Từ các âm thanh phong phú của cuộc sống, loài người đã sáng tạo và ngày càng hoàn thiện nghệ thuật âm nhạc để phản ánh mọi hoạt động của con người bằng ngôn ngữ riêng, dựa trên hai yếu tố cơ bản là giai điệu và tiết tấu. Những yếu tố ấy đã được tổ chức một cách chặt chẽ, tạo thành những hệ thống có tính lôgic, trình bày và phát triển qua thời gian, để phản ánh nhữngcấu trúc mẫu mực khác nhau, những hình thức âm nhạc khác nhau. Do vậy, bản chất thời gian là một trong những tính chất quan trọng và đặc biệt của âm nhạc. Khi âm nhạc vang lên, khôngthể ngừng lại phía sau, mà sự trình bày, phát triển là liên tục để biểu hiện đường tiến triển củanội dung hình tượng, của ý tưởng âm nhạc. Giai điệu chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ phương pháp diễn tả của âm nhạc bởi lẽ giai điệu tạo đường nét, hình tượng chính của tác phẩm.
Trang 1Câu 1: Những yếu tố cơ bản của âm thanh mang
tính nhạc:
Âm thanh mang tính nhạc, nghệ thuật của âm thanh, âmnhạc là một trong những hình thái của ý thức xã hội, phụ thuộcvào những hoạt động và quy luật chung của tự nhiên Đồngthời, âm nhạc còn có những quy luật riêng bắt nguồn từ tínhchất đặc thù của loại hình nghệ thuật này
Cũng như các loại hình nghệ thuật khác: hội họa sử dụngđường nét hình khối, màu sắc; văn thơ sử dụng sức mạnh củangôn từ; âm nhạc là nghệ thuật của âm thanh
Từ các âm thanh phong phú của cuộc sống, loài người đãsáng tạo và ngày càng hoàn thiện nghệ thuật âm nhạc để phảnánh mọi hoạt động của con người bằng ngôn ngữ riêng, dựa
trên hai yếu tố cơ bản là giai điệu và tiết tấu Những yếu tố
ấy đã được tổ chức một cách chặt chẽ, tạo thành những hệthống có tính lôgic, trình bày và phát triển qua thời gian, đểphản ánh nhữngcấu trúc mẫu mực khác nhau, những hình thức
âm nhạc khác nhau Do vậy, bản chất thời gian là một trongnhững tính chất quan trọng và đặc biệt của âm nhạc Khi âmnhạc vang lên, khôngthể ngừng lại phía sau, mà sự trình bày,phát triển là liên tục để biểu hiện đường tiến triển củanội dunghình tượng, của ý tưởng âm nhạc
Giai điệu chiếm một vị trí quan trọng trong toàn bộ phương pháp diễn tả
của âm nhạc bởi lẽ giai điệu tạo đường nét, hình tượng chính của tác phẩm
Giai điệu là sự trình bày một ý nhạc, được sắp xếp trong một bè thườngdiễn đạt nội dung cơ bản của tác phẩm như số lớn các làn điệu, các bài dân cahoặc một số đoạn ở những tácphẩm nhiều bè, giai điệu trình bày thành tổ chức
có tính quy luật hoàn thiện Những tác phẩm nhiều bè, giai điệu có ý nghĩa là bèdẫn dắt tiêu biểu cho hình tượng chính của tác phẩm.Khía cạnh quan trọng nhấtcủa giai điệu là mối tương quan về độ cao thấp, độ dài ngắn của âm thanh cũngnhư mối tương quan về hòa âm, điệu tính Trong một số trường hợp cụ thể giaiđiệu còn thể hiện tính thể loại tác phẩm Nếu một giai điệu, tước bỏ phần tiết tấu
có thể mất đitính sinh động, sự rõ ràng của âm thanh cũng như sự khác nhautrong mối quan hệ hòa âm đó là mối quan hệ giữa âm ổn định và không ổn địnhtrong một giọng
Tiết tấu là một trong những phương pháp diễn tả của âm
nhạc, được phát triển rất sớm khi giai điệu và thang âm cònchưa định hình
Trang 2Theo nghĩa hẹp, tiết tấu chỉ sự liên tục có tổ chức độ dàingắn của âm thanh Theo nghĩa rộng, tiết tấu là mối tươngquan về thời gian giữa các phần, các chương nhạc trong mộttácphẩm âm nhạc Tiết tấu giữ vai trò quan trọng trong tính tạohình của tác phẩm, thông qua tiết tấu, ta có thể hiểu được hìnhtượng của chủ đề âm nhạc Nếu tước bỏ phần giai điệu, trong
chừng mực nhất định, tiết tấu có thể tạo cho người nghecảm nhận được âm hình đó thể hiện các sắc thái tình cảm vui
vẻ, hội hè, nhảy múa; hoặc thôi thúc, hiệu lệnh, chiến trận hay
u buồn, thương tiếc, than thở v.v… Nhạc khí gõ trong âm nhạcdân gian của các tộc người Châu Phi, châu Á có thể biểu hiệnđược các tâm trạng tình cảm khác nhau của con người Khiphân tíchmột tác phẩm âm nhạc, tiết tấu có thể là một trongnhững nhân tố phát triển tích cực bằng sự thay đổi liên tục đểtrở thành một trong những động lực cho sự phát triển của hìnhthức Trong sự phát triển của hình thức âm nhạc tùy thuộc vàotính chất thể loại của tác phẩm, của hình tượng âm nhạc vàphong cách
Ngoài giai điệu và tiết tấu, âm nhạc còn có các yếu tố :hòa âm, nhịp độ, âm sắc, cách cấu tạo v.v ; chúng liên quanchặt chẽ với nhau trong tác phẩm và vang lên đồng thời với vaitrò dẫn dắt của giai điệu
Hòa âm là động lực sinh ra hình thức âm nhạc và làm rõnét cho hình tượng âm nhạc vớichức năng bổ sung, làm rõ chogiai điệu, tạo màu sắc và hình thành tư duy về công năng
Tiết luật là sự luân phiên giữa phách mạnh và phách nhẹvới hai dạng chính là tiết luậtnghiêm khắc và tiết luật tự do;đồng thời tiết luật còn có ý nghĩa là luật chia trường độâmthanh: chia cơ bản và chia tự do
Âm sắc là màu sắc của âm thanh
Nhịp độ là sự chuyển động trong âm nhạc cùng với tiết tấu
và tiết luật
Âm vực là các khoảng âm thanh của giọng người hay củamột nhạc cụ
Cường độ xác định độ to nhỏ của âm thanh
Cách cấu tạo là phương thức trình bày, tổ chức âm thanhcủa một tác phẩm với hai dạng chính là một bè và nhiều bè
Như vậy, âm nhạc - nghệ thuật âm thanh hay âm thanhmang tính nhạc, dựa trên hai yếu tố cơ bản là giai điệu và tiếttấu; được tổ chức chặt chẽ, tạo thành những hệ thống có tính
Trang 3lôgic, trình bày và phát triển qua thời gian, để phản ánh nhữngcấu trúc mẫu mực khác nhau, những hình tượng âm nhạc khácnhau
Câu 2 Khái niệm hình thức âm nhạc và thể loại
Khái niệm hình thức âm nhạc theo tư duy hẹp là một quá trình chứa đựng
các phần, các chủ đề cùa một tác phẩm Trên cơ sở của những quá trình ấy, cáchình thức âm nhạc mẫu mực khác nhau được khẳng định như: hình thức mộtđoạn đơn, hình thức hai đoạn đơn, hình thức ba đoạn đơn; sự phức tạp hóa cácđoạn đơn là hình thức một đoạn phức, hình thức hai đoạn phức, hình thức bađoạn phức; tiếp đến là hình thức rondo (rông-đô), hình thức biến tấu, hình thứcsonate (xô-nát)
Để khỏi lầm lẫn giữa khái niệm về hình thức âm nhạc theo tư duy, rộng
và hẹp, chúng ta dùng thuật ngữ hình thức âm nhạc theo nghĩa hẹp để phân biệtcác cấu trúc khác nhau trong các tác phẩm âm nhạc
Thể loại âm nhạc là những dạng, những kiểu tác phẩm có liên quan chặt
chẽ trong một phạm vi nhất định với các yếu tố diễn tả cơ bản của âm nhạc Kể
cả những tác phẩm viết cho thanh nhạc hay chỉ viết cho các nhạc cụ trình bàycũng đều thể hiện được tính chất thể loại thông qua các phương tiện diễn tả như:hành khúc, hành khúc tang lễ, bài hát ru, khúc hài hước, bài ca chèo thuyền
Nghệ thuật âm nhạc cũng có nhiều loại với tiêu chí phân loại khác nhau
Có người phân chia âm nhạc thành các loại: âm nhạc dân gian, âm nhạc giải trí,
âm nhạc thính phòng, âm nhạc giao hưởng - đại hợp xướng gồm cả thanh nhạc,khí nhạc - thanh xướng kịch gồm cả thanh nhạc, khí nhạc, trang phục; âm
Trang 4nhạc sân khấu có tính tổng hợp như nhạc kịch (opéra = ô-pê-ra), vũ kịch (ballet
= ba-lê) Trong mỗi loại ấy lại có nhiều dạng khác nhau, tiêu biểu cho những nétđiển hình của từng loại Đôi khi người ta phân chia thể loại âm nhạc theo mộtcách khác, trong phạm vi rộng hơn, chia thành hai nhóm: thanh nhạc (những tácphẩm cho giọng hát có phần đệm của nhạc đàn hoặc không) và khí nhạc Theolối phân chia này, không chỉ phân biệt về cách thức biểu hiện mà còn liên quanđến quy luật thẩm mỹ, có quan hệ đến khả năng thể hiện nội dung Nhóm tácphẩm cho thanh nhạc liên quan đến ca từ, và lời ca đã giúp cho người nghe hiểuđược nội dung tác phẩm dễ dàng hơn Ngược lại, những tác phẩm khí nhạc, nộidung tác phẩm thông qua các phương tiện diễn tả của âm thanh để biểu hiệnhình tượng tác phẩm, việc lĩnh hội những tác phẩm đó đòi hỏi phải có vốn hiểubiết nhất định về âm nhạc
Lịch sử phát triển của nghệ thuật âm nhạc đã chứng minh thể loại âmnhạc luôn được bổ sung những loại hình mới và được sinh ra trong những điềukiện lịch sử, xã hội nhất định, liên quan đến sự tìm tòi sáng tạo của các nhà soạnnhạc Thể loại âm nhạc cũng không tồn tại riêng biệt mà chúng thường có mốitương hỗ lẫn nhau Trải qua thời gian, thể loại âm nhạc ngày càng hoàn thiện,phong phú với nhiều loại mới đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của conngười
Tóm lại: Hình thức âm nhạc theo tư duy hẹp là một quá trình chứa đựngcác phần, các chủ đề của một tác phẩm; từ đó sẽ khẳng định các cấu trúc mẫumực khác nhau Thể loại âm nhạc là những dạng, những kiểu tác phẩm liênquan chặt chẽ trong một phạm vi nhất định với các phương pháp diễn tả cơ bảncủa âm nhạc
Trang 5
Câu 3: Khái niệm hình thức một đoạn đơn:
1.1 Khái niệm
Hình thức một đoạn là hình thức của tác phẩm âm nhạc được cấu tạo bằng một đoạn nhạc gồm một hoặc nhiều ý nhạc (âm hình) đã được phát triển một cách trọn vẹn
Ví dụ:
15 THẬT LÀ HAY Nhạc và lời:
Hoàng Lân
Vui tươi
Trang 6Bài Thật là hay là tác phẩm âm nhạc được viết ở hình thức một
đoạn nhạc được cấu tạo bằng hai câu nhạc:
- Bài hát: Thật là hay - viết ở giọng Đô trưởng; hình thức một đoạn đơn
- Bài hát mang tính chất: Nhanh, vui, hoạt bát
- Thang âm: 5 âm
- Câu 1: Từ “Nghe véo von…” đến “…líu lo vang lừng”
+ Tiết 1: Từ “Nghe véo von…” đến “…với chim oanh”
+ Tiết 2: Từ “Hai chú chim…” đến “…líu lo vang lừng”
+ Kết câu 1 ở bậc II của giọng chủ
- Câu 2: Từ “Vui rất vui…” đến “…hay hay hay”
+ Tiết 1: Từ “Vui rất vui…” đến “…tới hát theo”
+ Tiết 2: Từ “Li lí li…” đến “…hay hay hay”
Kết câu 2 ở bậc I của giọng chủ Nhìn sơ đồ ta có thể biết:
- Cả bài gồm 16 nhịp
- Được chia làm hai câu, mỗi câu 8 nhịp Mỗi câu gồm 2 tiết, mỗi tiết 4 nhịp
- Mỗi tiết gồm 3 motif (mô-típ): 1+1+2’
Ví dụ trên biểu hiện một nội dung, một hình tượng âm nhạc rõ ràng.
2 Định nghĩa: Đoạn nhạc là hình thức âm nhạc nhỏ nhất
(hình thức một đoạn đơn),trình bày một tư duy âm nhạc hoàn chỉnh; là một cơ cấu âm nhạc phát triển tương đối hoànthiện,
có mức độ của tính thống nhất về chủ đề, về các phương pháp diễn tả âm nhạc Tính thống nhất chủ đề biểu hiện qua các xử lí
âm điệu, tiết tấu và thường kết trọn đoạn nhạc ở giọng ban đầu (giọng chính của tác phẩm), hoặc kết trọn ở giọng chuyển gần.
Trang 7Câu 4 Khái niệm hình thức hai đoạn đơn:
Đoạn thứ hai (b) có chức năng phức tạp hơn tùy thuộc vào
sự phát triển của chủ đề để chia thành các dạng cấu trúc khác nhau Đoạn này vừa giữ chức năng của phần giữa và phần tái hiện hay kết của hình thức và có cấu trúc ở hình thức đoạn
nhạc
Trang 8Tác giả Đào Ngọc Dung giải thích kỹ hơn về hình thức hai đoạn đơn: Hình thức hai đoạn đơn là hình thức của một tác phẩm âm nhạc được cấu tạo bằng hai đoạn nhạc: Một đoạn trình bày và một đoạn phát triển (trình bày và phát triển âm hình, hòa thanh và kết cấu của tác phẩm) Hai đoạn đó liên kết với nhau vừa tương phản lẫn nhau 15 vừa thống nhất với nhau
để trở thành tác phẩm hoàn chỉnh
Tương tự như vậy, trong sách Phân tích tác phẩm âm nhạccủa GS.TSKH Phạm Lê Hòa cũng nêu khái niệm khá kỹ về hình thức hai đoạn “là cấu trúc tác phẩm âm nhạc gồm hai phần/hai đoạn mà trong mỗi phần/đoạn thường được viết ở hình thức một đoạn Phần thứ nhất thường giữ chức năng của phần trình bày và được viết theo kiểu một đoạn có nhắc lại Phần thứ hai bao gồm trong nó cả hai chức năng phát triển và tái hiện/hoàn thiện tư duy âm nhạc” Qua các khái niệm nêu trên ta thấy, hình thức hai đoạn đơn là hình thức bao gồm hai phần, mỗi phần không vượt quá khuôn khổ đoạn nhạc, trong đó phần thứ nhất thường giữ chức năng trình bày, phần thứ hai bao gồm cả hai chức năng phát triển và tái hiện Hình thức hai đoạn đơn có thể ký hiệu dưới dạng sơ đồ như sau:
+ Hình thức hai đoạn đơn có thể được sử dụng để xây dựng một tác phẩm hoàn chỉnh hoặc là một phần của một tác phẩm lớn hơn hình thức hai đoạn (hình thức ba đoạn đơn, ba đoạn phức, biến tấu…)
2 Ví dụ
Bài: Em là bông hồng nhỏ
Vừa phài – Tình cảm, trong sáng Trịnh Công Sơn
Trang 9* Em là bông hồng nhỏ của Trịnh Công Sơn là bài hát ca
ngợi tình cảm trongsáng, thơ ngây của tuổi nhỏ khi nghĩ về gia đình, nhà trường, về thiên nhiên qua những cảm xúcnhẹ nhàng, bay bổng.
Bài hát gồm có hai đoạn nhạc, mỗi đoạn nhạc có hai câu nhạc Đoạn thứ nhất của bài là đoạn nhạc với lối cấu trúc nhắc lại gồm có hai câu nhạc cân phương (2 nhịp +2+2+2 và 2+2+2+2) Nhịp thứ bảy của câu một xuất hiện âm Đô thăng để li điệu sang giọng Rê trưởng và kết câu nhạc ở bậc I của giọng mới, đồng thời
âm Rê là âm bậc Vcủa giọng Xon trưởng Câu thứ hai là nhắc lại nguyên dạng câu thứ nhất với lời ca mới, thay đổigiai điệu ở cuối nhịp thứ bảy để kết trọn đoạn nhạc về chủ âm của giọng chính –
Xon trưởng.
Đoạn thứ hai cấu trúc câu nhạc thay đổi nên có khuôn khổ ngắn hơn so với đoạn thứ nhất.Câu thứ nhất chỉ có sáu nhịp, chia thành ba tiết nhạc, mỗi tiết nhạc có hai mô-típ, mỗi mô-típ làmột nhịp và tiết thứ ba không chia thành mô-típ được (1+1, 1+1 +2) Đầu câu một của đoạn haicó âm hưởng của hợp âm mi thứ Câu
Trang 10thứ hai của đoạn hai là tái hiện lại câu thứ hai của đoạn một, chỉ khác một chút ở nhịp thứ bảy về cao độ cho hợp với thanh điệu của
từ và kết trọn bài hát về giọng Xon trưởng.
Câu 5: Những yếu tố cơ bản của bộ môn thanh nhạc:
Thanh nhạc là những tác phẩm được biểu diễn bằng giọng người, loạihình xuất hiện sớm nhất của nghệ thuật âm nhạc; ra đời cùng với tiếng nói khicon người biết dùng ngôn ngữ làm phương tiện giao lưu tiếp xúc
Thanh nhạc là bộ môn khoa học trừu tượng, chuyên
nghiên cứu những âm thanh do bộ máy phát âm của con người tạo ra đã được âm nhạc hóa Bộ môn này có các yếu tố chính là
thanh nhạc là công việc hoàn thiện mọi mặt của giọng hát và nắm vững những thói quen đúng khi hát Thanh nhạc với các bài tập về hơi thở, giám sát hơi thở, luyện thanh, mở rộng
xương sườn, điều khiển cơ bụng Học thanh nhạc thực chất là học về cách lấy hơi hiệu quả và luyện tập mở rộng âm vực để
1 Bộ máy phát âm (bộ máy phát thanh):
1.1 Các bộ phận của bộ máy phát âm
Con nguời từ khi sinh ra, vốn sẵn có bộ máy phát âm vô cùng tinh vi và hoàn chỉnh Nhờ có bộ máy phát âm này con nguời mới có thể nói hoặc hát đuợc Bộ máy phát âm được hoạt động theo sự điều khiển của hệ thần kinh trung uơng Bộ máy phát
âm bao gồm các bộ phận chính sau đây:
1.1.1 Phổi - hoành cách mô:
Phổi được cấu tạo bởi một tổ chức những túi xốp có độ co giãn Khi hít hơi vào, những túi xốp này giãn ra để tiếp nhận không khí Khi đẩy hơi ra thì các túi xốp này lại co lại để đẩy khíCO2 ra ngoài Phần trên những túi xốp là những ống nhỏ cũng
có độ co giãn được gọi là phế quản Tất cả những ống phế quảnlại được nối vào một ống lớn hơn cũng có độ co giãn, đuợc gọi
là khí quản Khi ta nói hoặc hát, luồng không khí từ phổi đẩy ra làm rung thanh đới, âm thanh đượcphát ra từ đây
Phổi được ngăn cách với bụng bởi một màng ngăn có độ
co giãn được gọi là hoành cách mô Trong ca hát, phổi - hoành cách mô là những bộ phận gây áp lực khi phát âm
1.1.2 Thanh quản:
Trang 11Thanh quản là một ống nối tiếp phía trên khí quản Thanh quản như một hộp sụn, ở trước cổ, trước thực quản, bên trong
có nhiều bộ phận Phần giữa thanh quản, chỗ thắt lại như cổ chai, gọi là thanh đới Thanh đới được cấu tạo
bởi những dây cơ gọi là dây thanh Dây thanh thực ra không phải là một sợi dây mà là một cơ (bắp thịt) vân cấu trúc rất tinh
tế Nam giới có dây thanh dài từ 18 – 25 mm, rộng từ 3 – 5mm;
nữ giới có dây thanh dài từ 14 – 21mm, rộng từ 2 – 4mm; trẻ
em có dây thanh dài từ 5 – 7mm, rộng từ 2 – 3mm mỗi khi phát
ra một âm, dây thanh phải rung động nhiều lần, chẳng hạn để nói được âm “la”, dây thanh phải rung động 440 lần/giây Thanhđới là bộ phận rất quan trọng của thanh quản vì đó là nơi tạo ra
âm thanh ban đầu
Khi ta không nói hoặc không hát, phần giữa của thanh đới tạo thành khe nhỏ để không khí qua lại gọi là khe thanh đới (khe thanh quản) Khe này thay đổi lúc đóng, lúc mở do thanh đới rung lên duới tác động của luồng hơi thở từ phổi đẩy ra Phần trên thanh đới có hai khoảng trống song song với nhau gọi
là buồng thanh quản Phần trên cùng của thanh quản có một bộphận nhỏ như cái nắp, gọi là nắp thanh thiệt (nắp thanh môn) Khi ta nói hoặc hát, nắp này mở ra và khi ta nuốt thức ăn vào thực quản (là ống nằm phía sau của thanh quản), nắp này sẽ đóng lại ngăn không cho thức ăn rơi vào ống thanh quản
Thanh quản còn được gọi là bộ phận phát ra âm thanh
1.1.3 Cuống họng
Cuống họng là bộ phận nằm tiếp giáp phía trên thanh quản Khi há miệng rộng, hạ cuống lưỡi xuống nhìn sâu vào bêntrong, ta thấy đuợc cuống họng từ nắp thanh thiệt đến vòm họng Cuống họng cũng có thể mở rộng ra được chút ít so với mức bình thuờng Cuống họng nằm tiếp giáp với miệng nên dễ
bị ảnh huởng bởi sự thay đổi của thời tiết, độ nóng lạnh của thức ăn, và thức uống khi đi qua nó Cuống họng đuợc bao bọc bởi một tổ chức niêm mạc, dễ bị kích thích nên cần đuợc giữ gìn
để tránh bị viêm nhiễm, gây ảnh hưởng không tốt đến giọng hát Cuống họng còn được gọi là bộ phận truyền âm
1.1.4 Miệng
Miệng là bộ phận hoạt động liên tục trong suốt thời gian hát Hình dáng của miệng khi hát phụ thuộc vào lời ca Hoạt động của miệng bao gồm những cử động của hàm ếch mềm, lưỡi, môi, hàm duới cùng với sự hỗ trợ của răng Miệng giữ vai trò quan trọng khi phát âm Những âm thanh đuợc phát ra từ thanh đới, đi qua cuống họng, đi ra ngoài thông qua những cử
Trang 12động của miệng tạo thành âm thanh có âm sắc đẹp theo nhữngyêu cầu cần thiết Cũng từ đây âm thanh chứa đựng một nội dung cụ thể thông qua ngôn ngữ đuợc tạo nên từ sự
kết hợp nguyên âm và phụ âm do những hoạt động của miệng tạo ra Miệng, trong khi hoạt động để tạo ra âm thanh và lời hátvới nội dung và tình cảm cần
thiết, lại còn có tác dụng hỗ trợ cho các hoạt động của thanh đới và hơi thở
Miệng còn đuợc gọi là bộ phận nhả chữ
1.2 Nguyên lý phát thanh
Trước khi nói hoặc hát, ta phải lấy hơi Hơi thở chủ yếu đi qua mũi và một phần rất nhỏ qua miệng Sau khi lấy hơi vào phổi, lúc thở ra, luồng hơi thở đi qua khe thanh đới làm rung thanh đới Trước hết âm thanh được phóng to ra trong cuống họng Cuống họng là bộ phận nằm tiếp giáp phía trên thanh quản Cuối cùng âm thanh đi ra ngoài qua miệng Hoạt động của miệng bao gồm các cử động kết hợp của lưỡi, môi, hàm ếchmềm, hàm dưới cùng với sự hỗ trợ của răng tạo thành tiếng nói,tiếng hát
Tóm lại, ca hát là nghệ thuật kết hợp giữa âm nhạc và ngôn ngữ Vì vậy hoạt động của miệng để tạo ra những âm thanh mang nội dung thông qua ngôn ngữ là rất quan trọng
2.Hơi thở trong ca hát: Trước khi nói hoặc hát, ta phải
lấy hơi Hơi thở chủ yếu đi qua mũi và một phần rất nhỏ qua miệng Sau khi lấy hơi vào phổi, lúc thở ra, luồng hơi thở đi qua khe thanh đới làm rung thanh đới Trước hết âm thanh được phóng to ra trong cuống họng Cuống họng là bộ phận nằm tiếpgiáp phía trên thanh quản Cuối cùng âm thanh đi ra ngoài qua miệng Hoạt động của miệng bao gồm các cử động kết hợp của lưỡi, môi, hàm ếch mềm, hàm dưới cùng với sự hỗ trợ của răng tạo thành tiếng nói, tiếng hát
Trong quá trình phát triển của nghệ thuật ca hát, trên thế giới người ta đã áp dụng một số kiểu thở (lấy hơi) khác nhau
Đó là thở ngực (lấy hơi ngực), thở bụng (lấy hơi bụng), thở
ngựckết hợp với bụng (lấy hơi bằng ngực kết hợp với bụng) và thở ngực dưới và bụng
Trang 13+ Không so vai, rụt cổ dễ tạo nên tư thế không đẹp mắt.+ Không lấy hơi hoàn toàn bằng miệng vì dễ làm khô cổ khi hát, hơi nông dễ gây cảm giác mệt mỏi.
+ Không gây ra tiếng động
+ Không lấy hơi quá nhiều, phải tuỳ độ dài ngắn của câu hát mà lấy hơi cho phù hợp
Ví dụ: Trích trong bài Khúc hát của người mẹ trẻ của PhạmTuyên
Với câu hát trên nếu hát một hơi sẽ khó thể hiện Để câu hát
“con ơi hãy nghĩ” được đảm bảo yêu cầu về cao độ, độ vang cũng như sắc thái tình cảm, trước đó ta phải lấy hơi sâu, khi hátđẩy hơi ra phải khống chế tốt hơi thở bằng cách đẩy hơi chậm, đều đặn liên tục tới cuối câu hát
3 Khẩu hình: Chất lượng của âm thanh phụ thuộc vào
nhiều yếu tố, một trong những yếu tố đó là hoạt động của
miệng Hoạt động này trực tiếp ảnh hưởng đến âm thanh.Hoạt động của miệng bao gồm những cử động của hàm dưới, môi, lưỡi, hàm ếch mềmcùng với sự hỗ trợ của răng Tất cả những cửđộng này khi hát tạo nên hình dáng của miệng, thường gọi là khẩu hình
Khi hát, hình dáng của miệng thay đổi liên tục theo sự phát âm nhả chữ, nghĩa là phụ thuộc vào những nguyên âm và
Trang 14phụ âm Khi nói các nguyên âm phát ra nhanh, gọn, không nhấtthiết phải mở rộng miệng Nhưng khi hát các nguyên âm phải ngân dài theo trường độ nốt nhạc nên miệng phải mở rộng và tích cực hơn Với từng loại giọng hát, độ mở rộng hay hẹp của miệng cũng có ảnh hưởng tới âm lượng và âm sắc của giọng Khihát miệng phải luôn mở rộng tự nhiên, mềm mại không méo
mó, linh hoạt, giúp người hát phát âm nhả chữ dễ dàng cũng như dễ biểu hiện cảm xúc bằng nét mặt
- Hoạt động của môi khi hát:
Sau khi âm thanh được phát ra từ thanh đới, do tác động của luồng hơi thở lên dây thanh đới, âm thanh đi qua khe thanhquản, đi qua cuống họng ra ngoài qua miệng Các nguyên âm
và phụ âm được phát ra bởi những cử động của các bộ phận của miệng, tạo thành lời hát Hoạt động của môi nằm trong hoạt động chung của miệng
Khi hát, hình dáng của môi phụ thuộc vào các nguyên âm
Đối với nguyên âm Ê, môi trên hơi nhếch lên
Với những giọng cao, nhẹ nhàng, khi hát thường có hình dáng môi hơi nhếch lên trên và để lộ chút ít hàm răng cửa trên Với những giọng hát trầm, khi hát thường đưa môi ra phía trước
và che kín răng
-Hoạt động của lưỡi khi hát: Với bất cứ giọng hát nào, khi hát nên đặt lưỡi có tư thế tự nhiên, mềm mại Không đưa lưỡi raphía trước, cũng không tụt lưỡi vào phía trong Đó là tư thế tốt nhất của lưỡi khi hát Lưỡi cứng khi hát sẽ mắc lỗi phát âm lệch chuẩn
- Hoạt động của hàm dưới khi hát: hàm dưới luôn buông lỏng, hạ xuống tự nhiên, mềm mại, không đưa cằm ra phía trước
- Hoạt động của hàm ếch mềm: Khi hát, hàm ếch mềm phải nâng lên một cách mềm mại để mở rộng lối cho âm thanh cùng lúc lên hốc mũi và ra miệng Đặc biệt khi hát lên âm
thanh cao, hàm ếch mềm phải nâng lên, kết hợp với tăng cườnghơi thở là hai yếu tố góp phần quyết định đến chất lượng của
âm thanh