d Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu: Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu mà học sinh nêu ra,giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay [r]
Trang 1CHUYÊN ĐỀ:
ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP “BÀN TAY NẶN BỘT”
Ở MÔN HÓA HỌC 8,9
.I LÝ DO:
Nhằm thực hiện công văn số 1372/ Sở GDĐT – GDTrH của Sở giáo dục và đào tạo ngày 23 tháng 9 năm 2016 và công văn số / PGD & ĐT của Phòng giáo dục và đào tạo huyện Mang Thít ngày… tháng … năm 2016 về việc triển khai thực hiện phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học tích cực khác Cùng với sự chỉ đạo của Lãnh đạo trường, tôi chọn chuyên đề này để phổ biến đến các GV trong tổ bộ môn và cũng để rút kinh nghiệm cho việc thực hiện phương pháp này trong môn hóa học nói chung, môn hóa học 8 ,9 nói riêng
II.NỘI DUNG:
1)Khái niệm về phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
Phương pháp “Bàn tay nặn bột” là phương pháp “giảng dạy khoa học dựa trên tìm tòi khám phá” kiến thức của HS
2) Đánh giá học sinh trong dạy học theo phương pháp “ Bàn tay nặn bột” :
Đây là một vấn đề khá mới mẻ trong việc áp dụng phương pháp BTNB Vì vậy, khi đánh giá học sinh giáo viên cần lưu ý:
- Đánh giá học sinh qua quá trình thảo luận, trình bày, phát biểu ý kiến tại lớp học
- Đánh giá học sinh trong quá trình làm thí nghiệm
Dạy học theo phương pháp “ Bàn tay nặn bột” là giúp cho học sinh rèn luyện các
kĩ năng, tìm phương án giải quyết cho các vấn đề đặt ra, hiểu kiến thức hơn là việc làm
rõ hay giúp học sinh ghi nhớ kiến thức Chính vì vậy việc đánh giá học sinh cũng nên thay đổi theo hướng kiểm tra kĩ năng, kiểm tra năng lực nhận thức hơn là kiểm tra độ ghi nhớ kiến thức
3) Vai trò của người GV trong phương pháp “ Bàn tay nặn bột”.
Khi sử dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột”, giáo viên không phải là người truyền thụ kiến thức dưới dạng thuyết trình, trình bày mà là giúp học sinh xây dựng kiến thức
bằng cách cùng hành động với học sinh Giáo viên - người hướng dẫn: Đề ra các tình
huống, những thách thức, định hướng các hoạt động Là người đàm phán với học sinh những thay đổi nhận thức liên quan với những câu hỏi được xử lí, với các thiết bị thực nghiệm thích đáng, với mô hình giải thích hợp lí, Đảm bảo sự đón trước và giả quyết những xung đột nhận thức
III GIẢI PHÁP:
Tiến trình của phương pháp “Bàn tay nặn bột”.
a)Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề: Tình huống xuất phát hay tình
huống nêu vấn đề là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học Tình huống xuất phát phải ngắn gọn, gần gũi dễ hiểu đối với học sinh Tình huống xuất phát càng rõ ràng thì việc dẫn nhập cho câu hỏi nêu vấn đề càng
dễ
b) Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh: Làm bộc lộ quan niệm ban đầu
hay biểu tượng ban đầu để từ đó hình thành các câu hỏi hay giả thuyết của học sinh là bước quan trọng, đặc trưng của phương pháp BTNB Khi yêu cầu học sinh trình bày quan niệm ban đầu, giáo viên có thể yêu cầu bằng nhiều hình thức biểu hiện của học sinh như trả lời cá nhân hoặc thảo luận nhóm
c).Bước 3: Đề xuất câu hỏi,giả thuyết, thiết kế phương án thực nghiệm:
Trang 2* Đề xuất câu hỏi:Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu của học
sinh,giáo viên giúp học sinh đề xuất câu hỏi Chú ý xoáy sâu vào những sự khác biệt liên quan đến kiến thức trọng tâm của bài học
* Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu: Từ các câu hỏi được đề xuất, giáo viên
nêu câu hỏi cho học sinh suy nghĩ đề xuất thực nghiệm tìm tòi nghiên cứu để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó Sau khi học sinh đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, giáo viên nêu nhận xét chung và quyết định tiến hành phương pháp thí nghiệm đã chuẩn bị sẵn Trường hợp họcsinh không đưa ra được phương án thích hợp, giáo viên có thể gợi ý hay đề xuất cụ thể phương án nếu gợi ý mà học sinh vẫn chưa nghĩ ra
d) Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu:
Từ các phương án thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu mà học sinh nêu ra,giáo viên khéo léo nhận xét và lựa chọn dụng cụ thí nghiệm hay các thiết bị dạy học thích hợp để học sinh tiến hành nghiên cứu Khi tiến hành thí nghiệm, giáo viên nêu rõ yêu cầu và mục đích thí nghiệm hoặc yêu cầu học sinh cho biết mục đích của thí nghiệm chuẩn bị tiến hành Sau đó giáo viên mới phát các dụng cụ và vật liệu thí nghiệm tương ứng với hoạt động
e) Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức: Sau khi thực hiện thực nghiệm tìm tòi
– nghiên cứu, các câu trả lời dần dần được giải quyết, các giả thuyết được kiểm chứng, kiến thức được hình thành, tuy nhiên vẫn chưa có hệ thống hoặc chưa chuẩn xác một cách khoa học.Giáo viên có nhiệm vụ tóm tắt, kết luận và hệ thống lại để học sinh ghi lại vàovở, coi như kiến thức của bài học Giáo viên khắc sâu lại kiến thức cho học sinhbằng cách cho học sinh nhìn lại, đối chiếu lại với các ý kiến ban đầu ( quan niệm ban đầu )
Như vậy từ những quan niệm ban đầu sai lệch, sau quá trình thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu, chính học sinh tự phát hiện ra mình sai hay đúng mà không phải do giáo viên nhận xét một cách áp đặt Chính học sinh tự phát hiện những sai lệch trong nhận thức và tự sửa chữa, thay đổi một cách chủ động.Những thay đổi này sẽ giúp học sinh ghi nhớ lâu hơn, khắc sâu khiến thức
* Bài dạy thực hiện chuyên đề :
+ Hóa học 8 : Bài PHẢN ỨNG HÓA HỌC ( tiết 2)
+ Hóa học 9 : Bài : SẮT
IV KẾT LUẬN.
Sau khi thực hiện 1 tiết dạy áp dụng phương pháp “ Bàn tay nặn bột” ở môn hóa học lớp 8, tôi nhận thấy 1 số thuận lợi và khó khăn khi thực hiệnphương pháp này như sau:
* Thuận lợi:
- Được sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của Lãnh đạo trường
- Cơ sở vật chất và trang thiết bị của nhà trường đáp ứng cho việc dạy học khi áp dụng phương pháp này tương đối đầy đủ
- Kích thích được sự tìm tòi khám phá kiến thức môn học của HS
- HS có thể nhớ ngay và lâu kiến thức của bài học
- Rèn tốt kỹ năng thực hành thí nghiệm, giải thích, tổng hợp kiến thức của HS
* Khó khăn:
-Phần lớn HS không chuẩn bị bài trước ở nhà nên vào lớp các em thụ động không tự tin khi phát biểu ý kiến của mình
-Thời gian/ 1 tiết học chưa phù hợp (45 phút)
- Đối tượng HS trung bình, yếu, kém khó áp dụng được phương pháp này
Trang 3V KIẾN NGHỊ.
Để thực hiện phương pháp “ Bàn tay nặn bột” 1 cách phổ biến hơn, tôi xin kiến nghị như sau:
- Khung thời gian/ 1 tiết học nên dài hơn 45 phút ( đối với tiết dạy áp dụng phương pháp bàn tay nặn bột)
- Việc phân hóa học sinh rõ rệt theo trình độ nhận thức của HS như hiện nay(Lớp giỏi, lớp khá, lớp trung bình, lớp yếu, lớp kém) không nên áp dụng phương pháp này cho tất
cả các lớp
Trên đây là toàn bộ nội dung chuyên đề, tôi rất mong sự đóng góp ý kiến của quý đồng nghiệp để việc thực hiện phương pháp “ Bàn tay nặn bột”được dễ dàng, thuận lợi và phổ biến hơn
Chánh An, ngày tháng năm 2016
GV viết chuyên đề
Trần Huỳnh Thúy Vân Duyệt của TT ……….
……….
……….
Trần Huỳnh Thúy Vân
DUYỆT CỦA BAN GIÁM HIỆU ………
………
………
……….
……….
Trang 4*HÓA 9:
A.CHUẨN KIẾN THỨC KĨ NĂNG :
1/Kiến thức:Học sinh biết được :
-Khái niệm về sự ăn mòn kim loại và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự ăn mòn kim loại
- Cách bảo vệ kim loại không bị ăn mòn
2/ Kĩ năng:
-Quan sát một số thí nghiệm, rút ra được nhận xét về một số yếu tố ảnh hưởng đến sự
ăn mòn kim loại
-Nhận biết được hiện tượng ăn mòn trong thực tế
-Vận dụng để bảo vệ một số đồ vật kim loại trong gia đình
B.PHƯƠNG PHÁP:
-Nêu và giải quyết vấn đề
-Tổ chức cho học sinh học tập độc lập và hợp tác nhóm
-Sử dụng thí nghiệm nghiên cứu
C.THIẾT BỊ SỬ DỤNG:
Chuẩn bị thí nghiệm hình 2.19 SGK
D.NỘI DUNG:
1)Tình huống xuất phát:
Chúng ta đã biết sự ăn mòn kim loại đã gây ra nhiều tổn hại cho nền kinh tế Để bảo
vệ kim loại ăn mòn cần tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sự ăn mòn
Vậy môi trường đã ảnh hưởng đến sự ăn mòn kim loại như thế nào?
(HS ghi câu hỏi vào tập thực hành)
2)Nêu ý kiến ban đầu của học sinh:
-Dựa vào kiến thức thực tiễn trong đời sống, HS có thể nêu những ý kiến khác nhau về ảnh hưởng của thành phần môi trường đến sự ăn mòn kim loại
-Nhóm HS tảo luận trình bày kết quả , nhận xét và hoàn thiện
-HS ghi ý kiến vào tập
3)Đề xuất các câu hỏi:
Dựa vào ý kiến ban đầu trên, HS đề xuất các câu hỏi nghiên cứu
Nhóm HS thảo luận , trình bày kết quả , nhận xét , hoàn thiện
GV có thể hỗi trợ HS (nếu cần)
4)Đề xuất các thí nghiệm nghiên cứu:
a- Đề xuất thí nghiệm:
Căn cứ vào các câu hỏi HS nêu ra ở trên, HS cần đề xuất thí nghiệm nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự ăn mòn kim loại như thế nào?
HS làm việc cá nhân và hợp tác nhóm, thảo luận đề xuất các thí nghiệm với sự hỗ trợ của giáo viên
HS báo cáo kết quả, nhận xét , hoàn thiện để chọn ra thí nghiệm thích hợp
b- Tiến hành thí nghiệm:
-HS nhận dụng cụ , hóa chất để tiến hành thí nghiệm
-Trước khi tiến hành thí nghiệm , HS dự đoán kết quả thí nghiệm
-HS ghi dự đoán kết quả thí nghiệm vào giấy
-Nhóm tiến hành thí nghiệm , mô tả hiện tượng , giải thích
(Các TN này HS thực hiện trước ở phòng TN trước 1 tuần để có hiện tượng rõ ràng.)