CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ VẬN TẢI 1.1 Các khái niệm cơ bản: - Vận tải: Vận tải là hoạt động vật chất thực hiện vận chuyển hàng hóa và người, phục vụ sản xuất và nhu cầu của con người trong
Trang 1CHƯƠNG 1: ĐẠI CƯƠNG VỀ VẬN TẢI
1.1 Các khái niệm cơ bản:
- Vận tải: Vận tải là hoạt động vật chất thực hiện vận chuyển hàng hóa và người, phục vụ sản xuất và nhu cầu của con người trong đời sống
- Vận tải hàng hóa là hoạt động vận tải trong đó đối tượng chuyên chở là hàng hóa, sản phẩm hoặc nguyên liệu của quá trình sản xuất
- Phương thức vận tải: là cách thức để vận chuyển, dựa trên các nguyên lý cơ bản của hoạt động vận chuyển Có các phương thức vận tải cơ bản: vận tải đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường không và phương thức vận tải khác
- Vận tải đa phương thức (hay còn gọi là vận tải liên hợp) là phương thức vận tải hàng hóa bằng ít nhất hai phương thức vận tải khác nhau trở lên, trên cơ sở một hợp đồng vận tải đa phương thức từ một điểm tới một điểm chỉ định ở nơi khác để giao hàng
- Phương tiện vận tải: là công cụ để thực hiện chuyên chở, gắn liền với phương thức vận tải:
+ Vận tải đường bộ: Ô tô, máy kéo + Vận tải đường thủy: Tàu, thuyền + Vận tải đường sắt: Toa xe, đầu máy + Vận tải đường hàng không: Máy bay
- Cơ sở hạ tầng vận tải là các công trình đáp ứng cho các phương thức vận tải: Đường bộ, cầu hầm, bến cảng, luồng, kênh, đường sắt, nhà ga, sân bay…
- Logistics và Giao nhận vận tải (Logistics and Forwarder) là các loại hình dịch vụ liên quan đến việc vận chuyển (thực hiện theo phương thức vận tải riêng lẻ hoặc đa phương thức), tập hợp, bảo quản, đóng gói, xử lý hoặc phân phối hàng hoá, cũng như các dịch vụ phụ trợ và tư vấn liên quan đến các hoạt động đó, bao gồm nhưng không giới hạn các vấn đề về hải quan và tài chính, khai báo hàng hóa, mua bảo hiểm hàng hoá Dịch vụ forward còn bao gồm dịch vụ logistics với thông tin hiện đại và công nghệ truyền thông kết hợp với
xử lý, vận chuyển hoặc lưu trữ hàng hoá và chuỗi quản lý tổng số cung cấp
Trang 2thực tế Những dịch vụ này có thể thay đổi để đáp ứng các ứng dụng linh hoạt của các dịch vụ cung cấp
1.2 Vai trò của vận tải trong nền kinh tế quốc dân
Vận tải giữ vai trò quan trọng và có tác dụng lớn đối với nền kinh tế quốc dân của mỗi nước Hệ thống vận tải được ví như mạch máu trong cơ thể con người, nó phản ánh trình độ phát triển của một nước Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội: sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, quốc phòng Trong sản xuất vận chuyển nguyên, nhiên, vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, lao động để phục vụ cho quá trình sản xuất, vận tải là yếu tố quan trọng của quá trình lưu thông
Vận tải có một chức năng đặc biệt trong xã hội là vận chuyển hàng hóa và hành khách
từ địa điểm này đến địa điểm khác Không có vận tải thì bất cứ một quá trình sản xuất nào của xã hội cũng không thể thực hiện được Vận tải rất cần thiết đối với tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất, từ vận chuyển nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất đến vận chuyển sản phẩm do quá trình sản xuất tạo ra… Vận tải cũng đáp ứng được nhu cầu đi lại của nhân dân
Vận tải là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, nối liền các ngành , các đơn vị sản xuất với nhau nối liền khu vực sản xuất với khu vực tiêu dùng, nối liền thành thị với nông thôn, miền ngược với miền xuôi làm cho nền kinh tế thành một khối thống nhất Lực lượng sản xuất và trình dộ chuyên môn hóa ngày càng phát triển đời sống nhân dânkhông ngừng nâng cao đòi hỏi vận tải phải phát triển nhanh chóng mới đáp ứng được nhu cầu vận tải tăng lên không ngừng của nền kinh tế quốc dân
Vận tải là yếu tố quan trọng nhất của hệ thống logistics của từng nhà máy, xí nghiệp, công ty, trong từng xí nghiệp hay công ty…đều có hệ thống cung ứng và phân phối vật chất, hệ thống này bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn khác nhau kể từ khi mua sắm nguyên, vật liệu cho sản xuất (cung ứng) cho đến khi phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng Nghệ thuật quản lý sự vận động của nguyên liệu và thành phẩm từ khi bắt đầu sản xuất đến nơi tiêu thụ cuối cùng như trên gọi là logistics Logistics bao gồm 4 yếu tố: vận tải, marketing, phân phối và quản lý, trong đó vận tải là yếu tố quan trọng nhất và chiếm nhiều chi phí nhất
Tác dụng của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau đây:
Trang 3a Vai trò của giao thông vận tải đối với sản xuất
Vận tải là ngành kinh tế ảnh hưởng đến hàng loạt các ngành kinh tế Những phương diện quan trọng này dược tính đến đó là:
- Tạo nên khuynh hướng định vị công nghiệp và xây dựng
- Tạo nên chi phí sản xuất của cải vật chất
- Tạo nên các điều kiện hoạt động cho các doanh nghiệp sản xuất
- Tạo nên chủng loại và quy mô sản xuất
- Tạo nên chất lượng sản xuất hàng hóa
Sự phát triển của vận tải được thể hiện ở việc tăng lên của mật độ mạng lưới đường, nâng cao tính đều đặn của những thao tác vận tải và giảm chi phí Ta có thể thấy được vai trò của vận tải trong các ngành kinh tế sau đây:
* Đối với sản xuất công nghiệp
Mối liên hệ giữa công nghiệp và các ngành kinh tế quốc dân do vận tải đảm nhận Việc cung cấp nguyên, nhiên liệu cho sản xuất và thành phẩm cho khu vực tiêu dùng là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất công nghiệp Việc hoạt dộng bình thường của các doanh nghiệp công nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào vận tải
Vận tải là điều kiện quan trọng để phát triển công nghiệp, vận tải có ảnh hưởng rất lớn đến số lượng và chất lượng công tác xây dựng cơ bản, đến việc sử dụng vốn của các doanh nghiệp và giá thành sản phẩm công nghiệp
* Đối với sản xuất nông nghiệp
Vận tải phát triển đã đáp ứng hoạt động kịp thời nhu cầu vận chuyển củ công nghiệp và
có tác dụng to lớn đến sản xuất nông nghiệp Vận tải cung cấp tư liệu sản xuất đúng thời
vụ cho sản xuất nông nghiệp, đảm bảo hàng hóa tiêu dùng cho nông dân Đồng thời vận chuyển sản phẩm của nông nghiệp đến nơi tiêu dùng một cách nhanh chóng và đảm bảo chất lượng Giá thành vận chuyển hạ đã tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển và cải thiện đời sống của nông dân
Trong thời gian hiện nay khi quy mô sản xuất nông nghiệp ngày càng dược mở rộng, sự phân vùng sản xuất nông nghiệp được thực hiện và ngày càng hoàn chỉnh, trình độ cơ giới hóa trong nông nghiệp ngày càng cao, cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất trên các địa bàn được hình thành và từng bước hoàn chỉnh thì vận tải càng có tác dụng to lớn đến sự phát
Trang 4triển của sản xuất nông nghiệp, góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân và liên minh công nông
* Đối với lưu thông phân phối
Vận tải là tiếp tục quá trình sản xuất trong phạm vi lưu thông, đây là khâu chủ yếu trong quá trình lưu thông Muốn cho sản xuất ngày càng phát triển, mở rộng phạm vi tiêu dùng thì phải mở rộng lưu thông hàng hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng với miền núi, giữa địa phương này với địa phương khác, giữa các quốc gia với nhau
Việc trao đổi hàng hóa thuộc phạm vi ngành thương mại nhưng hoạt động của nó phải thông qua vận tải mới có thể thực hiện được Như vậy vận tải hoạt động tích cực, giá thành vận chuyển hạ sẽ tạo điều kiện mở rộng thị trường tiêu thụ, kích thích tiêu dùng và kích thích sản xuất phát triển
b Vai trò của vận tải trong phục vụ con người
Vận tải làm cho con người lại gần với nhau hơn đặc biệt là những người sống ở các vùng có nền kinh tế khác nhau Nhờ tiếp xúc về văn hóa khoa học kĩ thuật, du lịch, tôn giáo và gia đình mà xuất hiện những đồng cảm khác nhau làm giàu thêm đời sống văn hóa
xã hội của mỗi quốc gia, của mỗi vùng
Sự phát triển của vận tải trong mục đích lại gần nhau của con người không chỉ đảm bảo tính chất nhân đạo mà còn nhìn thấy mặt lợi của kinh tế Sự có lợi này được biểu hiện ở sự gia tăng về thông tin, kiến thức, sự khéo léo, việc giải quyết các vấn đề nhanh hơn, dễ hơn, năng suất lao động cao hơn trong đời sống xã hội
Vận tải thực hiện nhiệm vụ vận chuyển con người với nhiều nục đích khác nhau Trong
đó mục đích quan trọng nhất là vận chuyển con người với mục đích đi làm, học tập, công tác Sau đó phải kể đến các mục đích để thực hiện các chức năng cơ bản của đời sống như mua bán, thăm viếng, nghỉ ngơi trong những ngày cuối tuần nghỉ phép nghỉ lễ tết, phục vụ cho nhu cầu du lịch
c Đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
Trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc vận tải có ý nghĩa quan trọng Trong chiến tranh vận tải thực hiện nhiệm vụ vận chuyển vũ khí đạn dược, lương thực thực phẩm, quân trang quân dụng Trong thời bình vận tải cùng quân đội bảo vệ an ninh quốc phòng xây dựng lực lượng động thời thực hiện cả nhiệm vụ làm kinh tế
Trang 5d Chức năng Quốc Tế của vận tải
Vận tải là một ngành kinh tế hoạt dộng trong hệ thống kinh tế của đất nước Nó có vai trò quan trọng đối với việc giao lưu của nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới đặc biệt trong trong thời đại hiện nay việc quan hệ kinh tế với nước ngoài đã đem lại một hiệu quả vô cùng to lớn cho đất nước Vận tải đã thể hiện mối quan hệ quốc tế thông qua các chức năng sau đây:
- Phát triển xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt đối với các quốc gia có khoảng cách địa lý lớn;
- Nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu và sản phẩm cần thiết;
- Phát triển hợp tác quốc tế về công nghiệp;
ra, trong quá trình sản xuất của ngành vận tải cũng đã tiêu thụ một lượng vật chất nhất định, như vật liệu, nhiên liệu, hao mòn phương tiện vận tải…đối tương lao động (hàng hóa, hành khách) trong quá trình sản xuất của vận tải cũng trải qua sự thay đổi vật chất nhất định
Là ngành sản xuất vật chất nên vận tải cũng có sản phẩm của riêng mình, sản phẩm của vận tải cũng chính là sự di chuyển của con người và vật phẩm trong không gian Sản phẩm vận tải cũng là hàng hóa và cũng có giá trị sử dụng, giá trị của hàng hóa là lượng lao động xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa đó, giá trị sử dụng của sản phẩm vận tải là khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển
Tuy nhiên, so với các ngành sản xuất vật chất khác, vận tải có những đặc điểm khác biệt về quá trình sản xuất, về sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Môi trường sản xuất của vận tải là không gian, luôn di động chứ không cố định như các ngành khác;
Trang 6- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng lao động chứ không phải tác động về mặt kĩ thuật, do đó không làm thay đổi hình dáng, kích thước của đối tượng lao động;
- Sản phẩm vận tải không tồn tại dưới hình thức vật chất và khi sản xuất ra là được tiêu dùng ngay Hay nói cách khác sản phẩm vận tải mang tính vô hình Trong ngành vận tải, sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời, do đó không có khả năng dự trữ sản phẩm
mà chỉ có dự trữ năng lực vận tải mà thôi;
- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ làm thay đổi vị trí của hàng hóa và qua đó cũng làm tăng giá trị của hàng hóa
1 5 Cơ sở vật chất kĩ thuật của vận tải
Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành vận tải là yếu tố quan trọng nhất quyết định quy mô
và chất lượng của hệ thống vận tải Cơ sở vật chất của ngành vận tải bao gồm:
a Mạng lưới đường giao thông
Mạng lưới dường giao thông là nơi để phương tiện vận tải thực hiện quá trình vận chuyển, chất lượng, chiều rộng của đường và các yếu tố kĩ thuật khác của đường ảnh
hưởng rất lớn đến vận tốc giao thông trên tuyến và tác động đến chủ hàng, đến hành khách tham gia vận chuyển trên đường Mạng lưới giao thông phải thỏa mãn yêu cầu: tiện lợi, nhanh chóng, an toàn…
Mạng lưới giao thông đường bộ được chia theo cấp đường: Bao gồm mạng lưới
đường liên vận quốc tế, mạng lưới quốc lộ, mạng lưới tỉnh lộ, mạng lưới huyện lộ, mạng lưới giao thông nông thôn
b Phương tiện vận tải
Phương tiện vận tải là yếu tố trực tiếp vận chuyển hàng hóa và hành khách, mỗi loại phương tiện vận tải có chủng loại số lượng và chất lượng phong phú và đa dạng để phù hợp với nhu cầu đa dạng của quá trình vận chuyển
c Khu đầu mối giao thông
Đây là nơi tập kết phương tiện và hình thành nên các tuyến vận chuyển như bến xe, nhà ga, bến cảng…Các trang thiết bị ở khu đầu mối giao thông phải phù hợp với quy mô
và tính chất của khu đầu mối
d Các trang thiết bị phục vụ cho bảo dưỡng sửa chữa phương tiện vận tải
Trang 7Đây là nơi để bảo dưỡng sửa chữa phương tiện vận tảiđể đảm bảo cho các phương tiện vận tải có tình trạng kĩ thuật tốt có thể đưa các phương tiện ra khai thác
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI ĐƯỜNG BỘ (VẬN TẢI Ô TÔ) 2.1 Vai trò vận tải ôtô trong hệ thống vận tải
Vận tải ôtô có một ưu thế hơn hẳn các phương thức vận tải khác đó là vận chuyển một
cách triệt để có thể vận chuyển “từ cửa đến cửa, từ kho đến kho” hay “door to door” cho
nên thông thường vận tải ôtô là phương thức tiếp chuyển cho các phương thức vận chuyển khác
Vận tải ôtô có thể hoạt động trong mọi điều kiện thời tiết khí hậu, những nơi điều kiện đường sá khó khăn thậm chí cả những nơi không có đường ví dụ như đường rừng núi, những lâm trường khai thác gỗ, tuy vậy không phải với bất cứ loại ôtô nào cũng có thể hoat động trong những điều kiện khó khăn như vậy được Vận tải ôtô có thể vượt qua được một số loại địa hình khó khăn như độ dốc khá cao, các tuyến đường có bán kính quay vòng nhỏ…Vận tải ôtô có thể đi đến mọi nơi mọi chỗ của nền kinh tế
Phương tiện vận tải ôtô rất đa dạng và nhiều chủng loại khác nhau, đáp ứng cho việc vận chuyển hàng hóa đa dạng với hiệu quả cao Đối với nhu cấu vận chuyển hàng hóa và hành khách trong đô thị vận tải hành khách công cộng trong đó có vận tải hành khách bằng xe buýt rất phổ biến đã đem lại cho đô thị văn minh, giảm tắc nghẽn giao thông
2.2 Tình hình phát triển của công nghiệp ôtô
2.2.1 Tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển của ôtô
Giao thông đường bộ có từ rất sớm cùng với việc con người tạo ra bánh xe, xe ngựa để chở người và hàng hóa Ban đầu đường bộ chủ yếu do con người trong quá trình hoạt động sinh sống của mình đi nhiều mà tạo ra, đó là những đường mòn nối liền giữa thung lũng sông này với thung lũng sông khác, nối liền các vị trí với nhau
Lịch sử ghi nhận người La Mã có ý thức từ rất sớm trong việc xây dựng đường, họ đã xây dựng các con đường lát đá rộng hơn 10mét, dùng cho xe ngựa chạy với tốc độ cao, đó là những tuyến đường bộ thực sự do con người xây dựng đầu tiên vào thời cổ đại Đường lát
đá của người La Mã chạy suốt qua Italia kéo dài qua vùng Ban Căng đến Iran về phía Tây
Trang 8đi qua Pháp tới Tây Ban Nha, con đường này tạo ra một hệ thống đường ngang dọc bao trùm khắp miền Nam châu Âu, các con đường thường bắt đầu từ thành Roma của La Mã
Từ Roma xe ngựa chỉ chạy 4 ngày sẽ tới được Mađrit của Tây Ban Nha (với quãng đường 2.300Km), đây là đỉnh cao của giao thông thời cổ đại
Đến thế kỉ 19 khi ôtô xuất hiện thì ý tưởng xây dựng đường của người La Mã được sống lại, đường được xây dựng chủ yếu cho ôtô đi cho nên được gọi là đường ôtô, đường nhựa xây dựng theo lối thủ công chỉ đảm bảo cho xe chạy với tốc độ 50Km/giờ
Lịch sử hình thành và phát triển vận tải ôtô là cả một quá trình dài, có nhiều thăng trầm, các mốc thời gian đánh dấu sự ra đời của ôtô là:
Năm 1751: chiếc xe tự chạy đầu tiên của Cubilin ra đời
Năm 1761: chiếc xe thứ hai ra đời hoàn thiện hơn (ôtô đạp)
Năm 1763: Poldunop (Nga) thiết kế xe chạy bằng hơi nước
Năm 1769: Julio (Pháp) đặt động cơ nước lên ôtô
Năm 1885: Benz và Dailer cùng chế tạo thử thành công ôtô chạy bằng xăng
Năm 1885 chiếc ôtô đầu tiên ra đời, đến nay công nghệ chế tạo ôtô rất phát triển vì tính cơ động cao, mạng lưới đường ôtô có thể tiếp cận mọi nơi với dịa hình khác nhau
Ngày nay do yêu cầu rất lớn của giao thông đường bộ trên các trục giao thông chínhngười
ta xây dựng các đường cao tốc, có thể hiểu đường cao tốc là đường chỉ chạy một chiều mỗi chiều có 2-4 làn xe chạy, đường cao tốc có đa số các giao cắt khác mức, còn các giao cắt đồng mức tại đây ôtô phải chạy được với tốc độ 60Km/h, đường được thi công bằng cơ giới với chất lượng cao, đảm bảo cho xe chạy với tốc độ 120Km/h
Hiện nay chiều dài đường ôtô trên khắp các lục địa vào khoảng 25 triệu Km, chiều dài đường ôtô tăng theo số lượng ôtô được sử dụng trên thế giới Số lượng ôtô trên thế giới phát triển qua các năm được thể hiện như sau:
Năm 1900 toàn thế giới có 11.000 chiếc ôtô
Năm 1921 toàn thế giới có 10.900.000 chiếc ôtô
Năm 1945 toàn thế giới có 45.000.000 chiếc ôtô
Trang 9Năm 1968 toàn thế giới có 190.000.000 chiếc ôtô
Năm 1974 toàn thế giới có 250.000.000 chiếc ôtô
Năm 1980 toàn thế giới có 400.000.000 chiếc ôtô
Hiện nay trên thế giới có khoảng 1 tỷ chiếc ôtô, mỗi chiếc ôtô tuổi thọ trung bình 20 năm,
số lượng ôtô sản xuất ra trung bình hàng năm khoảng 40 đến 60 triệu chiếc ôtô Trong những năm 80 thế kỷ XX người Nhật chiếm lĩnh thị trường sản xuất ôtô của thế giới rất lớn, có năm đã xuất được 10 triệu ôtô các loại.Các hãng ôtô nổi tiếng của Mỹ là: Ford, General motor, Chrysler,…của Nhật là: Missubisi, Toyota, Honda…của Pháp là Renault, Peugeot, của Nga: Volga, Lada, Kamaz, Maz,…của Thụy Điển là: Volvo, Saab, …;của Đức là: Mercedes, BMW, Volkwagel…(xem phụ lục số 3)
Năm 1992, trong tạp chí thống kê những công ty nổi tiếng thế giới đã công bố, trong mười công ty kĩ nghệ hàng đầu có đến 3 công ty sản xuất ôtô là GM, Ford, và Toyota, nếu tính
20 công ty sản xuất ôtô
Bảng 1.1 Các tập đoàn sản xuất ôtô lớn trên thế giới
STT Tên tập đoàn Doanh số (triệu USD) Số công nhân (người)
Trang 10a Xu hướng sử dụng nhiên liệu cho ôtô
Các ôtô hiện nay trên thế giới chủ yếu dùng nhiên liệu xăng hoặc diezen, một số ôtô dùng khí ga, tất cả các nhiên liệu đó đều là sản phẩm của công nghiệp khai thác và chế biến dầu
mỏ, đây là loại nhiên liệu hóa thạch Nhiên liệu hóa thạch là loại nhiên liệu bị cạn kiệt, theo dự báo của các nhà khoa học loại nhiên liệu này sẽ chỉ đủ cung cấp cho con người trong một thời gian ngắn nữa Ngoài ra sử dụng nhiên liệu hóa thạch gây ra ô nhiễm môi trường trên diện rộng, làm biến đổi khí hậu toàn cầu, việc tìm ra các nguồn nhiên liệu không phải là nhiên liệu hóa thạch là một vấn đề lớn đối với các nhà khoa học, các nhà chế tạo phương tiện vận tải đặc biệt là nhiên liệu cho ôtô
Các xu hướng sử dụng nhiên liệu hiện nay trên thế giới
Sử dụng những loại nhiên liệu sạch và tiết kiệm nhiên liệu
Bước vào thế kỷ XXI, việc sử dụng đa dạng năng lượng trong vận tải là một trong hướng
đi mới cho việc cung cấp nhiên liệu cho tương lai, nguồn năng lượng thay thế cho năng lượng hóa thạch (xăng dầu) bao gồm: hơi đốt, rượu ethanol, điện, hydrogen…
Hiện nay có nhiều mẫu xe chạy bằng hidro và xe kết hợp giữa động cơ đốt trong bằng hidro và động cơ điện có tên gọi ghép (hybrid car) đây là dòng xe hoàn toàn không có khí
xả Hiện nay một số hãng ôtô nổi tiếng như Honda, Ford, Mercedes…đã trưng bày giới thiệu các sản phẩm của dòng xe này
Tập đoàn ôtô Toyota đã giới thiệu những chiếc ôtô chạy bằng nhiên liệu ethanol và xăng tại Braxin, những chiếc xe này có thể chạy bằng cả hai loại nhiên liệu ethanol và xăng hoặc bằng hỗn hợp của cả hai loại nhiên liệu trên
Ethanol được làm từ ngô, mía đường, dầu dừa hoặc một số cây công nghiệp khác, chính vì vậy giá nhiên liệu này rẻ hơn rất nhiều so với nhiên liệu xăng (giá bằng một nửa), một số quốc gia trên thế giới đã dùng loại nhiên liệu này như: Braxin, Malayxia…
Xe chạy bằng năng lượng mặt trời
Trong thời đại hiện nay việc ứng dụng khoa học kĩ thuật và thực tế sản xuất rất phổ biến, phương tiện chạy bằng năng lượng mặt trời không chỉ còn ở trong phòng thí nghiệm mà nó
đã được đưa ra thực tế, tuy nhiên hiện nay với giá thành sản xuất ra ôtô dùng bằng năng lượng mặt trời còn quá cao, gấp nhiều lần so với giá của ôtô thông thường Trong khi
Trang 11nguồn năng lượng hóa thạch khan hiếm thì loại phương tiện này sẽ phát triển và phát huy tác dụng
Xe chạy bằng không khí và xăng
Các xe sử dụng không khí nén để đẩy không khí và xăng vào xilanh với áp suất cao, trong một số trường hợp xe hết xăng nhưng vẫn có thể chạy được lúc đó không khí được đẩy dưới áp suất mạnh nên có thể thay nhiên liệu đốt
Hiện nay loại phương tiện này đã được nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam do 3 thành phần tham gia là đại diện sở Khoa học công nghệ thành phố Hồ Chí Minh; Tổng công ty Cơ khí Vận Tải Giao thông TP Hồ Chí Minh và tiến sĩ Lê Sinh – Việt kiều Pháp
b.Xu hướng giảm nhẹ vật liệu
Về chế tạo: để chế tạo , ôtô cần có một lượng kim loại và hao phí lao động rất lớn, bên cạnh đó việc chế tạo ôtô để đảm bảo gía ôtô sản xuất ra với giá thành thấp tạo điều kiện giảm chi phí vận tải
Lượng kim loại đặc trưng cho sự hoàn thiện của kết cấu ôtô và là chỉ tiêu quan trọng nhất của mức kĩ thuật cùa ôtô Chỉ tiêu chính để đánh giá lượng kim loại để chế ra ôtô là lượng kim loại riêng mr:
mt = Pk / (PT * L) (1.1)
Trong đó: Pk – khối lượng khô của ôtô (Kg);
PT – tải trọng của ôtô (Kg);
L – quãng đường xe chạy đến sửa chữa lớn (nghìn Km)
Công nghệ chế tạo ôtô cần thỏa mãn các yêu cầu sau đây:
Ôtô cần có tính kế thừa về kết cấu và công nghệ;
Có mức độ thống nhất hóa cao của các tổng thành, các cụm và các chi tiết;
Có tính công nghệ cao; cần chú ý phải có sự hài hòa về tính công nghệ của chi tiết , của cụm chi tiết và của cả ôtô
c Xu hướng tăng tính cạnh tranh
Trang 12Đảm bảo mức công nghệ ngang tầm với yêu cầu hiện tại của quốc tế, mức công nghệ của ôtô được đánh giá bằng các chỉ tiêu: tải trọng riêng và lượng kim loại riêng; tính chất kéo, tốc độ; tính kinh tế nhiên liệu; tính an toàn của kết cấu; tính năng thông qua; tính êm dịu vận hành; độ tin cậy; chỉ tiêu điều khiển ôtô nột cách thuận lợi Các tiêu chí cạnh tranh:
- Có bản quyền;
- Đảm bảo sự thừa nhận của quốc tế;
- Phù hợp với các hiệp định quốc tế;
- Phù hợp với yêu cầu đặc trưng của nước nhập khẩu;
- Đảm bảo các chỉ tiêu về bảo vệ môi trường;
- Thỏa mãn các tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn quốc gia và tiêu chuẩn ngành
2.2.3 Xu hướng kinh doanh ôtô trên thế giới
Công nghiệp ôtô tại các nước phát triển đã bão hòa và chuyển dần sang các quốc gia đang phát triển, các thị trường khác là: Châu Á, Châu Mỹ Latinh, Châu Phi
Xu hướng toàn cầu háo trong kinh doanh ôtô ( hãng GM là có 34% cổ phần trong hãng Isuzu; hãng Nissan liên doanh với hãng Alfa Romeo Xu hướng sát nhập các hãng để trở thành hãng lớn (hãng Ford mua lại hãng Deawoo với giá 6,9 tỷ USD) Quan điểm của người Mỹ trong kinh doanh ôtô đó là: “nếu chúng ta sẽ mua ôtô của họ thì tốt hơn hết là mời họ vào để đem lại việc làm cho công nhân chúng ta”
Năm 1999, nhu cầu tiêu thụ ôtô ở 7 nước Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Thái Lan,
Malaysia, Indonesia, Philippine tăng 18% so với năm 1998 và đạt 3,17 triệu chiếc
Trong những năm gần đây khi nền kinh tế phát triển, thu nhập người dân tăng cao thì số lượng ôtô tiêu thụ trên thế giới gia tăng hàng năm rất lớn
Trong khi Nhật Bản sớm đầu tư vào Đông Nam Á thì Mỹ và EU tập trung đầu tư vào Trung Quốc và Ấn Độ Hãng GM đang xây dựng nhà máy tại Thái Lan, Toyota sản xuất tại Trung Quốc vào năm 2002, hãng Honda sản xuất tại Quảng Châu, Đức có xu hướng đầu tư vào Malaysia
Bảng 1.2 Số lượng ôtô sản xuất tại một số quốc gia năm 2005
Trang 13- Phục vụ nhu cầu đi lại của con người
- Chuyên chở hàng hóa trong sản xuất, phân phối
- Phục vụ các nhu cầu khác: xe cứu hỏa, cứu thương, an ninh quốc phòng, thể thao … 2.3.3 Phân loại ô tô:
Nhu cầu của vận tải ô tô rất lớn và đa dạng, vì vậy ô tô có rất nhiều chủng loại, kích cỡ khác nhau và vì thé cũng có nhiều cách phân loại khác nhau:
A- Phân loại theo công dụng:
- Ô tô chở hàng (ô tô tải)
Trang 14- Ô tô chở khách
- Ô tô du lịch (ô tô cá nhân)
- Ô tô chuyên dùng: ô tô cứu hỏa, cứu thương, ô tô thể thao, quân sự…
B- Phân loại theo kích cỡ, tải trọng:
- Ô tô tải: 0,55T, 1T, 2T, 4T, 8T, 12T …
- Ô tô du lịch, ô tô khách: 5 chỗ, 8 chỗ, 12 chỗ, 16, 24, 29, 47, 80 chỗ…
C- Phân loại theo loại nhiên liệu:
- Ô tô chạy bằng xăng
- Ô tô chạy bằng dầu diesel
- Ô tô chạy bằng khí ga
- Ô tô chạy bằng nhiên liệu hỗn hợp
Ngoài ra còn có các cách phân loại khác: dung tích máy, số cầu chủ động, số bánh xe, kiểu truyền động…
Trang 15Sơ đồ phân loại ô tô theo công dụng
Trang 16Một số loại ô tô 4 bánh
2.4 Cấu tạo chung của « t«
¤ t« cÊu t¹o gåm c¸c phÇn sau:
Trang 17Dùng để chứa ng-ời lái hành khách, hàng hoá
- Ô tô tải: Cabin + thùng chứa hàng
- Ô tô chở ng-ời: Khoang ng-ời lái + khoang hành khách
2.4.4 Hệ thống điện điện tử
- Hệ thống điện động cơ: Hệ thống khởi động, hệ thống nạp, hệ thống đánh lửa động
cơ xăng, hệ thống điều khiển phun nhiên liệu (ECU)
- Hệ thống điện thân xe: Hệ thống chiếu sáng, tín hiệu, hệ thống gạt n-ớc m-a, nâng kính, khoa cửa, bảo vệ, an toàn và các hệ thống điều khiển khác
2.5 Cỏc thụng số cơ bản của ụ tụ:
2.5.1 Cỏc thụng số kớch thước:
Trang 18Kích thước và hình dáng xe phải phù hợp với chức năng sử dụng Theo GOST 9314 -
59 của CHLB Nga qui định chiều rộng của xe không quá 2,5 m, chiều cao không quá 3,8 m, dài không quá 12m, trường hợp kéo nửa moóc dài không quá 20m, kéo hai moóc thì chiều dài tổng cộng không quá 24m (Hình 1)
Hình 1: Kích thước giới hạn của ô tô (GOST9314 – 59)
Các thông số đảm bảo tính cơ động của xe được thể hiện ở bảng 1.1
Bảng 1
* Xe có tính năng thông qua cao
Các thông số hình học của tính năng cơ động
Trang 19- Trọng lượng toàn bộ:G Là tổng tự trọng xe và tải trọng G = Go + Gt
- Tải trọng trục: Ptr (Kg, Tấn, KN): là trọng lượng xe phân bố lên các trục xe, phụ thuộc vào số lượng trục
và bố trí trục xe
Trang 20CHƯƠNG 3: PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI THỦY
3.1 Khái quát chung về vận tải đường thủy:
Vận tải đường biển ra đời khá sớm so với các phương thức vận tải khác Ngay từ thế kỷ thứ V trước công nguyên con người đã biết lợi dụng biển làm các tuyến đường giao thông để giao lưu các vùng các miền, các quốc gia với nhau trên thế giới Cho đến nay vận tải biển được phát triển mạnh và trở thành ngành vận tải hiện đại trong hệ thống vận tải quốc tế
I Khái quát chung về vận tải đường biển
1 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của vận tải đường biển
Vận tải đường biển có thể phục vụ chuyên chở tất cả các loại hàng hoá trong buôn bán quốc tế
Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên
Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn Nhìn chung năng lực chuyên chở của công cụ vận tải đường biển (tầu biển) không bị hạn chế như các công cụ của các phương thức vận tải khác
Ưu điểm nổi bật của vận tải đường biển là giá thành thấp
Tuy nhiên, vận tải đường biển có một số nhược điểm:
Vận tải đường biển phụ thuộc rất nhiều vào điệu kiện tự nhiên
Tốc độ của tầu biển còn thấp và việc tăng tốc độ khai thác của tầu biển còn bị hạn chế
Từ những đặc điểm kinh tế kỹ thuật nói trên của vận tải đường biển, ta có thể rút ra kết luận một cách tổng quát về phạm vi áp dụng như sau:
o Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá trong buôn bán quốc tế
o Vận tải đường biển thích hợp với chuyên chở hàng hoá có khối lượng lớn, chuyên chở trên cự ly dài nhưng không đòi hởi thời gian giao hàng nhanh chóng
2 Tác dụng của vận tải đường biển đối với buôn bán quốc tế
Vận tải đường biển là yếu tố không tách rời buôn bán quốc tế
Vận tải đường biển thúc đẩy buôn bán quốc tế phát triển
Vận tải đường biển phát triển góp phần làm thay đổi cơ cấu hàng hoá và cơ cấu thị trường trong buôn bán quốc tế
Vận tải đường biển tác động tới cán cân thanh toán quốc tế
3 - Cơ sở vật chất kỹ thuật của vận tải đường biển
Trang 21 Các tuyến đường biển
Là các tuyến đường nối hai hay nhiều cảng với nhau trên đó tầu biển hoạt động chở khách hoặc hàng hoá
Cảng biển
Là nơi ra vào neo đậu của tầu biển, là nơi phục vụ tàu và hàng hoá trên tầu và là đầu mối giao thông quan trọng của một quốc gia có biển
Phương tiện vận chuyển
Phương tiện vận tải biển chủ yếu là tầu biển, tầu biển có hai loại: tầu buôn và tầu quân sự Tầu buôn là những tầu biển được dùng vào mục đích kinh tế trong hàng hải Tầu chở hàng
là một loại tầu buôn chiếm tỷ lệ cao nhất trong đội tầu buôn
3.2 Khái niệm và phân loại tàu thủy:
Tàu thủy ra đời cách đây đã ba, bốn ngàn năm Cuối năm 1999 người ta đã tìm thấy xác tàu
gỗ, chôn vùi dưới đáy biển khoảng hai ngàn rưỡi năm Tàu thủy đã và đang được nghiên cứu, cải tiến nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn đòi hỏi về mọi mặt của con người đội tàu ngày nay có thể chia làm các nhóm chính sau đây
Tàu làm việc trên nguyên tắc khí động học
Trong nhóm này có thể kể hai kiểu tàu đang được dùng phổ biến: tàu trên đệm khí (air cushion vehicle - ACV) tựa hẳn trên một “gối khí” áp lực đủ lớn, được một “váy” mềm bao bọc Tàu hoạt động nhờ lực nâng của “gối”, lực đẩy của chong chóng trong lĩnh vực vận tải người và hàng, người ta đã đóng acv chở 300 khách, vận tốc 60hl/h Kiểu tàu thứ hai là của nhóm không
“mặc váy” nhưng tận dụng ngay thành cứng kéo dài xuống của tàu làm màng giữ khí áp lực lớn Kiểu này trong ngôn từ chuyên môn gọi là captured-air-bubble vehicle - cab Biến dạng của nhóm tàu còn là tàu bọt khí, đẩy bằng thiết bị phụt nước hoặc chân vịt siêu sủi bọt
Tàu làm việc trên nguyên tắc thủy động lực
Tàu nhóm này làm việc trong nước, làm việc trên nguyên lý thủy động lực Tàu sử dụng lực nâng của cánh chìm, chạy trong nước, để nâng tàu lúc chạy gọi là tàu trên cánh theo cách gọi của người Nga, thường được gọi là tàu cánh ngầm Từ chuyên ngành bằng tiếng Anh là hydrofoil vehicle Cánh của tàu được dùng dưới hai dạng khác nhau, dạng thường thấy là cánh máy bay, được bẻ gập thành chữ v, đỡ thân tàu Bản thân cánh chạy ngầm sát mặt nước Dạng sau người
mỹ gọi là cánh ngầm (submerged foils), với hai chân mang hai thanh trượt, giống như người trượt tuyết
Tàu lướt thuộc nhóm này Tàu có kết cấu đáy dạng tấm trượt, thường được gập thành hình chữ v (deep vee) Tấm trượt khi lướt trong nước chịu lực nâng và lực này nhấc một phần tàu lên, giảm thể tích phần chìm khi chạy Từ chuyên môn thường gọi đây là planing craft
Nhóm đông đúc nhất là tàu hoạt động trên nguyên lý của định luật Archimedes, gọi là tàu nổi (displacement ships)
Trong trạng thái đứng yên cũng như trạng thái chạy lực đẩy tàu từ dưới lên, gọi là lực nổi do nước tác động, luôn cân bằng với trọng lượng toàn tàu trong trạng thái ấy nhóm này bao gồm các loại tàu chạy sông, tàu đi biển như tàu chở hàng, tàu chở dầu, tàu khách nói chung, tàu kéo, tàu đánh cá xét về thân tàu, đặc biệt phần thân chìm dưới nước có tàu một thân, tàu nhiều thân như
Trang 22catamaran hai thân, trimaran ba thân Trong số tàu hai thân còn có một dạng đặc biệt, thân chính thể tích lớn, chìm trong nước, trong khi đó diện tích mặt đường nước của tàu khá nhỏ Tàu này có tên gọi tàu đường nước nhỏ
Ngoài ra, cùng loại tàu nổi này còn có tàu ngầm, hoạt động chủ yếu trong lòng nước, trên nguyên tắc tàu nhóm ba vừa nêu
Tàu chạy trên đệm không khí
Tàu cánh ngầm
Trang 23Tàu thân ngầm
Tàu hàng
Trang 24Tàu quân sự
Tàu chở dầu
Trang 25Tàu container
Trang 26Cần trục nổi
Trang 27Tàu trục vớt
Trang 313.3 CÁC THƠNG SỐ KỸ THUẬT CƠ BẢN CỦA PHƯƠNG TIỆN THỦY
3.3.1 THỂ TÍCH VÀ TRỌNG LƯỢNG TÀU:
a Thể tích chiếm nước của thân tàu: ký hiệu V, là thể tích phần chìm của tàu trong nước,
đo bằng đơn vị đo thể tích (m3 hoặc cu.ft = 0,0283m3)
b Lượng chiếm nước của tàu: ký hiệu D, có giá trị bằng tổng trọng lượng tàu trong trạng
thái đang tính
c Lượng chiếm nước tàu không: Do, khi trên tàu chưa chứa hàng, nhiên liệu, hành
khách, thực phẩm
d.Lượng chiếm nước tàu đầy tải: D1, tính theo công thức D1 = γV1 thường giành cho
trường hợp tàu đầy tải Với tàu chở hàng trường hợp này ứng với trạng thái tàu bắt đầu rời bến sau khi chất đủ hàng, nhiên liệu và dự trữ
Đơn vị đo lượng chiếm nước là đơn vị đo trọng lượng Trong hệ mét, đơn vị được dùng là tấn trọng lượng, viết tắt là T hoặc viết tắt đúng cách là MT, còn trong hệ thống đo Imperial Anh-Mỹ phải là long ton Công thức chuyển đổi giữa hai hệ thống đo là:
1 long ton = 1016,05 kG = 1,01605 TM
Trang 32Trong hệ thống đo Anh-Mỹ, thể tích phần chìm đo bằng đơn vị cu.ft, do vậy tính lượng chiếm nước theo công thức D = γV sẽ có dạng:
Cho nước sông: D = V/35, trong đó V tính bằng cu.ft, (long ton)
Cho nước biển: D = V/36, trong đó V tính bằng cu.ft, (long ton)
e Sức chở hay tải trọng tàu đo bằng đơn vị đo trọng lượng, chỉ trọng lượng hàng trên tàu
cùng hành khách, dự trữ, nhiên liệu, dầu nước cho buồng máy
Với tàu chở hàng, sức chở của tàu được gọi bằng thuật ngữ chuyên ngành có xuất xứ từ tiếng Anh là Deadweight, viết tắt DWT Trong thành phần sức chở Deadweight bao gồm không chỉ hàng hoá chở trên tàu mà còn dự trữ, lương thực, thực phẩm, nước sinh hoạt, nhiên liệu , nước ngọt dùng cho máy tàu Như vậy lượng chiếm nước D bao gồm trọng lượng tàu không và Deadweight Trọng tải tàu theo nghĩa Deadweight tính bằng công thức:
DW = D – D0
Khái niệm sức chở theo nghĩa Deadweight bị nhiều người hiểu nhầm thành “trọng tải” chung chung, do vậy trong quá trình vận tải hàng đã xảy ra quá nhiều vướng mắc, tranh chấp về thuế quan, kiểm tra an toàn Cần thiết phải phân biệt khái niệm sức chở (trọng tải) theo cách nghĩ thông thường chỉ là trọng lượng hàng hoá người ta có thể chở trên tàu với sức chở
“Deadweight” nêu trên
f Tấn đăng ký: RT (registered tonnage) dùng trong ngành vận tải thủy tính bằng đơn bị
đo dung tích Đơn vị đo tính bằng 100 cu.ft, tương đương 2,832m3 được qui ước là “1 tấn đăng ký” Cần phân biệt rõ là tấn đăng ký không tính bằng trọng lượng Thuật ngữ chuyên môn gọi đây là tonnage hay viết đủ hơn là registered tonnage, mang ý nghĩa “tấn đo dung tích tàu” Sở
dĩ có sự lẫn lộn giữa tấn trọng lượng và tấn đăng ký vì trong lịch sử phát triển hàng hải đã xảy
ra việc phát âm trùng nhau từ tun dùng chỉ thùng tô nô chứa rượu vang, đã một thời làm đơn
vị vận chuyển, với từ ton (tấn) thông dụng Có thể giải thích thêm một tun (thùng) rượu vang nặng 2200 cân Anh, dung tích 252 gallon Trong khi đó một long ton của người Anh đổi ra được 2240 cân Anh
Tấn đăng ký được sử dụng chính thức và thường xuyên khi đăng ký tàu, là đơn vị chính dùng trong thống kê đội tàu, cơ sở tính thuế khi tàu qua kênh, đạâu cảng Tính dung tích tàu và xác định tấn đăng kiểm cho tàu là công việc bắt buộc trong thiết kế tàu
3.3.3.2 KÍCH THƯỚC TÀU:
a Chiều dài tàu
Trang 33Phân biệt các tên gọi liên quan đến chiều dài tàu sau:
Chiều dài toàn bộ tàu, Lt hoặc Loa, là khoảng cách đo từ điểm xa nhất trước tàu đến điểm xa nhất sau lái
Chiều dài đường nước kết cấu Lxw, đo trên đường nước thiết kế, kể từ điểm tiếp nước ở mũi tàu đến điểm tiếp nước phía sau lái
Chiều dài giữa hai trụ Lpp, là khoảng cách đo trên mặt đường nước, tính từ trụ lái đến trụ mũi Trên tàu vỏ thép trụ lái được hiểu là trục đi qua trục quay bánh lái, còn trụ mũi đi qua điểm cắt nhau của đường nước thiết kế với mép ngoài trên mũi tàu Với các tàu có vách đuôi nằm nghiêng so với mặt cơ bản qua đáy (vách T), trụ lái nhận đi qua đường cắt của vách nghiêng với đường nước thiết kế, tính trên mặt cắt dọc giữa tàu
b Chiều rộng tàu
Chiều rộng tàu lớn nhất Bmax, là khoảng cách lớn nhất đo tại mặt cắt ngang tại khu vực rộng nhất của tàu, tính từ điểm xa nhất bên mạn trái đến điểm xa nhất bên mạn phải của tàu Chiều rộng B, thuật ngữ chuyên ngành bằng tiếng Anh viết đầy đủ hơn là Breadth moulded, là khoảng cách đo từ mạn trái đến mạn phải tàu, tại mặt cắt ngang tàu đi qua mặt rộng nhất của tàu Với tàu có mặt cắt hình U hoặc V, vị trí đo nằm tại mép boong Với tàu dạng ω chiều rộng tàu đo tại vị trí rộng nhất của mặt cắt
c Chiều cao tàu
Chiều cao tàu, ký hiệu bằng D hoặc H, là khoảng cách đo theo chiều thẳng đứng, tính từ mép trong của tấm ki chính đến mép trên của xà ngang boong mạn khô Với tàu nhiều boong, boong mạn khô được hiểu là boong có kết cấu kín nước, có hệ thống đậy kín các lỗ khoét trên boong và các lỗ khoét bên mạn, nằm ở vị trí cao nhất
Trang 34d Mớn nước
Mớn nước tàu ký hiệu bằng d hoặc T, đo trên trục thẳng đứng, tính từ đường cơ bản qua đáy tàu, đến đường nước thiết kế Với tàu đáy bằng mớn nước tiêu chuẩn đo tại giữa tàu Phân biệt các tên gọi thường dùng sau
Mớn nước d (chiều chìm), thuật ngữ chuyên ngành trong tiếng Anh gọi là draught moulded (tiếng Mỹ: draft molded) đo từ đường cơ bản Chiều cao đo từ mép dưới sống chính gọi là keel draft, còn mớn nước trung bình dm là giá trị trung bình cộng của mớn nước đo tại trụ lái và mớn nước đo tại trụ mũi
Mớn nước lái đo tại trụ lái, tính cả chiều nghiêng của sống chính, nếu có
Mớn nước mũi đo tại trụ mũi, tính cả độ nghiêng của sống chính
e Mạn khô
Chiều cao mạn khô tàu là hiệu số giữa chiều cao và mớn nước tàu:
Fb = D – d hoặc H – T
Trang 35Tỷ lệ các kích thước chính
Tàu khách đi biển cỡ lớn 7 - 10 2,3 - 3,1 1,36 - 1,7 12 - 15
Tàu khách đi biển 6,5 - 7,5 2,6 - 3,2 1,35 - 1,45 10 - 14
Tàu khách đi biển cỡ lớn 7,20 - 8,0 2,4 - 2,6 1,30 - 1,50 12 - 14
Tàu khách đi biển cỡ vừa 6,5 - 7,5 2,3 - 2,5 1,30 - 1,5 10 - 14
Tàu khách đi biển cỡ nhỏ 6,0 - 7,0 2,2 - 2,4 1,2 - 1,4 10 - 14
Tàu hàng rời 6,2 - 7,0 2,3 - 2,80 1,7 - 2,0 9 - 11
Tàu dầu cỡ trung 6,6 - 7,5 2,3 - 2,5 1,20 - 1,31 12,5 - 14,0
Tàu kéo đi biển 3 - 4 2,4 - 3,0 1,20 - 1,40 6 - 8
3.3.3.3 THÔNG SỐ ĐỘNG LỰC HỌC TÀU:
a Khái niệm về ổn định tàu:
Ổn định được hiểu theo nghĩa chung là khả năng của tàu chống lại các tác động của ngoại lực đã đẩy tàu ra khỏi vị trí cân bằng ban đầu để đưa tàu trở lại vị trí cân bằng này, khi tác động ngoại lực không còn nữa
Ổn định tàu xét trong những hoàn cảnh cụ thể Dưới tác động tĩnh của ngoại lực tàu phản ứng trong khuôn khổ của ổn định tĩnh Ngược lại tính ổn định tàu được xét trong điều kiện mômen ngoại lực tác động lên tàu dưới dạng động sẽ được gọi là ổn định động Tác động tĩnh của ngoại lực xảy ra với tốc độ tăng chậm Số đo của ổn định là giá trị mômen phục hồi xuất hiện khi nghiêng tàu Mômen phục hồi chống lại mômen gây nghiêng tàu, và khi mômen nghiêng không còn tác động mômen phục hồi đưa tàu về vị trí cân bằng ban đầu Điều này phụ thuộc vào độ lớn của mômen phục hồi so với mômen nghiêng Tác động của mômen ngoại lực thể hiện ở tốc độ tăng trưởng nhanh của nó Số đo ổn định động là công sinh ra để thắng công ngoại lực và đưa tàu đã bị nghiêng đến góc khá lớn quay trở về vị trí cân bằng ban đầu lúc ngoại lực không còn tác động
Phụ thuộc vào hướng nghiêng tàu khi bị ngoại lực tác động có thể phân biệt hai trường hợp khác của tính ổn định là ổn định ngang khi xét ổn định trong trạng thái nghiêng ngang và ổn định dọc cho trường hợp tàu bị nghiêng dọc
Trang 36Hình a, mômen ngẫu lực cố gắng xoay tàu về bên phải, chống lại hướng nghiêng hiện tại của tàu Trường hợp này mômen ngẫu lực có thể đưa tàu lại vị trí cân bằng ban đầu khi mômen ngoại lực thôi tác động Có thể trông đợi ở đây tàu có tính ổn định
Hình b, miêu tả bức tranh ngược lại, mômen ngẫu lực với hướng xoay như chỉ rõ trên hình làm cho tàu ngày càng nghiêng nhiều hơn Trường hợp sau có thể coi không ổn định
tàu thủy, tạo ra lực đẩy tàu chống lại các lực cản để tàu chuyển động và phục vụ các hoạt động khác của tàu theo thiết kế
động của tàu, ảnh hưởng đến tính năng khai thác và kinh tế trong vận tải
4.3.2 Nh÷ng tÝnh chÊt c¬ b¶n cđa tµu thuyỊn
Trang 37- Trọng lực bản thân của tàu : Ký hiệu P có điểm đặt lực tại trọng tâm của con tàu, chiều h-ớng xuống
- Lực nổi (Lực đẩy của n-ớc lên thân tàu) : Ký hiệu D là lực đẩy của phần n-ớc bị con tàu chiếm chỗ Điểm đặt lực tại tâm nổi C (trọng tâm của phần thân tàu bị chìm), chiều h-ớng lên
Khi tàu nổi ổn định thì lực nổi D cân bằng với trọng l-ợng P của tàu Lúc đó, D và P tác dụng trên cùng ph-ơng thẳng đứng có giá trị bằng nhau
b) Tính ổn định ( Thế vững)
Thế vững là khả năng của tàu có thể tự trở về vị trí cân bằng khi bị nghiêng do tác dụng của ngoại lực (do sóng hoặc gió tác động)
Thế vững của tàu đ-ợc xác định nhờ vị trị trọng tâm G, vị trí đặt lực nổi C và khuynh tâm
M (M là giao điểm giữa mặt phẳng trục dọc của tàu và đ-ờng thẳng vuông góc với mặt n-ớc đi qua tâm nổi C )
Tuỳ theo vị trí của 3 điểm : G, C, M mà chia làm 3 trạng thái thế vững : Tốt, trung hoà và kém
+ Thế vững tốt:
Thế vững tốt là khi M ở phía trên của G Giả sử d-ới tác dụng của ngoại lực từ mạn trái làm thân tàu nghiêng sang mạn phải một góc Khi đó, tâm C cũng dịch chuyển đến vị trí mới C’ Tâm G vẫn ở vị trí ban đầu Khi đó hai lực P và D cùng ph-ơng, ng-ợc chiều nh-ng không cùng nằm trên một đ-ờng thẳng Hai lực này tạo thành ngẫu lực: M = P x lsin (l là khoảng cách giữa
G và C’ ) Mô men này ng-ợc với chiều mômen gây nghiêng tàu làm cho tàu trở về vị trí cân bằng
Trang 38+ Thế vững trung hoà:
Khi tâm M trùng với tâm G, ngoại lực tác dụng
làm nghiêng tàu nh-ng G và C’ luôn nằm trên đ-ờng
thẳng vuôn góc với mặt n-ớc Hay hai lực D và P nằm
trên một đ-ờng thẳng nên không sinh ra mômen để đ-a
tàu trở lại vị trí cân bằng Khi ngoại lực thôi tác dụng,
tàu vẫn giữ nguyên vị trí nghiêng
+ Thế vững kém:
Khi tâm M nằm d-ới tâm G, d-ới tác động của ngoại lực làm nghiêng tàu, Lực D và P không cùng nằm trên một đ-ờng thẳng, tạo thành ngẫu lực và sinh ra mômen quay M Mômen này lại có chiều cùng chiều nghiêng của tàu làm tàu nghiêng hơn, nếu v-ợt quá góc độ cho phép tàu có thể bị lật
Nếu trọng tâm G càng thấp ( xếp hàng đầy), khoảng cách GM càng lớn, thế vững của tàu tăng nh-ng thân tàu lắc mạnh và nhanh làm cho hành khách và thuyền viên cảm thấy khó chịu, máy móc và các thiết bị chịu ảnh h-ởng Nếu trọng tâm G càng cao, khoảng cách GM càng nhỏ, thế vững của tàu càng kém, tàu lắc nhẹ và chậm, hành khách và thuyền viên có thể dễ chịu hơn, tuy nhiên nếu khoảng cách GM nhỏ quá làm cho thế vững của tàu không đảm bảo, gặp sóng, gió
Trang 39- Tính ổn định trên h-ớng đi là khả năng tàu giữ đ-ợc h-ớng chuyển động thẳng định tr-ớc không cần dùng bánh lái hoặc dùng bánh lái rất ít không phụ thuộc n-ớc sau hay nông, sóng gió mạnh hay yếu
Nếu tính ổn định h-ớng đi kém, tàu sẽ bị lệch khỏi h-ớng đi định tr-ớc và khó duy trì đ-ợc h-ớng
đi thẳng, sẽ phải bẻ lái nhiều lần làm tăng sức cản, giảm tốc độ và tăng tiêu hao nhiên liệu
- Tính quay trở là khả năng chuyển h-ớng linh hoạt nhanh chóng, bán kinh quay trở nhỏ khi bẻ lái một góc nào đó (vào cảng, luồng hẹp, vùng nghuy hiểm)
Tính điều khiển của tàu phụ thuộc hình dáng thân tàu và hệ thống lái Bánh lái càng xa trọng tâm, khả năng quay trở càng tốt
d) Tính tốc độ (Tính chạy nhanh)
Tính tốc độ là tính năng của tàu khi chạy ở một tốc độ nào đó, máy phát ra một công suất nhỏ nhất để thắng lực cản của n-ớc và không khí Muốn làm tăng tính chạy nhanh của tàu ng-ời
ta tìm cách làm giảm sức cản của n-ớc và không khí cho tàu
Sức cản của n-ớc liên quan đến hình dáng vỏ tàu, phụ thuộc kích th-ớc dài, rộng của tàu và hình dáng của vỏ tàu và phần th-ợng tầng thấp
e) Tính lắc (Tính chòng chành, tính êm dịu vận hành)
Tính lắc là sự dao động của thân tàu quanh một trục
Những dao động của tàu la sự kết hợp của 3 dạng lắc: Lắc ngang, lắc dọc và lắc đứng
- Lắc ngang: Là sự dao động quanh trục dọc, biên độ là góc nghiêng ngang
- Lắc dọc: Là dao động quanh trục ngang, biên độ là góc nghiêng dọc
- Lắc đứng: Dao động làm tàu luôn biến thiên mớn n-ớc, biên độ là sự thay đổi mớn n-ớc
Lắc là hiện t-ợng không có lợi Nó làm tăng sức cản giảm tốc độ của tàu, tốn nhiên liệu, gây ứng lực ảnh h-ởng kết cấu, gây khó chịu cho con ng-ời, gây nguy cơ lật tàu
Trang 40Giảm lắc bằng cách gắn thêm long cốt ở ngoài, gắn thêm vây cá hai bên mạn tàu, xếp hàng cân bằng và giảm thấp trọng tâm
f) Tính chống chìm
Là khả năng của tàu khi bị ngập n-ớc một vài khoang mà vẫn nổi và vẫn đi lại đ-ợc
Đặc tính này rất quan trọng đối với tàu có nhiều thuyền viên, tàu chở khách, tàu quân sự
Tăng tính chống chìm bằng cách chế tạo 2 lớp đáy, làm nhiều bánh ngăn kín n-ớc ngang dọc, chia tàu thành nhiều khoang kín n-ớc
g) Tính bền
Là khả năng thân tàu và các chi tiết cua nó chịu đ-ợc nội lực, ngoại lực mà không có sự biến dạng phải chế tạo đế tàu có sự bền tốt, cấu trúc thân tàu vững chắc
3.3.4 KẾT CẤU VÀ THIẾT BỊ TÀU THỦY:
3.3.4.1 Kết cấu chung tàu thủy
Thân tàu là một cấu trúc kín n-ớc, trong đó đặt các máy móc, thiết bị, vật phẩm dự trữ, hàng hoá
Thân tàu bao gồm những bộ phận chủ yếu sau : Khung thân tàu, vỏ tàu, vách ngăn