1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

văn hoá các tộc người thiểu số vấn đề nhận thức và ứng xử

14 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 156,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, từ góc độ một người nghiên cứu và giảng dạy về văn hoá vùng, văn hoá tộc người, tôi thấy rằng sự hạn chế về cách nhìn và cách ứng xử đối với văn hoá các tộc người thiểu số tro

Trang 1

VĂN HOÁ CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ:

VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ

TS LÝ TÙNG HIẾU

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Tôi thuộc vào số những người trải qua nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn khác nhau,

và kể từ chuyến khảo sát điền dã đầu tiên năm 1983 tại Kiên Giang tôi đã có hơn 30 chuyến khảo sát các địa bàn Bắc, Trung, Nam, mà nhiều nhất là ở Tây Nguyên và Nam Bộ Trong các chuyến khảo sát, tôi thường nhờ đến sự giúp đỡ về thủ tục và thông tin, tư liệu của các cán bộ viên chức ngành văn hoá tại địa phương Tri thức về văn hoá địa phương, văn hoá tộc người của nhiều người trong số đó rất đáng nể phục Thâm tâm tôi vẫn hàm ơn họ Tôi cũng có may mắn tham gia một số lớp bồi dưỡng, tập huấn mà số đông học viên là cán bộ viên chức chuyên trách hoặc quan tâm đến văn hoá dân tộc thiểu số, như lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước về văn hoá dân tộc thiểu số tại khu vực phía nam (TP Hồ Chí Minh, 2013), khoá tập huấn - hội thảo về phương pháp nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội về người Chăm (Ninh Thuận, 2014), nên nhân đó làm quen được một số cán bộ viên chức có năng lực của ngành văn hoá ở các địa phương phía nam

Tuy nhiên, từ góc độ một người nghiên cứu và giảng dạy về văn hoá vùng, văn hoá tộc người, tôi thấy rằng sự hạn chế về cách nhìn và cách ứng xử đối với văn hoá các tộc người thiểu số trong một số cán bộ viên chức ngành văn hoá là điều khá hiển nhiên Trong các cán bộ viên chức văn hoá là người Việt, một số người có những định kiến văn hoá và ứng xử văn hoá không đúng đối với văn hoá các tộc người thiểu số Dưới đây là cảm nhận cá nhân của tôi về những hạn chế đó trong một số cán bộ viên chức ngành văn hoá đối với văn hoá các tộc người thiểu số, kèm theo những giải pháp gợi ý

2 NHỮNG HẠN CHẾ VỀ NHẬN THỨC VÀ ỨNG XỬ ĐỐI VỚI VĂN HOÁ CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ

(1) Về quan điểm chung, theo cảm nhận của tôi, một số cán bộ viên chức ngành văn hoá

thiếu cái nhìn hệ thống đối với việc quản lý, bảo tồn, phát huy di sản văn hoá các tộc người thiểu

số Và một cái nhìn cắt khúc thì đương nhiên không thể đem lại những giải pháp có tính hệ thống

cho những vấn đề thực tiễn Ngược lại, nó là nguyên nhân sâu xa dẫn đến những cách ứng xử cục

bộ, bất khả thi.

(2) Cũng về quan điểm chung, một số người thiếu cái nhìn khách quan khoa học đối với

văn hoá các tộc người thiểu số Họ có một định kiến cho rằng văn hoá Việt là hình mẫu, là văn minh; văn hoá các tộc người thiểu số là lạc hậu, mọi rợ Định kiến ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm

là công khai hoặc ngấm ngầm khinh miệt, kỳ thị văn hoá các tộc người thiểu số, vận động xoá bỏ

hoặc ngăn cấm việc thực hành các hoạt động văn hoá truyền thống của các tộc người này

(3) Đối với văn hoá mưu sinh của các tộc người thiểu số, có định kiến cho rằng rừng núi

Trường Sơn - Tây Nguyên - Đông Nam Bộ là rừng núi hoang vu, vô chủ, trừ một số ít là đất thổ cư

và nương rẫy Định kiến ấy kèo theo cách ứng xử sai lầm là coi quyền sở hữu cộng đồng của các

Trang 2

buôn làng đối với núi rừng như không có; tự do khoanh vùng, di dân, xí phần, xâm canh, di dời, tái

định cư tuỳ tiện trong không gian sinh tồn của các tộc người thiểu số

(4) Đối với văn hoá cư trú của các tộc người thiểu số, có người hiểu giản đơn rằng nhà ở,

nhà cộng đồng, nhà dài, cồng chiêng của các tộc người thiểu số đơn thuần chỉ là vật chất Cách

hiểu ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm là giúp các tộc người thiểu số bảo tồn và cải thiện đời sống

vật chất bằng cách xây tặng, mua tặng, tuyền truyền vận động, kết hợp với mô phỏng những di sản

ấy để hình thành những thiết chế văn hoá hiện đại

(5) Đối với văn hoá tổ chức cộng đồng của các tộc người thiểu số, có định kiến cho rằng

chế độ gia đình mẫu hệ chính là chế độ mẫu quyền mà trong đó, quyền lực thuộc về người mẹ và

nữ giới, do đó trách nhiệm quản lý và xử lý trong gia đình và ngoài xã hội thuộc về nữ giới Định

kiến ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm là vận động, khuyến khích các tộc người thiểu số từ bỏ chế độ

gia đình mẫu hệ, song hệ để theo phụ hệ cho giống Việt.

(6) Cũng đối với văn hoá tổ chức cộng đồng của các tộc người thiểu số, có định kiến cho

rằng các tộc người không có họ tức là không có tên dòng họ và không có khái niệm về dòng họ Định kiến ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm là bắt buộc hoặc khuyến khích các tộc người thiểu số

đồng loạt chọn họ của người Việt để đặt họ tên cho giống Việt.

(7) Đối với văn hoá tín ngưỡng của các tộc người thiểu số, một số người không phân biệt

nổi tôn giáo tín ngưỡng với mê tín dị đoan Một số người thì không phân biệt được tôn giáo tín ngưỡng với tổ chức tôn giáo Định kiến ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm là dán nhãn mê tín dị đoan cho một số tôn giáo tín ngưỡng để lên án, bài trừ; hoặc không thừa nhận, không quản lý một

số tôn giáo tín ngưỡng vì lẽ chưa có quyết định công nhận đó là một tổ chức tôn giáo.

(8) Đối với văn hoá phong tục của các tộc người thiểu số, một số người cho rằng các phong

tục tập quán truyền thống của các tộc người thiểu số là lạc hậu Định kiến ấy kéo theo cách ứng xử

sai lầm là xoá bỏ các phong tục tập quán truyền thống ấy, thay thế, áp đặt cứng nhắc bằng luật

pháp và phong tục Việt.

(9) Đối với văn hoá lễ hội của các tộc người thiểu số, một số người cho rằng lễ hội truyền

thống, văn hoá nghệ thuật dân gian là những sản phẩm có thể khai thác làm lợi cho các ngành thương mại, du lịch, đồng thời duy trì, phát huy được văn hoá truyền thống của các tộc người Định

kiến ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm là tạo ra các lễ hội hiện đại mượn danh lễ hội truyền thống,

sân khấu hoá nghệ thuật dân gian để làm thành sản phẩm du lịch và thương mại, bất chấp hậu quả

về văn hoá.

(10) Đối với ngôn ngữ, văn tự của các tộc người thiểu số, một số người cho rằng chữ viết

của các tộc người thiểu số chỉ là phương tiện ghi tiếng nói, là công cụ chính trị và truyền giáo, là nhịp cầu bắc sang tiếng Việt Định kiến ấy kéo theo cách ứng xử sai lầm là không sử dụng những

bộ chữ là công cụ chính trị và truyền giáo của thời trước, không khuyến khích phổ cập chữ viết dân tộc và giáo dục song ngữ cho học sinh dân tộc.

Mười định kiến và cách ứng xử sai lầm đó đối với văn hoá của các tộc người thiểu số vẫn chưa phải là tất cả Nhưng hơn cả số lượng là tính di căn, là sự tồn tại dai dẳng của chúng trong một

bộ phận cán bộ viên chức ngành văn hoá Nguyên nhân khiến cho những định kiến và ứng xử ấy hình thành và tồn tại có lẽ là tính quan liêu cố hữu của con người và bộ máy của ngành văn hoá

Không chỉ thế, tính quan liêu còn khiến cho cán bộ viên chức văn hoá không đóng được vai trò nhà

hoạt động văn hoá mà chỉ là những công chức quản lý văn hoá: tư duy nhiệm kỳ, quan tâm từng

Trang 3

món, làm theo chỉ thị, v.v Tính quan liêu ấy còn khiến cho cán bộ viên chức văn hoá có xu hướng

nhà nước hoá các hoạt động văn hoá dân gian (tổ chức lễ hội, quản lý các di sản được công nhận),

vì coi thường các giá trị văn hoá dân gian: tính thiêng liêng / tâm linh, tính cộng đồng / tự nguyện

3 NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VĂN HOÁ CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ PHÍA NAM TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ TOÀN CẦU HOÁ

Hiện nay, trong bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và toàn cầu hoá, văn hoá các tộc người thiểu số phía nam cũng như các vùng miền khác đang đối diện với nhiều thách thức

Ở đồng bằng Trung và Nam Trung Bộ, theo ghi nhận của tôi, cảnh quan thiên nhiên và di tích lịch sử văn hoá trong vùng Chăm đang bị khai thác theo hướng thương mại hoá, cách ly khỏi văn hoá tộc người Nhu cầu gồm gia dụng, vải thổ cẩm chững lại Chế độ gia đình mẫu hệ, hình thức đại gia đình và tổ chức cộng đồng palei đang suy yếu Sự du nhập, hình thành các tôn giáo mới

đã và sẽ làm chia rẽ người Chăm Di sản dân ca dân vũ Chăm chưa được phát huy đầy đủ, bị sản phẩm phục dựng là ca vũ nhạc cung đình lấn át Chữ viết, yếu tố cơ bản của văn hoá tộc người, là vấn đề đang gây chia rẽ trong các cộng đồng Chăm

Ở Trường Sơn - Tây Nguyên, theo ghi nhận của tôi, đang nổi lên vai trò của người Việt với

tư cách một tộc người đa số và có trình độ kinh tế - xã hội phát triển hơn Với tư cách đó, người Việt đang vươn lên đóng vai trò chủ thể chính của văn hoá Trường Sơn - Tây Nguyên hiện đại, là tác nhân chủ yếu làm thay đổi cấu trúc và giá trị văn hoá cổ truyền của vùng đất này Trong văn hoá mưu sinh hiện tại của cư dân Trường Sơn - Tây Nguyên, vai trò của săn câu lượm hái ngày càng giảm, tỷ lệ thuận với sự sụt giảm diện tích rừng tự nhiên Theo thống kê của ngành kiểm lâm, trong 5 năm 2006-2010, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ đã mất thêm 158.000ha rừng, chiếm 31,6% diện tích rừng bị mất trong toàn quốc, bình quân mỗi năm giảm 31.698ha, trong đó Tây Nguyên bình quân giảm 20.513ha/năm Diện tích rừng tự nhiên bị giảm này chủ yếu là do thực hiện các dự

án chuyển đổi mục đích sử dụng, khai thác trắng rừng trồng theo kế hoạch, rừng bị chặt phá trái pháp luật Về văn hoá cư trú, số lượng nhà sàn dài vẫn đang tụt giảm Nguyên nhân là hình thức đại gia đình đã bị hình thức tiểu gia đình dần dần thay thế Về văn hoá tín ngưỡng, đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành và đạo Phật ngày càng phát triển Đối với những cư dân mà điều kiện kinh tế - xã hội còn thấp kém, các tôn giáo này cũng có tác dụng đem lại sự trợ giúp về tinh thần và vật chất cần thiết Tuy nhiên, một vài tôn giáo cũng đồng thời gây ra mối xung đột với tín ngưỡng, phong tục cổ truyền của người bản địa Về văn hoá lễ hội, ngoài các lễ hội cổ truyền, trong những năm gần đây còn có lễ hội Đua voi, lễ hội Cồng chiêng và lễ hội Cà phê diễn ra ở Tây Nguyên, được Nhà nước công nhận và tổ chức đều đặn hằng năm như một giá trị truyền thống Tuy nhiên, thực chất đó là những cuộc hội diễn nghệ thuật khai thác văn hoá truyền thống Tây Nguyên cho những mục tiêu kinh tế, chứ hoàn toàn không gắn với cách thức hoạt động sản xuất, cách thức tổ chức xã hội, tín ngưỡng, phong tục cổ truyền, là những yếu tố làm nên tính chất cộng đồng và tính chất thiêng liêng của lễ hội truyền thống Tây Nguyên Về ngôn ngữ, chữ viết, từ sau năm 1975, chương trình giáo dục song ngữ và phổ cập chữ viết của các ngôn ngữ bản địa ở Trường Sơn - Tây Nguyên diễn ra rất chậm Hiện nay việc triển khai giáo dục ngôn ngữ và chữ viết Êđê đã được tiến hành chính thức ở các cấp lớp 3-4-5 bậc tiểu học, triển khai thử nghiệm ở bậc trung học cơ sở các trường dân tộc nội trú của tỉnh Đắk Lắk Còn ngôn ngữ và chữ viết Jrai đang được triển khai ở các cấp lớp 3-4-5 bậc tiểu học trên địa bàn Đắk Lắk, Kon Tum Tương tự, tiếng và chữ Bahnar đã được đưa vào giảng dạy song ngữ ở ba cấp lớp 3-4-5 ở tỉnh Kon Tum Đây thật ra là ba bộ chữ phiên âm theo mẫu tự La

Trang 4

Tinh đã có từ thời Pháp thuộc: chữ Bahnar (1861), chữ Jrai (1918), chữ Êđê (1923).

Ở Nam Bộ, theo ghi nhận của tôi, thách thức lớn nhất là nguy cơ đồng hoá đối với văn hoá của các tộc người thiểu số Ở Nam Bộ trước đây, bên cạnh vai trò chi phối của văn hoá Việt, văn hoá của các tộc người Chăm, Hoa, Khmer và văn hoá nước ngoài vẫn có một sức mạnh nhất định,

và sự tiếp biến văn hoá diễn ra sâu rộng đã làm biến đổi sâu sắc văn hoá của tất cả các tộc người nơi đây, kể cả văn hoá Việt Nhưng hiện nay, các tộc người thiểu số Nam Bộ đang đối diện với một quá trình đồng hoá văn hoá do sự gia tăng dân số Việt Hiện nay, để hãm bớt tốc độ đồng hoá ấy,

vô hình trung các tôn giáo và cơ sở tôn giáo đã trở thành thành luỹ cuối cùng bảo tồn văn hoá truyền thống của các tộc người thiểu số Những nơi thờ phụng công cộng của người Hoa như các hội quán, miếu, đình, đền, chùa, nhà thờ, không chỉ là trung tâm tín ngưỡng mà còn là trung tâm văn hoá, giáo dục của cộng đồng, nơi giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá nghệ thuật của người Hoa Các ngôi chùa Khmer không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm giáo dục, văn nghệ, hội họp, lễ hội của cộng đồng Các thánh đường (masjid) và nhà nguyện (surau) của người Chăm Nam Bộ không chỉ là trung tâm tôn giáo mà còn là trung tâm giáo dục, hội họp, lễ hội của cộng đồng

4 GIẢI PHÁP VỀ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI VĂN HOÁ CÁC TỘC NGƯỜI THIỂU SỐ

Hiện nay, nhu cầu đào tạo, xây dựng nguồn nhân lực ngành văn hóa ở các địa phương rất được quan tâm và đã có những bước đi cụ thể Vào năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt

đề án Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao và du lịch đến năm 2020, “với mục tiêu

xây dựng đội ngũ trí thức ngành sáng tạo ra các sản phẩm văn hóa nghệ thuật có chất lượng, đạt được đỉnh cao nghệ thuật, kỷ lục thể thao quốc gia và quốc tế, thu hút nhiều khách du lịch Đề án cũng đặt ra mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức ngành đảm bảo chất lượng, đủ số lượng, đồng bộ về

cơ cấu; có trình độ chuyên môn cao và năng lực thực tiễn; có khả năng tiếp cận, làm chủ và chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến Giải pháp chủ yếu được Đề án đưa ra là rà soát, sắp xếp lại và quy hoạch đội ngũ trí thức ngành; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với đội ngũ trí thức -đây được xem là khâu đột phá của công tác xây dựng đội ngũ trí thức ngành Đồng thời, phát huy vai trò của các hội trí thức trong ngành và đề cao trách nhiệm của trí thức Ngoài ra, đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng, được ưu tiên để tăng số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trí thức của ngành” Về thực trạng đội ngũ trí thức, vào năm 2010 ngành văn hóa, thể thao và du lịch có hơn 45.000 trí thức, bao gồm 9 tiến sĩ khoa học, chiếm 0,02%; 384 tiến sĩ, chiếm 0,85%; 1.610 thạc sĩ, chiếm 3,57%; 37.330 trí thức trình độ đại học, chiếm 82,79% và 5.758 trí thức trình độ cao đẳng, chiếm 12,77% tổng số trí thức thống kê được trong ngành “Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ, đội ngũ trí thức ngành văn hóa, thể thao

và du lịch còn ít về số lượng, chưa đồng bộ về cơ cấu và năng lực thực tiễn không tương xứng với bằng cấp Lực lượng trí thức có trình độ cao chưa nhiều và ngày càng thiếu những trí thức đầu đàn làm nòng cốt đào tạo trí thức trẻ Kiến thức hội nhập, ngoại ngữ, tin học; năng lực sáng tạo, năng lực lãnh đạo, quản lý; và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế, chưa tương xứng với yêu cầu phát triển của thời đại” [Tuấn Khang, 2010]

Năm 2013, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh đã ký Quyết định

phê duyệt Chiến lược phát triển khoa học và công nghệ ngành văn hoá, thể thao và du lịch giai

đoạn 2013-2020, tầm nhìn 2030 Theo đó, về phát triển nguồn nhân lực, sẽ “quy hoạch và đào tạo

phát triển nguồn nhân lực theo hướng đồng bộ, cân đối trên từng lĩnh vực, chuyên ngành phù hợp mục tiêu Đề án “Xây dựng đội ngũ trí thức ngành văn hoá, thể thao và du lịch đến năm 2020” và

Trang 5

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực văn hoá, thể thao và du lịch phục vụ cho nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ Khuyến khích các cơ sở đào tạo, các Viện khoa học ngoài Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch và các doanh nghiệp tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trong lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch” Trong lãnh vực văn hóa, gia đình, sẽ “nghiên cứu các vấn đề về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc gắn với phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế Nghiên cứu các vấn đề về chính sách và

cơ chế quản lý nhằm thu hút đầu tư cho các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật Nghiên cứu về hoạt động,

tổ chức và biện pháp để phát triển đời sống văn hóa cộng đồng” [Trang thông tin điện tử Bộ VH,

TT & DL, 2014a]

Bên cạnh đó, đội ngũ trí thức của ngành văn hóa, thể thao và du lịch cũng thường xuyên thực hiên các đề tài nghiên cứu mà mục đích là nâng cao kiến thức và năng lực thực tiễn cho cán bộ

viên chức trong ngành Như đề tài cấp Bộ Nghiên cứu xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán

bộ quản lý ngành văn hóa thông tin giai đoạn 2001-2010, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ

trì, Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện, và Vũ Hòa chủ

nhiệm (2000-2002); đề tài cấp Bộ Đổi mới phương pháp giảng dạy và chương trình đào tạo, bồi

dưỡng cán bộ công chức ngành văn hóa thông tin, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì,

Trường Bồi dưỡng cán bộ quản lý Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện, và Vũ Hòa chủ nhiệm

(2002-2004); đề tài cấp Bộ Nghiên cứu nội dung, phương pháp bồi dưỡng cán bộ quản lý văn hóa

thông tin cấp cơ sở, do Cơ quan Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, Trường Bồi dưỡng cán

bộ quản lý Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện, và Hoàng Thị Điệp chủ nhiệm (2007-2009)

Đáng lưu ý nhất là đề tài cấp Bộ Đào tạo cán bộ quản lý văn hóa bậc đại học cho các vùng dân tộc

thiểu số và miền núi Việt Nam, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, Trường Đại học Văn

hoá Hà Nội thực hiện, và Nguyễn Thị Phượng chủ nhiệm (2013-2014) Đề tài có “Mục tiêu: Nghiên cứu tổng quan văn hóa các dân tộc thiểu số, những đặc điểm văn hóa các dân tộc Về tình hình quản lý văn hóa và các hoạt động văn hóa các dân tộc thiểu số hiện nay Thực trạng đội ngũ cán bộ văn hóa về số lượng chất lượng và nhu cầu đào tạo cán bộ của các cơ sở đến năm 2010 Những đánh giá về khung chương trình hiện đang đào tạo và hướng đề nghị thay đổi Kiến nghị với nhà nước, các Bộ, Trường có liên quan về vấn đề đào tạo cán bộ quản lý văn hóa đáp ứng nhu cầu hiện nay Nội dung: Tổng quan văn hóa và tình hình quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số ở nước ta; Thực trạng đội ngũ cán bộ văn hóa vùng dân tộc thiểu số và miền núi; Những giải pháp và kiến nghị đối với vấn đề đào tạo cán bộ văn hóa cho vùng miền núi, dân tộc thiểu số” [Trang thông tin điện tử Bộ VH, TT & DL, 2014b]

Như vậy, bên cạnh những thành quả, công tác đào tạo về văn hóa gắn với việc quy hoạch, phát huy nhân lực ngành văn hóa phía nam thời gian qua vẫn còn nhiều hạn chế Những hạn chế ấy đang đặt ra yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, nghiên cứu khoa học về văn hóa, nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế hoạt động của ngành văn hóa và thực tiễn đời sống văn hóa

- xã hội trong bối cảnh chung hiện nay

Trong số những yêu cầu đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, nghiên cứu

khoa học về văn hóa, tôi cho rằng việc trang bị những tri thức hàn lâm cho đội ngũ cán bộ viên

chức văn hoá là rất quan trọng Những tri thức hàn lâm ấy có dung lượng rất lớn, mà nền tảng đầu

tiên là những nhận thức mới và những cách tiếp cận mới đối với văn hoá tộc người, bao gồm văn

hoá các tộc người thiểu số.

Chẳng hạn, bao lâu nay, cán bộ viên chức ngành văn hoá vẫn quen gọi các tộc người (ethnic group) là dân tộc, một khái niệm nhập nhằng, bất kể những nhận thức mới của các ngành dân tộc

Trang 6

học, văn hoá học Theo quan niệm của các ngành này, tộc người là “một cộng đồng mang tính tộc

người có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trường hợp cá biệt) được liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hoá, tạo thành một tính cách tộc người, có chung một ý thức tự giác tộc người, tức có chung một khát vọng được cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những ký ức lịch sử (truyền thuyết, lịch sử, huyền thoại, kiêng cữ) Một tộc người không nhất thiết phải có cùng một lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế” [Đặng Nghiêm Vạn, 2003] Như

vậy, tộc người khác với dân tộc hay quốc gia dân tộc (nation, state-nation) Dân tộc hay quốc gia

dân tộc là một cộng đồng chính trị xã hội, được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh

thổ nhất định, có một tên gọi, một ngôn ngữ hành chính, một sinh hoạt kinh tế chung, với những biểu tượng văn hoá chung tạo nên một tính cách dân tộc

Nhiều người cũng mơ hồ về khái niệm văn hoá tộc người (ethnic culture), cũng là một khái niệm cơ bản của dân tộc học và văn hoá học Theo quan niệm của các ngành này, văn hoá tộc

người “là tổng thể các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần,

các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục và nghi lễ… khiến người ta phân biệt tộc người này với tộc người khác, văn hoá tộc người là nền tảng nảy sinh và phát triển ý thức tộc người” [Ngô Đức

Thịnh, 1996] Như vậy, văn hoá tộc người là những giá trị văn hoá vật chất và tinh thần đã trở

thành những biểu tượng sâu sắc in đậm trong tình cảm, tư tưởng của tộc người đó, và có tính chất đặc trưng, khu biệt tộc người đó với những tộc người khác Và trong các yếu tố tạo nên văn hoá tộc

người thì ngôn ngữ của tộc người chính là loại yếu tố phải kể đến trước tiên Chính vì vậy, trong

việc phân chia các tộc người trên một địa bàn, các nhà dân tộc học bao giờ cũng dựa trên sự phân

chia ngôn ngữ thành các nhóm, mà một vài nhà nghiên cứu gọi là sự phân chia nhóm ngôn ngữ

-tộc người Trên thực tế, dấu hiệu đầu tiên báo hiệu một người hay một nhóm -tộc người thiểu số bị

đồng hoá vào tộc người khác, đó là đánh mất tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ của tộc người

Một số người lại không hiểu hoặc hiểu không đúng đối với các khái niệm giao lưu văn hoá (cultural exchange) và tiếp biến văn hoá (acculturation) Đó là những thuật ngữ chỉ hai loại quan

hệ: quan hệ giao lưu và tiếp biến văn hoá nội bộ giữa các chủ thể văn hoá của một vùng văn hoá hoặc một quốc gia; và quan hệ giao lưu và tiếp biến văn hoá giữa các chủ thể văn hoá của một vùng văn hoá hoặc một quốc gia với bên ngoài Kết quả của cả hai loại quan hệ đó là sự tiếp thu những yếu tố văn hoá ngoại sinh và biến đổi những yếu tố văn hoá nội sinh của tộc người Quan hệ giao lưu tiếp biến văn hoá giúp giải thích sự biến đổi của chủ thể văn hoá, hoạt động văn hoá và đặc trưng văn hoá của hệ thống văn hoá tộc người

Đó cũng là những thuật ngữ chỉ hai cấp độ quan hệ: giao lưu văn hoá là tiền đề, là một hoạt động thường xuyên trong bối cảnh văn hoá đương đại; còn tiếp biến văn hoá là hệ quả, là một diễn biến cũng thường xuyên trong bối cảnh văn hoá hôm nay Nếu giao lưu văn hoá chỉ là trao đổi để tăng cường hiểu biết và thoả mãn nhu cầu thưởng thức của công chúng, thì tiếp biến văn hoá sẽ làm biến đổi văn hoá tộc người Một mặt, những yếu tố văn hoá du nhập từ bên ngoài sẽ được tiếp thu, biến đổi thành những yếu tố văn hoá tộc người (để được chấp nhận, những yếu tố văn hoá mới du nhập không thể mâu thuẫn đối chọi với văn hoá truyền thống của tộc người); một mặt, bản thân nền văn hoá tiếp nhận cũng sẽ biến đổi từng phần để thích ứng, dung hợp với những yếu tố văn hoá mới Như vậy, giao lưu văn hoá sẽ giúp cho các vùng văn hoá và các tộc người có thêm các nguồn lực ngoại sinh để tự điều chỉnh, cách tân, phát triển Nếu tồn tại biệt lập, không giao lưu văn hoá với bên ngoài, các tộc người sẽ đối diện với nguy cơ suy thoái một khi các điều kiện địa lý tự nhiên của vùng cư trú bị suy thoái sau một thời gian dài bị con người khai thác Nhưng giao lưu và tiếp biến văn hoá cũng có mặt tiêu cực Vì có tác dụng làm biến đổi văn hoá tộc người, nên ở mức độ

Trang 7

cao nhất, sự giao lưu và tiếp biến văn hoá cũng có thể dẫn tới sự đồng hoá văn hoá, làm tiêu vong

cả tộc người, hình thành tộc người mới Nguy cơ này đặc biệt rõ ràng khi những yếu tố văn hoá mới

du nhập đi cùng với chủ nhân của chúng là một số lượng di dân áp đảo, có tiềm lực văn hoá, kinh tế

và quân sự mạnh Khi đó, sự giao lưu và tiếp biến văn hoá cưỡng bức đối với các tộc người chủ thể văn hoá bản địa là khó tránh Do đó, để giao lưu tiếp biến văn hoá mà không bị diệt vong văn hoá, các tộc người cần phải có sức mạnh văn hoá nội tại, đồng thời phải có khả năng chọn lọc, chuyển hoá những yếu tố văn hoá mới du nhập để bồi bổ cho sức mạnh văn hoá nội tại của mình Đối với những tộc người thiểu số có đời sống vật chất quá cùng cực, những yêu cầu như vậy thường là bất khả thi

Tôi cũng nhận thấy rằng hầu hết cán bộ viên chức văn hoá đều rất xa lạ với những cách tiếp

cận khoa học khi làm công tác liên quan đến văn hoá tộc người Chẳng hạn cách tiếp cận hệ thống

(systematic approach), rất phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn hiện đại Cách tiếp cận này được diễn giải khác nhau ở những nhà nghiên cứu khác nhau Theo cách hiểu của tôi, cách tiếp cận

hệ thống là cách tiếp cận rất phù hợp, bắt buộc phải vận dụng khi nghiên cứu, xử lý các nội dung, vấn đề thuộc văn hoá tộc người Bởi lẽ đơn giản: văn hoá tộc người vốn là hệ thống Theo cách tiếp

cận này, văn hoá tộc người, văn hoá vùng là những hệ thống văn hoá (cultural system) mà cấu trúc

của nó bao gồm ba yếu tố có quan hệ hữu cơ: chủ thể văn hoá, văn hoá vật thể, văn hoá phi vật thể

Mô hình hệ thống văn hoá

Chủ thể văn hoá (cultural subjects): bao gồm các tộc người, các cộng đồng người cư trú

trong một không gian văn hoá và có các hoạt động văn hoá, truyền thống văn hoá góp phần làm nên các đặc trưng văn hoá của không gian ấy Các thuộc tính của chủ thể văn hoá có thể bao gồm: thành phần tộc người, ngôn ngữ, giai cấp, tầng lớp xã hội, học vấn, nghề nghiệp, truyền thống văn hoá, ý thức hệ, thế giới quan, nhân sinh quan, tâm lý, tính cách, lối sống, đạo đức, v.v Vai trò của chủ thể văn hoá trong các hệ thống văn hoá rất quan trọng Trong một hệ thống, quan hệ tương tác giữa các

Trang 8

yếu tố là quan hệ tác động hai chiều: quy định lẫn nhau, giới hạn lẫn nhau; và bổ sung cho nhau, phối hợp với nhau Trong các hệ thống văn hoá, sự bổ sung, phối hợp với nhau giữa các yếu tố tạo

ra năng lực tự thân tiến hoá của từng yếu tố và của toàn hệ thống Nếu như đã phối hợp với nhau rồi

mà các yếu tố vẫn không thỏa mãn được nhu cầu, thì chủ thể văn hoá sẽ nỗ lực sáng tạo hoặc vay

mượn, sao phỏng từ nền văn hoá khác, đào thải dần những yếu tố ít hiệu năng Nói cách khác, chủ

thể văn hoá là yếu tố quyết định khả năng vận động và biến đổi của toàn hệ thống Chủ thể văn hoá

mạnh thì lực hướng tâm và tính cố định của hệ thống tăng lên Chủ thể văn hoá yếu thì lực ly tâm

và tính khả biến của hệ thống tăng lên

Văn hoá vật thể (tangible culture): bao gồm những yếu tố văn hoá có thể tiếp xúc được, như

văn hoá mưu sinh, văn hoá ẩm thực, văn hoá phục sức, văn hoá cư trú, văn hoá kiến trúc, văn hoá giao thông… Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, các yếu tố này có thể được chia nhỏ hơn nữa hoặc được gộp lại thành những nhóm lớn hơn Do mang đặc tính vật thể, đây là những yếu tố dễ biến đổi dưới tác động của môi trường văn hoá

Văn hoá phi vật thể (intangible culture): bao gồm những yếu tố văn hoá không thể tiếp xúc

và tương tác trực tiếp, như văn hoá tổ chức cộng đồng, văn hoá tín ngưỡng, văn hoá phong tục, văn hoá lễ hội, văn học, nghệ thuật, ngôn ngữ, văn hoá giao tiếp, văn hoá chính trị, văn hoá quân sự, văn hoá ngoại giao… Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, các yếu tố này có thể được chia nhỏ hơn nữa hoặc được gộp lại thành những nhóm lớn hơn Do mang đặc tính phi vật thể, đây là những yếu tố gắn chặt với chủ thể văn hoá và tương đối khó biến đổi dưới tác động của môi trường văn hoá Vì vậy, đây cũng là nơi thể hiện, bảo tồn bản sắc văn hoá, linh hồn dân tộc tương đối lâu bền

Cần lưu ý là văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể, tuy hai mà một, thường quy định lẫn

nhau, hoà quyện với nhau và được thể hiện đồng thời trong các hoạt động văn hoá (cultural

activities) của các cộng đồng người Hoạt động văn hoá bao gồm các hoạt động sáng tạo văn hoá,

tiếp biến văn hoá và thực hành văn hoá, giúp chủ thể văn hoá sinh tồn và phát triển Để tiến hành các hoạt động này, chủ thể văn hoá sẽ vận dụng các kinh nghiệm, tri thức, giá trị, di sản, kỹ thuật,

vật liệu, công cụ, phương tiện, phương thức sử dụng… đã được họ thụ đắc, kế thừa, để tạo ra các

sản phẩm văn hoá (cultural products) Nếu các sản phẩm ấy đáp ứng mục đích, nhu cầu, lợi ích của

cộng đồng thì sẽ được cộng đồng tiếp nhận, phổ biến, truyền lưu, để từ đó tạo ra giá trị văn hoá

(cultural values) và truyền thống văn hoá (cultural traditions) Khi tiến hành các hoạt động văn hoá

như vậy, chủ thể văn hoá chịu sự tác động của môi trường văn hoá và những truyền thống văn hoá

của chính mình, nên các hoạt động văn hoá của họ có thể có những bản sắc văn hoá (cultural

identities) riêng, đặc trưng văn hoá (cultural characteristics) riêng, phân biệt được với những hệ

thống văn hoá khác Đặc trưng văn hoá là những biểu hiện có tính đặc trưng của hệ thống văn hoá Mỗi yếu tố hợp thành hệ thống văn hoá và môi trường văn hoá đều có thể có một số đặc trưng Trong đó, đáng chú ý nhất là những đặc trưng thuộc về văn hoá mưu sinh, văn hoá tổ chức cộng đồng, văn hoá tín ngưỡng, bởi vì đây là những phương tiện sinh tồn quan trọng bậc nhất của con người, cũng là những yếu tố quan trọng bậc nhất giúp cho một hệ thống văn hoá tồn tại được

Trong một số ngành khoa học xã hội và nhân văn hiện đại, cũng rất phổ biến cách tiếp cận

địa văn hoá (approach of cultural geography) Cách tiếp cận này cũng được diễn giải khác nhau ở

những nhà nghiên cứu khác nhau Theo chúng tôi, cách tiếp cận địa văn hoá là cách tiếp cận xem xét sự hình thành và biến đổi của văn hoá truyền thống các tộc người và văn hoá các vùng miền trong tương quan với hai nhân tố: điều kiện địa lý tự nhiên và điều kiện giao lưu văn hoá

Điều kiện địa lý tự nhiên (physical geography) cung cấp nguyên liệu, phương tiện đồng thời

quy định cách thức thích nghi, ứng phó của con người đối với tự nhiên và xã hội để duy trì cuộc

Trang 9

sống, là nhân tố nguyên sơ làm hình thành văn hoá tộc người Những yếu tố tự nhiên của một vùng đất (phạm vi không gian, địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ văn, sinh thái, những biến đổi của môi

trường, v.v.) có liên quan đến hoạt động văn hoá của tộc người sẽ hợp thành không gian văn hoá

(cultural space) của tộc người Nghĩa là không phải tất cả yếu tố của địa lý tự nhiên trong một

phạm vi không gian nào đó đều cấu thành không gian văn hoá mà chỉ những yếu tố của tự nhiên đã được một cộng đồng người nhận thức, định danh, khai thác, cải biến hay huỷ hoại, mới hợp thành không gian văn hoá của họ Không gian văn hoá của một vùng văn hoá thường có điều kiện địa lý

tự nhiên tương đối đồng nhất Vì không gian văn hoá ấy cung cấp các điều kiện tự nhiên để tộc người có thể tiến hành các hoạt động văn hoá, nên nó là nhân tố góp phần làm hình thành đặc trưng văn hoá của các hệ thống văn hoá tộc người và văn hoá vùng

Còn điều kiện giao lưu văn hoá (cultural exchange) được quy định bởi những yếu tố của

điều kiện địa lý tự nhiên như vị trí địa lý, địa hình Những vùng đất có điều kiện địa lý tự nhiên thoáng mở như vị trí tiếp giáp các tuyến đường giao thương, địa hình thảo nguyên hoặc đồng bằng châu thổ không bị biển rộng núi cao chia cắt, cơ hội giao lưu văn hoá nội vùng và giao lưu văn hoá với bên ngoài sẽ gia tăng Ngược lại, những vùng đất có điều kiện địa lý tự nhiên biệt lập như vị trí địa lý tách biệt khỏi các tuyến đường giao thương, địa hình đồi núi hoặc hải đảo bị biển rộng núi cao chia cắt, cơ hội giao lưu văn hoá nội vùng và giao lưu văn hoá với bên ngoài sẽ giảm đi Thông thường, giao lưu văn hoá sẽ được khởi đầu bằng trao đổi thương mại và tôn giáo Qua đó, nó cung cấp cho con người những nguyên liệu, phương tiện, cách thức thích nghi, ứng phó mới, làm giàu, làm mới hành trang văn hoá của họ trên những chặng đường cải biến tự nhiên và xã hội để sinh tồn

và phát triển Giao lưu văn hoá là tiền đề của tiếp biến văn hoá (acculturation), tức là tiếp thu, biến

đổi những yếu tố văn hoá ngoại sinh thành những yếu tố văn hoá tộc người, đồng thời biến đổi văn hoá tộc người để thích ứng với những yếu tố văn hoá mới Nếu giao lưu văn hoá chỉ là trao đổi để tăng cường hiểu biết và thoả mãn nhu cầu của con người, thì tiếp biến văn hoá sẽ làm biến đổi văn hoá tộc người

Hai nhân tố địa lý tự nhiên và giao lưu văn hoá là tiền đề của văn hoá tộc người và văn hoá vùng, nên khi chúng biến đổi, văn hoá tộc người và văn hoá vùng sẽ tất yếu biến đổi Trong thực tiễn, hai nhân tố ấy không đồng nhất giữa các vùng miền, và không bất biến trong lịch sử Do đó, các nguyên liệu, phương tiện, cách thức thích nghi, ứng phó với tự nhiên và xã hội mà hai nhân tố

ấy cung cấp cho con người ở các vùng miền khác nhau và ở những giai đoạn khác nhau, tất yếu phải khác nhau Điều đó giải thích vì sao, cho dù cùng một tộc người, nhưng cư trú trên những

vùng địa lý khác nhau, có quá trình giao lưu văn hoá khác nhau, cũng có thể làm hình thành những

nhóm địa phương có đặc trưng văn hoá và ngôn ngữ khác nhau Ngược lại, cho dù khác tộc người,

nhưng cư trú trên cùng một địa bàn, có quá trình giao lưu văn hoá mật thiết với nhau, cũng có thể

làm hình thành những nhóm trung gian có những đặc trưng văn hoá và ngôn ngữ chung, biến đổi từ

văn hoá và ngôn ngữ của các tộc người tổ tiên

Nói tóm lại, điều kiện địa lý tự nhiên là tiền đề hình thành không gian văn hoá; và điều kiện giao lưu văn hoá là tiền đề của tiếp biến văn hoá Cư trú trong một không gian văn hoá, tuỳ theo nhu cầu và năng lực sáng tạo của mình, các chủ thể văn hoá có thể khai thác các yếu tố của tự nhiên như là nguồn nguyên liệu, phương tiện để làm ra văn hoá Và cùng với năng lực sáng tạo của mình, các chủ thể văn hoá có thể lựa chọn, tiếp biến những tri thức, phương pháp, phương tiện, nguyên liệu mới và cả những nhu cầu mới thông qua sự tiếp xúc với các cộng đồng cư dân lân cận, để đổi mới, nâng cao nền văn hoá của mình Do đó, không gian văn hoá và giao lưu tiếp biến văn hoá

đóng vai trò như là hai nhân tố hợp thành một môi trường văn hoá (cultural environment) mà trong

Trang 10

đó, nền văn hoá của các cộng đồng người hình thành, vận động và biến đổi Nền văn hoá của một cộng đồng người mang tính chất tĩnh tại hay năng động, biến đổi chậm chạp hay nhanh chóng, mức

độ biến đổi ít hay nhiều, phụ thuộc một phần vào không gian văn hoá và quá trình giao lưu tiếp biến văn hoá mà cộng đồng người ấy đã trải qua Phần còn lại, nó phụ thuộc vào khả năng sáng tạo

và khả năng lựa chọn của chủ thể văn hoá trước những tác động đến từ môi trường văn hoá ấy

Cũng rất phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn hiện đại là cách tiếp cận liên ngành

(interdisciplinary approach) Cách tiếp cận này cũng được diễn giải khác nhau ở những nhà nghiên cứu khác nhau Theo chúng tôi, cách tiếp cận liên ngành là sự tổng hợp các tri thức từ các ngành khác nhau liên quan đến vấn đề nghiên cứu để có thể tìm hiểu, xử lý nó một cách toàn diện Trong nghiên cứu văn hoá, cách tiếp cận liên ngành đòi hỏi người nghiên cứu phải phối hợp kết quả thu thập tư liệu văn hoá của mình với các kết quả nghiên cứu của các ngành khoa học liên quan: văn hoá học, dân tộc học, nhân học, xã hội học, sử học, khảo cổ học, văn học, ngôn ngữ học, ký hiệu học, địa lý học, sinh học…

Theo Phạm Đức Dương, cách tiếp cận liên ngành là trên cơ sở tri thức của một ngành khoa học nhất định, người nghiên cứu vận dụng thêm ít nhiều tri thức của những ngành khoa học khác, hoặc vận dụng đồng thời tri thức của nhiều ngành khoa học khác nhau “Phương pháp liên ngành là tiếp cận một đối tượng bằng nhiều cách thức, dựa trên cứ liệu của nhiều chuyên ngành Có ba mức

độ liên ngành: Dùng phương pháp của một ngành ứng dụng vào các ngành khác Thí dụ khảo cổ

học dùng phương pháp xác định niên đại bằng hàm lượng đồng vị phóng xạ C14 của địa chất học Ngôn ngữ học dùng hàm lượng từ cơ bản để xác định niên đại chia tách các ngôn ngữ, các ngôn ngữ họ hàng gần và họ hàng xa Đây là phương pháp sơ đẳng nhất của nghiên cứu liên ngành

Dùng lý thuyết của ngành A áp dụng vào các ngành B, C, D để xem xét hiệu quả Nếu thấy đúng thì

lý thuyết ấy có giá trị phổ biến, có thể tin cậy được Thí dụ lý thuyết làn sóng của vật lý học: những làn sóng càng gần nơi phát sinh ra lực thì càng mạnh, càng xa thì càng yếu, được áp dụng vào sinh học, từ đó phát hiện rằng các giống cây trồng càng gần trung tâm càng biến đổi nhiều, càng xa trung tâm càng ít biến đổi Trong ngôn ngữ học, việc áp dụng lý thuyết làn sóng làm hình thành lý thuyết tâm-biên: Càng ở ngoại biên, các phương ngữ càng bảo lưu nhiều yếu tố cổ Người Việt ở Paris bảo thủ hơn người Việt ở Hà Nội Trong nước không còn gọi những người Việt vượt biên trước đây là “thuyền nhân” mà gọi là Việt kiều, nhưng người Việt ở nước ngoài vẫn còn lưu giữ

những quan niệm và ngôn từ của thời kỳ ấy, v.v Tìm những điểm nổi trội, giao thoa giữa các

ngành khoa học Các ngành khoa học thường có điểm chung nhau, giao thoa với nhau Thí dụ, tiếp

xúc văn hoá giúp phát hiện những dấu ấn, những yếu tố văn hoá nội sinh và ngoại sinh tác động lẫn nhau Trong văn hoá Việt Nam, các các yếu tố ngoại sinh được Việt Nam hoá, còn các yếu tố nội sinh được hiện đại hoá Văn hoá dân gian và văn hoá bác học không tách rời nhau như quan điểm nhị nguyên Thí dụ, dòng nhạc trữ tình trước đây bị cấm, nay tồn tại song hành với dòng nhạc hành khúc, trong khi âm nhạc dân tộc được hiện đại hoá Tính dân tộc và tính hiện đại có cả trong các yếu tố nội sinh và các yếu tố ngoại sinh” [Phạm Đức Dương, 2011]

Cũng rất phổ biến trong khoa học xã hội và nhân văn hiện đại là cách tiếp cận khách quan

(objective approach) Cách tiếp cận này đòi hỏi người nghiên cứu và người quản lý phải có một quan điểm khách quan, tôn trọng sự khác biệt, tôn trọng những giá trị văn hoá, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ của các tộc người, các quốc gia Điều đó có nghĩa là chúng ta không được có cái nhìn kỳ thị, không được lấy một nền văn hoá, một ngôn ngữ nào làm tiêu chuẩn để nhận thức, đánh giá một nền văn hoá, một ngôn ngữ khác, khắc phục quan điểm dĩ Âu vi trung (Eurocentrism) trong nghiên cứu khoa học và quản lý văn hoá Hiện nay, đây là quan điểm được nhất trí rất cao trong các

Ngày đăng: 12/12/2021, 23:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w