Tại Ấn Độ, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triết học độc nhất, đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới, triết học Ấn Độ cũng như tôn giáo, l
Trang 1VẤN ĐỀ NHẬN THỨC LUẬN TRONG TRIẾT HỌC ẤN ĐỘ CỔ ĐẠI
Mở đầu
Triết học Ấn Độ được phát triển từ hơn ba ngàn năm trước, chúng gồm các ý tưởng, các thực hành và các phong tục xã hội Tại Ấn Độ, không có một tôn giáo thuần nhất, cũng chẳng có một nền triết học độc nhất, đúng hơn, với nhiều cách thức am hiểu và liên hệ với thế giới, triết học Ấn Độ cũng như tôn giáo, là một kho tàng chứa đựng các ý tưởng được bảo lưu một cách rộng rãi, trong đó, một số ý tưởng này cổ đại hơn một số ý tưởng khác tới cả ngàn năm Người Ấn Độ hiểu triết học là con đường suy ngẫm để đưa con người đến lẽ phải
Là một trong những hình thái ý thức xã hội, triết học Ấn Độ hình thành, phát triển
và nội dung, đặc điểm của nó tất yếu bị chi phối và phản ánh những điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu đa dạng, khắc nghiệt cùng với sự quy định và ảnh hưởng sâu sắc bởi điều kiện lịch sử - xã hội Ấn Độ khá đặc biệt thời cổ đại Đó là chế độ
nô lệ mang tính chất gia trưởng hà khắc, lại bị kìm hãm bởi công xã nông thôn và chế độ phân biệt đẳng cấp xã hội - chế độ varna, hết sức khắt khe Quá trình hình thành, nội dung và đặc điểm của triết học Ấn Độ còn dựa trên sự phát triển của nền văn minh Ấn Độ cổ, từ thời kỳ văn minh sông Ấn (thiên niên kỷ III tr CN đến thiên kỷ II tr CN) qua nền văn minh Veda - Sử thi (khoảng thế kỷ XV tr CN - thế kỷ VI tr CN), đến thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo (thế kỷ VI tr CN - thế kỷ III sau CN), với thành tựu khoa học và văn hóa nổi bật trên các lĩnh vực như: thiên văn học, lịch pháp, toán học, y học, văn học, nghệ thuật, kiến trúc Tất cả luôn tác động và ghi dấu ấn sâu đậm đến nội dung, đặc điểm của triết học Ấn Độ cổ đại Trên cơ sở điều kiện và tiền đề đó, triết học Ấn Độ cổ đại đã hình thành, phát triển và trải qua hai thời kỳ: Thời kỳ Veda - Sử thi (từ thế kỷ XV trước CN đến thế kỷ VI trước CN) triết học Ấn Độ được thể hiện trong kinh Veda, Upanishad, trong
Sử thi cổ Ấn Độ Ràmàyana và Mahàbhàrata, trong đó thế giới quan thần thoại tôn giáo mang tính chất đa thần tự nhiên chiếm địa vị thống trị Và sau đó là sự biến chuyển từ thế giới quan đa thần sang nhất thần và cuối cùng hòa trộn với nó là thuyết nhất nguyên, với quan niệm về “Tinh thần vũ trụ tối cao” là bản thể của thế giới, đánh dấu bước chuyển từ tư duy thần thoại tôn giáo sang tư duy triết học Thời kỳ Cổ điển hay thời kỳ Phật giáo - Bàlamôn giáo (từ thế kỷ VI trước CN đến thế kỷ III sau C.N) là thời kỳ hình thành các trường phái triết học lớn như:
Sànkhya, Vais’esika, Nyàya, Yoga, Mimàmsà và Vedànta, gọi là các darsanas hay
hệ thống triết học chính thống (as’tika), và các môn phái Jaina, Lokàyata và Phật
Trang 2giáo , gọi là hệ thống triết học không chính thống (nas’tika), đi sâu lý giải về thế giới và nhân sinh hệ thống chặt chẽ hơn
Triết học Ấn Độ cổ đại thực sự có ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt Về mặt tư tưởng, triết học Ấn Độ cổ đại đã nghiên cứu, làm sáng tỏ hầu hết các lĩnh vực cơ bản của triết học, do đó, nó đã góp phần vào mài sắc tư duy, phát triển nhận thức, làm phong phú và sâu sắc những quan điểm về thế giới và nhân sinh trong triết học Ấn
Độ Về mặt tôn giáo, triết học Ấn Độ với tư cách là khoa học đi tìm chân lý, bao giờ cũng là cơ sở triết lý cho một tôn giáo nào đó Còn tôn giáo chính là sự thể nghiệm chân lý đó, biến triết lý đó thành đạo lý, đức tin bằng sự tu luyện đạo đức, trí tuệ trực giác, thông qua giáo lý, giới luật và các lễ nghi tôn giáo Về mặt đạo đức, triết học Ấn Độ cổ đại luôn quan tâm đến con người, đưa ra các phương pháp rèn luyện hoàn thiện con người, cố gắng xây dựng cho con người mục đích, lý tưởng sống và những quan hệ và chuẩn mực cao đẹp Việc nghiên cứu về nhận thức luận trong triết học Ấn Độ cổ đại đã đóng góp cho sự phát triển tư tưởng triết học của các trường phái triết học
Chương 1: Một số vấn đề về nhận thức luận trong lịch sử triết học
1.1 Khái niệm “Nhận thức luận”
Để hiểu rõ hơn những lý luận về nhận thức, chúng ta cần tìm hiểu những quan niệm khác nhau về nhận thức trong lịch sử triết học
Nhận thức luận( Epistemology) hay lý luận nhận thức là lý luận về khả năng nhận
thức của con người, về sự xuất hiện và phát triển của nhận thức, về con đường và phương pháp nhận thức và là vấn đề có tầm quan trọng trong lịch sử triết học Những quan niệm về vấn đề nhận thức, trong lịch sử triết học từ trước đến nay đã xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau, hết sức phong phú và đa dạng
Trước hết, nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan bởi con người, chỉ rõ con đường biện chứng của nhận thức và thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý…, triết học Mác – Lênin thực sự có những đóng góp quan trọng vào sự phát triển lý luận nhận thức
Nhận thức luận là khoa học nghiên cứu về tri thức, trong nghiên cứu triết học nó là một vấn đề tiên quyết, cho nên nhận thức luận có tính trọng yếu không thể không tiến hành nghiên cứu Nhận thức luận giải quyết những vấn đề sau đây:
- Các khái niệm “nhận thức”, “ý thức”, “tư duy”, “tư tưởng” và “lý luận nhận thức”, “lý luận nhận thức duy vật” và “lý luận nhận thức duy tâm”
Trang 3- Chủ thể, khách thể và đối tượng của nhận thức
- Đối tượng của nhận thức
- Nguồn gốc, bản chất của nhận thức
- Mục đích, nội dung của nhận thức
- Về khả năng của nhận thức: chủ nghĩa khả tri, chủ nghĩa hoài nghi, chủ nghĩa bất khả tri
- Sự đa dạng và thống nhất các kiểu tri thức
Nhận thức luận là những phương tiện đáng tin cậy để nhận thức đạt được nhận thức đứng đắn, để khám phá và diệt bỏ những khái niệm sai lầm để đạt được bản tánh chân thật của linh hồn/ của bản ngã và thực tại Những khái niệm sai lầm không những là vô minh (Av Ignorance) mà còn là ảo giác (Av Delusion) Khi diệt được vô minh/ nhận thức sai lầm thì diệt được những trở ngại cho việc giải thoát (Srt Moksha, Av Liberation)
Một thuật ngữ của nhận thức luận (epistemological term) trong triết học Ấn độ và
trong triết học Phật giáo là Pramana, tiếng Sanskrit, có nghĩa là “đo lường” (Av
measure); Tàu dịch là lượng có nghĩa là tính toán, đo lường, suy luận Thuật ngữ
này nhằm chỉ các phương tiện nhờ chúng mà con người mới có thể đạt được một
sự hiểu biết chính xác và đúng đắn (obtaining accurate and valid knowledge) trong
thế tục Để đạt được Prama (Av correct knowledge) hay một tri thức đúng đắn thì phải sử dụng phương cách tính toán đo lường (Srt Pramana, Av.Sources of
Knowledge/ Means of knowledge)
Trong triết học, giữa Luận Lý Học (Logic) và Siêu Hình Học (Metaphysics) có một mối tương quan rất mật thiết Luận Lý Học có những lãnh vực chính yếu là Nhận thức luận, Phương pháp luận
Các nhà triết học khi luận về nhận thức, thường được chia thành hai nhóm chủ yếu là các nhà triết học theo thuyết khả tri và các nhà triết học theo thuyết bất khả tri
Thuyết khả tri: các nhà triết học theo thuyết khả tri cho rằng con người có thể nhận thức được thế giới quan
Thuyết bất khả tri: Các nhà triết học theo thuyết bất khả tri cho rằng con người không thể nhận thức được thế giới khách quan
Ngoài hai thuyết trên, còn có chủ nghĩa hoài nghi Những người theo trào lưu này nâng sự hoài nghi lên thành nguyên tắc trong việc xem xét tri thức đã đạt được và cho rằng con người không thể đạt đến chân lý khách quan
Trang 4Nhận thức luận bàn tới nhận thức của con người về thế giới khách quan, nó nghiên cứu về bản chất, nguồn gốc và phạm vi của quá trình nhận thức của con người đối với thế giới Nhận thức luận trả lời câu hỏi: Con người có thể nhận thức được thế giới hay không? Làm sao con người nhận biết được (hay không nhận biết được) một sự vật, một hiện tượng hay một con người đang tồn tại? Làm sao ta phân biệt được luận đề đúng với luận đề sai, cái này là tốt còn cái kia là xấu? Làm sao ta khẳng định được rằng những gì ta nhìn thấy là sự thật? Tri thức về điều đó có được bằng cách nào?
Dựa vào nhận thức luận giúp chúng ta có cơ sở để xác định một nhà triết học theo thuyết khả tri hay bất khả tri Hay nói cách khác, là dựa vào việc giải quyết câu hỏi “Con người có nhận thức được thế giới hay không?”, ta phân biệt được hai trường phái: khả tri (thuyết có thể biết) và bất khả tri (thuyết không thể biết) Theo thuyết khả tri, các nhà triết học khẳng định con người có khả năng nhận thức được thế giới Còn theo thuyết bất khả tri, con người không thể hiểu được thế giới hay ít ra là không thể nhận thức được bản chất của nó, hoặc có chăng chỉ là hiểu cái bề ngoài vì các hình ảnh về đối tượng do giác quan con người mang lại không đảm bảo tính chân thực, từ đó các triết gia theo thuyết này phủ nhận khả năng nhận thức của con người và các hình thức cơ bản của nó
1.2 Quan niệm về nhận thức luận trong lịch sử triết học
Trong lịch sử triết học, ở thời Hy Lạp cổ đại, Hêraclit thừa nhận cảm giác là điểm xuất phát của nhận thức, nhưng theo ông, nhận thức cảm tính chỉ cho ta biết cái bề ngoài, vì “giới tự nhiên thích giấu mình”, do đó, tư duy phải tiến lên nhận thức được cái logos của vũ trụ Đêmôcrit, đại biểu xuất sắc của trường phái nguyên tử luận, cũng thừa nhận rằng nhận thức bắt nguồn từ cảm tính, nhưng nhận thức cảm tính là “sự nhận thức mờ tối”, chỉ có nhận thức lý tính mới cho ta biết được nguyên tử
Tuân Tử ở Trung Hoa cổ đại coi cảm giác là nguồn gốc của tri thức, nhưng theo ông, cảm giác có thể sai lầm; do đó con người phải có cái “tâm” (khái niệm “tâm” được cái nhà duy vật hiểu là tư duy) sáng suốt thì mới đạt được nhận thức đúng đắn Hàn Phi Tử cho rằng hành động của con người, nhất là hành động chính trị, là dựa trên cơ sở nhận thức Oong nhận định, con người muốn nhận thức được sự vật, trước tiên phải dựa vào giác quan và sự phán xét trong đầu Hơn nữa, trong quá trình nhận thức, phải tránh bị tình cảm chi phối, phải bình tĩnh, khách quan: “Bỏ
Trang 5điều mừng, bỏ điều ghét, giữ tâm hư không đó là nghĩa của đạo” (Hàn Phi Tử, Thiên Dương quyền)
Phật giáo Ấn Độ cổ đại lại phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính, cho rằng, cả hai loại nhận thức này chỉ cho ra những mê kiến Để nhận thức được chân lý, người tu hành phải dứt bỏ mọi ham muốn, dục vọng đời thường, để cho tâm hồn thật sự thanh tịnh, yên tĩnh Niết bàn (Nirvana trong tiếng Phạn có nghĩa đen là sự dập tắt) là một trạng thái bên trong của tư duy khi ngọn lửa tham, sân, si đã hoàn toàn bị dập tắt Khi đó, con người mới thật sự thoát khỏi trạng thái
vô minh (sự ngu dốt, sự che lấp bởi những mê kiến) và đạt đến sự bừng sáng của tư duy (sự giác ngộ), sự nhận thức trực tiếp bản chất của sự vật (sự đốn ngộ)
Ở phương Tây, trong truyền thống Do Thái – Ki tô, Kinh Thánh (Cựu ước và Tân ước) được coi là toàn bộ tri thức được Chúa Trời mặc khái cho con người thông qua Môxe (Moses), Giêxu (Jesus)…Trong sách Khái huyền (Revelation), kinh cuối cùng trong Kinh thánh trọn bộ Cựu ước và Tân ước, chương 22 điều 18 và 19 có viết: “Ai mà thêm điều gì đó, thì Thiên Chúa sẽ thêm cho người ấy tai ương mô tả trong sách này! Ai mà bớt điều gì trong các lời ở sách sấm ngôn này, thì Thiên Chúa sẽ bớt phần người ấy được hưởng về cây Trường sinh và Thành thánh đã được mô tả trong sách này!” Đối lập với Ki tô giáo, Hồi giáo lại coi Kinh Côran –
ra đời vào thế kỷ thứ VII là lời tiên tri cuối cùng, chính xác nhất, đầy đủ nhất do Chúa Trời mặc khải cho nhà tiên tri Môhamét (Muhammad), còn các kinh sách khác được các nhà tiên tri (như Môxe, Giê xu,…) truyền đạt trước đó đều thiếu sót
và nhiều điều nhầm lẫn
Suốt thời Trung cổ, các nhà thần học Kitô giáo coi niềm tin là cội nguồn cao nhất của tri thức của con người Con người phải có lòng tin tuyệt đối vào tất cả những tín điều, ngay cả khi chúng trái với lý tính thông thường Ôguystxtanh, Tômát Đacanh,…đều cho rằng, niềm tin cao hơn lý trí, triết học (theo cách hiểu lúc bấy giờ là khoa học nói chung) phải phục tùng tôn giáo, là “đầy tớ” của tôn giáo
Sau đêm trường Trung cổ, đến thời kỳ Phục hưng, các nhà triết học và khoa học như Côpecníc, Brunô, Galilê bắt đầu tuyên chiến với niềm tin tôn giáo bằng việc đưa ra và phát triển thuyết nhật tâm để chống lại thuyết địa tâm Đến thế kỷ XVII – XVIII, do sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và nhu cầu của cuộc cách mạng tư sản, các học giả của giai cấp tư sản đang lên dựa vào thành tựu của khoa học thực nghiệm để bác bỏ con đường nhận thức bằng niềm tin Một số nhà triết học như Ph.Bêcơn, R Đêcáctơ đã lấy nghi ngờ làm nguyên tắc xuất phát cho nhận thức khoa học Các nhà triết học Anh như Ph.Bêcơn, T Hốpxơ, G Lốccơ
Trang 6coi quan sát, thực nghiệm khoa học và phương pháp quy nạp là con đường duy nhất để đạt được tri thức khoa học, từ đó hình thành một truyền thống trong triết học Anh: chủ nghĩa kinh nghiệm
Chủ nghĩa kinh nghiệm có hạt nhân hợp lý của nó trong việc chống lại quan niệm
cổ truyền rút tri thức từ kinh sách, hoặc từ đầu óc chủ quan thuần túy bằng phương pháp tư biện Tuy nhiên, chủ nghĩa kinh nghiệm có thiếu sót cơ bản khi coi quan sát và thực nghiệm là cơ sở, nguồn gốc duy nhất của mọi tri thức, phủ nhận độ tin cậy của những tri thức có được bằng tư duy lý luận Chủ nghĩa kinh nghiệm
thường có hệ quả là chủ nghĩa duy tâm chủ quan
Đến triết học thời kì cận đại, giai đoạn phát triển rực rỡ của khoa học và sự thắng thế của các cuộc cách mạng tư sản, một đại diện tiêu biểu là Phăng – xi- Bê- cơn cho rằng “tri thức là sức mạnh” và năng lực hành động của con người tỷ lệ thuận với tri thức của bản thân mình, ông đã đưa ra thuyết ngẫu tượng, theo ông, để có nhận thức đúng đắn, khoa học phải làm sạch trí tuệ con người khỏi các “ảo ảnh” (ngẫu tượng) Một đại biểu khác là R Đêcáctơ – nhà triết học Pháp, đưa ta Chủ nghĩa duy lý (rationlism) là trào lưu triết học đối lập với chủ nghĩa duy cảm, chủ nghĩa kinh nghiệm Nếu chủ nghĩa kinh nghiệm tuyệt đối hóa nhận thức cảm tính thì các nhà triết học duy lý lại khẳng định rằng, lý tính của con người có thể nhận thức được thế giới một cách độc lập với kinh nghiệm cảm tính Họ tuyệt đối hóa vai trò của nhận thức lý tính, coi thường kinh nghiệm cảm tính
Cả chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa duy lý đều phạm phải sai lầm là sự phiến diện khi tuyệt đối hóa một mặt của nhận thức Vì thế A Anhxtanh, một nhà khoa học lý thuyết không ủng hộ chủ nghĩa kinh nghiệm và ông cũng chỉ ra những hạn chế của chủ nghĩa duy lý Anhxtanh khẳng định: “Đúng là niềm tin cần phải dựa một cách tốt nhất trên kinh nghiệm và tư duy Về điểm này, ta phải đồng ý một cách không ngần ngại với những người duy lý cực đoan Tuy nhiên, điểm yếu của quan điểm này là ở chỗ, nhiều điều tin tưởng đóng vai trò tất yếu và quyết định hành vi ứng xử và sự phán xét của chúng ta lại không chỉ được tìm thấy bằng phương pháp khoa học cứng nhắc Bởi vì, phương pháp khoa học chỉ dạy cho chúng ta không có gì khác hơn là các sự kiện liên hệ với nhau, quy định lẫn nhau như thế nào…Tuy nhiên, cũng rõ ràng rằng tri thức về cái đang tồn tại sẽ không
mở cửa trực tiếp đi đến tri thức về cái sẽ phải tồn tại Một người có thể có tri thức
rõ ràng nhất, hoàn chỉnh nhất về cái đang tồn tại, nhưng không thể từ đó suy diễn
ra rằng cái gì sẽ là mục đích của những khát vọng của con người chúng ta”
Trang 7Trên cơ sở kế thừa những giá trị và khắc phục những hạn chế của những trào lưu triết học trong lịch sử về các vấn đề nhận thức, triết học Mác – Lênin chỉ ra rằng, nhận thức “là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn” Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, thừa nhận thế giới vật chất tồn tại khách quan, ở ngoài con người, độc lập đối với cảm giác, tư duy và ý thức của con người Hiện thực khách quan là đối tượng của nhận thức
Hai là, thừa nhận năng lực nhận thức thế giới của con người Về nguyên tắc không
có cái gì là không thể biết Dứt khoát là không có và không thể có đối tượng nào
mà con người không thể biết được, chỉ có những cái hiện nay con người chưa biết, nhưng trong tương lai với sự phát triển của khoa học và thực tiễn, con người sẽ biết được Với khẳng định trên đây, lý luận nhận thức mascxit khẳng định sức mạnh của con người việc nhận thức và cải tạo thế giới
Ba là nhận thức là một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo Qúa trình nhận thức diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng rồi từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn Đó cũng là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu sắc hơn
Bốn là, cơ sở chủ yếu và trực tiếp nhất của nhận thức là thực tiễn Thực tiễn còn là mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý của nhận thức Nhận thức là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng, năng động sáng tạo thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sử - xã hội
Chương 2: Nhận thức luận trong triết học Ấn Độ cổ đại
2.1 Điều kiện lịch sử ra đời và phát triển của Triết học Ấn Độ cổ đại
Ấn Độ cổ là một đất nước rộng lớn thuộc bán đảo Nam Á, bao gồm cả nước
Pakixtan, Bănglađét và Neepan ngày nay Khắp vùng từ Đông Bắc đến Tây Bắc của Ấn Độ cổ đại núi non trùng điệp với dãy Himalaya nổi tiếng kéo dài 2600 km Dãy núi Vinđya phân chia Ấn Độ thành hai miền: Bắc và Nam Miền Bắc có hai con sông lớn là sông An ở phía Tây và sông Hằng ở phía Đông, chúng tạo nên hai đồng bằng màu mỡ - cái nôi của nền văn minh cổ Ấn Độ Trước khi đổ ra biển, sông An chia làm 5 nhánh, và biến lưu vực của mình thành đồng bằng Pungiasp Đối với người Ấn Độ, sông Hằng là dòng sông linh thiêng có thành phố Varanadi (Bênarét) bên bờ, nơi đây, từ ngàn xưa, người Ấn Độ cử hành lễ tắm truyền thống mang tính chất tôn giáo…Cư dân Ấn Độ rất đa dạng và phức tạp với nhiều bộ tộc
Trang 8khác nhau, nhưng về chủng tộc, có hai loại chính là người Đraviđa cư trú chủ yếu ở miền Nam, và người Arya chủ yếu ở miền Bắc
Từ trong nền văn minh sông An của người bản địa Đraviđa xa xưa, nhà nước Ấn
Độ cổ đại đã xuất hiện, nông nghiệp, thủ công, thương nghiệp đã hình thành Tuy nhiên, đến thế kỷ XVII TCN, thiên tai (lũ lụy trên sông An…) đã làm cho nền văn minh này sụp đổ Vào khoảng thế kỷ XV TCN, các bộ lạc du mục Arya ở Trung Á xâm nhập vào Ấn Độ Họ định canh, định cư và tiến hành quá trình nô dịch, đồng hóa, hỗn chủng với các bộ lạc bản địa Đraviđa Kinh tế tiểu nông nghiệp kết hợp với thủ công nghiệp gia đình mang tính tự cung, tự cấp lấy gia đình, gia tộc của người Arya làm cơ sở, tạo nền tảng vững chắc cho các công xã nông thôn ra đời và sớm được khẳng định
Trong mô hình công xã nông thôn, toàn bộ ruộng đất đều thuộc quyền sở hữu nhà nước của các đế vương, nhà nước kết hợp với tôn giáo thống trị nhân dân và bóc lột nông nô công xã, tôn giáo bao trùm mọi mặt đời sống xã hội, con người sống nặng nề về tâm linh tinh thần và khao khát được giải thoát Cũng trong mô hình này đã hình thành 4 đẳng cấp với sự phân biệt hết sức khắc nghiệt và dai dẳng Đó là: Tăng lữ - đẳng cấp cao quý nhất trong xã hội – bao gồm những người hành nghề tế lễ, Qúi tộc – đẳng cấp thứ hai trong xã hội – bao gồm vua chúa, tướng lĩnh; Bình dân tự do – đẳng cấp thứ 3 trong xã hội - bao gồm những người có chút ít tài sản, ruộng đất; Tiện nô hay nô lệ - đẳng cấp thấp và đông đảo nhất - bao gồm những người tận cùng không có quyền lợi gì trong xã hội Ngoài sự phân biệt đẳng cấp như trên, xã hội Ấn Độ cổ đại còn có sự phân biệt về chủng tộc, dòng dõi, tôn giáo, nghề nghiệp…
Những sự phân biệt này đã tạo ra những xung đột ngấm ngầm trong xã hội nhưng
bị kìm giữ bởi sức mạnh vật chất và tinh thần của nhà nước -tôn giáo Xã hội vận động, phát triển một cách chậm chạp và nặng nề Tuy vậy, nhân dân Ấn Độ vẫn đạt được những thành tựu văn hóa tinh thần khá rực rỡ
Về văn hóa, chữ viết đã được người Ấn Độ sáng tạo từ thời văn hóa Harappa, sau
đó chữ Kharosthi (thế kỷ V TCN) ra đời, chữ Brami được dùng rộng rãi vào thời vua Axôca, sau cùng, nó được cách tân thành chữ Đêvanagari để viết tiếng
Xanxcrit Văn học có các bộ Vêđa, các bộ sử thi (Mahabarata, Ramayana…) Nghệ thuật nổi bật là nghệ thuật tạo hình như kiến trúc, điêu khắc được thể hiện trong các cung điện, đền chùa, tháp, lăng tẩm, trụ đá,: tháp Xansi, trụ đá Xascna, lăng Taj Mahan, các tượng phật và tượng thần,…
Trang 9Về khoa học tự nhiên, người Ấn Độ đã làm ra lịch pháp, phân biệt được 5 hành tinh và một số chòm sao, đã phát hiện ra chữ số thập phân, xây dựng môn đại số học, đã biết cách tính diện tích các hình đơn giản và xác định được quan hệ giữa các cạnh của một tam giác vuông, đã đưa ra giả thuyết nguyên tử…Người Ấn Độ cũng có nhiều thành tựu trong y dược học
Về tôn giáo, Ấn Độ là nơi sản sinh ra nhiều tôn giáo, trong đó quan trọng nhất là đạo Bàlamôn (về sau là đạo Hinđu) và đạo Phật; ngoài ra còn có các tôn giáo khác như đạo Jaina, đạo Xích… Tạo nên và nuôi dưỡng các thành tựu đó là lịch sử Ấn
Độ cổ và trung đại Lịch sử này gồm 4 thời kỳ:
Thời kỳ văn minh Sông An (từ giữa thiên niên kỷ III đến giữa thiên niên kỷ II TCN) Nền văn minh này được biết đến qua sự phát hiện hai thành
2.2 Đặc điểm lịch sử triết học Ấn Độ cổ đại
Qua bức tranh khái quát về triết học Ấn Độ cổ đại, có thể thấy rõ một số đặc điểm chủ yếu: Nếu xem xét triết học Ấn Độ ở tổng thể và tính chất, ta thấy triết học Ấn Độ cổ đại vừa mang tính thống nhất vừa mang tính đa dạng Trên cùng cơ
sở xã hội và một mục đích chung là đi tìm lẽ sống cho nhân sinh, nhưng các trường phái triết học Ấn Độ lại phát triển theo các khuynh hướng và tính chất khác nhau
Có trường phái nhất nguyên như Vedànta nhưng cũng có những phái nhị nguyên hay đa nguyên như Jaina, Sànkhya, Vaise’sika; có những trường phái duy tâm triệt
để như Vedànta, Yoga, nhưng cũng có trường phái duy vật triệt để như Lokàyata
và những trường phái vừa giải thích thế giới bằng sự tiến hóa của vật chất do sự kết hợp hay phân rã của nguyên tử, vừa đề cao Thượng đế; có trường phái đề cao phương pháp rèn luyện đạo đức và trí tuệ, trực giác như phái Vedànta, có những trường phái đi sâu phương pháp tiếp cận chân lý bằng học thuyết nhận thức và lô gích học đặc sắc như Vais’esika, Nyàya Trường phái Jaina cho rằng dục vọng và vật dục dẫn tới sự đau khổ, do vậy phải tu luyện theo luật ahimsa Trong khi đó, Phật giáo vừa không thừa nhận thế giới quan thần quyền vừa chủ trương vạn pháp đều do nhân duyên tác động cho nên “vô thường”, “vô ngã” Và, căn cứ của nhân duyên là ở tâm chúng ta Do đó, muốn giải thoát, con người phải cắt đứt nhân duyên, xóa vô minh, diệt dục vọng bằng “Bát chính đạo”, để đạt tới cái tâm thanh tịnh, giác ngộ, giải thoát và Niết bàn Nếu tiếp cận triết học Ấn Độ ở phương diện động lực, chúng ta thấy sự cạnh tranh, kế thừa giữa các trường phái triết học duy vật, vô thần như “Lục sư ngoại đạo”, Càrvàka với các trường phái triết học duy tâm, tôn giáo như triết lý Veda, Upanishad, giáo lý đạo Bàlamôn, triết lý Vedànta,
là đặc điểm xuyên suốt của triết học Ấn Độ cổ Nếu xem xét triết học Ấn Độ ở mặt
Trang 10giá trị, triết lý đạo đức nhân sinh và mục đích tối cao là giải thoát con người khỏi nỗi khổ, trên bình diện tinh thần, tâm linh, bằng con đường tu luyện đạo đức
(karma-yoga), trí tuệ (prajna-yoga) và tín ái (bhakti-yoga), là đặc điểm trung tâm của triết học Ấn Độ cổ đại
2.3 Các thời kì hình thành và phát triển của triết học Ấn Độ cổ đại
2.4 Quan niệm của triết học Ấn Độ cổ đại về nhận thức luận
Phương pháp nghị luận của tư tưởng là nền tảng của Nhận Thức Luận trong triết học cổ điển Ấn độ, và cũng là nền tảng cho sự phát triển Nhận Thức Luận trong triết học Phật giáo
Trong các kinh văn của Ấn độ vào thời cổ đại và thời trung cổ đã xác định có 6 nguồn của nhận thức (Srt Pramanas, Av Sources of knowledge) như là những phương tiện đúng đắn của nhận thức chính xác và chân lý
Pramana, chữ Sanskrit, có nghĩa là những nguồn của nhận thức hay phương tiện của nhận thức (Av Sources of knowledge)
Prama, chữ Sanskrit, có nghĩa là nhận thức xác thực và đúng đắn (Av Correct knowledge)
Để đạt được nhận thức xác thực và đứng đắn (Prama), nguồn của nhận thức đúng (Pramana) phải hội đủ 3 yếu tố sau đây:
1.- Pramata (chủ tri, Av the subject, the knower): chủ thể nhận biết
2.-Pramana: các phương tiện để nhận thức (Av the means of obtaining the correct knowledge)
3.-Prameya: (sở tri, Av the object, the knowable): đối tượng để nhận thức hay khách thể để nhận thức
Đơn độc một mình chủ thể nhận thức thì không có gì để nhận thức, mà chỉ có một mình khách thể/ đối tượng thì cũng không phát sanh ra nhận thức Chủ thể và khách thể có một mối liên hệ mật thiết để tạo ra nhận thức/ ý thức Ý thức thì luôn luôn giao động : “tâm viên ý mã” ý nói tâm và ý của con người thì khi nghĩ tới