinh doanh” 25

+ Cách tiếp cận về hành vi CTKLM trong LCT 2004 của Việt Nam là có nét tương đồng so với Công ước Paris (được xem là một nguồn của chế định CTKLM) nhưng cách sử dụng cụm từ có vẻ

còn mơ hồ khi mô tả “trái với chuẩn mực thông thường” Trong khi đó, LCT 2018 đã có cách tiếp cận cơ bản giống với Công ước Paris khi sử dụng cụm từ “trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực”, thậm chí còn mở rộng hơn khi đề cập đến “…tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh”

+ LCT 2004 định nghĩa hành vi CTKLM một cách khái quát nhất, đồng thời quy định một số hành

vi cạnh tranh không lành mạnh cụ thể để nhận diện Cách tiếp cận này để định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh giúp pháp luật có khả năng phản ứng kịp thời trước “các thủ đoạn mới” đã

không ngừng được “nâng cấp”,“sáng tạo” trong cạnh tranh Đây cũng là cách thức được áp dụng

phổ biến trong pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của nhiều quốc gia phát triển, theo đó luật định nghĩa hành vi cạnh tranh không lành mạnh bằng các tiêu chí khái quát nhất và cấm tất cả các hành vi đáp ứng các tiêu chí như vậy Mặc dù pháp luật cũng đồng thời quy định một số hành

vi CTKLM cụ thể, nhưng chỉ với tính chất ví dụ Cơ quan xử lý vụ việc cạnh tranh [có thể là cơ quan hành chính hoặc tòa án] có thể xử lý bất kỳ hành vi nào thể hiện các tiêu chí hàm chứa trong định nghĩa về hành vi cạnh tranh không lành mạnh26

24 Bộ Công thương (2017), Kết quả 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh của Việt Nam, Nxb Công thương, tr,306

Trang 27

25 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb CAND, tr 290

26 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 77

Trang 28

+ Cách tiếp cận về hành vi CTKLM và các hành vi thoả thuận HCCT và TTKT cũng có những khác biệt nhất định Pháp luật điều chỉnh hành vi CTKLM tư duy theo Luật tư (nghĩa là chỉ điều chỉnh mối quan hệ giữa cá nhân, tổ chức- cá nhân, tổ chức cụ thể, Nhà nước không có trách nhiệm chủ động đứng ra bảo vệ quyền lợi cho một cá nhân, tổ chức cụ thể nào và để bảo vệ quyền lợi của mình cá nhân, tổ chức bị xâm hại phải tự lên tiếng để Nhà nước xem xét) Trong khi đó, pháp luật điều chỉnh hành vi HCCT và TTKT tư duy theo Luật công (nghĩa là điều chỉnh mối quan hệ Nhà nước/đại diện chủ thể bị xâm hại - doanh nghiệp/có hành vi xâm hại môi trường cạnh tranh chung) Trong trường hợp này, Nhà nước phải chủ động đứng ra phát hiện và xử lý vi phạm Chính vì vậy,

để đảm bảo thống nhất mục tiêu của pháp luật cạnh tranh, đặc biệt là quy định điều chỉnh hành vi HCCT (bảo vệ cạnh tranh chứ không bảo vệ một doanh nghiệp đơn lẻ nào)27

+ Châu Âu là nơi khởi đầu của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh, và cũng là nơi có cách tiếp cận khác biệt Ba trung tâm kinh tế lớn của châu Âu [Pháp, Đức và Anh] có những cách điều chỉnh cạnh tranh không lành mạnh riêng, trong đó hệ thống của Pháp lại có nhiều điểm gần với Anh hơn là Đức Pháp và Anh đều điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên cơ sở các nguyên tắc chung về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (tort law) và cụ thể hoá thông qua các

án lệ Một số nước khác cũng xây dựng pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh theo hướng này

là Hà Lan và Italia Tại các quốc gia này, toà án có vai trò rất lớn trong việc đánh giá hành vi cạnh

tranh không lành mạnh và quyết định biện pháp xử lý, với chế tài chủ yếu là bồi thường thiệt hại

+ Mặt khác, trong nhiều năm gần đây, đã có những nỗ lực để thống nhất các quy định về cạnh tranh không lành mạnh giữa các nước thành viên EU trong khuôn khổ chương trình hài hoà hoá pháp luật chung (legal harmonisation) của Cộng đồng châu Âu Dựa trên Công ước Paris về Bảo hộ Sở hữu Công nghiệp, các quốc gia châu Âu đã phát triển các quy định chung theo nhiều hình thức, cấp độ,

từ các nguyên tắc cơ bản về cạnh tranh tại Hiệp ước Rome 1957 đến những thoả thuận nhóm như Luật Nhãn hiệu chung của khối Benelux 1971 và những hướng dẫn chung từ EC đến các nước thành viên như Chỉ thị số 2005/29/EC Mặc dù vậy, tính đến sự khác biệt còn tồn tại giữa hệ thống pháp luật của các quốc gia thành viên, EU vẫn phải bổ sung một số nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật, trong đó đặc biệt quan trọng là nguyên tắc nước xuất xứ tại Điều 28 của Hiệp ước châu Âu,

Trang 29

27 Bộ Công thương (2017), Kết quả 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh của Việt Nam, Nxb Công thương, tr 306

Trang 30

theo đó pháp luật của quốc gia nhập khẩu được ưu tiên áp dụng để đánh giá tính hợp pháp trong việc kinh doanh một loại hàng hoá nhất định28

1.2.2 Quy định hậu quả pháp lý

28 Bộ Công thương (2017), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế, so sánh pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định

trong Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam, tr 110

Trang 31

Hậu quả pháp lý của

o Người bị thiệt hại bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh [doanh nghiệp khác]

có thể khởi kiện theo quy định của BLTTDS yêu cầu doanh nghiệp vi phạm pháp luật về chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh bồi thường thiệt hại theo quy định về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

+ Việc tăng mức phạt từ 200 triệu [trong LCT 2004] lên 2 tỷ đồng của LCT 2018 là một sự thay đổi lớn, vì thế doanh nghiệp khi tham gia các hoạt động kinh doanh cần lưu ý để không bị xử phạt về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

+ Hậu quả pháp lý là kết quả tất yếu mà cá nhân, tổ chức phải chịu trách nhiệm khi vi phạm Theo đó, Điều 110 LCT 2018 quy định nguyên tắc xử lý vi phạm, hình thức xử lý vi phạm và biện pháp khắc

phục hậu quả vi phạm pháp luật về cạnh tranh theo đó: “1 Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật

2 Đối với mỗi hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính sau đây: a) Cảnh cáo; b) Phạt tiền 3 Tùy theo tính chất, mức độ

vi phạm, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc một số hình thức xử phạt bổ sung 4 Ngoài các hình thức xử phạt theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về cạnh tranh còn có thể bị áp dụng một hoặc một số biện pháp khắc phục hậu quả”

+ Điều tra vụ việc cạnh tranh: Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều

tra vụ việc cạnh tranh trong các trường hợp Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia phát hiện hành vi có dấu

hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm

pháp luật về cạnh tranh được thực hiện30 Quy định về thời hiệu khiếu nại này có ý nghĩa tương tự

Trang 32

29 Xem khoản 3, khoản 5 Điều 111 LCT 2018

30 Xem Điều 80 LCT 2018, về thời hiệu trước đây trong LCT 2004 giới hạn là 2 năm

Trang 33

như quy định về thời hiệu khởi kiện trong pháp luật dân sự hay tố tụng dân sự Theo đó, chủ thể có quyền khiếu nại nếu muốn khiếu nại thì cần phải thực hiện quyền này trong một thời gian nhất định

kể từ thời điểm phát sinh quyền khiếu nại Mục đích của quy định này một mặt giúp cho việc giải quyết khiếu nại được thuận lợi do việc thu thập bằng chứng và chứng minh trong thời gian càng gần với thời gian xảy ra hành vi bị khiếu nại thì càng dễ dàng hơn, mặt khác việc khiếu nại hành vi vi phạm trong thời hạn đó có tác dụng bảo vệ môi trường cạnh tranh lành mạnh một cách hiệu quả hơn31

1.2.3 Cơ chế thực thi pháp luật

31 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 78

Trang 34

Uỷ ban cạnh tranh quốc gia có quyền:

“Tiến hành tố tụng cạnh tranh; kiểm soát

tập trung kinh tế; quyết

định việc miễn trừ đối

với thỏa thuận hạn chế

cạnh tranh bị cấm; giải

quyết khiếu nại quyết

định xử lý vụ việc cạnh

tranh và các nhiệm vụ

khác theo quy định của

Luật này và quy định

của luật khác có liên

quan 32

+ Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia là cơ quan thuộc Bộ Công thương có vai trò xử lý vụ việc cạnh tranh Cơ quan này thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn điều tra không chỉ trên cơ sở khiếu nại của các chủ thể cho rằng mình bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm hại mà ngay cả khi vụ việc do

Uỷ ban tự khởi xướng khi tự phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh

+ Nếu phân tích kỹ, sự thú vị của pháp luật nói chung và pháp luật cạnh tranh nói riêng là nó không chỉ được thực thi áp dụng bởi chủ thể “có thẩm quyền” mà bản thân các quy phạm pháp còn có tác động tới nhận thức của doanh nghiệp, thông qua đó doanh nghiệp nhận biết giới hạn của tự do cạnh tranh Như vậy pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh cũng được thực thi khi doanh nghiệp không thực hiện các hành vi bị cấm33

+ Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở việc áp dụng chế tài có thể gây nên sự quá tải đối với cơ quan quản

lý cạnh tranh Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, một cơ chế hòa giải có thể giúp các khiếu nại về hành vi cạnh tranh không lành mạnh được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả hơn và đồng thời góp

phần giảm tải cho cơ quan quản lý cạnh tranh Ví dụ ở Đức, mặc dù thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về hệ thống tòa án dân sự (nghĩa là có rất nhiều tòa án có thẩm quyền thay vì chỉ có một cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền như ở Việt Nam), Luật chống cạnh tranh không lành mạnh của Đức vẫn quy định việc các chính phủ tiểu bang thiết lập ủy ban hòa giải bên cạnh tranh các phòng thương mại và công nghiệp nhằm hòa giải các tranh chấp loại này Một ủy ban hòa giải như vậy sẽ có thẩm quyền hòa giải nếu một bên tranh chấp yêu cầu và bên kia đồng ý tiến hành hòa giải Ủy ban hòa giải có nhiệm vụ cố gắng đạt được sự hòa giải giữa các bên Trường hợp hòa giải không thành, một bên có quyền khởi kiện tòa án 34

II CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH CỤ THỂ

2.1 Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh

Trang 35

32 Khoản 2 Điều 46 LCT 2018

33 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 78

34 Dẫn lại: Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 79, 80

Trang 36

2.1.1 Khái niệm

quy định về hành vi

“Xâm phạm thông tin bí

mật trong kinh doanh”

thông tin bí mật trong

kinh doanh mà không

được phép của chủ sở

hữu thông tin đó

+ Quy định này cho thấy: Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh là hành vi mang bản chất của hành vi CTKLM Chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh luôn thực hiện một cách cố ý nhằm mục đích trục lợi trên thành quả đầu tư của doanh nghiệp khác 35

+ Xâm phạm thông tin bí mật trong kinh doanh [TTBMKD] là cụm từ mới được sử dụng trong

LCT 2018 Dựa vào bản chất cho thấy:

o Đây là hành vi cạnh tranh không lành mạnh của DN đã cố ý nhằm mục đích tiếp cận, thu thập, sử dụng hoặc trục lợi thông tin “nội bộ” của DN khác

o Thông tin bí mật trong kinh doanh (TTBMKD) được hiểu là thông tin của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh và được DN bảo mật bằng các biện pháp nhất định

o Đây là thông tin mang tính “nội bộ” trong kinh doanh của DN đó có thể là: các công thức

bí mật, quy trình và phương pháp được sử dụng trong sản xuất, kế hoạch kinh doanh /tiếp thị của công ty, cơ cấu tiền lương, danh sách khách hàng, hợp đồng/chi tiết về hệ thống máy tính của công ty…Trong một số trường hợp, kiến thức và kỹ năng đặc biệt mà nhân viên đã học/được đào tạo trong công việc thì cũng được coi là thông tin nội bộ/độc quyền của DN

35 Bộ Công thương (2017), Bản thuyết minh chi tiết Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi), tr 31

Trang 37

Phân tích thêm:

+ Về tên gọi trên thế giới có nhiều tên gọi khác nhau Ví dụ, tại Mỹ, với tên gọi là bí mật thương

mại (trade secret), pháp luật đã có sự lý giải khá đầy đủ và chi tiết về đối tượng này, cụ thể: “bí mật thương mại gồm công thức, mẫu hình, sưu tập các thông tin, chương trình, phương sách, biện pháp, công nghệ hoặc quy trình”36

+ Điểm khác biệt, LCT 2018 đã không còn sử dụng cụm từ bí mật kinh doanh (BMKD) như trong LCT 2004 Nếu so sánh chúng ta thấy đối tượng thông tin được bảo vệ trong LCT 2018 là rộng lớn hơn nhưng biểu hiện hành vi lại được tiếp cận hẹp hơn so với LCT 2004 Cụ thể:

o Về đối tượng thông tin được bảo vệ: là “thông tin bí mật trong kinh doanh” Với quy định này, bên khiếu nại không cần phải chứng minh thông tin bị xâm phạm của mình là một “bí mật kinh doanh” bởi để được gọi là bí mật kinh doanh 37 chủ thể phải trải qua quá trình khắt khe nhất định và khi bị vi phạm lại rất khó để chứng minh và bảo vệ cho mình Theo quy định này, chủ sở hữu chỉ cần chứng minh đó là một thông tin bí mật trong hoạt động kinh doanh của mình, đã hoặc đang bị tiếp cận, xâm phạm một cách “trái chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh”

+ Có thể nói, hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh tại Luật Cạnh tranh có cách tiếp cận khác Luật Sở

hữu trí tuệ Nếu như Luật Sở hữu trí tuệ 38 chỉ thường tập trung vào các bí mật kinh doanh mang tính chất bí quyết công nghệ thì Luật này nhắm vào các hành vi xâm phạm thông tin bí mật kinh doanh có biểu hiện đa dạng, phức tạp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Theo đó, quy định về hành vi “xâm

phạm thông tin bí mật trong kinh doanh” quy định trong LCT 2018 chỉ tập trung vào hành vi của doanh

nghiệp trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh

doanh mà có bản chất cạnh tranh không lành mạnh, bao gồm hành vi “tiếp cận, thu thập” và hành vi “tiết

lộ, sử dụng” thông tin bí mật trong kinh doanh của đối thủ cạnh tranh nhằm CTKLM chứ không phải hướng đến xử lý tất cả các chủ thể liên quan đến việc xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh như trong Luật

sở hữu trí tuệ 2005 39

+ Hành vi tiếp cận, thu thập thông tin loại này không đòi hỏi người vi phạm lấy đi phương tiện chứa thông tin đó, mà chỉ cần có sự sao chép hoặc thậm chí chỉ đọc thông tin đó mà thôi Hành vi

vi phạm được xem là đã thực hiện khi người vi phạm tiếp cận, thu thập được thông tin Không thể

Trang 38

36 Dẫn lại: Lê Nhật Bảo (2019), Những điểm mới của LCT 2018 về đối tượng thông tin bí mật trong kinh doanh được bảo hộ, Kỷ yếu Hội thảo những điểm mới của LCT 2018 và góp

ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT 2018 – Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 41

37 Bí mật KD phải đáp ứng 3 điều kiện: Không phải là hiểu biết thông thường; Khi sử dụng trong kinh doanh tạo cho người nắm giữ thông tin có lợi thế so với người không nắm giữ

hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;Được chủ thông tin bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để thông tin đó không bị tiết lộ và không dễ dàng tiếp cận được

38 Khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định: “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh” Sau

đó, tại Điều 84 của Luật Sở hữu trí tuệ 2005 quy định 03 điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ với các nội dung tương tự như các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 10 Luật Cạnh tranh

2004

39 Điều 127 Luật SHTT năm 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2009

Hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh

1 Các hành vi sau đây bị coi là xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh:

a) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh đó;

b) Bộc lộ, sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó;

c) Vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu thập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh;

d) Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền;

đ) Sử dụng, bộc lộ bí mật kinh doanh dù đã biết hoặc có nghĩa vụ phải biết bí mật kinh doanh đó do người khác thu được có liên quan đến một trong các hành vi quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này;

e) Không thực hiện nghĩa vụ bảo mật quy định tại Điều 128 của Luật này

2 Người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm chủ sở hữu bí mật kinh doanh, người được chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng bí mật kinh doanh, người quản

lý bí mật kinh doanh

Trang 39

áp dụng quy định về “tội phạm chưa đạt” để coi là người có hành vi chống lại biện pháp bảo mật đã thực hiện hành vi này khi người đó chưa tiếp cận, thu thập được thông tin40

+ Thực tiễn với nhu cầu bảo mật và an toàn cho DN, một số ngành đã ký yêu cầu một số hành vi

nhất định đối với người lao động trong hợp đồng Ví dụ: trong phán quyết Toà án có nêu 41 : “Buộc ông Ramachandran Mohan Ram phải tuân thủ điều khoản cạnh tranh theo khoản 2 Điều 3 của hợp đồng lao động đã ký với Công ty TNHH Saitex International Việt Nam không được làm việc trực tiếp hay gián tiếp cho bất kỳ Công ty hoặc cá nhân nào là đối thủ cạnh tranh của Công ty TNHH Saitex International Việt Nam cho đến hết ngày 13/5/2011 trừ khi được sự chấp thuận bằng văn bản của Công ty TNHH Saitex International Việt Nam”

+ Tham khảo pháp luật cạnh tranh Đài Loan chúng ta thấy quy định tương tự về hành vi này Cụ thể, Điều 19 Luật Thương mại lành mạnh Đài Loan quy định42: “Doanh nghiệp không được có một trong các hành vi sau đây có thể gây cản trở cạnh tranh hay hạn chế cạnh tranh lành mạnh: … 5 Dành được bí mật sản xuất và kinh doanh, thông tin liên quan đến đối tác thương mại hay công nghệ khác liên quan đến bí mật của doanh nghiệp khác bằng việc ép buộc, hối lộ, hay bằng bất kì phương thức bất hợp lí nào khác”

40 Xem thêm: Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 90

41 Bản án số 09/2010/LĐ-ST ngày 10/12/2010 của TAND huyện Đức Hoà, tỉnh Long An

42 Bộ Công thương (2017), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế, so sánh pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định

trong Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam, tr 100

Trang 40

2 Biểu hiện của hành

bảo mật của người sở

hữu thông tin đó;

− Tiết lộ 43 , sử dụng

thông tin bí mật trong

kinh doanh mà không

được phép của chủ sở

hữu thông tin đó

+ Về nguyên tắc, thông tin bí mật trong kinh doanh là những “thông tin riêng” của chủ sở hữu và

họ hoàn toàn có thể “chia sẻ” với các chủ thể khác theo những điều kiện khác nhau [nếu họ muốn] Mọi hành vi tiết lộ, sử dụng khi chưa được sự đồng ý của chủ sở hữu thì đều là hành vi vi phạm pháp

luật Trong Luật Tiếp cận thông tin 2016 cũng quy định “thông tin liên quan đến bí mật kinh doanh được tiếp cận trong trường hợp chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó đồng ý” là thông tin công dân được

tiếp cận có điều kiện

+ Biện pháp bảo mật có thể là việc cất giữ tài liệu trong tủ có khóa, và biện pháp chống lại biện pháp bảo mật có thể là việc bẻ khóa hoặc sử dụng chìa khóa ăn cắp trước đó Biện pháp bảo mật có thể là các biện pháp công nghệ tin học bảo đảm an toàn dữ liệu, và hành vi chống lại biện pháp đó

là việc sử dụng các công nghệ “tin tặc” để ăn cắp dữ liệu44 + Tiếp cận, thu thập thông tin bí mật trong kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật

của người sở hữu thông tin đó là hành vi của chủ thể vi phạm đã cố ý đột nhập bằng cách “vô hiệu hoá” lớp bảo vệ được chủ sở hữu tạo ra đọc, xem, nghe, ghi chép, sao chép, chụp thông tin bí mật

trong kinh doanh

+ Các thông tin bị tiếp cận, thu thập trong kinh doanh rất đa dạng như: hình vẽ/phác thảo kỹ thuật, thông số kỹ thuật chế tạo, công thức nấu ăn độc quyền, công thức tính toán, nội dung của sổ ghi chép trong phòng thí nghiệm, cơ cấu tiền lương của công ty, giá sản phẩm/mức chi cho hoạt động

quảng cáo

2.1.2 Đặc điểm

43 Theo Từ điển tiếng Việt, “tiết lộ” được diễn giải là để cho người khác biết một việc phải giữ kín Để thực hiện hành vi, doanh nghiệp vi phạm đang có được, biết được bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác Việc doanh nghiệp có được bí mật kinh doanh là hợp pháp, có nghĩa vụ phải bảo mật thông tin đó (ví dụ đã ký kết hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu…) Biểu hiện của hành vi doanh nghiệp đã để cho người khác biết các thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác trong các tình huống như không được phép của chủ sở hữu; vi phạm hợp đồng bảo mật với chủ sở hữu của bí mật kinh doanh hoặc lừa gạt, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật Theo LCT cho dù với động cơ và mục đích gì, hành vi tiết lộ bí mật kinh doanh chỉ cần có đủ hai tình huống trên sẽ bị coi là cạnh tranh không lành mạnh

44 Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại, Nxb Hồng Đức, tr 89

Ngày đăng: 14/12/2021, 19:14

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
24. Đại học Quốc gia Hà Nội (2009), Giáo trình Kinh tế vi mô, NXB. Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế vi mô
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 2009
25. Bộ Thương mại (2004), Luật Cạnh tranh Canada và Bình luận, Nxb. GTVT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cạnh tranh Canada và Bình luận
Tác giả: Bộ Thương mại
Nhà XB: Nxb. GTVT
Năm: 2004
26. Bộ Công Thương, Tổ công tác tổng kết 5 năm Luật Cạnh tranh, “Báo cáo tổng hợp đánh giá, tổng kết 5 năm thực thi pháp luật cạnh tranh”, tháng 11/2011, trang 223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng hợp đánh giá, tổng kết 5 năm thực thi pháp luật cạnh tranh”
27. Bộ Công thương (2017), Báo cáo kinh nghiệm quốc tế, so sánh pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam, tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kinh nghiệm quốc tế, so sánh pháp luật cạnh tranh một số nước trên thế giới: Bài học kinh nghiệm và đề xuất một số nội dung cơ bản quy định trong Dự thảo Luật Cạnh tranh (sửa đổi) của Việt Nam
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2017
29. Bộ Công thương (2017), Kết quả 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh của Việt Nam, Nxb. Công thương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả 10 năm thực thi Luật Cạnh tranh của Việt Nam
Tác giả: Bộ Công thương
Nhà XB: Nxb. Công thương
Năm: 2017
30. Bộ Công thương (2017), Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh, ngày 01/7/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh
Tác giả: Bộ Công thương
Năm: 2017
31. Bộ Thương mại, Nội dung chính và những vấn đề cần xin ý kiến đối với dự thảo Luật Cạnh tranh (Tài liệu xin ý kiến doanh nghiệp), ngày 20 tháng 4 năm 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nội dung chính và những vấn đề cần xin ý kiến đối với dự thảo Luật Cạnh tranh (Tài liệu xin ý kiến doanh nghiệp)
32. Cục Quản lý Cạnh tranh (2005), Thực thi Luật Thương mại lành mạnh ở Đài Loan, Các vụ điển hình (quyển 1), Nxb. CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi Luật Thương mại lành mạnh ở Đài Loan
Tác giả: Cục Quản lý Cạnh tranh
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2005
33. Cục Quản lý Cạnh tranh (2005), Thực thi Luật Thương mại lành mạnh ở Đài Loan, Các vụ điển hình (quyển 2), Nxb. CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực thi Luật Thương mại lành mạnh ở Đài Loan, Các vụ điển hình
Tác giả: Cục Quản lý Cạnh tranh
Nhà XB: Nxb. CTQG
Năm: 2005
36. Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright (2004), Luật Cạnh tranh 2004 - Thông tin tóm lược từ báo chí phục vụ mục đích nghiên cứu, Phạm Duy Nghĩa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Cạnh tranh 2004 - Thông tin tóm lược từ báo chí phục vụ mục đích nghiên cứu
Tác giả: Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Năm: 2004
37. Nguyễn Văn Cương (2006), Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về luật cạnh tranh của Việt Nam, NXB Tư pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chí đánh giá tính cạnh tranh bất hợp pháp của một số nước và một số bình luận về luật cạnh tranh của Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Cương
Nhà XB: NXB Tư pháp
Năm: 2006
38. Phan Huy Hồng (2007), Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh tranh – Một nghiên cứu so sánh luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quảng cáo so sánh trong pháp luật cạnh tranh – Một nghiên cứu so sánh luật
Tác giả: Phan Huy Hồng
Năm: 2007
39. Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh tại Việt Nam
Tác giả: Đặng Vũ Huân
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2004
41. Lê Hoàng Oanh (2005), Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh, Nxb CTQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Luật Cạnh tranh
Tác giả: Lê Hoàng Oanh
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
43. Nguyễn Thanh Tú (2010), Pháp luật cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPS – Kinh nghiệm cho Việt Nam, NXB. Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật cạnh tranh, chuyển giao công nghệ và Hiệp định TRIPS – Kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Tú
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
44. Từ Thanh Thảo (2019), LCT 2018 những điểm tiến bộ và hạn chế, Kỷ yếu Hội thảo những điểm mới của LCT 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT 2018– Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: LCT 2018 những điểm tiến bộ và hạn chế
Tác giả: Từ Thanh Thảo
Năm: 2019
45. Lê Nhật Bảo (2019), Những điểm mới của LCT 2018 về đối tượng thông tin bí mật trong kinh doanh được bảo hộ, Kỷ yếu Hội thảo những điểm mới của LCT 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT 2018 – Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới của LCT 2018 về đối tượng thông tin bí mật trong kinh doanh được bảo hộ, Kỷ yếu Hội thảo những điểm mới của LCT 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT 2018
Tác giả: Lê Nhật Bảo
Năm: 2019
46. Đặng Quốc Chương (2019), Một số luận giải về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính trong LCT 2018, Kỷ yếu Hội thảo những điểm mới của LCT 2018 và góp ý cho dự thảo Nghị định hướng dẫn LCT 2018, Khoa Luật Thương mại, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số luận giải về hành vi lôi kéo khách hàng bất chính trong LCT 2018
Tác giả: Đặng Quốc Chương
Năm: 2019
47. Phùng Văn Thành (2014), Chính sách và pháp luật cạnh tranh trong Asean, Bản tin Cạnh tranh và Người tiêu dùng (Cục QLCT), số 45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và pháp luật cạnh tranh trong Asean
Tác giả: Phùng Văn Thành
Năm: 2014
48. Phùng Văn Thành (2014), Toàn cầu hóa kinh tế và những vấn đề liên quan tới chính sách và pháp luật cạnh tranh (http://www/vca.gov.vn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa kinh tế và những vấn đề liên quan tới chính sách và pháp luật cạnh tranh
Tác giả: Phùng Văn Thành
Năm: 2014

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức: Bài giảng tham khảo - CHNG II PHAP LUT v CHNG CNH TRANH
Hình th ức: Bài giảng tham khảo (Trang 1)
4. Hình thức xử phạt bổ sung: - CHNG II PHAP LUT v CHNG CNH TRANH
4. Hình thức xử phạt bổ sung: (Trang 47)
Hình thức để trục lợi. - CHNG II PHAP LUT v CHNG CNH TRANH
Hình th ức để trục lợi (Trang 71)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w