Câu 10: Trình bày cách thực hành một đoạn bài cảm thụ văn học. Bước 1: Đọc kỹ đề bài, nắm chắc yêu cầu của bài tập (phải trả lời được điều gì? Cần nêu bật được ý gì?...) Đọc và tìm hiểu về câu thơ (câu văn ) hay đoạn trích, bài thơ, bài văn được nêu trong đề bài (Dựa vào yêu cầu cụ thê của bài tập để tìm hiểu). Bước 2: Đoạn thơ, đoạn văn ấy có cần phân ý không? Nếu có, phân làm mấy ý? Đặt tiêu đề cho từng ý. Tìm dấu hiệu nghệ thuật ở từng ý? Gọi tên các biện pháp nghệ thuật qua các dấu hiệu. Đoạn thơ (văn) gợi cho em những suy nghĩ gì? Bước 3: Lập dàn ý đoạn văn, bài văn ở mỗi dấu hiệu nghệ thuật: nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật và nội dung của mỗi đoạn, bài. Dự kiến nêu cảm nghĩ, đánh giá, liên tưởng theo hiểu biết của em.
Trang 1Câu 1 Bản chất của cảm thụ văn học là gì ?
1 Quan niệm về cảm thụ văn học:
Văn học là một loại hình sáng tác, tái hiện những vấn đề của đời sống xã hội
và con người Phương thức sáng tạo của văn học được thông qua sự hư cấu, cáchthể hiện qua ngôn ngữ
Cảm thụ là “nhận biết cái tế nhị bằng cảm giác tinh vi ” (Theo Hoàng Phê trích
“Từ điển tiếng Việt” Trung tâm Từ điển ngôn ngữ - Hà Nội, 1992)
Cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế
nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài
thơ ) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn , đoạn thơ thậm chí một từ ngữ
có giá trị trong câu văn, câu thơ)
Như vậy, cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một
bài thơ ta không những hiểu mà còn phải xúc cảm, tưởng tượng và thật sự gầngũi, “nhập thân” với những gì đã đọc
Cảm thụ văn học diễn ra ở mỗi em không hoàn toàn giống nhau do nhiềuyếu tố quyết định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến thức,tình cảm và thái độ khi tiếp xúc với văn học
Để có được năng lực cảm thụ văn học sâu sắc và tinh tế, cần có sư say mê,hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn; chịu khó tích lũy vốn hiểu biết về thực tếcuộc sống và văn học; nắm vững kiến thức cơ bản về tiếng Việt phục vụ chocảm thụ văn học
Có thể nói: Các em học sinh tiểu học tuy còn ít tuổi nhưng đều có thể rènluyện, trau dồi để từng bước nâng cao trình độ cảm thụ văn học, giúp cho việchọc tập môn Tiếng Việt ngày càng tốt hơn và trở thành học sinh giỏi
Nói một cách đơn giản, yêu cầu dạy cảm thụ văn học ở trường tiểu học phải trải qua một quy trình: hiểu nội dung thông báo – phát hiện các tín hiệu nghệ thuật – đánh giá được giá trị của các tín hiệu nghệ thuật đó – khái quát được nội dung thông báo thẩm mĩ
2 Đặc điểm của cảm thụ văn học
a CTVH truớc hết là hoạt động nhận thức hình tượng văn học
Nhận thức hình tượng văn học bắt đầu từ việc đọc một cách trọn vẹn một tácphẩm văn chương Người đọc(người nghe) phải có khả năng thông qua lớp vỏngôn từ mà hiểu được nội dung tác phẩm, hình dung được những con người,những cuộc sống, tâm trạng, tính cách, số phận…trong tác phẩm; đồng thời nắmbắt được các tình tiết, diễn biến của tác phẩm tự sự, hay cảm xúc chủ đạo của tácphẩm trữ tình … Từ đó rút ra được đại ý (đối với đoạn văn) tư tưởng, chủ đề (đốivới tác phẩm hoàn chỉnh) và phát hiện được ý đồ nghệ thuật của tác giả
Thông qua nhận thức nội dung, người đọc còn phát hiện ra mối liên hệ giữa tácphẩm với đời sống, rút ra được bài học ứng xử cho bản thân và cho xã hội CTVHcũng là hoạt động nhận thức đối với phương diện nghệ thuật của tác phẩm Ngườiđọc nhận thức được vẻ đẹp của hình tượng ngôn từ, phát hiện phương pháp sáng
1
Trang 2tác, tài năng và sự độc đáo trong phong cách của nhà văn Từ đó, trình độ thẩm mĩcùng với tâm hồn và nhân cách người đọc được nâng cao hơn.
Đối với tác phẩm thơ, nhận thức nội dung và nghệ thuật chính là phát hiện đượccảm xúc chủ đạo, sự độc đáo của câu từ, tìm và bình giá được ý nghĩa sâu sắc củanội dung, phát hiện vẻ đẹp kì diệu của “lời văn ý thơ”, khai thác và đồng cảm sâusắc với những tâm sự của tác giả, phát hiện chính xác phong cách riêng và tàinăng độc đáo của nhà văn
b CTVH chính là sự rung cảm thẩm mĩ
Văn bản văn học chỉ là cái xác không hồn bất động và cứng nhắc khi chưa
có hoạt động cụ thể hoá của người đọc Nó có cấu tạo như cơ thể sống bìnhthường với đầy đủ các bộ phận chỉ khác là nó không có một hơi thở, nhịp đập tráitim và luôn nằm bất động Chính hoạt động của người đọc sẽ thổi vào nó một cáihồn, cho nó một hơi thở nồng nàn, con tim đập rộn rã và toàn bộ cơ thể có hoạtđộng sinh động phức tạp
Tác phẩm văn học là một thông điệp mang tính thẩm mĩ đối với người tiếp nhận,chính từ đó làm thay đổi thái độ, nhận thức hoặc chuyển biến tình cảm của ngườitiếp nhận
Cảm thụ văn học chính là sự rung cảm thẩm mĩ đặc biệt, phức tạp và có tính sángtạo Những tính chất này do đối tuợng tiếp nhận tác phẩm văn học quy định.Đểhình dung rõ hơn về những điều trên, ta hãy tìm hiểu đôi dòng tâm sự của cácnhà văn, nhà thơ khi tiếp xúc với văn học
Hồi nhỏ, khi đọc những câu ca dao:
Giã ơn cái cối cái chày, Nửa đêm gà gáy có mày có tao Giã ơn cái cọc bờ ao, Nửa đêm gà gáy có tao có mày.
Nhà thơ Hữu Thỉnh đã rất xúc động Ông nhớ và kể lại: “ Trái tim non nớt của tôiláng máng nhận ra cái vị đắng của cuộc đời đi ở xưa kia Khi đó tôi chư thể hiểuđược hết ý nghĩa của câu ca, nhưng tôi thấy nó thật gần gũi Cái cối cái chày,cáicọc bờ ao, những thứ âý khá quen thuộc với tôi nhưng cứ lạ mãi, tại sao nó lại trởthành tiếng nói buồn tủi, bắt ta phải thương xót, cảm thông? Trí tưởng tượng củatôi phát ra một bóng người cô độc, bị vắt kiệt sức, bị ném xuống tận đáy, bị loại rakhỏi thế giới loài nguời, chỉ còn biết thui lủi một mình để thổ lộ tâm tư cùngnhưng vật vô tri vô giác.” [18]
Như vậy, CTVH có nghĩa là khi đọc hay nghe tác phẩm, một bài văn, bài thơ, takhông những hiểu nội dung mà còn có cảm xúc, tưởng tượng và thật gần gũi,
“nhập tâm”, rung cảm trước những giá trị thẩm mĩ cao đẹp của tác phẩm đó
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng từng nhớ lại tuổi ấu thơ và viết:
“Dế mèn phiêu lưu kí giúp tôi phát hiện tình bạn như một sức mạn kì diệu cảu tâm
hồn,….Khi đối quá sắp chết thì Dế Trũi đưa cho Dế mèn đề nghị bạn ăn lấy thịtmình để sống Tôi nhận ra rằng chính Mèn và Trũi mới là nhân vật của tâm hồntôi, đã làm tôi chảy nước mắt”[18]
Rõ ràng đọc có suy ngẫm, tưởng tượng và rung cảm thật sự sẽ giúp ta cảmthụ văn học tốt Có nhà văn đã chia sẻ: Khi đọc, tôi không chỉ thấy dòng chữ, mà
Trang 3còn thấy cảnh tượng sau dòng chữ ấy, trí tưởng tượng nhiều khi dẫn tôi đi rất xa,
vẽ ra, thêu ra những điều thú vị
Sự rung cảm thẩm mĩ hay cảm nhận của mỗi em là không hoàn toàn giốngnhau do nhiều yếu tố quyết định: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ khácnhau cũng có nhiều biến đổi Chính nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng đã
từng bộc lộ: “ Riêng bài ca dao Con cò mà đi ăn đêm thì ở mỗi độ tuổi của đời
người, tôi lại có cảm nhận một cái hạy riêng của nó, và cho đến bây giờ, tôi cảmthấy tôi vẫn chưa đi thấu tận cùng vẻ đẹp của bài học thuộc lòng thuở nhỏ ấy”[18]
c.CTVH mang tính chủ quan và cảm tính
Tính chủ quan trong CTVH là đặc tính cho phép người đọc có thể tùy ý yêu
thích tác phẩm này hay tác phẩm khác, tán thành hay phản đối tư tưởng nghệthuật của tác giả tùy thuộc vào sở thích riêng, vốn tri thức, vốn sống vốn kinhnghiệm riêng của mỗi người Thậm chí họ còn có thể nhận thức, rung cảm theomột cách khác, không hoàn toàn giống với ý đồ nhà văn Nói chung, CTVH tùythuộc rất nhiều vào chủ quan của người đọc
CTVH là hoạt động thiên về cảm tính Nếu các ngành khoa học nói chung đòi hỏiphải dùng tư duy logic để khảo cứu, phân tích, thống kê một cách đầy đủ và chínhxác, thì CTVH đòi hỏi phải có các yếu tố cảm nhận Người đọc, bằng vốn tri thức
và kinh nghiệm, cùng với năng khiếu của mình, có thể lĩnh hội được những khíacạnh khó nhận thấy nhất, ẩn giấu sau các chi tiết bình thường
Cả hai đặc điểm chủ quan và cảm tính đã làm cho cảm thụ phân biệt với hoạtđộng nghiên cứu - phê bình văn học CTVH không đòi hỏi truy nguyên nguồn gốctác phẩm, thống kê, khảo sát tỉ mỉ và chính xác như phê bình Trái lại, chỉ bằngnhững cảm nhận dựa theo kinh nghiệm và sự nhạy cảm, nó có thể đưa ra từ đầunhững phát hiện nhiều khi sâu sắc, mới mẻ và độc đáo về hình tượng tác phẩm Nghiên cứu - phê bình văn học tuy vẫn chấp nhận tính chủ quan và cảm tính,nhưng nói chung, đó là một hoạt động tư duy khoa học Còn CTVH cho phépchấp nhận tính chủ quan, cảm tính ở mức độ cao hơn Về việc này có thể nói,CTVH là hoạt động gắn liền với trực giác Đó là cảm nhận mang tính phát hiện
d CTVH mang tính chủ động, sáng tạo.
Người đọc không phải chỉ tiếp nhận tác phẩm một chiều thụ động mà trái lại,bao giờ họ cũng chủ động, sáng tạo trong nhận thức và rung cảm Tính chủ độngsáng tạo thể hiện ở chỗ: người đọc không bị lệ thuộc vào dụng ý tác giả mà cóquyền nhận thức và rung cảm theo cách riêng, tùy thuộc vào hoàn cảnh sống, vàovốn năng lực của học Người đọc có thể tìm kiếm trong tác phẩm đồng cảm, giúpích được cho họ trong cuộc sống và thậm chí còn có thể phát hiện ra những ưuđiểm, nhược điểm của tác giả để khen hoặc chê
Bản thân việc đọc - hiểu tác phẩm văn học là sự đánh thức cuộc sống ở trong tácphẩm theo khái niêm riêng của mỗi người đọc, gắn những giá trị tinh thần trongtác phẩm với cuộc sống bên ngoài và với khái niệm sống của chính họ
Tính chủ động sáng tạo của CTVH khiến người đọc trong tưởng rượng của tác giảkhông đồng nhất, thậm chí đôi khi còn trái ngược với người đọc trong thực tế và
có những phát hiện của họ đôi khi làm cho chính tác giả phải ngạc nhiên
3 Năng lực cảm thụ văn học
3
Trang 4- Năng lực cảm thụ văn học là gì ?
Năng lực cảm thụ văn học được hiểu là khả năng nắm bắt một cách nhanhnhạy, chính xác các đặc điểm, đặc trưng, bản chất của tác phẩm về nội dung vànghệ thuật; là khả năng hiểu, rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điềutâm sự thầm kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tượng, là khả năng đánh giáchính xác và sâu sắc tài năng cũng như sự độc đáo trong phong cách của tác giả
- Các mức độ của năng lực cảm thụ văn học
Năng lực CTVH cũng có ba mức độ: năng lực bình thường, tài năng, thiêntài
+ Năng lực cảm thụ bình thường trong CTVH là năng lực nắm bắt nhữngđặc điểm chính của nội dung, nghệ thuật tác phẩm
+ Tài năng trong CTVH là khả năng nắm bắt nhanh nhạy, chính xác nhữngđặc điểm, bản chất, đặc trưng về nội dung, nghệ thuật, phát hiện được những vẻđẹp riêng biệt, phong phú của hình tượng, của phong cách tác giả
+ Thiên tài trong CTVH là sự thăng hoa của tài năng Đây là hiện tượnghiếm thấy và cũng thường gắn liền với các thiên tài thuộc các lĩnh vực khác
- Mối quan hệ của năng lực CTVH với tri thức, kĩ năng, kĩ xảo
Năng lực CTVH có liên quan trực tiếp tới tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cũng nhưvới tâm hồn với nhân cách của chủ thể Tri thức, kĩ năng, kĩ xảo là những yếu tốban đầu giúp cho việc hình thành năng lực CTVH cũng như các năng lực khác.Nắm vững tri thức, rèn luyện tốt các kĩ năng cơ bản, hình thành kĩ xảo, thói quentrong CTVH, điều đó đồng nghĩa với quá trình hình thành năng lực CTVH củamỗi cá nhân
4 Đặc trưng của năng lực CTVH lứa tuổi Tiểu học:
Trước khi đến trường, HS Tiểu học đã có vốn văn học nhất định Đây khôngphải là lần đầu tiên, các em được tiếp xúc với hình tượng văn học Ngày từ nhỏ,
HS đã được nghe bố mẹ, ông bà kể chuyện cổ tích, nghe và thuộc các bài đồngdao, một số bài ca dao, dân ca Dù chưa ý thức rõ rệt, nhưng mỗi em có thể đãtiếp xúc với thơ, văn từ rất sớm Thưở ấu thơ, trong lời ru của bà, của mẹ:
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao
Ngày nào con bé cỏn con Bây giờ con đã lớn khôn thế này Cơm cha, áo mẹ, ơn thầy
Lo sao cho đáng những ngày ước mong
Trang 5Âm điệu ngọt ngào của lời ru đã đưa những câu ca ấy đến với các em giúpcác em tiếp xúc với văn thơ một cách hồn nhiên Tình yêu cuộc sống đặt trong sựgắn bó hài hòa giữa thế giới bao la, một hình ảnh khẳng định sức mạnh của tìnhđoàn kết, sự cần mẫn chăm chỉ, được tác giả dân gian khái quát bằng hình thứcnhững câu thơ dễ thuộc, dễ nhớ, đã đi sâu vào đời sống tâm hồn của mỗi conngười và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.
Ngay cả khi còn chưa biết chữ, mỗi lần được đắm mình vào thế giới nhữngcâu chuyện cổ tích kì diệu, trong trí tưởng tượng của các em có thể phần nào hìnhdung và nhớ được một số chi tiết Sở dĩ các em có cảm giác yêu nhân vật này hơnnhân vật khác, thích câu chuyện này hơn hay là không thích câu chuyện kia là vìcác em đã bắt đầu có những “cảm nhận chủ quan” về câu chuyện được nghe
Đến bậc Tiểu học, lần đầu tiên các em được tiếp xúc với tác phẩm văn họcbằng chữ viết, chữ viết tiếp tục đưa các em đi xa hơn trong việc cảm thụ thế giớivăn học Mở trang sách Tiếng Việt ở trường Tiểu học: học chữ, học vần, học Tậpđọc, làm văn, kể chuyện dần dần các em thấy tự tin hơn, hứng thú hơn với việc
tự mình đọc một đoạn văn, đoạn thơ và có khi các em thuộc lòng đoạn thơ, đoạnvăn ấy từ lúc nào không biết Chẳng hạn, ban đầu tiếp xúc với câu văn: “ Mùathu, bầu trời như cao hơn,trên giàn thiên lí, lũ chim chuồn chuồn ngẩn ngơ baylượn”[Tiếng Việt 1] chắc hẳn các em mới chỉ chú ý đến việc phát âm đúng từngtiếng để nhớ cách ghép vần chứ chưa nghĩ đến việc “ngắt hơi” thể hiện mạch văn,
ý văn lại càng chưa nghĩ tới việc hiểu tại sao mùa thu thì bầu trời lại cao hơn vàcao hơn như thế nào; và trên giàn thiên lí, tại sao lũ chuồn chuồn lại ngẩn ngơ baylượn? Tất cả những điều thú vị ấy, các em sẽ có nhiều dịp trở lại để tìm hiểu mộtcách kĩ càng hơn Cũng như vậy, những câu thơ sau đay mặc dù đã được họctrong bài Tập đọc lớp 1.Khi đó các em thường chỉ mới tập trung chú ý tới việcđọc to, rõ ràng từng tiếng:
Đi đến nơi nào Lời chào đi trước Lời chào dẫn bước Chẳng sợ lạc nhà Lời chào kết bạn Con đường bớt xa
Sau khi “đọc trơn” từng từ, ngắt hơi ở từng dòng, các em mới đọc đúng theotiết tấu , nhịp điệu của lời thơ, rồi từng bước cảm nhận được ý nghĩa của đoạn thơnói gì Rồi có dịp, các em tìm hiểu kĩ hơn, sâu hơn về kĩ năng sử dụng nghệ thuậtnhân hóa không chỉ thể hiện trong các câu trên mà còn ở cả bài thơ
Trường Tiểu học sẽ trang bị cho các em một số tri thức và rèn luyện một số
kĩ năng, năng lực cần thiết cho CTVH Học sinh bắt đầu làm quen với các thoatác tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Đó là những câu hỏi, những bàitập yêu cầu phát hiện ý của đoạn thơ, đoạn văn, ý chính hay đại ý của cả bài thơ,bài văn, hoặc tìm từ ngữ “chìa khóa” làm nên cái hay, cái đẹp của đoạn văn bản Học sinh cũng được trang bị một số tri thức về hình tượng, ngôn ngữ nghệthuật thông qua hệ thống câu hỏi, bài Tập đọc
5
Trang 6Ở lứa tuổi Tiểu học, khả năng nhạy cảm, tinh tế trong cảm thụ của các emmang đặc thù riêng Tình cảm, tâm hồn của các em rất hồn nhiên, trong sáng, rất
dễ rung động trước những kích thích trong đó có kích thích thẩm mĩ Chẳng hạn:Học sinh lớp Một chuẩn bị được nghỉ hè để năm học tới lên lớp Hai, trong buổicuối cùng, các em luyện đọc:
Lớp Một ơi! lớp Một!
Đón em vào năm trước Nay giờ phút chia tay Gửi lời chào tiến bước
Chào bảng đen cửa sổ Chào nơi ngồi thân quen Tất cả! Chào ở lại
Đón các bạn nhỏ lên Chào cô giáo kính mến
Cô sẽ xa chúng em
Làm theo lời cô dạy
Cô sẽ luôn ở bên.
[Gửi lời chào lớp 1_Hữu Tưởng]
Chia tay lớp Một, các em như đang trong trạng thái bâng khuâng khó tả: vừavui mừng khôn xiết vì đã được nghỉ hè, vì sắp được lên lớp Hai; song nghỉ hècũng là khi phải chia tay thầy cô, bạn bè của mình Ngập ngừng, lưu luyến, các
em chào cô giáo kính mến, đồng thời không quên chào bảng đen, cửa sổ, chỗ
ngồi, những đồ vật biết bao thân thiết từng gắn bó với mình Đọc bài thơ mà trào
dâng nỗi niềm da diết, trào dâng nỗi xao xuyến, bồi hồi
Từ ví dụ trên cho thấy: từ nghe đến đọc rõ rang không phải chỉ là việc chúng ta nghe hay đọc một cách thuần túy mà sự thực là trong nghe có hiểu, trong đọc có
hiểu, vừa nghe - hiểu vừa đọc - hiểu Hiện tượng đó dù ở những dấu hiệu sơ khai
nhất, là chính các em đã thực sự tham gia cảm thụ văn học rồi đấy!
Tuy nhiên lứa tuổi Tiểu học cũng gặp khó khăn trong việc phát hiện nhữngnội dung trừu tượng, khái quát và một số kĩ năng diễn đạt Đó là do tư duy logic ởcác em chưa phát triển như ở người trưởng thành
Trong CTVH, HS Tiểu học có những đặc điểm riêng biệt, tạo nên lợi thếtrong cảm quan tuổi thơ Đó là sự nhạy cảm, trong sang, hồn nhiên, chân thật,ngộ nghĩnh rất đáng quí ở cac em Trong con mắt trẻ thơ, thế giới đầy tính ngạcnhiên Người ta thường nói tới “nhãn quan trẻ thơ” tức là cách nhìn từ góc độ trẻthơ Thật vậy, dưới nhãn quan này, cuộc sống luôn hiện ra những điều mới mẻ.Ngay cả những gì bình thường nhất đang diễn ra hằng ngày, đối với trẻ thơ cũng
có thể đầy sự mới lạ, hấp dẫn Đó chính là “tính ngạc nhiên” trong quan sát và thểhiện cuộc sống của tuổi thơ
“Tính ngạc nhiên” là sự tất yếu trong cách nhìn của trẻ Đó là lần đầu tiên,các em chứng kiến tất cả những gì đang diễn ra, đang phát triển trước mắt mình
Trang 7“Tính ngạc nhiên” làm nên đặc trưng riêng biệt cho nhãn quan trẻ thơ: vừangộ nghĩnh, đáng yêu, lại vừa cho ta thấy được vẻ đẹp trung thực, trong sáng, cộinguồn của tinh thần con người.
Trong văn học của trẻ em và dành cho trẻ em “ tính ngạc nhiên ” là điềukiện không thể thiếu trong mọi tác phẩm Do vậy, CTVH đối với trẻ thơ cũng phảiluôn chứa đầy sự ngạc nhiên
Câu 2: Dạy cảm thụ văn học ở Tiểu học nhằm mục đích gì ? Lí do dạy cảm thụ văn học ở Tiểu học.
Thế kỷ 21- thế kỷ mà tri thức và kĩ năng của con người được coi như là yếu
tố quyết định sự phát triển xã hội Vì vậy mà mục tiêu chiến lược của giáo dục là:Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện nền giáo dục xã hội chủ nghĩa mang tính nhân dân,dân tộc, khoa học và hiện đại Thực hiện giáo dục toàn diện (đức, trí, thể, mĩ) ở tất
cả các bậc học Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khảnăng tư duy sáng tạo và năng lực thực hành Trên cơ sở đó giáo dục nhân cách,thực hiện nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Bởicùng với việc chăm lo phát triển kinh tế, phải chăm lo phát triển nguồn lực conngười, chuẩn bị lớp người lao động có một hệ thống giá trị phù hợp với yêu cầuphát triển đất nước trong thời kỳ mới
Lịch sử phát triển của ngôn ngữ học đã chứng minh “ngôn ngữ là công cụ
của tư duy” Ngôn ngữ của con người phát triển chứng tỏ tư duy phát triển Để
giúp học sinh có tư duy phát triển thì hiện nay trong các trường Tiểu học mônTiếng Việt càng được coi trọng cả về nội dung và phương pháp giảng dạy Để họcsinh có được các kỹ năng trên thông qua các giờ Từ ngữ, Ngữ pháp, Tập làm vănthì chưa đủ mà học sinh cần được tăng cường về năng lực cảm thụ văn trong cácgiờ Tập đọc và trong các buổi ngoại khóa Bởi học sinh có cảm thụ văn tốt thìmới hiểu được ý nghĩa của bài văn, bài thơ, đoạn văn, đoạn thơ… và mới thấyđược nét đẹp của thơ văn làm cho tâm hồn các em thêm phong phú
Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học luôn coi nhiệm vụ tăng cường nănglực cảm thụ văn cho học sinh Tiểu học là nhiệm vụ quan trọng nhằm bồi dưỡngtình yêu tiếng Việt hình thành thói quen gìn giữ sự trong sáng, giàu đẹp của tiếngViệt Góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa chohọc sinh dưới sự dẫn dắt của thầy, cô Những bài thơ, bài văn hay trong sách giáokhoa sẽ đem đến biết bao điều kỳ thú, hấp dẫn Tuy nhiên muốn trở thành một họcsinh có năng lực cảm thụ văn học tốt mỗi em cần phải tự giác phấn đấu và rènluyện về nhiều mặt Bên cạnh đó cảm thụ văn học là một năng lực bắt buộc phải
có ở những học sinh giỏi Tiếng Việt Chính vì vậy cùng với Luyện từ & câu vàTập làm văn, nó là một trong ba nội dung cấu tạo nên một đề thi học sinh giỏiTiếng Việt Vì vậy, tuy được đánh số thứ tự như một mạch kiến thức kĩ năng
7
Trang 8nhưng nó có một vị trí đặc biệt quan trọng Mạch kiến thức, kỹ năng này chủ yếuđược hình thành trong phân môn Tập đọc.
Cảm thụ văn học, hay nói chính xác hơn, tiếp nhận văn học là một quá trìnhnhận thức thẩm mỹ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sáng tạo Những tính chất này
do đối tượng nhận thức - tác phẩm văn học - quy định Quá trình cảm thụ văn học
là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới ngôn từ - hệ thốngtín hiệu thứ hai của loài người Quá trình này mang tính chất chủ quan vì nó phụthuộc vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, hiểu biết riêng của người cảm thụ văn học.Thực tế hiện nay, việc cảm thụ văn học trong phân môn Tập đọc ở các lớpnói chung và ở lớp 5 nói riêng chưa được chú trọng Giáo viên chỉ chú ý vào khâuluyện đọc và tìm hiểu nội dung bài học Muốn học sinh cảm nhận được cái hay,cái đẹp, sự sâu sắc của ngôn từ, biện pháp nghệ thuật, và ý nghĩa trong mỗi bàivăn, bài thơ mà các em đã được học thì giáo viên phải rèn cho các em kỹ năngcảm thụ văn học Qua cảm thụ, học sinh được củng cố thêm vốn từ ngữ, biết sửdụng các biện pháp tu từ trong viết bài tập làm văn như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ,hoán dụ… và học sinh cũng đọc diễn cảm hơn một văn bản nếu các em cảm thụtốt văn bản đó
Dạy Tập đọc lớp 5 có một điều mà bất cứ giáo viên nào khi giảng dạy cũngphải thừa nhận rằng: Năng lực viết văn của học sinh còn hạn chế Đặc biệt khảnăng cảm thụ văn học chưa cao Đa số các em chưa thể cảm nhận và phát hiệnnhững cái hay, cái độc đáo của bài văn, bài thơ Thiết nghĩ đây là vấn đề quantrọng giúp học sinh có năng lực viết văn, trau dồi vốn ngôn ngữ để giao tiếp vàhơn thế nữa là giáo dục tâm hồn trong sáng cho các em Song thực tế cho thấy vấn
đề này còn nhiều hạn chế từ hai phía : người học và người dạy Vậy làm thế nào
để tăng cường kiến thức và năng lực cảm thụ văn học cho học sinh khi dạy Tậpđọc lớp 5 theo tinh thần đổi mới phương pháp, đổi mới chương trình Nghĩa làngoài việc ‘’dạy đọc’’ theo đúng nghĩa của nó thì yếu tố cần và đủ để dạy thànhcông tiết Tập đọc đó là: học sinh hiểu được nội dung bài đọc, cảm nhận được cáihay cái đẹp và những tình cảm trong sáng của con người, tình yêu thiên nhiên,yêu lao động … thông qua các thủ pháp nghệ thuật được tác giả sử dụng trongmỗi đoạn văn, đoạn thơ
Trong lịch sử đã tồn tại nhiều phương pháp dạy học khác nhau và càng ngàycàng có sự phát triển hơn cho phù hợp với nhận thức và yêu cầu của xã hội Tuynhiên giáo viên chưa trang bị một cách hệ thống, bài bản về vấn đề đổi mớiphương pháp dạy học cho nên còn lúng túng đa số giáo viên còn mới hiểu vấn đềđổi mới phương pháp dạy học ở hình thức bên ngoài (ví như đổi mới chỉ là sựtăng cường luận nhóm hoặc phải sử dụng giáo án điện tử,…trong các giờ học) màchưa chú ý được đến bình diện bên trong của phương pháp dạy học (hiệu quả và
sự phù hợp của các phương pháp đổi mới với nội dung và đặc thù môn học) Việc tìm hiểu và nghiên cứu những vấn đề liên quan đến dạy học cảm thụvăn học ở Tiểu học được rất nhiều tác giả và các nhà nghiên cứu giáo dục quan
tâm nhằm nâng cao chất lượng phân môn Tập đọc nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung :
Trang 9Câu 3: Cảm thụ văn học với việc đổi mới dạy học phân môn Tập đọc.
1 Quan điểm dạy học cảm thụ văn học
Việc đi tìm một phương pháp dạy học phù hợp nhằm tăng cường năng lựccảm thụ văn học trong dạy học phân môn Tập đọc nằm trong nhu cầu và xu thếđổi mới phương pháp dạy học ở toàn cấp học Đổi mới phương pháp dạy họcđược hiểu là đưa các phương pháp dạy học mới vào nhà trường trên cơ sở pháthuy mặt tích cực của các phương pháp truyền thống để nâng cao chất lượng dạyhọc, nâng cao hiệu quả của giáo dục, đáp ứng được các yêu cầu của xã hội Hiểunhư vậy thì không thể chỉ nhấn mạnh đến một vài phương pháp mới, mà không kếthừa các phương pháp dạy học truyền thống, cũng không thể chỉ cải tiến cácphương pháp dạy học hiện có mà không đưa các phương pháp dạy học mới vàonhà trường
Bên cạnh những phương pháp dạy học truyền thống được sử dụng nhiềunăm nay là thuyết trình, giảng giải, chứng minh, vấn đáp, trực quan,…những nămgần đây đã xuất hiện những phương pháp dạy học mới như: thảo luận, điều tra vànghiên cứu, tích hợp, hoạt động, hợp tác,…
Muốn đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường cần phải đổi mới toàndiện: về nhận thức của giáo viên và cán bộ chỉ đạo, hình thức tổ chức dạy học,môi trường học tập, phương tiện dạy học và cách đánh giá, kiểm tra giáo viên vàhọc sinh
Đặc điểm cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học là quá trình dạy học đặcbiệt chú ý đến người học, hướng vào người học, nhằm phát huy tính tích cực, chủđộng
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cảm thụ văn học của học sinh
dễ cong vẹo Vì vậy, người lớn cần chú ý tư thế ngồi và cách lao động của các em.Những đốt xương ở cổ tay chưa hoàn toàn cốt hóa, cho nên các em không thíchluyện những kĩ xảo có tính chất tỉ mỉ Vì vậy, việc rèn luyện những kĩ xão có tínhchất kĩ thuật tỉ mỉ rất khó đối với các em Chúng ta nên tránh để các em viết chữquá nhỏ, viết láu, viết nhiều, không nên gò bó các em tham gia những hoạt độngđơn điệu và kéo dài Hệ cơ đang phát triển mạnh, những cơ lớn thường phát triểnnhanh hơn những cơ nhỏ nhất là những bắp thịt lớn, nên các em thích chạy nhảy,thích làm những việc dùng sức mạnh
9
Trang 10Não bộ của trẻ lên 7 tuổi đạt khoảng 90% trọng lượng não người lớn và đến
12 tuổi thì bằng trọng lượng não người lớn, thùy trán phát triển mạnh Tế bào nãophát triển về thành phần cấu tạo, độ lớn và phân hóa rõ rệt Cấu tạo tế bào não củatrẻ 8 tuổi không có gì khác so với tế bào não của người lớn Não bộ đang tiếp tụchoàn thiện về mặt cấu trúc và chức năng Ở HS tiểu học có thể thành lập hệ thốngliên hệ thần kinh phức tạp nhưng chưa thật vững chắc Vỏ não chưa hoàn toànđiều khiển được những phần dưới vỏ Nên ở tuổi này trẻ dễ nhớ nhưng cũngchóng quên và thường khó kìm hãm những cảm xúc của mình Quá trình hưngphấn rất mạnh, nên HS tiểu học rất hiếu động và nhiều khi chưa có khả năng tựkiềm chế mình Ức chế đang phát triển và tiến tới cân bằng hưng phấn
Học sinh tiểu học hệ thống tín hiệu thứ nhất vẫn chiếm ưu thế so với hệthống tín hiệu thứ hai Trong quá trình học tập ở nhà trường, hệ thống tín hiệu thứhai dần dần được phát triển mạnh và giữ vai trò lớn trong hoạt động nhận thức (dongôn ngữ phát triển, các em hiểu được các kí hiệu, các công thức trong các bàihọc), cũng như trong việc điều chỉnh hành vi của các em Đó là cơ sở sinh lí của
sự phát triển tư duy trừu tượng và hành động ý chí của trẻ
- Yếu tố tâm lí
HS lớp 5 đã bước vào tuổi thiếu niên Các em lớn nhanh, kích thước và tổchức cơ thể đã tiến gần đến người trưởng thành Hành vi và đời sống nội tâm củacác em đã có những thay đổi đột biến
Nét đặc thù của nhân cách HS tuổi này là ý thức mình không còn là trẻ con
Vì vậy tuy hành vi vẫn là trẻ con nhưng các em lại muốn tỏ ra mình là người lớn.Các em dễ cáu khi bị người lớn âu yếm như trẻ con, và bướng bỉnh khó bảo nếukhông được tôn trọng, không được cư xử bình đẳng Tuổi này vì vậy được gọi làtuổi chuyển tiếp
Do sự cân bằng cơ thể của trẻ bị phá vỡ, sự cân bằng cơ thể người lớn cònchưa vững chắc, các em dễ xúc động và xúc động cao Sự cảm thụ văn học của
HS lớp 5 con chưa hoàn thiện so với người lớn và được phân biệt bởi những đặcđiểm sau:
- Thứ nhất các em chịu sự chi phối mạnh mẽ của tình cảm, sự vượt trước củatình cảm so với quá trình phân tích - tổng hợp
- Thứ hai là sự phát triển chưa hoàn thiện của óc phân tích
- Thứ ba là sự thiếu hoàn thiện của năng lực so sánh – tổng hợp
Ví dụ, khi dạy bài “Phong cảnh đền Hùng” (TV5, tập 2), để HS tái tạo bứctranh toàn cảnh của đền Hùng, cô giáo yêu cầu các em cho biết tác giả đứng ở đâu
để quan sát và tả cảnh đền Hùng, thì nhiều HS lớp 5 đã không trả lời đúng câu hỏinày Kế tiếp là không biết lật đi lật lại vấn đề, sự khái quát thường vội vã, thiếuchiều sâu
3 Mối quan hệ giữa dạy học đọc hiểu và cảm thụ văn học
- Ý nghĩa của việc đọc trong cảm thụ tác phẩm văn học
Những kinh nghiệm sống, những thành tựu văn hoá, khoa học tư tưởng, tình
cảm của các thế hệ trước và của cả những người đương thời phần lớn đã được ghilại bằng chữ viết Nếu không biết đọc thì con người không thể tiếp thu nền văn
Trang 11minh của loài người, không thể sống một cuộc sống bình thường, có hạnh phúcđúng nghĩa trong xã hội hiện đại Biết đọc, con người đã nhân khả năng tiếp nhậnnền văn hoá, văn minh, cảm thụ nghệ thuật lên gấp nhiều lần, từ đây con ngườibiết tìm hiểu, đánh giá cuộc sống nhận thức các mối quan hệ tự nhiên, xã hội, tưduy Biết đọc, con người sẽ có khả năng chế ngự một phương tiện văn hoá cơ bảngiúp họ giao tiếp được với thế giới bên trong của người khác, thông hiểu tư tưởng,tình cảm của người khác Đặc biệt khi đọc tác phẩm văn học, con người khôngchỉ thức tỉnh về nhận thức mà còn rung động tình cảm, nảy nở những ước mơ tốtđẹp, khơi dậy những năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng như được bồidưỡng tâm hồn Không biết đọc con người sẽ không có điều kiện hưỏng thụnhững thành tựu văn minh của xã hội, không thể hình thành nhân cách toàn diện.Đặc biệt trong thời đại thông tin thì biết đọc càng ngày càng quan trọng vì nó sẽgiúp chúng ta sử dụng nguồn thông tin, đọc chính là học.
Vì những lẽ trên, dạy học Tập đọc có ý nghĩa to lớn ở Tiểu học Biết đọc làđòi hỏi đầu tiên của người đi học Khi đọc được thì mới có thể hiểu được nộidung và cảm nhận được tác phẩm
- Mối quan hệ giữa đọc - hiểu và cảm thụ văn học
Đọc hiểu chính là đọc và nắm bắt thông tin Hay nói cách khác là quá trìnhnhận thức để có khả năng thông hiểu những gì được đọc Vì vậy, hiệu quả củađọc hiểu được đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc Muốn vậy,người đọc phải đọc văn bản một cách có ý thức, phải lĩnh hội được đích tácđộng của văn bản Kết quả của đọc hiểu là: người đọc phải lĩnh hội được thôngtin, hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu đoạn, bài… tức là toàn bộ những gì đượcđọc Đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi đối tượng đọc, với tất cả các kiểu loạivăn bản đọc, trong đó có cả các văn bản nghệ thuật Còn cảm thụ là yêu cầu đặt
ra cho những ai đọc các văn bản nghệ thuật, đặc biệt là các văn bản hay, gâyxúc động
Cảm thụ văn học là đọc hiểu các tác phẩm văn chương ở mức độ cao nhất,không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích,đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảmđặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho ngườikhác Cảm thụ văn học có nghĩa là khi đọc (nghe) một câu chuyện, một bàithơ…người đọc không những hiểu mà còn phải có xúc cảm, tưởng tượng vàthật sự gần gũi, “nhập thân” với những gì đã đọc… Đọc có suy ngẫm, tưởngtượng (hay liên tưởng) và rung cảm thực sự chính là người đọc biết cảm thụ vănhọc
Năng lực cảm thụ văn học ở mỗi người không hoàn toàn giống nhau donhiều yếu tố qui định như: vốn sống và hiểu biết, năng lực và trình độ kiến thức,tình cảm và thái độ, sự nhạy cảm khi tiếp xúc với tác phẩm văn học…Ngay cả ởmột người, sự cảm thụ văn học về một bài văn, bài thơ trong những thời điểmkhác nhau cũng có nhiều biến đổi Những điều nói trên về cảm thụ văn học chothấy: mỗi người đều có thể rèn luyện, trau dồi cách đọc để từng bước nâng caotrình độ cảm thụ văn học cho bản thân, từ đó cũng có thể có khả năng cảm nhậnHiểu và cảm thụ văn bản nghệ thuật thuộc hai mức độ nông sâu khác nhau:
11
Trang 12chúng tôi gọi hiểu là việc chạm tới nội dung bề mặt của ngôn từ nghệ thuật (còngọi là hiển ngôn), còn cảm thụ là việc hiểu sâu sắc với những xúc động, trướcnhững gì mà ngôn từ gợi ra để nhận thức được chiều sâu ý nghĩa của văn bản(còn gọi là hàm ngôn).
Đặc điểm nổi bật của quá trình CTVH là đọc văn bản trong nhận biết vàrung độngNgười đọc cũng cần dùng tưởng tượng, trực giác để cảm nhận ýnghĩa biểu cảm của ngôn từ, từ đó chia sẻ, đồng sáng tạo với tác giả Quá trìnhCTVH chính là việc đảm bảo hiệu quả nhất mối quan hệ giữa nhà văn - tácphẩm - bạn đọc Đến với tác phẩm văn học, người đọc muốn được hưởng thụ vàbồi đắp những tình cảm thẩm mĩ, muốn được mở mang trí tuệ, bồi dưỡng thêm
về tư tưởng, đạo đức, lí tưởng, học hỏi kinh nghiệm sống hoặc nhận xét, đánhgiá Bằng việc cảm thụ, người đọc đã chuyển hóa văn bản thứ nhất của tác giảthành văn bản thứ hai của mình Bởi vì, trong khi đọc tác phẩm văn học, ngườiđọc vừa bám vào sự mô tả trong văn bản, vừa liên tưởng tới các hiện tượngngoài đời, đồng thời cũng dựa vào cảm nghĩ và lí giải của mình, mà hình dung,tưởng tượng ra các con người, sự vật, sự việc được miêu tả Khi mối quan hệnhà văn - tác -phẩm - bạn đọc được đảm bảo thì người đọc sẽ có được sự đồngcảm với với tác giả, khiến họ yêu ghét những gì mà chính tác giả yêu ghét
Câu 4 Nêu những cơ sở thực tiễn của Cảm thụ văn học:
Những cơ sở thực tiễn của Cảm thụ văn học:
1 Nội dung chương trình Tập đọc lớp 5: Chương trình SGK TV lớp 5
được đưa vào giảng dạy chính thức từ năm học 2006 – 2007 SGK TV lớp 5 tập 1được dạy trong 17 tuần, trừ 2 tuần ôn tập, kiểm tra, mỗi tuần có 2 bài Tập đọc Tất
cả có 30 bài SGK TV lớp 5 tập 2 được dạy trong 18 tuần, trừ 2 tuần ôn tập kiểmtra, mỗi tuần cũng có 2 bài tập đọc và tất cả là 30 bài Như vậy cả chương trìnhlớp 5 có 60 bài Tập đọc bao gồm có các văn bản thuộc thể loại: văn xuôi, văn bảnnghệ thuật, văn bản phi nghệ thuật
2 Hệ thống văn bản, câu hỏi, bài tập trong dạy học Tập đọc lớp 5 nhằm tăng cường năng lực CTVH:
Cả chương trình lớp 5 có 60 bài Tập đọc bao gồm có các văn bản thuộc thểloại: văn xuôi, văn bản nghệ thuật, văn bản phi nghệ thuật
Câu hỏi, bài tập sau các bài Tập đọc trong cả chương trình lớp 5 là 244 câu
và chia làm 4 loại, đó là:
Loại thứ nhất: Nhắc lại nội dung miêu tả, nội dung thông tin của văn bản,
loại này chiếm gần 73% trong toàn bộ hệ thống câu hỏi
Ví dụ: “Hình ảnh trái đất có gì đẹp?”(Bài ca về trái đất - TV5 tập 1, trang 41);
“Những chi tiết nào trong bài thơ gợi lên hình ảnh một đêm trăng vừa tĩnh mịch,
Trang 13vừa sinh động trên công trường sông Đà”(Tiếng đàn ba - la - lai - ca trên dòng
sông Đà - TV5 tập 1)
Loại thứ hai: làm rõ ý của đoạn, khổ thơ hay nội dung của bài, loại này
chiếm gần 12% trong toàn bộ hệ thống câu hỏi, bài tập
Ví dụ: “Em hiểu hai câu cuối khổ thơ 2 nói gì ?”(Bài ca về trái đất - TV5 tập 1,
trang 41) hay “Lời đáp của ông cụ ở cuối truyện ngụ ý gì ?”(Tác pẩm của Si-le vàtên phát-xít, TV5 tập 1 trang 58)
Loại thứ ba: Nhận biết các chi tiết nghệ thuật (dùng từ, sử dụng các biện
pháp tu từ,…) thể hiện sự độc đáo khác thường của tác giả, loại này chiếmkhoảng 4% trong toàn bộ hệ thống bài tập, câu hỏi
Ví dụ: “Vì sao tác giả gọi hạt gạo là “Hạt vàng” ?”(Hạt gạo làng ta, TV5 tập 1) hay “Phép nhân hóa ở khổ thơ cuối giúp tác giả nói lên điều gì về “tấm lòng”
của cửa sông đối với cội nguồn?”(Cửa sông, TV5 tập 2 trang 74)
Loại thứ tư: yêu cầu học sinh nêu mục đích tác động của tác giả gửi gắm
vào văn bản và yêu cầu hồi đáp văn bản, loại này chiếm gần 8% trong toàn bộ hệthống bài tập, câu hỏi
Ví dụ: “Đặt hình ảnh người chiến sĩ đi tuần bên hình ảnh giấc ngủ yên
bình của học sinh, tác giả bài thơ muốn nói lên điều gì?”(Chú đi tuần, TV5 tập 2,
trang 51) hay “Em có suy nghĩ gì về cách đối xử của đám thủy thủ và của đàn cá
heo đối với nghệ sĩ A-ri-ôn ?”(Những người bạn tốt, TV5 tập 1, trang 64)
Như vậy, qua việc thống kê và sắp xếp các bài tập dành cho phần Tập đọctrong SGK TV5, ta thấy như sau: Để giúp học sinh có khả năng cảm thụ văn họctốt thì trước hết phải giúp học sinh đọc - hiểu văn bản, diễn cảm văn bản và làmcác bài tập rèn kĩ năng CTVH
Để việc đọc – hiểu có hiệu quả thì phải giúp học sinh đọc và nắm được nghĩa
của các từ chìa khóa, ý của các câu đặc biệt, ý của từng đoạn, từng khổ thơ và
đại ý của toàn bài Nhưng nghiên cứu hệ thống câu hỏi và bài tập sau mỗi giờ Tập
đọc giúp học sinh thực hiện những công việc đó thì chưa đáp ứng được Cụ thể làchưa có hệ thống câu hỏi cho từng yêu cầu cụ thể, một số câu hỏi đưa ra cònmang tính chung chung
Theo quy trình của tiết Tập đọc thì đều có bước yêu cầu HS đọc diễn cảm.Bước này được thực hiện sau khi đọc hiểu Nhưng trong thực tế giảng dạy thì lạikhông có câu hỏi, bài tập hướng dẫn HS đọc bài này như thế nào? Tại sao phảiđọc như thế? Khi đọc cần nhấn mạnh từ ngữ nào? Tốc độ đọc nhanh, chậm nhưthế nào? Thái độ khi đọc ra sao? Hay hệ thống câu hỏi bài tập rèn kĩ năng cảmthụ bài đọc về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật một cách sâu sắc, ý nghĩa của bàiđọc đi vào cuộc sống như thế nào? Thì chưa được quan tâm đúng mực Những nộidung trên không được thể hiện trong SGK TV5, trong vở bài tập cũng không có.Với những lí do trên, chúng tôi thiết nghĩ việc xây dựng một số các biện pháp và
hệ thống bài tập giúp học sinh đọc- hiểu, đọc diễn cảm và CTVH cho học sinh lớp
5 trong giờ Tập đọc là hết sức cần thiết, nhằm đổi mới dạy học Tập đọc ở lớp 5theo hướng tăng cường năng lực cảm thụ văn học đạt được hiệu quả
13
Trang 143 Giá trị của ngữ liệu dùng để cảm thụ văn trong chương trình Tập đọc 5:
Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, đáp ứng nhữngnhu cầu khác nhau trong cuộc sống của con người, tác động sâu sắc tới conngười và cuộc sống Giá trị văn học gắn với đặc trưng, bản chất của văn học.Văn học có thể có nhiều tác dụng (giáo dục, thẩm mĩ, nhận thức, giải trí, giaotiếp) nhưng có ba giá trị cơ bản là nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ Tất cả nhằmnuôi dưỡng và làm phong phú tâm hồn con người bằng nghệ thuật ngôn từ
a Giá trị nhận thức
Như chúng ta đã biết tác phẩm văn học là kết quả của quá trình nhà vănkhám phá, lí giải hiện thực đời sống rồi chuyển hóa những hiểu biết đó vào nộidung tác phẩm Bạn đọc đến với tác phẩm sẽ được đáp ứng nhu cầu về nhậnthức Và mỗi người chỉ sống trong một khoảng thời gian nhất định, ở nhữngkhông gian nhất định với những mối quan hệ nhất định Văn học có khả năngphá vỡ giới hạn tồn tại trong thời gian, không gian thực tế của mỗi cá nhân, đemlại khả năng sống cuộc sống của nhiều người, nhiều thời, nhiều nơi Tóm lại giátrị nhận thức là khả năng của văn học có thể đáp ứng được yêu cầu của conngười muốn hiểu biết cuộc sống và chính bản thân, từ đó tác động vào cuộcsống một cách có hiệu quả Giá trị nhận thức có những nội dung cơ bản sau:
- Quá trình nhận thức cuộc sống của văn học: nhận thức nhiều mặt củacuộc sống với những thời gian, không gian khác nhau ( quá khứ, hiện tại, cácvùng đất, các dân tộc, phong tục, tập quán,…) Văn học mang đến cho ngườiđọc những hiểu biết, nhận thức mới mẻ, sâu rộng về nhiều mặt của cuộc sốngtrong những khoảng thời gian và không gian khác nhau từ ngày xưa đến ngàynay từ trong nước đến nước ngoài Ví dụ trong bài Luật tục xưa của người Ê-đê[TV 5, tập 2] nói về luật tục ngày xưa của người Ê-đê cho ta biết phong tục tậpquán của người Ê-đê Hay bài Tà áo dài Việt Nam [TV 5,tập 2] cho biết sự thayđổi của tà áo dài theo thời gian
- Quá trình tự nhận thức của văn học: người đọc hiểu được bản chất củacon người nói chung (Mục đích tồn tại, tư tưởng, khát vọng, sức mạnh con
người), từ đó mà hiểu chính bản thân mình Ví dụ trong bài Người công dân số
một [TV 5, tập 2] nói về tư tưởng vĩ đại của người thanh niên Nguyễn Tất Thành
muốn ra đi tìm đường cứu nước Hay bài Ê-mi-li, con…[TV 5, tập 1]nói lên lí
tưởng cao đẹp của một công dân Mĩ tên là Mo-ri-xơn đã tự thiêu để phản đốicuộc chiến tranh xâm lược của chính quyền Mĩ ở Việt Nam
b Giá trị giáo dục
Giá trị giáo dục là khả năng của văn học có thể mang tới cho người đọc nhữngbài học quý báu về lẽ sống ở đời giúp họ tự rèn luyện mình ngày một tốt hơn.Văn học hình thành trong người đọc một lí tưởng tiến bộ, giúp họ có quan điểm
và thái độ đúng đắn về cuộc sống, biết yêu ghét phân minh, tâm hồn lành mạnhtrong sáng và cao thượng Văn học giúp con người phân biệt phải trái, xấu tốt,đúng sai, có quan hệ tốt đẹp và biết gắn bó cuộc sống của mình với cuộc sốngcủa tập thể cộng đồng Đặc trưng giáo dục của văn học là từ con đường cảm xúc
Trang 15đến nhận thức, tự giáo dục Văn học cảm hóa con người bằng hình tượng, bằngcái thật, cái đúng, cái đẹp nên nó giáo dục một cách tự giác, thấm sâu, lâu bền.Văn học không chỉ góp phần hoàn thiện bản thân con người mà còn hướng conngười tới những hành động cụ thể, thiết thực, vì một cuộc đời ngày càng tốt đẹphơn
ấn tượng không dễ gì quên đối với mọi người
Ví dụ trong bài “Tiếng rao đêm ”[TV5, tập 2, Tr 30] ca ngợi hành động cao
thượng của anh thương binh nghèo, dũng cảm xông vào đám cháy cứu một giađình thoát nạn Cái đẹp trong văn học thể hiện trong văn học thể hiện cả ở nộidung lẫn hình nghệ thuật khiến người đọc thêm yêu mến cuộc sống, thêm khaokhát hướng tới chân, thiện, mĩ
d Mối quan hệ giữa các giá trị văn học
Ba giá trị nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ có mối quan hệ mật thiết với nhau khôngtách rời và cùng tác động đến người đọc (khái niệm chân-thiện-mĩ của cha ông).Giá trị nhận thức luôn là tiền đề cuả giá trị giáo dục Giá trị giáo dục làm sâu sắcthêm giá trị nhận thức Giá trị thẩm mĩ khiến cho giá trị nhận thức và giá trị giáodục được phát huy Không có nhận thức đúng đắn thì văn học không thể giáodục được con người vì nhận thức không thể chỉ đẻ nhận thức mà nhận thức là đểhành động Tuy nhiên giá trị nhận thức và giá trị giáo dục chỉ có thể phát huymột cách tích cực nhất, có hiệu quả cao nhất khi gắn với giá trị thẩm mĩ - giá trịtạo nên đặc trưng của văn học
Câu 5 Trình bày, đề xuất những định hướng chính trong đổi mới dạy học Tập đọc:
Đổi mới dạy học trong đó có đổi mới dạy học Tập đọc là vấn đề bức xúckhông chỉ với những người trực tiếp giảng dạy và học tập mà còn đối với toàn xãhội nhằm nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục, đáp ứng với những yêu cầucủa sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước Ngày nay việc đổi mới phương phápdạy học ở các bậc học đã và đang được đổi mới một cách sâu sắc và mạnh mẽ mà
cụ thể là nhiều Hội thảo chuyên đề và nhiều định hướng đổi mới đã được triểnkhai Tuy nhiên, chất lượng dạy học vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội
Có một số nguyên nhân chính là:
Vấn đề phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp dạy học chưa quántriệt được quan điểm hệ thống - cấu trúc như thiếu đồng bộ, thiếu hệ thống
15
Trang 16Đổi mới phải tiến hành thống nhất và đồng bộ với việc đổi mới các thành tốcủa quá trình dạy học Theo tôi, những định hướng chính trong đổi mới dạy họcTập đọc là:
1- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường năng lực cảm thụ văn học của học sinh trong quá trình lĩnh hội trí thức Cụ thể là :
- Tổ chức các hoạt động nâng cao khả năng cảm thụ văn học của học sinh
- Linh hoạt trong phương pháp và ứng xử sư phạm.
- Luôn kiểm tra đánh giá kiến thức cần đạt được của học sinh, coi trọng sự tiến bộ của từng em.
2- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng kết hợp một cách nhuần nhuyễn và sáng tạo các phương pháp dạy học khác nhau (truyền thống và hiện đại) sao cho vừa đạt được mục tiêu dạy học vừa phù hợp với đối tượng
và điều kiện thực tiễn của cơ sở
3- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển khả năng tự học của học sinh
4- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng kết hợp hoạt động cá nhân với hoạt động nhóm và phát huy khả năng của cá nhân
5- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường kỹ năng thực hành
6- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng sử dụng kỹ thuật hiện đại vào dạy học
7- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đổi mới cả phương pháp kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của học sinh.
8- Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng đổi mới cách thiết kế bài dạy, lập kế hoạch bài học và xây dựng mục tiêu bài học.
Câu 6 Nêu các đặc trưng của phương pháp dạy học Tập đọc theo hướng tăng cường năng lực cảm thụ văn học.
- Tổ chức các hoạt động nâng cao khả năng cảm thụ văn học của học sinh đadạng phong phú
- Tổ chức các hoạt động phát triển khả năng tự học, tự tìm tòi những chi tiếtđắt của tác phẩm được đưa vào bài Tập đọc
- Tổ chức các hoạt động khám phá bằng cách đưa ra hệ thống các câu hỏihướng dẫn học sinh tìm ra được hướng để tìm hiểu tư tưởng của tác phẩm
- Linh hoạt trong phương pháp và ứng xử sư phạm
- Luôn kiểm tra đánh giá kiến thức cần đạt được của học sinh
Trang 18CHƯƠNG 2: BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HỌC
SINH TIỂU HỌC QUA HỆ THỐNG VĂN BẢN
Câu 7: Nêu các nguyên tắc dạy học Tập đọc theo hướng tăng cường cảm thụ văn học.
Để nâng cao năng lực cảm thụ văn học cho học sinh thông qua phân mônTập đọc đảm bảo hiệu quả và mục tiêu đề ra, việc xây dựng các biện pháp đổimới dạy học Tập đọc theo hướng tăng cường năng lực cảm thụ văn học cần phảidựa vào các nguyên tắc sau:
1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Quá trình giáo dục là một chỉnh thể trọn vẹn bao gồm các mặt, các khâu thốngnhất biện chứng với nhau Trong quá trình dạy cũng được cấu thành bởi các thànhtố: Nội dung, phương pháp, biện pháp, hình thức tổ chức dạy học,… Các thành tốnày có mối liên quan chặt chẽ với nhau, mang tính hệ thống Tăng cường năng lựccảm thụ văn học cho học sinh Tiểu học là một vấn đề cấp thiết trong xu thế xã hộiphát triển như hiện nay, nó nằm trong hệ thống các biện pháp giáo dục và bồidưỡng giá trị nhân văn cho các thế hệ học sinh Việt Nam trong giai đoạn pháttriển hội nhập
Các biện pháp được xây dựng bởi hệ thống các bước các khâu, các giai đoạnsắp xếp theo một trật tự nhất định chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tácđộng qua lại cho nhau Các yếu tố của các biện pháp được sắp xếp theo một trật tựlogic tạo nên hệ thống phù hợp với quá trình nhận thức và đặc điểm tâm lí sinh lícủa học sinh Tiểu học , thuận tiện cho giáo viên trong quá trình sử dụng cũng nhưphù hợp với đặc điểm vùng miền của các trường Tiểu học
2 Nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa cá nhân với tập thể
Tăng cường năng lực cảm thụ cho HSTH thường sử dụng phương pháp dạyhọc tích cực như dạy học theo nhóm, dạy học cá nhân, trò chơi học tập, dạy họctrên cơ sở vốn sống thực tiễn của học sinh… Vì vậy, cần có sự thống nhất giữa cánhân và tập thể thì các biện pháp đổi mới dạy học Tập đọc theo hướng tăng cườngnăng lực cảm thụ văn học mới đem lại hiệu quả Ngược lại, giữa cá nhân và tậpthể nhóm, lớp không đi theo một khuynh hướng chung, không có sự thống nhấtđồng bộ thì sẽ mất đi sự toàn ven thống nhất
Các biện pháp tăng cường năng lực cảm thụ văn học cho HSTH trong phânmôn Tập đọc chủ yếu là huy động vốn sống và những kinh nghiệm phong phú của
cá nhân học sinh Vì vậy cần quan tâm đến vốn sống thực tiễn và những kiến thức
cơ bản về Tiếng Việt của từng cá nhân nhằm đảm bảo sự nỗ lực nhưng phù hợpvới những diễn biến tình cảm, xúc cảm khi tiếp xúc với văn học của học sinh đểđạt tới mục tiêu, đồng thời khơi dậy ở học sinh lòng say mê đọc sách, nghiên cứuthơ văn và những tác phẩm nghệ thuật
Mặt khác, khi chúng ta quan tâm đến khả năng chung của nhóm, lớp thì sẽ tạo nênmối quan hệ thống nhất chặt chẽ giữa cá nhân và tâp thể, tạo điều kiện để tăngcường năng lực CTVH của nhóm, lớp Khi xây dựng các biện pháp, chúng ta phải
Trang 19xem xét, phân hoá từng đối tượng học sinh nhưng vẫn phải đảm bảo hoạt độngchung của tập thể
Về phương diện cá nhân cần chú ý đến: Đặc điểm tâm lí, vốn sống cũng nhưnăng lực cảm thụ của từng em Ngoài ra còn phải chú ý đến khả năng, trình độcủa học sinh, vốn tri thức có sẵn, điều kiện sức khoẻ, môi trường sống của từng
em
Về phương diện tập thể cần quan tâm đến: Mục đích, nhiệm vụ chung, tính
tổ chức, tính kỉ luật trong các hoạt động học tập, tính xây dựng và phát triển chotập thể nhóm, lớp
Khi xây dựng các biện pháp dạy học Tập đọc theo hướng tăng cường nănglực cảm thụ văn học cần chú ý đến khả năng riêng của từng cá nhân học sinh vàyêu cầu chung của tập thể Như vậy sẽ nâng cao được năng lực cá nhân, đảm bảotính vừa sức, hoàn thành được mục tiêu, nhiệm vụ chung của tập thể
.3 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu
Nâng cao kiến thức về môn Tiếng Việt, phát triển tư duy và ngôn ngữ nói,viết cho học sinh, giúp học sinh diễn đạt súc tích, cảm xúc suy nghĩ của mình quahoạt động quan sát Giúp học sinh bộc lộ và phát huy được năng lực học mônTiếng Việt của mình Qua quá trình cảm thụ văn học sẽ nâng cao khả năng sửdụng các tu từ ngữ nghĩa như: so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, đảo ngữ,…cho họcsinh
Tăng cường cho các em thái độ yêu quý và ý thức giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt, yêu thích thơ văn, tích cực tự giác trong học tập
.4 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
Các biện pháp đổi mới dạy học Tập đọc theo hướng tăng cường năng lựccảm thụ văn học, hướng tới một số mục tiêu nhất định như đã nêu ở trên Vì thếkhi tổ chức cho học sinh thực hiện hoạt động cảm thụ văn học phải đúng quytrình, từ quan sát nhận biết đến phân tích đối tượng, cảm nhận những điều dặc biệt
và nói lên những cảm xúc, suy nghĩ của mình Giáo viên cần phải chú ý đến nộidung và tổ chức quan sát hợp lí Tổng kết và đánh giá được quá trình nhận thứccủa học sinh để đưa ra nội dung phù hợp và tổ chức quan sát hợp lí làm sao pháthuy tốt nhất được năng lực cảm thụ văn học của học sinh
.5 Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi
Nội dung cẩm thụ văn học là một vấn đề tương đối khó vì không chỉ thể tính khoahọc mà còn bộc lộ cả tính cảm xúc mạn mẽ Vì vậy, để đảm bảo việc xây dựngcác biện pháp đổi mới dạy học Tập đọc theo hướng tăng cường cảm thụ văn họccho học sinh hiệu quả thì giáo viên phải tạo được cho học sinh một thía độ học tậptích cực, sôi nổi, hứng thú tìm tòi, phát hiện những điều mới lạ Bên cạnh đó, cácbiện pháp đổi mới dạy học tập đọc theo hướng tăng cườg năng lực cảm thụ vănhọc cho học sinh lớp 5 cần phải phù hợp với năng lực chuyên môn của giáo viên,trình độ nhận thức của học sinh lớp 5 sao cho các em vừ thể hiện được năng lựcvừa bộc lộ được cá tính của mình qua việc cảm thụ các giá trị văn học Đồng thời,các biện pháp phải có khả năng ứng dụng rộng rãi trong thực tiễn dạy học mônTiếng Việt nói chung
19
Trang 20Câu 8: Đề xuất các biện pháp tổ chức dạy học Tập đọc theo hướng tăng cường năng lực CTVH:
1 Bồi dưỡng hứng thú cho học sinh khi tiếp xúc với văn học;
a Vai trò của hứng thú trong việc nâng cao năng lực cảm thụ văn học
Trên tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, học sinh sẽ là người chủ động,sáng tạo nắm bắt kiến thức để cảm thụ văn, học giỏi môn Tiếng Việt Khi một họcsinh chưa thích văn học, thiếu sự say mê cần thiết, nhất định em đó chưa thể xúcđộng thực sự với những gì đẹp đẽ được tác giả diễn tả trong bài văn, bài thơ ấy
Có hứng thú khi tiếp xúc với thơ văn, các em sẽ vượt qua được khó khăn trở ngại
cố gắng luyện tập để cảm thụ được tốt nhất tác phẩm muốn đạt được điều đóngười giáo viên cần giúp học sinh thâm nhập tác phẩm văn học bằng nhiều cáchkhác nhau
Bồi dưỡng hứng thú khi tiếp xúc với văn thơ cũng chính là rèn luyện mình
để có nhận thức đúng, tình cảm đẹp, từ đó đến với văn học một cách tự giác, say
mê - yếu tố quan trọng của cảm thụ văn học
b Tạo hứng thú bằng tác động vào nội dung dạy học
Từng giờ, từng phút trong giờ tiếng Việt, người giáo viên đều hướng đến
hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh Không có con đường nào khác để
làm nảy sinh và duy trì hứng thú của học sinh với tiếng Việt và Văn học ngoài cách giúp các em thấy được sự thú vị, vẻ đẹp và khả năng kì diệu của chính đối tượng học tập - tiếng Việt, văn chương Tạo hứng thú bằng có thể bằng:
- Một lời vào bài hấp dẫn cho giờ tập đọc: “Đây là một con chim sẻ rất nhỏ bé.Thế nhưng nhà văn Tuốc-ghê-nhép đã kính cẩn nghiêng mình thán phục trước
nó, vì sao vậy? Chúng ta hãy cùng nhau đọc bài Con sẻ để trả lời câu hỏi này”
- Chỉ ra vẻ đẹp của một từ, cái hay của một tình tiết truyện: Tiếng hót của chimchiền chiện không phải “ríu rít”, “thánh thót” mà là “ngọt ngào”, “long lanh”,
“chan chứa” thì mới gây ấn tượng
- Chỉ ra mối quan hệ giữa kiểu nghĩa và cấu tạo từ, giá trị gợi tả gợi cảm củalớp từ láy, quy luật chuyển nghĩa của từ nhiều nghĩa; khả năng tạo những “địnhdanh nghệ thuật”, “đồng nghĩa kép” của hiện tượng đồng nghĩa, sự bất ngờ thú
vị của hiện tượng đồng âm…
c- Tạo hứng thú bằng hoạt động tham quan dã ngoại
Trong tất cả các loại hình ngoại khóa văn học, có lẽ tham quan thực tế văn học
là hoạt động ngoại khóa được học sinh yêu thích và tự nguyện tham gia sôi nổinhất Mục đích của hoạt động này là thông qua những chuyến tham quan dãngoại giáo dục tình yêu quê hương đất nước, đem bài giảng vào đời thường,giảng dạy văn chương bằng trực quan sinh động Qua những chuyến thực tế họcsinh được quan sát tìm hiểu, lắng nghe và ghi chép lại những nội dung phục vụcho bài học Sau đó áp dụng ngay những điều vừa tìm hiểu vào trong những bàiviết cảm thụ của mình Những chuyến tham quan này nếu được đầu tư nghiêmtúc sẽ mang lại nhiều lợi ích thiết thực Đây là hình thức thông dụng phổ biếnnhất vừa giúp học sinh đến với thiên nhiên đất nước và các di tích lịch sử để mở
Trang 21mang kiến thức về tác giả, tác phẩm lại vừa tạo hứng thú sáng tác Hoạt độngdanh lam thắng cảnh bồi dưỡng tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình cảm này làmột trong những điều kiện để cảm thụ văn chương sâu sắc và nhạy bén Chúng
ta nên chọn những địa danh có thiên nhiên trữ tình thơ mộng gắn liền với nhữngtác phẩm trong chương trình để tạo cuộc tham quan dã ngoại vừa bổ ích vừa thú
vị
Ví dụ: khi dạy bài tập đọc “Cửa sông” của Quang Huy [TV5, tập 2], giáo
viên cần đưa học sinh đến những nơi có cảnh tương tự như cửa sông trong bài đểhọc sinh được trải nghiệm, được quan sát thực tế để từ đó có cái nhìn kháchquan và đồng cảm với những suy nghĩ của tác giả cũng như hiểu sâu sắc hơn nộidung bài thơ cũng như những dụng ý của tác giả Đồng thời, từ những trảinghiệm thực tế làm cho học sinh thêm yêu cảnh non nước trong bài thơ, qua đóbồi dưỡng và nâng cao khả năng cảm thụ thơ cho bản thân
- Tổ chức cho học sinh tham gia hoạt động “Ngày thơ Việt Nam” được tổ chứctại địa phương nhân ngày rằm tháng giêng; tổ chức cho học sinh tham quan danhlam thắng cảnh và di tích lịch sử để khơi gợi cảm hứng sáng tác thơ cho họcsinh
d.Tạo hứng thú bằng việc xây dựng không khí hào hứng say mê học tập cho học sinh bằng cách tổ chức các trò chơi:
Để kích thích hứng thú học Tập đọc, qua đó học sinh thuộc được bài, hiểuđược nội dung tác phẩm và dần dần cảm nhận được ý nghĩa của tác phẩm GV cóthể tổ chức các trò chơi kích thích hứng thú đọc, rèn tư duy linh hoạt, luyện tậptác phong nhanh nhẹn, tháo vát, tự tin, giáo dục tư tưởng tình cảm tốt đẹp
Trò chơi học tập thường được tổ chức khi luyện đọc hoặc đọc diễn cảm Tuỳ thờigian và điều kiện cho phép, GV lựa chọn trò chơi học tập thích hợp để tổ chứccho học sinh tham gia
Ví dụ: Thi đọc nối tiếp từng đoạn (nhóm, tổ) đọc “truyền điện” thi tìm nhanh đọc đúng, nhìn một từ đọc cả câu, nhìn một câu đọc cả đoạn, đoán tên bài, thi đọc truyện theo vai, thả thơ, thi đọc phân vai…
Giới thiệu một số trò chơi :
- Thi đọc tiếp sức
* Chuẩn bị: 1 đồng hồ, SGK, dự đoán thời gian, số nhóm tham gia
* Tiến hành:
- Giáo viên yêu cầu, hướng dẫn cách chơi
- Giáo viên quy định nhóm có số lượng học sinh bằng nhau
- Từng nhóm lên bảng đứng hàng ngang Mỗi em cầm một cuốn sách giáo khoa,
mở sẵn bài sẽ thi đọc
+ GV hô lệnh “ bắt đầu” em số 1 (đầu hàng bên phải hoặc bên trái) đọc câu thứnhất của bài, dứt tiếng cuối cùng của câu thứ nhất, em số 2 (cạnh em số 1) vừađọc sẽ đọc tiếp câu thứ 2….Cứ như vậy cho đến cuối nhóm Nếu chưa hết bài lạiquay lại tiếp tục đọc theo vòng như thế cho hết bài thì dừng lại GV tính và ghibảng thời gian đọc của mỗi nhóm
21
Trang 22- HS sẽ bị trừ điểm nếu đọc sai lẫn hay thừa, thiếu tiếng trong câu hoặc đọc câusau ngay khi người trước chưa đọc xong, đọc vượt quá một câu quy định.
- GV cho từng nhóm thi đọc, tính thời gian của mỗi nhóm, cho điểm mỗi nhóm
“Thi đọc tiếp sức” mỗi câu văn đọc đúng cho một điểm, không cho điểm cáctrường hợp vi phạm
- GV cùng cả lớp nhận xét, chọn và tuyên dương nhóm đọc tiếp sức nhanh nhất,hay nhất
* Lưu ý: ở tiết Tập đọc một bài thơ GV nên cho học sinh đọc 2 dòng hoặc mộtcâu thơ lục bát Nếu là tiết Tập đọc - Học thuộc lòng, GV cho thi tiếp sức nhưcách trên nhưng học sinh không nhìn SGK
- Thả thơ.
* Chuẩn bị: GV viết vào phiếu câu thơ đầu (hoặc giữa) ở mỗi khổ thơ, hoặc 1- 2
từ đầu của mỗi câu thơ
Ví dụ: Bài “Hành trình của bầy ong” [Tập đọc - Học thuộc lòng lớp 5] GV làmcác phiếu:
Phiếu 1: Với đôi cánh…………sắc màu
Phiếu 2: Tìm nơi………không tên
Phiếu 3: Bầy ong……… mật thơm
* Tiến hành: GV hướng dẫn cách chơi và nêu yêu cầu:
- Mỗi lượt chơi gồm có 2 nhóm và số người chơi bằng số phiếu, mỗi nhóm cửnhóm trưởng, 2 nhóm trưởng bốc thăm để giành quyền “ thả thơ ” trước
- Mỗi em trong nhóm cầm một tờ phiếu (giữ kín) GV hô “ bắt đầu ” nhóm đượcthả thơ trước cử một người thả ra một tờ phiếu cho một bạn nhóm kia bạn nhậnđược tờ phiếu phải đọc thuộc cả khổ thơ (hoặc câu thơ lục bát) có câu từ ghi trênphiếu Nếu đọc đúng được tính một điểm
- GV tính số điểm của nhóm đọc thuộc thơ Đổi nhóm chơi tương tự như trên GVtính điểm nhóm thứ 2…
- Kết thúc trò chơi: GV tuyên dương nhóm đọc tốt, điểm cao
- Đọc thơ truyền điện
* Chuẩn bị: Thời điểm chơi là cuối tiết Tập đọc - Học thuộc lòng hoặc tiết ôn tậpHọc thuộc lòng, HS 2 nhóm ngồi quay mặt vào nhau
* Tiến hành: GV nêu tên bài thơ sẽ đọc truyền điện, nêu cách chơi
- Hai nhóm bắt thăm (hoặc oẳn tù tì) để giành quyền đọc trước
+ Đại diện nhóm đọc trước là (nhóm A) đọc khổ thơ đầu tiên của bài thơ rồi chỉđịnh thật nhanh “truyền điện” một bạn bất kì (nhóm B) Bạn được chỉ định đọctiếp khổ thơ 2 của bài Nếu đọc được chỉ định bạn nhóm A đọc tiếp khổ thơ thứ3….Cứ như vậy cho đến hết bài
Ví dụ : Bài thơ “Bầm ơi”[TV5, tập2, Tr 130]
Trang 23Nhóm nào có nhiều người đứng bị “ điện giật ” là nhóm thua cuộc.
Như vậy, ta thấy tổ chức trò chơi học tập luôn luôn tạo hứng thú, không khí hàohứng, say mê tích cực trong học tập, làm cho học sinh ham mê học hơn
- Thi đọc truyện theo vai
Rèn kĩ năng đọc đúng và rõ ràng lời người kể chuyện; đọc đúng ngữ điệulời nhân vật trong các truyện kể cũng như luyện kĩ năng đọc thầm; tập trung chú
ý theo dõi người khác đọc để phối hợp nhịp nhàng khi đọc lời nhân vật trongtruyện
- Đầu tiên tôi nêu yêu cầu chơi: Từng nhóm thi đọc sẽ lần lượt lên đứngtrước các bạn, mỗi HS cầm một cuốn SGK để đọc đúng nội dung được phâncông trong nhóm
- Cử ban giám khảo Khi nghe ban giám khảo hô “bắt đầu”, các nhóm mớitiến hành đọc theo vai
VD: Ở bài tập đọc “ Lòng dân”[TV5, tập1 ] Tôi yêu cầu 3 dãy bàn cử 3nhóm mỗi nhóm 5 em lên đọc truyện theo vai Các nhóm tự phân vai:
HS1 đọc lời nhân vật Cai, HS2 đọc lời nhân vật An, HS3 đọc lời nhân vậtChú cán bộ, HS4 đọc lời nhân vật Lính, HS5 đọc lời nhân vật Dì Năm
Từng nhóm tham gia thi đọc truyện theo vai giáo viên cùng BGK nhận xét,đánh giá chung và chọn nhóm đọc tốt để biểu dương
2 Bồi dưỡng vốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và nắm vững kiến thức
cơ bản về Tiếng Việt cho học sinh
a Bồi dưỡng kiến thức gắn với thực tiễn:
Cảm thụ văn học là quá trình nhận tức mang tính chủ quan vì nó phụ thuộcvào vốn sống, những kinh nghiệm, hiểu viết riêng của người cảm thụ văn học Cáivốn ấy trước hết được tích luỹ bằng những hiểu biết và cảm xúc của bản thân qua
sự hoạt động và quan sát hàng ngày trong cuộc sống
Cảm thụ văn học phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống của học sinh nên muốnphát triển hay tăng cường năng lực cảm thụ văn học cho học sinh qua các phânmôn của môn Tiếng Việt trước tiên phải bồi dưỡng vốn sống cho các em Có vốnsống, các em mới có khả năng liên tưởng để tiếp nhận tác phẩm Vốn sống ấytrước hết được tích luỹ bằng những hiểu biết và cảm xúc của bản thân qua sựhoạt động và quan sát hàng ngày trong cuộc sống Có những sự vật, sự việc diễn
ra quanh ta tưởng chừng như rất quen thuộc, nhưng nếu chúng ta kkhông chú ýquan sát, nhận xét để có cảm xúc và ghi nhớ thì chúng ta không thể làm giàu thêmvốn hiểu biết về cuộc sống Chính vì vậy việc tập quan sát thường xuyên, quan sátbằng nhiều giác quan là một thói quen rất cần thiết trong quá trình phát triển nănglực cảm thụ văn học
Nhưng quan sát như thế nào mới có kết quả tốt và phục vụ cho việc tích luỹ
“vốn sống”? Nhà văn Tô Hoài, người có biệt tài quan sát và miêu tả đã nêu lên
kinh nghiệm quan sát để phục vụ cho việc tích luỹ “vốn sống” như sau: “Quan
sát giỏi là phải biết tìm ra nét chính, thấy được tính riêng, móc được những ngóc ngách của sự vật, sự việc, của vấn đề Nhiều khi không cần dàn trải cả một câu chuyện, sự vật, sự việc chỉ cần chép lại, nhớ lại những đặc điểm mà mình cảm
23
Trang 24thấy ấn tưọng nhất như: một câu nói lột tả tính nết, những dáng người và hình bóng, tiếng động, ánh đèn, nét mặt,một trạng thái tư tưởng do mình đã khổ công ngắm, nghe, nghĩ mới bật lên và khi thấy bật lên được thì thích thú, không ghi không chịu được”.
Quan sát nhiều, quan sát kĩ năng chẳng những giúp các em viết được nhữngđoạn, bài văn hay về những gì các em quan sát được, những gì đã được tham quan
mà còn tạo điều kiện để các em cảm nhận được vẻ đẹp của văn thơ một cách tinh
tế, sâu sắc
Đọc bài thơ Hạt gạo làng ta của nhà thơ Trần Đăng Khoa:
Hạt gạo làng ta
Có vị phù sa Của sông Kinh Thầy
Có hương sen thơm Trong hồ nước đầy
Có lời mẹ hát Ngọt bùi đắng cay…
Nhờ vốn hiểu biết của mình về cuộc sống làng quê Việt Nam, có bạn họcsinh đã viết được đoạn văn cảm thụ văn học khá xúc động như sau:
“…Hạt gạo đã tích tụ biết bao chất phù sa màu mỡ đượm đầy sức sống của dòng
sông Kinh Thầy Vị phù sa như người mẹ nuôi nấng, chăm sóc từng hạt gạo nhỏ
bé Lẫn trong phù sa là cả hương vị đài sen thơm bát ngát Hạt gạo không những chứa đựng sức sống dẻo dai của dòng màu mỡ mà còn nhuốm cả hương thơm ngọt ngào, cả sự trắng tinh khiết của đoá hoa sen nữa Hạt gạo quyện lẫn tiếng hát ngọt bùi ấm êm của người mẹ hiền,của tiếng sáo vi vu trên những cánh đồng bát ngát trong những buổi chiều lộng gió Hạt gạo thật đáng quý biết bao!”
b- Kết hợp giữa giờ học với bài học thực tế, tăng cường hoạt động trải nghiệm
Để góp phần tích cực hóa hoạt động học tập của HS, người ta thườngkhuyến khích sử dụng kiểu dạy học thông qua các hoạt động trải nghiệm, khámphá, phát hiện của HS, gồm 5 bước chủ yếu:
- Gợi động cơ, tạo hứng thú
Trang 25quan trọng, nhưng vốn kiến thức của HS, những trải nghiệm của HS vẫn là yếu
tố quyết định trong việc hình thành kiến thức mới
* Phân tích, khám phá: Là quá trình xem xét, nhìn nhận, tìm hiểu đốitượng, sự việc, phát hiện đặc điểm, ý nghĩa của chúng, trên cơ sở đó tìm tòi,khám phá ý tưởng mới
* Rút ra bài học: Đúc rút thành bài học, khái niệm, quy tắc lí thuyết haythực hành mới
* Thực hành, vận dụng: Vận dụng điều đã học để giải quyết các tìnhhuống trong bài học
Dạy học thông qua trải nghiệm là cách thức tổ chức quá trình dạy họcthông qua một chuỗi các hoạt động trải nghiệm của người học.Dạy học thôngqua trải nghiệm khuyến khích tổ chức các hoạt động độc lập, tự học hoặc nhómhợp tác của HS, đòi hỏi GV thiết kế, đạo diễn các hoạt động học tập giúp HS tựphát hiện, phân tích và vận dụng kiến thức GV sẽ thành công hơn nếu có khả
năng sử dụng kiểu quy trình 5 bước Dưới đây là một số gợi ý cụ thể về việc thực hiện quy trình 5 bước :
- Bước 1 Gợi động cơ, tạo hứng thú cho HS
+ Kết quả cần đạt: Kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của HS về chủ
đề sẽ học; HS cảm thấy vấn đề nêu lên rất gần gũi với mình Không khí lớp họcvui, tò mò, chờ đợi, thích thú
+ Cách làm: Đặt câu hỏi; Đố vui; Kể chuyện; Đặt một tình huống; Tổchức trò chơi… Có thể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS
-Bước 2 Tổ chức cho HS trải nghiệm
+ Kết quả cần đạt:Huy động vốn hiểu biết, kinh nghiệm có sẵn của HS đểchuẩn bị học bài mới HS trải qua tình huống có vấn đề, trong đó chứa đựngnhững nội dung kiến thức, những thao tác, kĩ năng để làm nảy sinh kiến thứcmới
+ Cách làm: Tổ chức các hình thức trải nghiệm gần gũi với HS Nếu làtình huống diễn tả bằng lời văn, thì câu văn phải đơn giản, gần gũi với HS Cóthể thực hiện với toàn lớp, nhóm nhỏ, hoặc cá nhân từng HS
- Bước 3 Phân tích - Khám phá - Rút ra kiến thức mới
Kết quả cần đạt: HS rút ra được kiến thức, cảm nhận rõ ràng kiến thức đãhọc băng quan sát thực tế
Cách làm: Dùng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích, đánh giá để giúp
HS thực hiện tiến trình phân tích và rút ra bài học
Có thể sử dụng các hình thức thảo luận cặp đôi, thảo luận theo nhóm,hoặc các hình thức sáng tạo khác nhằm kích thích trí tò mò, sự ham thích tìm tòi,khám phá phát hiện của HS Nên soạn những câu hỏi thích hợp giúp HS đi vàotiến trình phân tích thuận lợi và hiệu quả
-Bước 4 Thực hành
Kết quả cần đạt: Học sinh vận dụng được những điều tiếp thu được từ hoạt độngtrải nghiệm vào bài học.Có thể giao bài tập áp dụng cho cả lớp, cho từng cánhân, hoặc theo nhóm, theo cặp đôi, theo bàn, theo tổ HS
-Bước 5 Vận dụng
25
Trang 26Kết quả cần đạt: HS củng cố, nắm vững các nội dung kiến thức trong bài
đã học HS biết vận dụng kiến thức đã học trong hoàn cảnh mới, đặc biệt trongnhững tình huống gắn với thực tế đời sống hàng ngày Cảm thấy tự tin khi lĩnhhội và vận dụng kiến thức mới
Khuyến khích HS diễn đạt theo ngôn ngữ, cách hiểu của chính các em.Khuyến khích HS tập phát biểu, tập diễn đạt bước đầu có lí lẽ, có lập luận
Ví dụ khi học bài: “Ca dao về lao động sản xuất” [TV5, tập 1 ]cho họcsinh được trải nghiệm bằng cách quan sát buổi làm đồng hay thu hoạch thóc,phơi thóc, những công đoạn làm ra hạt gạo của các bác nông dân (hình ảnh,băng đĩa hoặc quan sát trực thông qua buổi dã ngoại) từ đó các em thấy được nỗivất vả của các bác nông dân trong lao động sản xuất để tạo ra những hạt thócvàng Khi đó các em có cái nhìn, cách tiếp cận gần hơn với những gì sẽ đượchọc, cảm nhận sâu sắc điều mà những câu ca dao tục ngữ đem lại
Bên cạnh đó giáo viên nên liên hệ với thực tế cuộc sống để giáo dục chohọc sinh biết yêu quý sức lao động, trân trọng những vật dụng mình đang có vì
đó là sản phẩm của sức lao động vất vả của người lao động mới tạo ra được.Phải biết yêu thương chăm sóc cha mẹ vì cha mẹ phải vất vả lao động, kiếm tiềnnuôi chúng ta ăn học
c Giúp học sinh nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việt:
Để nâng cao năng lực cảm thụ văn học ở tiểu học, các em cần nắm vững
những kiến thức cơ bản đã học trong chương trình môn Tiếng Việt ở tiểu học
Có hiểu biết về ngữ âm và chữ viết tiếng Việt Nắm vững kiến thức ngữ pháptiếng Việt, các em sẽ không chỉ nói - viết tốt mà còn có thể cảm nhận được nétđẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động và sáng tạo Nắmvững kiến thức ngữ pháp tiếng Việt, các em sẽ không chỉ nói - viết tốt mà còn cóthể cảm nhận được nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động
và sáng tạo
Ví dụ 1 : Dưới trăng quyên đã gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập lòe đơm bông Lửa lựu lập lòe
- Ta thấy bốn phụ âm đầu l được lặp lại, các thanh điệu hài hòa, từ láy lập lòe có
một tiếng láy mang vần âp (thường gợi nét nghĩa: một trạng thái không ổn định,lúc mờ lúc tỏ, lúc mạnh lúc yếu, lúc cao lúc thấp…tương tự các từ: gập ghềnh,nhấp nhô, thập thò, lấp ló…), những hiểu biết đó giúp ta thấy rõ hình ảnh hoalựu đỏ như sắc lửa khi ẩn, khi hiện, báo hiệu không khí oi bức của mùa hạ đangtới gần
Ví dụ 2:
“Thoắt cái, lác đác lá vàng rơi trong khoảnh khắc mùa thu Thoắt cái,trắng long lanh một cơn mưa tuyết trên những cành đào, lê, mận Thoắt cái, gióxuân hây hẩy nồng nàn với những bông hoa lay ơn màu đen nhung hiếm quý”
( Đường đi Sa Pa- Nguyễn Phan Hách)
Trang 27Ta nhận thấy ngay trạng ngữ gây ấn tượng về thời gian (thoắt cái) đảo bổ ngữ (lác đác), đảo vị ngữ (trắng long lanh)… làm cho người đọc cảm nhận
được vẻ đẹp nên thơ và huyền ảo của thắng cảnh Sa Pa
Ngoài những kiến thức về ngữ âm – chữ viết, từ ngữ, ngữ pháp, qua các giờTập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn ở tiểu học, các em còn được làm quen và cảm
nhận bước đầu về một số khái niệm như: hình ảnh (là toàn bộ đường nét, màu
sắc hoặc đặc điểm của người, vật, cảnh bên ngoài được ghi lại trong tác phẩm,
nhờ đó ta có thể tưởng tượng ra được người, vật, cảnh đó); chi tiết (là điểm nhỏ,
ý nhỏ, khía cạnh nhỏ trong nội dung sự việc hoặc câu chuyện); bố cục (là sự xếp
đặt, trình bày các phần để tạo nên một nội dung hoàn chỉnh)…Khi tìm hiểu bàiTập đọc ở trên lớp, để hiểu được nội dung, ý nghĩa của bài văn, bài thơ và cảmthụ văn học tốt hơn, các em thường được giáo viên hướng dẫn về một số biện
pháp nghệ thuật tu từ thuộc yêu cầu chương trình tiểu học như: so sánh (là đối
chiếu hai sự vật, hiện tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đó với nhau, nhằm
làm cho việc diễn tả được sinh động, gợi cảm); nhân hóa (là biến sự vật thành con người bằng cách gán cho nó trở nên sinh động, hấp dẫn); điệp ngữ (là sự
nhắc đi nhắc lại một từ ngữ, nhầm nhấn mạnh một ý nào đó, làm cho nó nổi bật
và hấp dẫn người đọc); đảo ngữ (là sự thay đổi trật tự cấu tạo ngữ pháp thông
thường của câu, nhằm nhấn mạnh và làm nổi bật ý cần diễn đạt)…
d Phát huy hiệu quả dạy học đọc - hiểu văn bản
Bản chất của đọc hiểu là quá trình diễn ra những hành động đọc để hìnhthành nhận thức thực tại liên quan đến sự phát triển con người và xã hội bởi sựtổng hợp đa năng của văn hóa
Đọc hiểu được thực hiện bởi năng lực và tố chất từng người nhưng muốn đạttới sự hiểu biết thoả đáng đều cần phải học hỏi và thể nghiệm lâu dài Bởi vậy,trong dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng cần chú
ý tới hành động đọc của học sinh tạo tiền đề cho việc trao đổi, thảo luận, đối thoạitrong tiếp nhận tác phẩm để đào sâu cách nhìn thế giới hiện thực Bên cạnh sựhiểu biết khái niệm đọc hiểu với bản chất của nó, giáo viên phải làm rõ mục đíchgiáo dục, đào tạo việc đọc hiểu qua năng lực đọc và kĩ năng đọc hiểu trong nhàtrường là:
- Giúp học sinh đánh giá năng lực đọc của mình và tác động của nó tới kếtquả học tập
- Giúp học sinh phân biệt được các đơn vị ý nghĩa trong khi đọc một văn bảnhoặc một tác phẩm văn chương
- Giúp học sinh sử dụng việc đọc như là một cách phát hiện đời sống tâmhồn, cách ứng xử văn hoá trong giao tiếp xã hội
- Giúp học sinh thường xuyên nâng cao trình độ đọc có hệ thống, bài bản
- Giúp học sinh phát hiện và vận dụng kiến thức phong cách văn bản và thểloại văn học để đọc các văn bản khác nhau
- Giúp học sinh tìm kiếm những hành động đọc, kĩ năng đọc đối với mỗi loạivăn bản phù hợp
27
Trang 28- Giúp học sinh phát triển động cơ đọc, mục đích đọc, thói quen đọc, kĩ năngđọc để định hướng cuộc sống và phù hợp với phương pháp học tập.
- Giúp học sinh ý thức rõ nhu cầu phát triển ngôn ngữ và năng lực giao tiếptrong đọc
- Giúp học sinh có quan điểm học đọc sẽ không bao giờ kết thúc cả
Tóm lại, khi nói về khả năng đọc ta nói ngay đến sự rèn luyện tổng thể củanăng lực đọc, kĩ năng đọc, kĩ thuật đọc một cách có kế hoạch chu đáo Điều đóchắc chắn đảm bảo cho học sinh nắm vững ý nghĩa cơ bản của tác phẩm và vănbản đọc
Giáo viên cần đặt ra những câu hỏi kích thích, câu hỏi đọc hiểu, câu hỏikhám phá và bài tập phù hợp về những vấn đề được đặt ra cho tác phẩm Đó làcách làm cho học sinh truyền đạt và nói lên được những suy nghĩ của mình vềnhững sự kiện được kể, những thái độ tình cảm, những ý nghĩ và mô típ của nhânvật hành động từ các tác phẩm khác nhau dưới sự thống nhất hài hoà giữa nộidung và hình thức trong quá trình đọc
Tóm lại
Một số các biện pháp đổi mới dạy học Tập đọc cho học sinh lớp 5 theo
hướng tăng cường cảm thụ văn học đó là: Bồi dưỡng hứng thú cho học sinh khi
tiếp xúc với thơ văn; phát huy hiệu quả dạy học đọc - hiểu văn bản; bồi dưỡngvốn hiểu biết về thực tế cuộc sống và nắm vững kiến thức cơ bản về Tiếng Việtcho học sinh; xây dựng không khí học tập hào hứng say mê cho học sinh bằngcách tổ chức các trò chơi
Trang 29CHƯƠNG 3: HƯỚNG DẪN HIỂU VÀ CẢM THỤ
MỘT SỐ VĂN BẢN Ở TIỂU HỌC
Câu 9 Trình bày các dạng bài tập cảm thụ cơ bản ở Tiểu học Nêu ví dụ minh họa.
Dạng 1: Bài tập về đọc diễn cảm có sáng tạo:
VD: Các em hãy tự phân vai đọc bài “Một vụ đắm tàu”
Dạng 2 : Bài tập phát hiện hình ảnh và tái hiện vẻ đẹp của hình ảnh
VD:
" Quê hương tôi có con sông xanh biếcNước gương trong soi tóc những hàng treTâm hồn tôi là một buổi trưa hèToả bóng xuống lòng sông lấp loáng"
(Nhớ con sông quê hương - Tế Hanh)
- Phát hiện những hình ảnh đẹp có trong đoạn thơ trên ?
Dạng 3 : Bài tập phát hiện các biện pháp nghệ thuật nêu giá trị của nghệ
Cô giáo đưa mùa thuĐến với những quả vàng chín mọng"
( Cô giáo với mùa thu - Vũ Mạnh Thắm)
Dạng 4 : Bài tập nhận xét cách viết câu và sử dụng dấu câu, nêu tác dụng
VD: Trong bài "Tình quê hương" của Nguyễn Khải có đoạn viết: " Làng
quê tôi đã khuất hẳn, nhưng tôi vẫn đăm đắm nhìn theo Tôi đã đi nhiều nơi,đóng quân nhiều chỗ phong cảnh đẹp hơn đây nhiều, nhân dân coi tôi như ngườilàng và cũng có nhiều nười yêu tôi tha thiết, nhưng sao sức quyến rũ, nhớ thươngvẫn không mãnh liệt, day dứt bằng mảnh đất cọc cằn này"
Em hãy nói rõ cách dùng từ, đặt câu của tác giả qua đoạn văn trên Và nói
Trang 30Lớp học chưa đến giờ
Đã thơm bàn cô giáo."
Câu 10: Trình bày cách thực hành một đoạn bài cảm thụ văn học.
- Lập dàn ý đoạn văn, bài văn
- ở mỗi dấu hiệu nghệ thuật: nêu tác dụng của biện pháp nghệ thuật và nội dungcủa mỗi đoạn, bài Dự kiến nêu cảm nghĩ, đánh giá, liên tưởng theo hiểu biết củaem
Bước 4
Viết đoạn văn hoặc bài văn về cảm thụ văn học hướng vào yêu cầu của đề bài
(Đoạn văn có thể bắt đầu bằng một câu “mở đoạn” để dẫn dắt người đọc hoặc
trả lời thẳng vào câu hỏi chính; tiếp đó, cầnnêu rõ các ý theo yêu cầu của đề
bài; cuối cùng, có thể “kết đoạn” bằng một câu ngắn gọn để “gói” lại nội dung
cảm thu)
Nắm vững yêu cầu về cảm thụ văn học ở tiểu học, kiên trì tập luyện từngbước (từ dễ đến khó), nhất định học sinh sẽ viết được những đoạn văn hay vềcảm thụ văn học, sẽ có được năng lực cảm thụ văn học tốt để phát hiện biết baođiều đáng quý trong văn học và cuộc sống của chúng ta
Trang 31(Nhớ con sông quê hương - Tế Hanh).
- Phát hiện những hình ảnh đẹp có trong đoạn thơ trên ?
Trong đoạn thơ trên hình ảnh đẹp nhất đó chính là con sông nước trongxanh như tấm gương thần soi bóng vạn vật Có con sông mới có những hình ảnhđẹp khác như: những hàng tre như những nàng thiếu nữ soi mình chải tóc trướcgương; những chị trâu nằm nhai cỏ dưới bóng tre râm mát của những buổi trưahè…
Tất cả những hình ảnh đẹp đó thật gần gũi, thân thuộc với tuổi thơ của mỗingười Đó chính là những vẻ đẹp êm đềm trên quê hương Cảm ơn nhà thơ TếHanh đã để lại trong em một ấn tượng sâu sắc, êm đềm mà lắng đọng đối với quêhương
Dạng 3: Phát hiện những biện pháp nghệ thuật được thể hiện trong đoạn
thơ, đoạn văn
* Cách làm:
- Đọc thầm nhiều lượt
- Chỉ rõ biện pháp tu từ được tác giả thể hiện
- Nêu rõ tác dụng của biện pháp tu từ ấy
Cô giáo đưa mùa thuĐến với những quả vàng chín mọng"
( Cô giáo với mùa thu - Vũ Mạnh Thắm)
Trong khổ thơ trên tác giả đã dùng biện pháp nghệ thuật tu từ so sánh: Côgiáo hiền với cô tấm; giọng cô ấm êm với lời ru của mẹ; và hình ảnh ẩn dụ đượcthể hiện trong 2 câu thơ: " Cô giáo đưa mùa thu", " Đến với những quả vàng chínmọng" Dó là những hình ảnh để lại trong lòng người đọc một ấn tượng sâu sắc "Mùa thu" là hình ảnh ẩn dụ chỉ người học sinh thân yêu, hình ảnh " những quảvàng chín mọng" đó chính là thành quả học tập rất đáng kể mà học sinh đã đạtđược sau 9 tháng rèn luyện và tu dưỡng Với biện pháp nghệ thuật tu từ so sánh,
31
Trang 32ẩn dụ rất kín đáo, tác giả đã giúp cho ta thấu hiểu hơn tâm hồn của mỗi ngườithầy Đó chính là những người mẹ, người cha mà sự giáo dục đã đạt được chính
là những thành quả học tập của mỗi lớp học trò Cám ơn nhà thơ Vũ Hạnh Thắm
đã cho em biết một đoạn thơ hay với ý nghĩa thật là sâu sắc
Dạng 4 : Phát hiện cách dùng từ, đặt câu sinh động và nói rõ tác dụng (câu
hay)
* Cách làm:
- Đọc thầm nhiều lượt
- Phát hiện được đủ, đúng các từ ngữ hay tác giả đã dùng
- Phân tích rõ tác dụng của việc dùng từ, đặt câu
VD: Trong bài "Tình quê hương" của Nguyễn Khải có đoạn viết: " Làng quê tôi
đã khuất hẳn, nhưng tôi vẫn đăm đắm nhìn theo Tôi đã đi nhiều nơi, đóng quânnhiều chỗ phong cảnh đẹp hơn đây nhiều, nhân dân coi tôi như người làng vàcũng có nhiều nười yêu tôi tha thiết, nhưng sao sức quyến rũ, nhớ thương vẫnkhông mãnh liệt, day dứt bằng mảnh đất cọc cằn này"
Em hãy nói rõ cách dùng từ, đặt câu của tác giả qua đoạn văn trên Và nói
rõ cách dùng từ ngữ như vậy có tác dụng gì ?
Bài làm:
Theo em, tác giả dùng một loạt các từ láy, từ ghép gợi tả, gợi cảm để
Theo em, đoạn văn được trích trong bài "Tình quê hương", tác giả đã sửdụng từ rất độc đáo, gợi cảm xúc cho người đọc: đăm đắm, tha thiết, quyến rũ,nhớ thương, mãnh liệt, day dứt…" Nhờ có sử dụng từ độc đáo và tinh tế của tácgiả cho ta thấy nỗi nhớ thương day dứt mãnh liệt, sâu đậm của anh bộ đội (tg) đốivới quê hương Bên cạnh đó, tác giả cong sử dụng cách viết câu văn dài càng làmtăng thêm sự liệt kê nỗi nhớ thương tha thiết mãnh liệt như không muốn rời xanơi chôn rau cắt rốn của mình
Một lần nữa, khẳng định rằng đoạn văn trên đã để lại trong em những ấntượng sâu sắc nhất về tình cảm đối với quê hương
Dạng 5: Bộc lộ cảm thụ văn học qua một đoạn văn ngắn Đây là kiểu bài
mang tính tổng hợp: Dạng bài tập này kết hợp cả 4 dạng bài tập ở trên Học sinhhuy động vốn kiến thức, vốn sống cùng cảm xúc suy nghĩ của mình để viết đoạnvăn nêu bật giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật, giá trị thẩm mỹ của văn bản cầncảm thụ
* Cách làm bài:
- Đọc thầm nhiều lượt để hiểu văn bản
-Tìm và phát hiện những hình ảnh đẹp chính có trong đoạn thơ, đoạn văn Pháthiện được đủ, đúng các từ ngữ hay tác giả đã dùng Chỉ rõ biện pháp tu từ đượctác giả thể hiện Phân tích rõ tác dụng của việc dùng từ, đặt câu, nêu rõ tác dụngcủa biện pháp tu từ
- Viết đoạn văn:
+ Phải khẳng định đó là đoạn thơ, đoạn văn hay
Trang 33+Phân tích nội dung (tìm hình ảnh đẹp + nhịp thơ…) chỉ ra các biện pháp tu từ vànêu tác dụng của chúng trong việc thể hiện nội dung Lồng ghép cảm xúc suynghĩ nhận xét của người viết trong từng phần phân tích
+ Khẳng định lại đó là đoạn thơ, đoạn văn hay
Đã thơm bàn cô giáo."
Bài làm:
Sau khi đọc doạn thơ được trích trong bài "Chùm hoa dẻ" của tác giả Xuân Hoài,
em thấy mình như đang được ngụp lặn trong hương thơm ngào ngạt của hoa dẻ một loài hoa đồng nội và đã khiến cho em không khỏi bồi hồi xúc động trướctình cảm của các bạn cùng trang lứa với em đối với thầy cô giáo Hái hoa dẻ, yêuhoa dẻ các bạn không chỉ làm đẹp cho mình mầ còn gửi gắm tình cảm của mìnhvào những bông hoa dẻ ấy Thật thầm lặng và đáng quý biết bao tấm lòng thơmthảo của các bạn trai, bạn gái dành cho cô giáo Các bạn đã đem đến cho chùmhoa dẻ một ý nghĩa mới mẻ: Chùm hoa về tình thầy trò, chùm hoa tình nghĩa.Cảm ơn nhà thơ đã cho chúng em một bài học quý về tình nghĩa thầy trò đượcthể hiện rất rõ trong thơ
-Câu 11 Thực hành cảm thụ một số tác phẩm thơ trong chương trình Tiểu học
1 Bài “Côn Sơn ca” của Nguyễn Trãi
b Nội dung cần phân tích:
b1 Cảnh nên thơ của Côn Sơn:
Tác giả ca ngợi phong cảnh núi rừng kì thú: “Suối” - ý niệm về cội nguồn,
sự trong sạch
Âm thanh “rì rầm” của tiếng suối – Tác giả phải là người có tâm hồn trongtrẻo, phải ở trạng thái thật thanh thản để tận hưởng thiên nhiên núi rừng thì mới
có thể viết được những áng thơ như vậy
Cảnh vật trước mắt nhà thơ đều có hồn: đá, thông, trúc được xem nhưnhững người bạn thân thiết để nhà thơ gửi gắm tâm hồn Cảnh đẹp núi rừng Côn
33
Trang 34Sơn như có sức hấp dẫn lạ lùng đối với nhà thơ, như mời gọi những ai biếtthưởng thức tận hưởng cuộc sống tự do ngoài vòng danh lợi.
b2 Tình cảm của nhà thơ trước vẻ đẹp Côn Sơn:
Trong đoạn thơ có 8 câu thì cứ 1 câu thơ tả cảnh lại một câu tả tình cảm củanhà thơ - Mến yêu thiên nhiên và làm thơ ca ngợi cảnh đẹp non sông
Khi phân tích chú ý các từ ngữ: nghe, ngồi, nằm, ngâm ngợi → Rung độngtrước cảnh đẹp Côn Sơn, diễn tả phù hợp các diễn biến tình cảm, nội tâm củanhà thơ từ thấp đến cao
- Thiên nhiên hiện lên hòa hợp với con người, cảnh vật đồng cảm với conngười khiến nhà thơ rung động
c Cảnh đẹp nên thơ của Côn Sơn và tình cảm của nhà thơ trước cảnh đẹpCôn Sơn
2 Bài “Mùa thu câu cá” của Nguyễn Khuyến:
a Xuất xứ: “Thu điếu” (Mùa thu câu cá) là một bài thơ hay trong chùm thơ
thu nổi tiếng của Nguyễn Khuyến
b Nội dung cần khai thác: Phân tích theo kết cấu bài thơ Đường luật:
- Hai câu đề: Tác giả tả mùa thu trong một không gian hẹp - chú ý cách điệpvần “eo” → Cảm nhận tinh tế của nhà thơ, tất cả đều thu nhỏ lại, lắng sâu, chấtchứa suy tư
- Hai câu thực: Với không khí mùa thu: sóng biếc, lá vàng Đường nétchuyển động: sóng gợn, lá đưa vèo cho ta thấy một không khí dịu nhẹ, thanh
sơ, một nét riêng của làng quê Bắc Bộ với cái hồn dân dã, không gian thì tĩnhlặng, vắng người, vắng tiếng, chuyển động: nhẹ, khẽ
- Hai câu luận: Miêu tả không gian thoáng đạt, cao vợi (chú ý các từ ngữ:xanh ngắt - biểu tượng của mùa thu; lơ lửng - êm đềm; ngõ trúc, khách vắng teo
- yên lặng ) Sự tinh tế trong tâm hồn nhà thơ
- Hai câu kết: Phác họa chân dung nhà thơ, tâm trạng nhà thơ: trầm ngâmsuy nghĩ về việc đời, mượn chuyện câu cá để giải khuây, tiếng cá đớp động đãlàm nhà thơ giật mình trở về với thực tại đầy xót xa, day dứt tâm hồn trĩu nặngtình đời của Nguyễn Khuyến
→ Nói chuyện câu cá nhưng thực ra không chú ý vào việc câu cá mà là đónnhận trời thu, cảnh thu vào cõi lòng
Cả bài thơ chú ý nghệ thuật đặc sắc trong cách sử dụng từ ngữ, cách gieovần
c Chủ đề: Bài thơ hiện lên khung cảnh làng quê vùng đồng bằng chiêmtrũng thân quen sống động, ẩn bên trong là tâm trạng, tấm lòng gắn bó với thiênnhiên đất nước, tình yêu nước sâu kín của nhà thơ
3 Hồ Chí Minh - Vọng nguyệt (Ngắm trăng)
Sinh thời, Bác Hồ luôn chú tâm chăm lo cho sự nghiệp cách mạng của đấtnước, Người không có ham muốn trở thành một nhà thơ nhưng như đã có lầnBác viết:
“Ngâm thơ ta vốn không ham