Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc Tư tưởng HCM về đại đoàn kết dân tộc
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN
NAY
Giảng viên hướng dẫn:
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021
Trang 22
Mục lục
Lý do chọn đề tài: 3
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC 4
1.1 Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của cách mạng: 4
1.2 Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam 5
1.3 Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân: 6
1.4 Đại đoàn kết dân tộc phải có tổ chức, phải có lãnh đạo: 6
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 9
2.1 Thực trạng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay 9
2.1.1 Tích cực: 9
2.1.2 Hạn chế 11
2.1.3 Nguyên nhân: 12
2.2 Giải pháp xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay 13
Kết luận 15
Danh mục tài liệu tham khảo 16
Trang 33
Lý do chọn đề tài:
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “Sử dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”1 Thật đúng vậy, khi nhìn lại bốn nghìn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam, nơi nào có đoàn kết nơi đó có sức mạnh, nơi nào có đoàn kết nơi đó có chiến thắng Đoàn kết là một truyền thống quý báu, một giá trị tinh thần to lớn được hun đúc trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước
Và lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành một sự quan tâm rất lớn đến vấn đề đại đoàn kết dân tộc Chúng ta có thể nhận thấy rõ điều đó qua các bài nói, bài viết, bài thơ… Trong Hồ Chí Minh toàn tập do nhà xuất bản chính trị Quốc gia phát hành thì có tới 839 bài trên 1921 bài viết được Người đề cập đến đại đoàn kết dân tộc Điều đó chứng tỏ đoàn kết đã trở thành một tư tưởng cơ bản, nhất quán, xuyên suốt trong cả cuộc đời hoạt động cách mạng, Người xem nó như là một nguồn sức mạnh vô địch, một tấm lá chắn vững chắc ngăn cản những khó khăn, thử thách Tư tưởng đoàn kết của Người không chỉ có giá trị trong quá khứ, mà nó còn được vận dụng hiện tại và cả tương lai
Trong số những di sản mà Người để lại có tư tưởng về đại đoàn kết – và giá trị của nó là một điều mà không ai có thể bàn cải Hiện nay, không chỉ thế giới mà Việt Nam chúng ta đang phải đối mặt với những khó khăn của dịch bệnh, hơn bao giờ hết tinh thần đoàn kết của nhân dân lại cần thiết như lúc này, nhưng chúng ta phải thực hiện nó như thế nào, làm sao để vận dụng được tư tưởng của Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết trong giai đoạn hiện nay Liệu rằng trong quá thực hiện có gặp phải những thách nào hay không? Và để giải đáp cho những câu hỏi đó em đã quyết định
chọn đề tài: tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc làm đề tài nghiên cứu
của mình
1 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tập 3, tr 256
Trang 43 Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tập.3 tr 607
4
CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
Trên cơ sở tiếp thu những giá trị truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam, mà giá trị hàng đầu là chủ nghĩa yêu nước, là một trong những yếu tố tạo nên cốt cách của con người Việt Nam, ngoài ra còn có những tinh hoa văn hóa phương Tây, lý luận khoa học tư tưởng đại đoàn kết của học thuyết Mác-lênin, đặc biệt là việc vận dụng một cách sáng tạo những thực tiễn từ các cuộc cách mạng Việt Nam lẫn thế giới, từ đó tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc dần được hình thành, và ngày càng hoàn thiện Nội dung cơ bản của đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm bốn nội dung như sau:
1.1 Đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định
thành công của cách mạng:
Từ thực tiễn lịch sử của dân tộc, bên cạnh chủ nghĩa yêu nước, đoàn kết là một trong những giá trị tinh thần, một truyền thống quý báu, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam Do vậy đến thời đại của Hồ Chí Minh Người cũng chỉ ra rằng tình yêu nước là quan trọng nhưng như vậy chưa đủ Trong thời đại mới,
để đánh bại các thế lực đế quốc thực dân nhằm giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người còn phải dựa vào sự đoàn kết của cả dân tộc Cách mạng muốn thành công và thành công đến nơi phải có một lực lượng cách mạng đủ mạnh, muốn có được điều đó thì phải tập hợp được tất cả lực lượng có thể tập hợp, quy tụ lại xây dựng thành khối đại đoàn kết dân tộc bền vững Người nói: “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”2 Có đoàn kết thì mới có thành công, và sự thành công có được là dựa trên cơ sở của đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết và thành công là mối quan hệ gắn bó “hữu cơ” với nhau Vì vậy cho nên đại đoàn kết dân tộc được Hồ Chí Minh xác định là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, cốt lõi, lâu dài và xuyên suốt quá trình của cuộc cách mạng
Người khẳng định rằng đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề mang tính chiến lược lâu dài chứ không phải mang tính sách lược Đây là vấn đề mang tính sống còn của cả dân tộc Việt Nam, chiến lược không chỉ được duy trì, bảo đảm trong quá trình đấu tranh giành độc lập tự do mà cả trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay Trong mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, mỗi nhiệm khác nhau thì chính sách, phương pháp đại đoàn kết có thể khác nhau miễn là phù hợp với từng đối tượng, song không bao
Trang 54 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập.6, tr.183
5
giờ thay đổi chủ trương đại đoàn kết dân tộc vì đại đoàn kết là nguyên nhân là cội nguồn thành công của mọi cuộc cách mạng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát vai trò và sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc thành những luận điểm: “Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta”, “Đoàn kết là một lực lượng vô địch của chúng ta để khắc phục khó khăn, giành thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”, “Đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công”, “Bây giờ có một điểm rất quan trọng, cũng là điểm mẹ Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt: Đó là đoàn kết”3
1.2 Đại đoàn kết toàn dân tộc là một mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam:
Theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh đoàn kết là cội nguồn của mọi thắng lợi, đoàn kết không chỉ là một khẩu hiệu mà còn là một mục tiêu lâu dài, là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam Bởi vì mục tiêu của cách mạng, của toàn đảng, của toàn dân là độc lập - tự do - hạnh phúc, nhưng muốn đạt được điều đó trước hết phải thực hiện mục tiêu đại đoàn kết dân tộc Trong lời kết thúc buổi ra mắt Đảng Lao động Việt Nam ngày 3-3-1951, Hồ Chí Minh tuyên bố: “Mục đích của Đảng Lao động Việt Nam có thể gồm trong tám chữ là: đoàn kết toàn dân, phụng sự tổ quốc”4 Để thực hiện mục tiêu quan trọng này Đảng phải xây dựng một đường lối chiến lược, quán triệt đại đoàn kết dân tộc trên tất cả các lĩnh vực, từ chủ trương chính sách cho tới các hoạt động thực tiễn
Ngoài ra đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục tiêu của Đảng mà còn nhiệm vụ của còn toàn dân tộc vì quần chúng nhân dân là chủ thể của cách mạng Nhưng vai trò chủ thể của nhân dân chỉ được phát huy một cách triệt để khi nhân dân đoàn kết thành một khối vững chắc Sứ mệnh của Đảng cộng sản lúc này là phải tập hợp, dẫn dắt, giữ gìn, đoàn kết quần chúng thành một khối đại đoàn kết sao cho phát huy tối đa sức mạnh, tạo ra được lợi ích cho chính nhân dân Trong di chúc Bác căn dặn: “Đoàn kết
là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.”
3 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập.8, tr.392
Trang 65 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập.9, tr.244
6
1.3 Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân:
Khi xác định chủ thể của khối đại đoàn kết dân tộc Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ
ra rằng đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân, trong thế giới không gì mạnh bằng sức mạnh đoàn kết của nhân dân” Người xác định dân có một vai trò quan trọng, dân là gốc của cách mạng, là chủ thể của đại đoàn kết, là nền tảng của đất nước Với Chủ tịch Hồ Chí Minh “yêu dân, tin dân, dựa vào dân, phấn đấu vì hạnh phúc nhân dân là nguyên tắc tối cao của cuộc sống” Để phát huy tối đa sức mạnh dân tộc vì mục đích độc lập, tự do, dân chủ, theo Người đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết với tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các ngành,… không phân biệt lứa tuổi, tôn giáo đồng bào, miễn là tất
cả mọi người đều có chung mục tiêu “Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” “Ai có tài, có sức, có đức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”5
Đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ trong quá trình xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân phải đứng trên lập trường giai cấp công nhân giải quyết hài hòa mối quan hệ giai cấp và dân tộc Tìm và khai thác những điểm tương đồng giữa giai cấp và dân tộc Đã là người Việt Nam thì đều có chung một tổ tiên, cùng mang trong mình một dòng màu Việt, tất cả cùng chung kẻ thù, chung nguyện vọng là độc lập, tự do, hạnh phúc Giai cấp và dân tộc là một thể thống nhất, giải phóng giai cấp công nhân chính là giải phóng dân tộc Muốn cho khối đại đoàn kết dân tộc lớn mạnh phải tập hợp tất cả các lực lượng không được phép bỏ sót lực lượng nào miễn
là lực lượng đó có lòng trung thành và sẵn sàng phục vụ tổ quốc, không phản bội lại quyền lợi của dân chúng
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng xác định lấy lực lượng công nhân nông dân và lao động trí óc làm nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Cây muốn sống thì phải
có gốc, nhà muốn vững thì phải có nền, tương tự vậy muốn cho khối đại đoàn kết ngày càng mở rộng, không e ngại bất kỳ một thế lực nào thì nền tảng ấy phải vững phải chắc
1.4 Đại đoàn kết dân tộc phải có tổ chức, phải có lãnh đạo:
Đại đoàn kết dân tộc là một vấn đề chiến lược, mang tính sống còn, được xây dựng trên cơ sở lý luận khoa học vì vậy phải có một tổ chức, lãnh đạo đứng ra dẫn
Trang 76 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập.10, tr.331
7
dắt để hoàn thành nhiệm vụ độc lập tự do, xây dựng nhà nước chủ nghĩa xã hội Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trở nên vững chắc to lớn khi được tập hợp thành Mặt trận dân tộc thống nhất, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Mặt trận dân tộc thống nhất là nơi quy tụ mọi tổ chức, các cá nhân yêu nước dù là trong nước hay kiều bào đang sinh sống nước ngoài Bác nói: “Mặt trận bao gồm tất cả những người yêu nước, không phân biệt khuynh hướng chính trị, tín ngưỡng, tôn giáo, giai cấp xã hội, nam nữ và tuổi tác”6 Chỉ có khi được tập hợp lại thành một khối chặt chẽ, được giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng, con đường đúng đắn thì toàn dân tộc mới trở thành một lực lượng vô địch, mang trong mình một nguồn sức mạnh to lớn, sẵn sàng đánh bay các thế lực thù địch, còn nếu không, dù quần chúng nhân dân có đông tới đâu đi chăng nữa đó cũng chỉ là lớn mạnh về mặt số lượng, nhưng lại không có sức mạnh, vô cùng rời rạc
Tổ chức đảm nhận sức mạnh của đại đoàn kết dân tộc là Mặt trận dân tộc thống nhất Mặt trận này đã từng trải qua rất nhiều lần đổi tên, song bản chất của nó lại chưa từng thay đổi: Hội phản đế đồng minh (1930); Mặt trận Dân chủ (1936); Mặt trận nhân dân phản đế (1939); Mặt trận Việt Minh (1941); Mặt trận Liên Việt (1946); Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam (1960); Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1955 và 1976) Tất cả vẫn là một tổ chức chính trị xã hội rộng rãi, tập hợp nhiều tầng lớp, giai cấp, tôn giáo, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể, vì một mục tiêu độc lập, thống nhất tổ quốc, nhân dân hòa bình hạnh phúc
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh nguyên tắc cốt lõi trong xây dựng chiến lược đại đoàn kết dân tộc đó là: mặt trận dân tộc thống nhất phải được xây dựng trên nền tảng của khối liên minh công nhân – nông dân – và đội ngũ lao động trí thức Trong lực lượng phong phú của mặt trận, có một thành viên ưu tú là Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng không có lợi ích riêng mà gắn bó với lợi ích toàn xã hội toàn dân tộc, và Đảng trở thành lực lượng lãnh đạo cho mặt trận dân tộc thống nhất và cũng chỉ có Đảng đủ năng lực, đủ đạo đức, đủ trình độ để đảm nhận vị trí đó Tuy nhiên Người cũng nhấn mạnh rằng: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất Chỉ trong đấu tranh và công tác hàng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được
Trang 87 Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tập.3, tr.168
8
địa vị lãnh đạo”7 Đứng trên vai trò lãnh đạo, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng là phải
ra sức tuyền truyền, giáo dục để quần chúng nhân dân hiểu được tầm quan trọng của đại đoàn kết, ngày càng mở rộng, phát triển mặt trận dân tộc thống nhất, thu hút nhiều lực lượng yêu nước tham gia
Trang 99
CHƯƠNG 2: SỰ VẬN DỤNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ ĐẠI
ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
2.1 Thực trạng xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta hiện nay:
2.1.1 Tích cực:
Đảng và nhà nước trong thời kì hiện nay nhà nhờ những chính sách, chủ trường, đường lối đúng đắn về cơ bản đã xây dựng thành công khối đại đoàn kết dân tộc, đạt được thành tựu trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng…
- Sau hơn 35 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng nước ta từ một nước có nền kinh tế bao cấp, lạc hậu, bị cấm vận đã có những bước tiến, đạt được những thành tựu quan trọng Đất nước dần thoát khỏi khủng hoảng kinh tế, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện Việt Nam đã tham gia hợp tác với nhiều tổ chức quốc tế trên nhiều cấp độ như năm 2007 Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới WTO, trở thành
1 trong năm ủy viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc nhiệm kì 2020-2021 Năm 2020, trong bối cảnh đại dịch COVID-19 tác động mạnh đến nước ta, gây nhiều thiệt hại về kinh tế - xã hội, nhưng với sự nỗ toàn dân đoàn kết chung tay cùng nhau vượt qua khó khăn, Việt Nam đã được được thành tích đặc biệt Trong khi kinh tế thế giới suy thoái, tăng trưởng âm gần 4%, kinh tế nước ta vẫn đạt mức tăng trưởng 2,91%, là một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới
- Từ năm 1986 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều nghị quyết nhằm tăng cường, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới, tiêu biểu là các Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, VII, VIII, IX, X, XI và XII của Đảng; Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 (bổ sung và phát triển năm 2011); Nghị quyết số 08B-NQ/HNTW, ngày 27/3/1990 Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân; Nghị quyết 07-NQ/TW, ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất; Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Hội
Trang 1010
nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh;" Kết luận số 62-KL/TW ngày 8/12/2009 của Bộ Chính trị (khóa X) về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị, xã hội Nhờ những nghị quyết, chính sách mà khối đại đoàn kết toàn dân ngày càng vững mạnh và kiên cố
- Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em Đảng và nhà nước luôn quan tâm, chăm lo đời sống các dân tộc đặc biệt là các dân tộc thiểu số, từ đó củng cố lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng của Nhà nước Vấn đề này luôn Đảng nhà nước thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết Tại nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (khoá IX) về công tác dân tộc đã chỉ rõ:“Phát triển toàn diện chính trị, kinh
tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm
hỗ trợ của Trung ương và sự tương trợ, giúp đỡ của các địa phương trong cả nước” Qua đó cho thấy được Đảng và nhà nước luôn phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ nhau, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất Đồng thời tinh thần đoàn kết, tương trợ nhau của các đồng bào dân tộc miền núi cũng được đẩy mạnh, đời sống người dân ngày càng đi lên, khoảng cách giữa các dân tộc càng được thu hẹp lại
- Ngoài chăm lo phát triển kinh tế, trong những năm qua Đảng và nước cũng không ngừng đẩy mạnh hoạt động giáo dục, nâng cao dân trí, chăm lo sức khỏe cho các đồng bào dân tộc Điều này góp phần quan trọng trong việc giúp các đồng bào tiếp thu kiến thức trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, chính trị, an toàn xã hội, an ninh quốc phòng qua đó nâng cao năng suất lao động,
ổn định cuộc sống, tránh những âm mưu phá hoại gây chia rẽ đoàn kết dân