Trên 70 bể chứa dầu khí ở Đông Nam Á đều nằm trên rìa nội mảng, ở phía Tây kéo dài từ Bắc Thái Lan xuống vịnh Malay đến biển Tây Natuna, ở phía Đông là toàn thềm lục địa Việt Nam, chúng
Trang 2Hầu như tất cả các bể trầm tích Đệ tam
chứa dầu khí ở Đông Nam Á được hình
thành gắn liền với hoạt động kiến tạo mảng
giai đoạn Đệ Tam (Hình 4.1)
Trên 70 bể chứa dầu khí ở Đông Nam Á
đều nằm trên rìa nội mảng, ở phía Tây kéo
dài từ Bắc Thái Lan xuống vịnh Malay đến
biển Tây Natuna, ở phía Đông là toàn thềm
lục địa Việt Nam, chúng phân bố liền kề
hoặc ở nơi giao nhau của các đới khâu hay
đứt gãy lớn xuyên cắt vùng rìa Nam của
mảng Âu - Á vào Đệ Tam, như Sagaing,
Three Pagodas, Mae Ping - Hậu Giang,
Petchabun, Ranong, Khlong Marui, Sông
Hồng, Sông Mã, Rào Nậy, Đà Nẵng, kinh
Vì thế việc tái lập kiến tạo mảng của
Đông Nam Á là cần thiết nhằm nghiên cứu
vai trò chuyển động của các mảng trong sự
hình thành các bể và đặc điểm phân bố dầu
khí
Cấu trúc Đông Nam Á gồm nhiều vi
mảng (microplates) nằm kẹp giữa 3 mảng
lớn: các mảng Âu - Á, Ấn - Úc và Thái Bình
Dương Theo kết quả đo độ dịch chuyển
cổ từ, hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và
cường độ động đất thì cường độ hoạt động
của các mảng này còn khá mạnh với tốc độ
dịch chuyển lớn được ghi nhận từ Đệ Tam
đến nay
Đặc điểm kiến tạo Đông Nam Á trong
của các mảng lớn:
Bắc va chạm vào mảng Âu - Á,
dưới cung đảo Sumatra,
theo hướng tây - tây bắc hút chìm dưới cung đảo Philippin ở rìa Đông mảng Âu
- Á,
Trường động lực đã tạo sự xoay chuyển các vi mảng (microplates), sự trượt bằng dọc các đới khâu và các đứt gãy lớn theo đó các bể Đệ Tam được hình thành, đồng thời cũng tạo tính chu kỳ xen những gián đoạn khu vực được ghi nhận ở tất cả các bể Đệ Tam Đông Nam Á Chu kỳ phát triển kiến tạo - tướng đá và magma giai đoạn Đệ Tam liên quan đến các chu kỳ va chạm và hút chìm giữa các mảng lớn
Nguồn gốc kiến tạo của các bể trầm tích là vấn đề tranh luận, và có rất nhiều mô hình Một số nhà địa chất giả định nguyên nhân hình thành các bể Đệ Tam ở ĐNÁ là
do căng giãn sau cung kết quả của sự hút chìm và hội tụ xiên (oblique convergence)
1 Đặc điểm cấu trúc Đông Nam Á theo
mô hình kiến tạo mảng
Trang 3dọc rãnh sụt (trench) Sumatra - Java
(Kingston và nnk, 1983); do sự kéo toác
dọc các đứt gãy trượt bằng trái lớn
(left-lateral strike-slip faults) theo thuyết kiến
tạo thúc trồi (Tapponnier và nnk., 1982),
do tách rift sau cung (back arc rifting) kết
hợp với hoạt động gãy trượt dốc (wrench
faulting) (Hamilton,1979; Crostella,1981);
do tách rift liên quan đến sự dâng trồi của manti (mantle plume) (Hutchinson,1989; Khalid Ngah và nnk., 1996); do căng giãn kết quả của sự xoay trường ứng lực (rotating
of stress field) trong quá trình va mảng giữa Ấn Độ và Âu - Á (Harder và nnk., 1992;
Hình 4.1 Sơ đồ phân bố các bể chứa dầu chính ở Đông Nam Á
Trang 4Huchon và nnk., 1994); do cắt trượt phải
(dextral shear) dọc các đứt gãy trượt hướng
tây-bắc tồn tại trước đó (Polochan và nnk.,
1989); hoặc do kéo toác liên quan đến sự
uốn cong của quần đảo Andaman - Sumatra
- Java (Hutchinson,1992)
Dù có nguồn gốc khác nhau, nhưng
các bể này được thành tạo liên quan đến
chuyển động trượt bằng (strike-slip), căng
giãn (extension) bên trong mảng và có
dạng graben hoặc nửa graben với các chu
kỳ trầm tích và những bất chỉnh hợp đồng
tuổi với nhau được quan sát thấy trong tất
cả các bể
Môi trường trầm tích và quy luật phân
bố dầu khí trong các bể Đệ Tam được khống
chế bởi hai yếu tố: - chuyển động kiến tạo
của các vi mảng nội lục (intracontinental
microplates) và sự dao động có tính chu kỳ
của mực nước đại dương
Sự dao động mực nước đại dương, đặc
biệt trong Oligocen - Miocen, đóng vai trò
quan trọng trong sự phân bố tướng trầm tích
và đặc tính dầu khí
Mặc dù tất cả các tác giả đều thừa nhận
cấu trúc Đông Nam Á được hình thành do sự
va chạm của các mảng lớn, nhưng mô hình
động lực lại được giải thích khác nhau
2 Những quan điểm khác nhau về mô
hình động lực di chuyển các mảng
2.1 Quan điểm thúc trồi (extrusion) theo
Tapponnier và nnk., 1982, 1986
Với mô hình kiến tạo này vào Eocen sự
va chạm của mảng động Ấn Độ (indentor)
và chuồi sâu (deep penetration) vào mảng
châu Á đã làm cho những khối lớn vỏ lục
địa bị trồi lên, xoay phải và trượt về hướng
Đông (như khối Hoa Nam, khối Đông Dương hay Sundaland), dọc theo các đới cắt trượt chính như: Sông Hồng, Tây Malaysia, Vịnh Thái Lan v.v tạo tách giãn đáy biển Andaman, Biển Đông và sự căng giãn ở Vịnh Thái Lan (Hình 4.2)
Huchon và nnk (1994) đã chỉnh sửa và đưa ra thuyết rút ngắn vỏ Trái Đất (crust shortening, Hình 4.3) ở vùng Bắc góc hội tụ Tây Tạng theo đó sự căng giãn (extension) phát triển về phía Đông và Nam của mảng động Ấn Độ Với sự dịch chuyển đới hội tụ về phía Bắc, một mảng vỏ nằm kề phía Đông có xu thế bị thúc trồi trước tiên về phía Đông hoặc Đông - Bắc, sau đó về phía Nam làm mảng này xoay phải Phần vỏ nằm
ở xa hơn về phía Đông sẽ có trường ứng lực tối đa hướng đông - tây, sau đó chuyển sang bắc - nam khi đới hội tụ tiếp tục di chuyển lên phía Bắc Dựa theo đó, Huchon đã lập mô hình các trường ứng lực theo 4 thời kỳ (Hình 4.4) từ giữa Eocen (50 triệu năm) đến giữa Miocen (16 triệu năm) Một số lớn các khối nội mảng (intraplates) bên trong địa khối Đông Dương (Indochina) cũng thay đổi hướng chuyển động theo sự chuyển hướng của trường ứng lực Huchon cũng thừa nhận
xu thế trượt bằng phải (right lateral) trong mô hình thúc trồi của Tapponnier làm xoay khối Đông Dương và giãn đáy Biển Đông Sự thúc trồi xảy ra không đồng nhất, có xu thế phân dị theo thời gian Vào giữa Eocen bắt đầu sự va chạm, vào Oligocen (32 triệu năm) giãn đáy Biển Đông, vào Miocen sớm (23 triệu năm) có sự đổi hướng giãn đáy của Biển Đông, vào Miocen giữa kết thúc sự giãn đáy Biển Đông, không đề cập đến vai trò chuyển động của các vi mảng trong cấu trúc mảng Thái Bình Dương Sự
Trang 5500 km
B A
I K L
A L A I
H I
M A
L A
A Y 3
ẤN ĐỘ
Căng giãn vào Kainozoi
Vỏ đại dương Biển Đông
và biển Andaman
Đất liền
ĐO ÂNG DƯ
Hình 4.2 Sơ đồ cấu tạo thúc trồi và các đứt gãy lớn ở Đông Châu Á
Trang 6TPF: Đứt gãy Three Pagodas SF: Đứt gãy Sagaing
MPF: Đứt gãy Mae-Ping RRF: Đứt gãy Sông Hồng
BRS: Đới khâu Bentong - Raub
MBT: Đới nghịch chờm chính ở rìa mảng
TPF: Đứt gãy Three Pagodas SF: Đứt gãy Sagaing
MPF: Đứt gãy Mae-Ping RRF: Đứt gãy Sông Hồng
BRS: Đới khâu Bentong - Raub
MBT: Đới nghịch chờm chính ở rìa mảng
Trang 7MIOCEN SỚM (23 Ma)
Đổi hướng giãn đáy Biển Đông
(South China Sea)
MIOCEN GIỮA (16 Ma) Kết thúc giãn đáy Biển Đông (South China Sea)
IN - mảng Ấn Độ
Ghi Chú
Hình 4.4 Bản đồ trường ứng lực (theo R D Shaw, 1997; Huchon, 1994)
Trang 8trượt bằng dọc các đứt gãy lớn như Sagaing
(SF), Three Pagodas (TPF) và đứt gãy
Sông Hồng (RRF) đã tạo sự giãn đáy biển
Andaman, hình thành các bể rift Vịnh Thái
Lan và Sông Hồng Quan điểm này đã bổ
sung cho cách giải thích sự tạo rift đơn
thuần do chuyển động sụt lún dọc đứt gãy
(downfaulting) của Polachan (1988, 1991)
vào Oligocen để hình thành bể như bể Vịnh
Thái Lan v v
Shaw R.D (1997) dựa vào các quan
điểm trên cũng cho rằng sự dịch chuyển
theo các đứt gãy không chỉ trượt bằng phải
mà đổi hướng theo thời gian - ban đầu vào
Eocen (?) hoặc Oligocen chuyển động dọc
các đứt gãy Mae Ping và Three Pagodas
chủ yếu là trượt bằng trái (sinistral), sau
đó (sau thời gian 23 triệu năm) xảy ra sự
đảo hướng sang trượt bằng phải (dextral),
gây hiện tượng nghịch đảo kiến tạo vào
cuối Oligocen quan sát thấy ở bể Tây
Natuna hoặc bể Sông Hồng ở phía Bắc vi
mảng Đông Dương Xen giữa hai thời kỳ
này là thời kỳ yên tĩnh kiến tạo (structural
quiescene), với sự sụt rift là chủ yếu, kéo
dài 10 - 15 triệu năm tạo phức hệ trầm tích
dày chứa dầu tuổi Oligocen Sự đổi hướng
và cường độ chuyển động được giải thích
do sự chuyển dịch vị trí của rìa đới hội tụ
(convergence margins) khi mảng động Ấn
Độ thúc lên phía Bắc tạo hướng tương tác
(interaction) khác nhau đối với các đứt gãy
chính, như Three Pagodas và Sông Hồng
2.2 Quan điểm về mô hình động của
nhiều vi mảng (kinematic modelling
of numerous microplates)
Rangin và nnk., 1990; Daly và nnk.,
1991; Ian M Longley, 1997; Hall R 1997:
Các tác giả này cho rằng: Đông Nam Á gồm một phức hợp các vi mảng đại dương và lục địa (địa khối) kẹp giữa các mảng lớn lục địa tương đối ổn định Âu - Á ở Tây - Bắc, mảng Ấn - Úc ở phía Nam nhưng di chuyển rất nhanh lên phía Bắc, các mảng Philippine và Thái Bình Dương bị hút chìm
ở rìa Đông mảng Âu - Á Các chuyển động này đã tạo sự hút chìm giữa mảng và hình thành hệ cung đảo - rãnh sụt (arc/trench) ở sườn Tây - Nam và Đông - Bắc của Đông Nam Á (các cung đảo Sunda và Philippine) Mô hình này chưa giải thích sự chuyển động còn phức tạp hơn nhiều khi mảng châu Úc
va chạm với mảng Philippin tạo ranh giới trượt bằng trái làm cho các khối vi lục địa
bị cắt tách khỏi rìa Bắc châu Úc để chuyển dịch về phía Tây
Sự hình thành các bể nội mảng được giải thích do tác động va chạm trực tiếp
ở rìa các mảng và hiệu ứng này đã được truyền rất sâu vào trong mảng Ngoài ra, đặc tính căng hoặc nén của hệ cung đảo còn phụ thuộc vào sự thay đổi tốc độ hút chìm (mức độ hội tụ - convergence rate, rollback velocity) và hướng di chuyển của địa khối phủ chờm bên trên
Ian Longley (1997) trên cơ sở thừa nhận
kiến tạo Đông Nam Á liên quan đến sự va chạm các mảng Âu - Á và Ấn - Úc, đã chia
ra 5 thời kỳ:
lịch sử trước Đệ Tam liên quan đến sự vỡ mảnh của siêu lục địa Gondwana làm một số mảnh bắt đầu tách khỏi châu Úc từ Jura, Ấn Độ tách khỏi châu Úc vào Creta sớm và Nam Băng Dương tách
ra vào Creta muộn Các vi mảng Đông Dương, proto - Biển Đông, Tây Sunda
Trang 9luôn là một bộ phận của lục địa Âu -
Á bền vững Khối Kalimantan sau khi
tách khỏi Đông Dương và Meritus tách
khỏi châu Úc đã gắn kết (almaganation)
với nhau thành khối Borneo có thể vào
90 triệu năm trước đây Sự gắn kết
các vi mảng trên để hình thành khung
cấu trúc Đông Nam Á thống nhất kết
thúc vào khoảng 85 triệu năm với hoạt
động magma - phun trào và tạo núi Yến
Sơn
sự va chạm của hai mảng Âu - Á và Ấn
- Ú song song với sự hút chìm mảng đại
dương dưới lục địa Âu - Á, nhưng tốc
độ hội tụ hay hút chìm dọc cung Sunda
chậm hơn so với tốc độ di chuyển của
mảng lục địa tạo sự căng giãn ở rìa lục
địa để hình thành các bể trước và sau
cung đảo được lấp đầy bởi trầm tích
sông - biển cho đến giữa Miocen
dứt va chạm giữa ấn Độ và Âu - Á,
các mảng đại dương phía Nam sắp xếp
lại, mảng Ấn Độ Dương tiếp tục bị hút
chìm dưới khối lục địa Sunda với tốc
độ chậm, hình thành pha 2 trong lịch sử
phát triển các bể sau cung đảo Sự sắp
xếp lại mảng Thái Bình Dương đi kèm
tách giãn Biển Đông, sự tách giãn eo
biển Makassar tạo các bể ở Đông và
Tây - Bắc Borneo
với pha đầu của giãn đáy Biển Đông làm
xoay phải toàn địa khối Sunda quanh
cực xoay nằm ở đầu vịnh Thái Lan Sự
xoay khối mở rộng bể Malay tạo một
pha gia tăng tốc độ hội tụ, nghịch đảo
kiến tạo dọc cung Sunda chấm dứt sụt
rift ở các bể trước và sau cung đảo
giãn đáy Biển Đông, co ngắn vỏ ở Tây Tạng (Tibet), xoay khối, trồi và trượt bằng dọc các đứt gãy, gây nghịch đảo kiến tạo trong tất cả các bể Đệ Tam ở Đông Nam Á
Hall R (1995, 2002) dựa trên số liệu đo
cổ địa từ ở Đông Indonesia và phỏng theo chương trình ATLAS, đã xác định vị trí các cực xoay (rotation poles) của vi mảng biển Philippin (Philippine Sea microplate) và các
vi mảng khác bên trong lục địa Âu - Á từ 50 triệu năm trở lại Theo Hall, trong thời gian này vi mảng biển Philippin đã xoay phải liên tục và trượt về Tây - Bắc, tạo hai biến cố khu vực quan trọng do sự va chạm dạng cung đảo - lục địa (arc - continent collision) làm biến đổi hình dạng và ranh giới các địa khối (geoblock) ở rìa Đông - Nam lục địa Âu
- Á - đó là sự va chạm giữa lục địa châu Úc với cung vi mảng biển Philippin (Philippine Sea microplate arc) ở 25 triệu năm và sự va chạm giữa cung đảo Philippin với rìa Đông lục địa Âu - Á vào 5 triệu năm, tương ứng với hai thời kỳ chuyển động kiến tạo quan trọng ở Đông Nam Á vào cuối Oligocen và cuối Miocen muộn Hall cũng cho rằng vào cuối Oligocen sự trượt bằng dọc theo hai đứt gãy lớn Sông Hồng và Three Pagodas làm khối Borneo xoay trái, hình thành bể Vịnh Thái Lan - Malay, khép lại mảng đại dương proto - Biển Đông (proto South China Sea), bắt đầu tách giãn ở phía Bắc quần đảo Macclesfield để hình thành Biển Đông như ngày nay
Warren Carey đưa ra giả thuyết về sự
giãn nở của Trái Đất (Expanding Earth hypothesis), Ông cho rằng trước khi xảy ra
Trang 10sự phá đứt các đới trượt ven - Thái Bình
Dương và Tethys (Disruption of Peripacific
and Tethian shear), khối lục địa (craton)
Đông Nam Á gồm những mảnh vỡ hình thoi
và nêm (rhombochasm and sphenochasm)
ngăn bởi các đứt gãy trượt bằng, sau đó bị
giãn nở (expansion) không có hiện tượng
hút chìm ven biển Tethys và Thái Bình
Dương
2.3 Quan điểm của một số nhà địa chất
Việt Nam
Kiến tạo khu vực Đông Nam Á và Việt
Nam được thể hiện trong nhiều công trình
nghiên cứu của N X Bao, L D Bách,
N Đ Cát, V Đ Chương, L N Lai, P H
Long, P V Quýnh, N T San, P T Thị,
N G Thắng, T.V Trị, C Đ Triều, N X
Tùng đặc biệt liên quan với đới đứt gãy
Sông Hồng có nhiều công trình nghiên cứu
của T T Thắng, T Nghi, N T Yêm, L
V Mạnh, N T Kim Thoa và nhiều tác giả
khác…
T V Trị (1995) phân chia miền lãnh thổ
Đông Dương thành nhiều địa khu (terrane)
tách ra từ Gondwana có cấu trúc vỏ Trái
Đất khác nhau:
Dương, Shan Thái, Hoàng Liên Sơn,
Hoàng Sa),
Việt - Trung cố kết vào Paleozoi sớm
- giữa, Việt - Lào cố kết vào Paoleozoi
giữa - muộn và được gắn kết với nhau
qua đới khâu Sông Mã,
• Địa khu liên hợp Đông Dương được cố
kết vào thời kỳ tạo núi Indosini liên
quan đến sự khép kín của Paleotethys
giáp nối với địa khu liên hợp
Shan-Thái
- Kainozoi dưới dạng các rift, võng (depression), graben, các núi lửa - xâm nhập nông (volcano-plutonic) kiểu rìa lục địa tích cực
sườn lục địa và vỏ đại dương (32-16 triệu năm)
C Đ Triều đã phân chia các cấu trúc
dạng tuyến lớn (lineament) lớn là ranh giới các nội mảng, chúng có nguồn gốc sâu dưới vỏ, hiện vẫn còn hoạt động, gắn với các đai động đất mạnh hiện nay Có tất cả 13 đới được phân chia có cường độ (magnitude) M>6 0
Đới đứt gãy sâu Sông Hồng (RRFZ) được các nhà địa chất Việt Nam nghiên cứu nhiều và đều khẳng định quan điểm của Tapponnier (1986), Rangin C và nnk (1995) về sự thúc trồi từ mảng Ấn Độ dẫn đến chuyển động trượt bằng trái trong Đệ Tam, ít ra đến cuối Miocen muộn (5 triệu năm) tạo ra bể căng giãn (extensional basin)
Sông Hồng P V Quýnh và một số nhà
nghiên cứu khác cho sự trượt bằng dọc các đứt gãy sâu không chỉ tạo sự căng giãn mà còn có tác động của nén ép (compression) để tạo các bể kéo toác (pull - apart) hơn là căng giãn đơn thuần
T T Thắng và đồng tác giả đã phát triển
quan điểm thúc trồi của Tapponnier nhưng có kết hợp với khái niệm về sự chuyển dịch vị trí theo thời gian làm cho khối Đông Dương có xu hướng xoay phải và bể Sông Hồng được hình thành dạng căng ngang (transtensional)
Dựa trên số liệu trọng lực vệ tinh N N
Trung, N T T Hương đã xây dựng bản đồ
Trang 11I Miền cấu trúc vỏ lục địa Việt - Trung
II Miền cấu trúc vỏ lục địa Đông Dương
III Miền cấu trúc vỏ lục địa Sibumasu
IV Miền cấu trúc vỏ đại dương Biển Đông
V Miền cấu trúc vỏ lục địa sót bị đại dương hóa Hoàng Sa - Macclesfield
VI Miền cấu trúc lục địa sót bị đại dương hóa Trường Sa - Reed bank
Hình 4.5 Sơ đồ phân miền cấu trúc sâu vỏ trái đất, vị trí núi lửa, các đứt gãy chính
(theo N N Trung, N T T Hương, 2003, dựa trên kết quả phân tích tài liệu vệ tinh)
Trang 12độ sâu bề mặt Moho và chiều dày vỏ (trừ
các trầm tích phủ bên trên) cho Biển Đông
và ven rìa (Hình 4.5) Các tác giả đã chia
các khu vực:
dao động từ 31km đến 10km ở trung
tâm bể Sông Hồng;
31km - 16km;
mỏng 6 - 10km,
Sa) có chiều dày biến động 10 - 23km;
đồng thời cũng phân các đứt gãy sâu
quan trọng phân chia các khối có chiều
dày vỏ khác nhau
L D Bách và N G Thắng (1998) đã đưa
ra mô hình tiến hoá kiến tạo Biển Đông
Quá trình hội tụ của các mảng thạch quyển
vào Mesozoi đã làm sản sinh một đai nén ép
lớn dọc Tây Thái Bình Dương và Nam Âu -
Á, xuất hiện hàng loạt các đới hút chìm làm
tiêu biến kiến trúc đại dương thuộc tổ phần
của Tethys và Tây Thái Bình Dương, cũng
trong bối cảnh địa động lực này đã xuất hiện
kiến sinh huỷ hoại kiến trúc lục địa có trước
làm đứt đoạn và phân rã các khối lục địa,
thoạt đầu Borneo (Kalimantan), tiếp đến là
Trường Sa, Luconia, Reed Bank, Palawan
- Mindoro, Hoàng Sa, Macclesfield, được
ngăn cách bởi các địa hào (hệ thống rift
phân tán) tiến hoá dần thành các đới giãn
đáy có kiến trúc vỏ đại dương với hình thái
Biển Đông ngày nay
3 Phân đới kiến tạo Việt Nam và thềm lục địa
3.1 Bình đồ cấu tạo hiện nay
Theo Metcalfe (1988, 1991, 1996) kết quả nghiên cứu về địa tầng, cổ sinh và cổ từ cho thấy khối lục địa (continental mass) Đông Nam Á là tập hợp (assemblage) của nhiều địa khu kiến tạo - địa tầng (tectono
- stratigraphic terranes) cố kết lại từ các mảnh của đại lục cổ Pangea bị giập vỡ (broken-up) sau nhiều lần mở và khép lại các đại dương Tethys (Paleo, Meso, Neo)
đi kèm va mảng - tạo núi Sengor (1984) còn gọi là sự kết dán kiến tạo (tectonic collage) Những đơn vị kiến tạo này vào Paleozoi sớm vẩn còn là bộ phận cấu thành rìa siêu lục Gondwana (integral boundary part of the supercontinent Gondwanaland), chỉ tách ra và kết nối với lục địa Âu - Á trong Paleozoi giữa-muộn và đặc biệt trong Mesozoi, kết quả của chuyển động va mảng
- tạo núi Indosini
Rìa tăng trưởng Đông Nam của lục địa Âu - Á sau Trias muộn còn được Hutchinson (1984, 1989) đặt tên “Sundaland”, và cũng để chỉ miền có vỏ lục địa bền vững (region with stable continental core) rộng lớn hiện nay ở Đông Nam châu Á gồm Đông Miến Điện, Thái Lan, Đông Dương, Malaysia thềm Sunda (Sunda shelf), quần đảo Sumatra, phần Đông Java, Tây Borneo, thềm lục địa Việt Nam, Nam và Đông Nam Trung Quốc
Bình đồ cấu tạo hiện nay của Việt Nam và các vùng kế cận được thể hiện trên bản đồ (Hình 4.6)
Trang 133.2 Phân chia các miền cấu trúc
Lãnh thổ Việt Nam và kế cận là miền
cấu trúc liên hợp (composite structural
domain) phức tạp có kiểu vỏ lục địa, mặc dù
đã được cố kết và trở thành một craton hợp
nhất với lục địa Âu - Á vào cuối Mesozoi
(Jura muộn - Creta?) nhưng do hoạt động
hút chìm của mảng Ấn Độ Dương ở rìa Nam
cung đảo Sumatra - Java và đặc biệt do sự
giãn đáy và đại dương hoá Biển Đông, nên
vỏ lục địa rìa Đông mảng Âu - Á bị biến
đổi mạnh vào Kainozoi - đó là nguyên nhân
tạo sự khác biệt trong cơ chế và lịch sử hình
thành các bể Đệ Tam chứa dầu khí ở Việt
Nam và kế cận
Có thể chia các miền cấu trúc với các dạng vỏ Trái Đất như sau (Hình 4.6):
- Miền cấu trúc vỏ lục địa Việt -
Trung,
- Miền cấu trúc vỏ lục địa Đông
Dương,
- Miền cấu trúc vỏ lục địa Sibumasu
U
a ra s
Đới khâu S
on g M a
Đứt gãy S ông H ồng
Đ ga an
Đư No er
Th ai
khoảng dịch bằng trái lớn đượcbùlại dosựdịch bằng phải vào cuối Neogen
ĐẢO HẢI NAM Bể Sông Hồng
Nân
g Ky ø Anh
Be
Z A n C hâ u
W
Bể Maesot
Bể Phisanoluk Bể Pherchabun
Bể Ayuthaya Bể Khorat
a ru i
M A L A Y S
I A
S U M
A T R
Bể Trung và Nam Sumatra
Đ ới khaâu
B to n
Đư
ùt ga õy M
ae P
g H au gia ng
3 P ag
Khối Khorat Nâng Côn Sơn
Cung Natuna
Bể Tây
Natuna
Đới k hâu Lup ar
Tr ũn
g B ill ito n Khối Singapore
Delta Rajang
Bể Châung
Zhu 3 Zhu 1
Zhu 2
Kh ối âng
N ân
ri T ôn
BIỂN ĐÔNG
Đảo Hoàng Sa
Macclesfield Bank
9
Truong Sa Spratley slands Reed
6a
8 9 10 8
6
Seamounfa
LUZON R
Su ït T ây B y 10 9 7a
Tu y Ho
a S he ar
R an
h ới
0 ?
Dangarous Grounas
P al aw T
De
B am Nền Laconia Đ ới k
ha âu
B a
ra m S Lu nia M uta h Lina
Ra ja ng
B O R N E O
PA
W AN
Bể Balabac Bể Bankuan
Bể Sandacuan
Bể Tarakan
Biển Sulu
M IN D O
Ra su
alawan
Ranh giới vi mảng cấu trúc
vỏ đại dương Biển Đông,
Andaman
a b
KÝ HIỆU Ranh giới các mảng, vi mảng
Đới hút chìm hiện tại
Âu Á và Ấn Độ Dương)
Ranh giới vi mảng Đông Dương Đới hút chìm cổ Paleozoi và Mesozoi
Các đứt gãy
Những đứt gãy sâu Những đứt gãy chính (căng giãn & nghịch chờm)
Những đứt gãy trượt bằng chính Đứt gãy a_ Xác định b_ Giả định
Các đứt gãy
Trục nâng chính Trục tách giãn
Vùng phát triển
Bể trầm tích Mesozoi Bể trầm tích Kainozoi
Bể Nam Côn Sơn Bể Tư Chính
ỳ - Phươ ùc Sơn I
U
a ra s
Đới khâu S
on g M a
Đứt gãy S ông H ồng
Đ ga an
Đư No er
Th ai
khoảng dịch bằng trái lớn đượcbùlại dosựdịch bằng phải vào cuối Neogen
ĐẢO HẢI NAM Bể Sông Hồng
Nân
g Ky ø Anh
Be
Z A n C hâ u
W
Bể Maesot
Bể Phisanoluk Bể Pherchabun
Bể Ayuthaya Bể Khorat
a ru i
U
a ra s
Đới khâu S
on g M a
Đứt gãy S ông H ồng
Đ ga an
Đư No er
Th ai
khoảng dịch bằng trái lớn đượcbùlại dosựdịch bằng phải vào cuối Neogen
ĐẢO HẢI NAM Bể Sông Hồng
Nân
g Ky ø Anh
Be
Z A n C hâ u
W
Bể Maesot
Bể Phisanoluk Bể Pherchabun
Bể Ayuthaya Bể Khorat
a ru i
M A L A Y S
I A
S U M
A T R
Bể Trung và Nam Sumatra
Đ ới khaâu
B to n
Đư
ùt ga õy M
ae P
g H au gia ng
3 P ag
Khối Khorat Nâng Côn Sơn
Cung Natuna
Bể Tây
Natuna
Đới k hâu Lup ar
Tr ũn
g B ill ito n Khối Singapore
Delta Rajang
Bể Châung
Zhu 3 Zhu 1
Zhu 2
Kh ối âng
N ân
9
Truong Sa Spratley slands Reed
6a
8 9 10 8
6
Seamounfa
LUZON R
Su ït T ây B y 10 9 7a
Tu y Ho
a S he ar
R an
h ới
M A L A Y S
I A
S U M
A T R
Bể Trung và Nam Sumatra
Đ ới khaâu
B to n
Đư
ùt ga õy M
ae P
g H au gia ng
3 P ag
Khối Khorat Nâng Côn Sơn
Cung Natuna
Bể Tây
Natuna
Đới k hâu Lup ar
Tr ũn
g B ill ito n Khối Singapore
Delta Rajang
Bể Châung
Zhu 3 Zhu 1
Zhu 2
Kh ối âng
N ân
9
Truong Sa Spratley slands Reed
6a
8 9 10 8
6
Seamounfa
LUZON R
Su ït T ây B y 10 9 7a
Tu y Ho
a S he ar
R an
h ới
0 ?
Dangarous Grounas
P al aw T
De
B am Nền Laconia Đ ới k
ha âu
B a
ra m S Lu nia M uta h Lina
Ra ja ng
B O R N E O
PA
W AN
Bể Balabac Bể Bankuan
Bể Sandacuan
Bể Tarakan
Biển Sulu
M IN D O
Ra su
alawan
Ranh giới vi mảng cấu trúc
vỏ đại dương Biển Đông,
Andaman
a b
KÝ HIỆU Ranh giới các mảng, vi mảng
Đới hút chìm hiện tại
Âu Á và Ấn Độ Dương)
Ranh giới vi mảng Đông Dương Đới hút chìm cổ Paleozoi và Mesozoi
Các đứt gãy
Những đứt
ïi D ng
Bể Cử Long
109 E transtorm fault
0 ?
Dangarous Grounas
P al aw T
De
B am Nền Laconia Đ ới k
ha âu
B a
ra m S Lu nia M uta h Lina
Ra ja ng
B O R N E O
PA
W AN
Bể Balabac Bể Bankuan
Bể Sandacuan
Bể Tarakan
Biển Sulu
M IN D O
Ra su
alawan
Ranh giới vi mảng cấu trúc
vỏ đại dương Biển Đông,
Andaman
a b
KÝ HIỆU Ranh giới các mảng, vi mảng
Đới hút chìm hiện tại
Âu Á và Ấn Độ Dương)
Ranh giới vi mảng Đông Dương Đới hút chìm cổ Paleozoi và Mesozoi
Các đứt gãy
Những đứt gãy sâu Những đứt gãy chính (căng giãn & nghịch chờm)
Những đứt gãy trượt bằng chính Đứt gãy a_ Xác định b_ Giả định
Các đứt gãy
Trục nâng chính Trục tách giãn
Vùng phát triển
Bể trầm tích Mesozoi Bể trầm tích Kainozoi
Bể Nam Côn Sơn Bể Tư Chính
ỳ - Phươ ùc Sơn I
II
III
IV V
Hình 4.6 Bản đồ cấu trúc hiện tại của Việt Nam và các vùng kế cận
(theo tài liệu của BP-Statoil có chỉnh biên)
Trang 14- Miền cấu trúc vỏ lục địa sót Trường
Sa - Reed Bank bị đại dương hoá do
giãn đáy Biển Đông
- Miền cấu trúc vỏ đại dương Biển
Đông
a Miền cấu trúc vỏ lục địa
Miền cấu trúc vỏ lục địa Việt - Trung
Miền có cấu trúc phức tạp, được cố kết
và phát triển như mảng lục địa ít ra từ sau
Paleozoi giữa, gồm: khối vỏ lục địa cổ Arkei
- Proterozoi Hoàng Liên Sơn, được xem
như địa khu ngoại lai được tách ra từ khối
Dương Tử do sự dịch trượt bằng trái hàng
trăm kilomet dọc hệ đứt gãy Sông Hồng,
gồm phức hệ gneis, amphibolit, plagiocla
migmatit, quarzit chứa manhetit xen lẫn
thấu kính đá hoa, các loạt plagiogranit
gneis phức hệ Ca Vịnh có tuổi tuyệt đối
3,1-3,4 tỷ năm và tuổi kết tinh đến 2834 triệu
năm (Lou C Y và nnk., 2001) Miền tăng
trưởng bao quanh được cố kết vào Paleozoi
sớm - giữa gồm phức hệ trầm tích - núi lửa
sinh Proterozoi muộn - Silur sớm, các thành
hệ đá lục metabasalt, đá phiến silic bị biến
chất và uốn nếp mạnh với nhiều thể siêu
mafic tuổi Paleozoi sớm phản ánh các di
chỉ ophiolit của vỏ đại dương sót, các thành
tạo biến chất lục nguyên flys đi kèm các
thể núi lửa - pluton kiềm - vôi kiểu rìa
động ở các đai va chạm giữa mảng, tạo núi
Caledoni, ở Đông - Bắc Việt Nam và Đông
- Nam Trung Quốc (địa khối Cathaysia)
Ranh giới phía Nam của miền cấu trúc
Việt Trung tách với miền cấu trúc Đông
Dương là đới kiến tạo phức tạp, thay đổi
vị trí trong không gian và thời gian Trong
giai đoạn Paleozoi và Mesozoi sớm ranh
giới này luôn là đới khâu Sông Mã, được cấu tạo bởi các thành hệ trầm tích - núi lửa
bị biến chất Proterozoi muộn - Paleozoi sớm, các đá metabasalt, các thể xâm nhập mafic và siêu mafic chứa các phức hệ ophiolit, olistotrom, các thành hệ xáo trộn (melanges) di chỉ của sự hút chìm của vỏ đại dương cổ PaleoTethys dưới rìa Tây - Nam của mảng lục địa cổ Việt - Trung vào cuối Paleozoi sớm Đến Paleozoi muộn sự ổn định kiến tạo đã tạo trên miền cấu trúc này phức hệ đá vôi Carbon - Permi tướng thềm, biển rìa phát triển rộng khắp, và từ cuối Permi muộn, đặc biệt trong Mesozoi hoạt động tách giãn đã tạo ra các bể rift nội lục sau cung với các trầm tích lục nguyên - phun trào andesit - ryolit đánh dấu giai đoạn kiến tạo Indosini Sự sụt rift và đại dương hóa vỏ lục địa thể hiện rõ nét ở rìa Tây
- Nam với sự hình thành bể Sông Đà được tách khỏi mảng lục địa Âu - Á để trở thành bộ phận của PaleoTethys Sự xuất hiện ồ ạt basalt porphyrit, komatit, basalt trachyt, đôi nơi có các xâm nhập mafic và siêu mafic là di chỉ của sự đại dương hoá này Dãy ophiolit Sông Đà còn được gọi “đới khâu Trias” (Fontaine và nnk., 1978) di chỉ của sự va mảng - tạo núi chính Indosini Đứt gãy Sông Hồng có thể xem là rìa va chạm của lục địa Âu - Á với PaleoTethys vào Trias muộn đồng thời cũng trở thành ranh giới mới giữa miền cấu trúc Việt - Trung và Đông Dương được mở rộng sau pha va mảng - tạo núi Indosini trong suốt giai đoạn phát triển kiến tạo Himalaya Từ sau Creta muộn, đứt gãy Sông Hồng hoạt động như đới cắt trượt nội mảng
Chuyển động kiến tạo Indosini được đánh dấu đầu tiên bởi pha va chạm, tạo núi
Trang 15vào Trias muộn, sát trước Nori làm cho toàn
khu vực rìa Nam lục địa Âu - Á bị dâng cao,
kết thúc giai đoạn phát triển rift Mesozoi,
các trầm tich Mesozoi muộn tướng lục địa
sông – hồ, đôi nơi còn được lắng đọng tiếp
tục trong các trũng sót hoặc giữa núi
Rìa Đông Nam miền cấu trúc Việt -
Trung, dọc duyên hải Đông Bắc Việt Nam
và Đông Nam Trung Quốc được đặc trưng
bởi đai núi lửa andesit-ryolit kiểu cung đảo
tuổi Trias giữa - Anisi, và đặc biệt trong
Jura - Creta ghi nhận hoạt động hút chìm
của mảng Thái Bình Dương dưới lục địa
Âu - Á vào cuối Mesozoi Ranh giới Đông
Nam của miền cấu trúc Việt Trung là đứt
gãy sâu ngăn cách với vi mảng lục địa sót
bị biến đổi Hoàng Sa - Macclesfield Ranh
giới này được xem là rìa thụ động (passive
margin)
Chuyển động Indosini đã tạo hai hướng
uốn nếp - đứt gãy chủ đạo: 1 Hướng đông
bắc - tây nam ở ven biển do sự căng giãn
(extension) vi mảng Việt-Trung về Đông
Nam và sự hút chìm cắm Tây Bắc ven lục
địa châu Á; và 2 Hướng tây bắc - đông nam
sâu trong đất liền do sự va chạm giữa các vi
mảng Việt - Trung và Indosinia Sự chuyển
động căng giãn của vi mảng Việt - Trung
có thể kèm xoay phải nên đã tạo hướng
uốn nếp vòng cung phổ biến ở Đông Bắc
Việt Nam
Chiều dày vỏ Trái Đất ở đây biến đổi từ
25km ở ven biển đến trên 40km sâu trong
đất liền
Vào Kainozoi sự căng giãn về Đông
Nam của vi mảng lục địa Việt - Trung
đã tạo các bể rift Đệ Tam chứa dầu khí
- Lôi châu (Beibuwan), Nam Hải Nam
(Qiangdongnan), Cửa Sông Châu (Pearl
River) v.v trên rìa Đông Nam của miền cấu trúc này
Miền cấu trúc vỏ lục địa Đông Dương
Miền cấu trúc Đông Dương có diện tích trùng với diện tích vi mảng “Indochina” (Đông Dương), một yếu tố cấu tạo quan trọng trong mô hình kiến tạo thúc trồi của Tapponnier Miền cấu trúc này chiếm phần lớn diện tích trung tâm của Sundaland còn có tên gọi phụ mảng (subplate) Đông Dương (Gatinsky, 1986; Hutchinson, 1989); hoặc mảng Đông Dương-Đông Malaysia (Mazlan B Hj Madon) và được ngăn cách
bởi đới khâu Bentong - Raub, Uttaradit, Bắc tiếp giáp với miền cấu trúc Việt - Trung qua đới cắt trượt Sông Hồng, phía Nam gồm Đông Malaysia và Tây Borneo Miền này cũng có cấu trúc và lịch sử phát triển địa chất phức tạp trong suốt Phanerozoi và được tạo bởi nhân là khối sót của lục địa cổ tiền Cambri Indosinia -mảnh vỡ của siêu lục Gondwana, trong đó địa khối Kon Tum chiếm phần lớn diện tích cao nguyên Trung Việt Nam gồm chủ yếu là gneis hai pyroxen, granulit, đá phiến kết tinh tướng amphibolit xếp vào Arkei muộn - Proterozoi, tuổi đồng
vị 2300 tr.n (N X Bao, T Q Hải, 1991) và 2540 tr.n (T N Nam, 2004) Khối Kon Tum được bao quanh bởi đai tăng trưởng (accretionary belt) Paleozoi sớm - giữa, đó là các thành hệ lục nguyên -núi lửa sinh, đá phiến silic, đặc biệt là sự có mặt của các dải đá lục với nhiều thể siêu mafic của hợp tạo ophiolit là các thể sót của vỏ đại dương PaleoTethys dọc đới khâu Đà Nẵng và Tam Kỳ - Phước Sơn (T V Trị, 1979, 1995)
Chiều dày vỏ lục địa ở miền cấu trúc
Trang 16Đông Dương trên 25 km tăng dần trong đất
liền
Sự hút chìm ven vi mảng Indochina
tạo thành rìa lục địa động kiểu Andes với
các xâm nhập batholit granit - granodiorit
có tuổi 418 triệu năm Quá trình va chạm
trong giai đoạn Caledoni và Hercyni sớm
đã khép biển PaleoTethys, gắn vi mảng
Indosinia với vi mảng lục địa Việt - Trung
thành vùng biển rìa rộng lớn lắng đọng đá
vôi Carbon - Permi
Vào cuối Permi - đầu Trias, rìa Nam lục
địa Âu - Á vừa được cố kết lại bị phá vỡ,
giãn đáy để hình thành các nhánh biển của
Tethys ôm, bọc lấy vi mảng Indosinia Các
bể Mesozoi sớm này thưòng được lấp đầy
bởi các đá núi lửa sinh, thành phần kiềm
vôi, hợp tạo lục nguyên - flys, turbidit,
phun trào andesit - dacit, di chỉ các cung
đảo núi lửa ở rìa lục địa động Pha va chạm
tạo núi đầu tiên của chuyển động Indosini
vào cuối Trias đã khép phần lớn diện tích
của biển Tethys, biển khơi Jura chỉ còn
được duy trì ở phía Nam Sự va chạm giữa
các vi lục địa Shan - Thái (Sinoburmalaya)
(Gatinsky, Hutchinson, 1986), Indosinia và
Việt - Trung liên quan đến chuyển động
Indosini vào Trias muộn - Jura, dưới dạng
hút chìm của mảng ở phía Tây hoặc trượt
chờm ở phía Bắc đã tạo phức hợp nếp uốn
chờm nghịch, địa di dạng vảy xen những
nêm sót các thành tạo xáo trộn với các đá
xâm nhập mafic di chỉ của các tấm vỏ đại
dương bị xén trồi (Decollement Thrust -
fold Assemblages) Phức hợp kiến tạo này
tạo đai cố kết Mesozoi sớm bao quanh khối
lục địa Indosinia Sự va chạm giữa các vi
mảng đi kèm với xâm nhập batholit granit,
granodiorit, hoạt động magma kiềm - vôi,
các phun trào ryolit - andesit đặc trưng cho các rìa địa động và cung đảo núi lửa
Vi mảng Indosinia sau khi mở rộng, được cố kết cùng vi mảng Sibumasu (Metcalfe, 1995) hay Sinoburmalaya vào lục địa châu
Á thành craton hợp nhất từ cuối Jura sớm, nhưng vào Creta muộn sự va chạm giữa vùng Ấn Độ và lục địa Âu - Á khởi đầu chu kỳ tạo núi Himalaya làm hoạt động lại các đứt gãy sâu, chia cắt Sundaland thành các khối trượt về phía Đông Nam
Vào Kainozoi, do sự va mạnh ở góc hội tụ Tây Tạng giữa các mảng Ấn Độ và Âu
- Á làm vi mảng Đông Dương tiếp tục bị thúc trồi xuống Đông Nam theo các đứt gãy trượt bằng lớn Sông Hồng, Three Pagodas, với xu thế trượt trái ở phía Bắc và trượt phải ở phía Nam đã tạo các bể Đệ Tam trên các đới khâu ven rìa (episutural) miền cấu trúc Đông Dương dạng kéo toác (pull apart) như các bể Sông Hồng, West Natuna, Malay-Thổ Chu và căng giãn (extentional) như các bể Cửu Long, Nam Côn Sơn hoặc căng ngang (transtensional) như các bể Phú Khánh, Tây Natuna, và một số bể trên đất liền ở Bắc Thái Lan v.v…
Miền cấu trúc Sibumasu
Nằm ở phía Tây miền cấu trúc Đông Dương, là miền cấu trúc Sibumasu (Metcalfe1984, 1986) hay Sinoburmalaya Trong lịch sử phát triển địa chất trước Kainozoi miền này được xem như một thể cấu trúc thống nhất với tên gọi “vi lục địa Miến - Malay” (Burmese - Malayan microcontinent) - một mảnh của siêu lục Gondwana bị dập vỡ vào Paleozoi, sau đó được gắn kết với vi mảng Indosinia vào Mesozoi Những khác biệt chỉ thể hiện từ sau Creta với sự hình thành các dạng bể Đệ
Trang 17Tam có nguồn gốc động lực khác nhau.
Miền Sibumasu có cấu trúc địa chất
rất phức tạp và gồm hai địa khu kiến tạo
- địa tầng khác nhau tách bởi hệ đứt gãy
trượt bằng Ranong và Khlong - Marui Phía
Bắc gồm khu vực Shan - Thái và phần lớn
diện tích Thái Lan, còn địa khu phía Nam
phủ phần lớn diện tích thềm Sunda (Sunda
shelf), Tây bán đảo Malaysia, Bắc Sumatra
kéo dài sang Đông Java, đến Đông và
Nam đảo Kalimantan Chúng tạo thành đai
tăng trưởng Mesozoi bao quanh vi mảng
Indosinia ở phía Tây và Nam và được kết
nối với lục địa Âu - Á trong chuyển động
Indosini Do sự khác biệt lớn về chế độ
động lực và cơ chế thành tạo các bể trầm
tích trong Kainozoi giữa hai địa khu Bắc và
Nam nên một số nhà nghiên cứu còn gọi
địa khu phía Nam với tên riêng - vi mảng
Sunda (Sunda microplate, Davies, 1984);
Sundaland hay Thềm Sunda (ColeJ M &
Crittenden 1997) Chiều dày vỏ Trái đất
trên 25km và tăng dần trong lục địa
Ở địa khu phía Bắc, do sự thúc trồi
của mảng Ấn Độ tại vùng hội tụ Tây Tạng
chế độ kiến tạo phổ biến là nén ép hướng
đông-tây tạo loạt các bể nén ép hẹp ở Bắc
và Tây Thái Lan ít triển vọng về dầu khí thì
ngược lại ở địa khu phía Nam chế độ kiến
tạo phổ biến là trượt bằng và căng giãn Ở
vịnh Thái Lan sự trượt bằng phải dọc các
đứt gãy Three Pagodas và Maeping - Sông
Hậu (Hậu Giang) đã tạo các bể căng ngang;
và kéo toác dạng graben và nửa graben xen
với các địa luỹ (horst) phương kinh tuyến
giàu tiềm năng khí
Còn trên thềm Sunda được hình thành
loạt bể rift Đệ Tam dạng sau cung (back
arc) kết quả của sự hút chìm của mảng Ấn
- Úc dưới lục địa Âu - Á với tốc độ hội tụ khác nhau Phần lớn trữ lượng dầu khí Đông Nam Á tập trung trong các bể này
Kết quả nghiên cứu của Bunopas (1978, 2004), Asnachinda (1978) cho thấy “nhân” các vi mảng Indosinia và Shan - Thái, là các thể sót trong thành phần siêu lục địa cổ Gondwana, lý do là các phức hệ biến chất Tiền Cambri ở Tây Bắc Thái Lan được xem tương đồng với phức hệ đá cổ trên địa khối Kon Tum Hai khối lục địa: 1 “Shan Thai craton” và 2 “Indosinia craton” đã từng là một thể thống nhất và chỉ tách vào Paleozoi sớm để hình thành đại dương, một nhánh của PaleoTethys Trầm tích Paleozoi sớm được đặc trưng bởi các tướng biển rìa Sự hút chìm của vỏ đại dương bắt đầu vào Silur ở rìa Đông craton Shan - Thai, tiếp tục đến Mesozoi sớm tạo loạt các cung đảo chồng lên nhau với các phức hợp phun trào andesit - ryolit suốt trong các giai đoạn Silur - Devon, Carbon - Permi sớm, Permi muộn - Trias sớm và Trias muộn - Jura Các nghiên cứu về cổ sinh cho thấy trong thời kỳ Carbon và Permi các hoá thạch trên
vi mảng Sibumasu thuộc dạng biển băng (glaciomarines) hoặc nước lạnh (cool water fauna) chứng minh vi mảng này đã gắn liền với Tây - Bắc Úc trong thành phần của siêu lục Gondwana, trong khi các hoá thạch Paleozoi muộn - Mesozoi sớm trên vi mảng Indosinia có các đặc tính giống các chủng loài gặp ở Nam Trung Quốc Bunopas và nnk (1978, 2002) cho rằng sự va chạm giữa các “craton” Shan Thai và Indosinia xảy
ra vào Trias muộn - Jura sớm và được ghi nhận bởi đai uốn nếp - nghịch chờm dạng vảy (imbricate thrust fold belt) xen các tấm đá siêu mafic thuộc phức hệ ophiolit (đới
Trang 18khâu Nan, Uttaradit)
Ở phía Nam, trầm tích cổ nhất của miền
Sibumasu tạo “móng Tây Borneo (West
Borneo basement)” gồm các đá phiến
kết tinh, amphibolit Paleozoi sớm, đá vôi,
đá phiến sét xen phun trào bazơ Carbon
- Permi và phức hợp flys Mesozoi sớm bị
xuyên cắt bởi các pluton magma phân dị
từ gabro, gabronorit đến granit, tonalit
Jura - Creta Miền cấu trúc Sibumasu được
ngăn cách với miền cấu trúc Trường Sa -
Reed Bank bởi đới khâu Lupar với đai xáo
trộn Lubok - Antu gồm các vật liệu đáy
đại dương (ocean - floor material), dung
nham (lava) hình cầu và dạng gối, tuf đá
silic (cherts), hyaloclastit, đá flys, turbidit,
cát kết grauvac, xuyên cắt bởi xâm nhập
gabro, dolerit Phức hệ bị uốn nếp mạnh
tạo cấu trúc nghịch chờm dạng vảy, với tên
gọi “phức hệ hút chìm Bắc Borneo” tuổi
Paleocen - Eocen sớm (Hamilton W., 1979,
Hutchinson, 1992)
Chuyển động kiến tạo tác động đến sự
phát triển địa chất Đệ Tam của phần Nam
miền cấu trúc Sibimasu liên quan đến hai
tác nhân quan trọng:
của mảng Ấn Độ (15cm/năm) khỏi châu
Phi vào cuối Creta, tiếp tục va chạm
với mảng Âu - Á vào đầu Paleogen (50
triệu năm) Sự kiện này được xem đóng
vai trò quan trọng hình thành các bể rift
ở Đông Nam Á thời kỳ Paleogen, đặc
biệt là các bể “sau cung” kiểu Sumatra,
Đông Java
lục địa Châu Úc và sự dịch chuyển về
phía Tây của mảng Thái Bình Dương
Những chuyển động mảng này là tác
nhân của những va chạm ở rìa Nam Sibumasu, tạo các chuyển động trượt bằng và nghịch đảo kiến tạo trong các rift - graben (Hall R 2002)
b Miền các cấu trúc lục địa sót do quá trình đại dương hoá Biển Đông
Các cấu trúc sót của vỏ lục địa bị đại dương hoá do sự giãn đáy và hình thành Biển Đông, ở phía Bắc là miền cấu trúc Hoàng
Sa - Macclesfield, ở phía Nam là miền cấu trúc Trường Sa - Reed Bank Đó là miền lục địa thống nhất Đông Dương hình thành vào cuối Mesozoi và được tách khỏi khối lục địa Indosinia từ đầu Paleocen do sự giãn đáy của Biển Đông và di chuyển dọc theo đứt gãy trượt bằng biến dạng (transform
vát mỏng, dao động trong khoảng 8 - 20km, khối phía Bắc bị biến đổi yếu hơn, chiều dày vỏ Trái Đất ở khu vực Hoàng Sa và Macclesfield khoảng 25km (N N Trung,
N T T Hương, 2002)
Khối phía Nam bị hút chìm dưới rãnh sụt Palawan và ven đới khâu Lupar, được chứng minh bởi các di chỉ của vỏ đại dương trong các đới xáo trộn Hamilton (1977) cho rằng phức hệ đới hút chìm Palawan trở thành rìa thụ động chỉ vào cuối Miocen,
vì các trầm tích đá vôi Miocen phủ tương đối ổn định trên móng bị uốn nếp mạnh, tạo phức hệ vảy phủ chờm (imbricate overthrust fold complex) tuổi Mesozoi - Paleogen?, gặp ở vùng Dangerous Grounds (Hin Z và Sohhter, 1983) Các giếng khoan
ở vùng Reed Bank còn cho thấy móng ở đây là phức hệ đá vôi tái kết tinh, silic (cherts), cát kết tuf xen kẽ có tuổi Jura muộn - Creta Về phía Tây và Đông Bắc, khu vực Tư Chính - Vũng Mây, Reed Bank
Trang 19đặc biệt trên thềm Sarawak, vùng Luconia
- Balingian (Luconia - Balingian province)
lớp phủ trầm tích dày lên, tạo các khối nâng
và rãnh sụt ép ngang (transpressional) lấp
đầy trầm tích Mio - Pliocen, hoặc dưới dạng
lớp “phủ đá vôi trên đá móng, chứa ám tiêu
giàu tiềm năng dầu khí, phổ biến ở thềm
Sarawak”
Khối phía Bắc tiếp xúc với rìa miền
cấu trúc Việt Trung bởi đứt gãy sâu được
xem như rìa thụ động Theo Ru và Pigott
(1986) đó là rìa lục địa tách giãn kiểu Đại
Tây Dương (rifted continental margin of
Atlantic - type) Các quần đảo Hoàng Sa
và Macclesfield được xem như các mảnh
(fragments) tách khỏi mảng lục địa tồn
tại trước đó vì trong một số giếng khoan
đã phát hiện đá móng Paleozoi, có thể cả
Tiền Cambri, các đá phun trào biến chất
(metavolcanic rocks) tuổi Mesozoi bị xuyên
cắt bởi granit tuổi Creta Phần vỏ lục địa bị
đại dương hoá này cũng bị chia cắt thành
các địa hào (graben) và địa luỹ (horst), phủ
bên trên là đá vôi san hô chứa phosphorit
kiểu Guano Đệ Tứ lộ ra ở quần đảo Hoàng
Sa
c Miền cấu trúc vỏ đại dương Biển
Đông
Chiều sâu đáy biển ở vùng nước thẳm
(abyssal) dao động 3, 7 - 4, 4 km Các trầm
tích trẻ phủ trên đáy biển có xu thế nằm
ngang, xen với những dãy núi ngầm là các
đỉnh núi lửa phun trào basalt Móng của
đáy đại dương ở chiều sâu 4, 5 - 4, 8 km
được Taylor và Hayes (1980) cho có tuổi
Eocen - Oligocen Phần nước sâu được chia
thành hai phụ bể: Đông và Tây Nam khác
nhau bởi kích cỡ, phương và tuổi giãn đáy
Kết quả phân tích số liệu dị thường từ cho
thấy hình ảnh đối xứng trong mô hình giãn đáy ở phần nửa Đông của Biển Đông với hoạt động giãn đáy được thể hiện rõ nhất từ giữa Oligocen đến Miocen sớm (32 - 17 triệu năm) Xu thế của dị thường từ sọc dải có hướng Đông - Tây và vị trí các trục sót của giãn đáy trùng với phương trục các dãy
thường từ hướng tây nam - đông bắc cũng được phát hiện ở Tây Nam của bể nước sâu và được xác định có tuổi Paleocen - Eocen (55 triệu năm) Các dị thường này bị cắt và dịch chuyển bởi các đứt gãy biến dạng (transform faults) Pautot (1986) phát hiện hàng loạt các đứt gãy thuận có vách đứng
sâu Chúng chia phần trục nước sâu của Biển Đông thành ba đoạn: Đoạn Tây Nam (1) dạng kéo dài hướng tây nam (extending
chiều rộng 150km; (2) đoạn Đông Bắc giữa
có phương tuyến (linear trend) đông bắc - tây nam và (3) đoạn trung tâm giữa kinh
Scarborough được tạo bởi đá basalt trẻ Vì thế Pautot chỉ thừa nhận Biển Đông được hình thành do kết quả sự giãn đáy hướng tây bắc - đông nam
Nhìn chung, theo nhiều tác giả Taylor và Hayes (1983); Holloway (1981); Ru và Pigott (1986) móng của Biển Đông có cấu trúc vỏ lục địa và là bộ phận của rìa Nam lục địa Âu - Á từ cuối Mesozoi Đai núi lửa andesit - ryolit Jura - Creta phổ biến rộng khắp ven biển lục địa châu Á có thể xem là
di chỉ của cung đảo núi lửa và sự va mảng vào pha cuối của chu kỳ kiến tạo Yến Sơn
Trang 20Sự giãn đáy và tạo vỏ đại dương xảy ra vào
Paleocen Chiều dày vỏ Trái Đất 5 - 8km
Hiện có rất nhiều ý kiến về sự hình
thành Biển Đông, có thể nêu ba quan điểm
chính sau đây:
Quan điểm thứ nhất (Taylor và Hayes,
1983) cho rằng phần Trung Tâm của Biển
Đông được mở theo hướng bắc - nam từ
giữa Oligocen và trong Miocen sớm, sau đó
vào thời điếm 21 - 20 triệu năm trục căng
giãn xoay theo hướng đông bắc - tây nam,
kể cả phụ bể Tây Nam Trường phái thứ
hai (Ru, Pigott, 1986) cho rằng các phụ bể
Tây Nam được mở trước tiên vào Paleocen
- Eocen và sau đó sự giãn đáy tiếp tục phát
triển sang các phụ bể Đông vào Miocen (32
- 17 triệu năm) Còn trường phái thứ ba chỉ
thừa nhận phương giãn đáy đông bắc - tây
nam cho toàn bộ Biển Đông trong Oligocen
- Miocen
Từ sau Creta, Biển Đông đã trải qua chí
ít ba thời đoạn tạo rift tách biệt (separate
stages of rifting) và hai thời đoạn giãn đáy
biển (seafloor spreading) xen giữa Ba thời
đoạn tạo rift liên quan đến hoạt động sụt
lún nhiệt (thermal subsidence) xảy ra trong
Creta muộn, Eocen muộn và cuối Miocen
sớm Hệ sụt rift tương ứng thời đoạn đầu có
hướng hiện nay đông bắc - tây nam, còn các
hệ hình thành trong thời đoạn hai và ba có
hướng đông - tây Kết quả nghiên cứu đại
dương cho thấy tuổi vỏ đại dương ở phụ bể
Tây Nam có tuổi cổ hơn (55 triệu năm) so
với phụ bể Trung Tâm (17 - 32 triệu năm)
3.3 Hệ thống đứt gãy ở Việt Nam và kế
cận
Ở Việt Nam và vùng kế cận phổ biến
hai hệ thống đứt gãy chủ đạo Tây Bắc -
Đông Nam và Đông Bắc - Tây Nam, cùng tồn tại song song có hai hướng kinh tuyến và vĩ tuyến, mặc dù phân bố ít hơn nhưng chúng cũng có vai trò quan trọng trong hệ thống dầu khí
Wood (1985) nghiên cứu mối quan hệ giữa các đứt gãy căng giãn, cắt trượt (shears) và chờm nghịch (thrust) hoạt động trong Kainozoi và cho rằng các đứt gãy này là kết quả ứng lực của vi mảng lục địa cứng (rigid continental microplate) Đông Dương chống lại sự xô thúc của mảng Thái Bình Dương di chuyển về hướng tây Wood phân chia khu vực thành ba phụ mảng (subplates): Nam Trung Hoa, Đông Dương và Sunda tách bởi ba hệ đứt gãy cắt trượt chính song song nhau (major parallel shear systems) như - Sông Hồng, Thái - Burma - Natuna và Sumatra Sự căng giãn giữa các đứt gãy trượt bằng (strike - slip faults) tạo các bể Đệ Tam trên các đới cắt trượt này Hướng đông bắc - tây nam là huớng chủ đạo lộ rõ trên bán đảo Malay và khống chế hướng bể Malay và các bể Trung và Nam Sumatra Các hướng khác do các đứt gãy đi kèm tạo nên (conjugate fault systems)Tapponnier và nnk., 1982, 1986 trên
cơ sở mô hình biến dạng dẻo (plasticene modeling) giải thích cơ chế động lực hình thành bình đồ đứt gãy ở Đông Nam Á được tạo do sự va chạm trồi (extruded collision) của mảng Ấn Độ và lục địa Âu - Á làm cho các vi mảng Đông Dương và Việt - Trung
bị thúc trồi và trượt tự do về Đông, sau đó về hướng đông - nam (extrusion, escape tectonic), hình thành các đứt gãy trượt bằng Tây Bắc - Đông Nam Dần dần với sự thúc trồi của mảng động Ấn Độ thúc vào vùng hội tụ Tây Tạng (Tibet syntaxis) vi mảng