DUNG: * Ý chí chiến đấu kiên cường, lập chiến công lừng lẫy, đuối giặc ra khỏi bờ cõi Chiến thắng rực rỡ trong đời Trần:.. Chương Dương cướp giáo giặc.[r]
Trang 1Trường Đại học Sài Gòn Khoa Sư phạm Khoa học Xã hội
MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN
HỌC VÀ VĂN HÓA GIAI ĐOẠN
THẾ KỈ X-XV
Trang 2NHÓM THỰC HIỆN:
1/ Bùi Thị Mỹ Thương
2/ Nguyễn Thị Nhung
3/ Trần Thị Yến
4/ Nguyễn Hoàng Dung
5/ Quản Văn Công
6/ Lại Thị Hà
7/ Nguyễn Thị Anh Đào
8/ Trần Thị Phương Thảo 9/ Huỳnh Thị Phương Thảo
Trang 3I KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIAI ĐOẠN TK X - XV
1 TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO
2 GIÁO DỤC
3 NGHỆ THUẬT
II KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM GIAI ĐOẠN TK X - XV
1 BỐI CẢNH LỊCH SƯ
2 NỘI DUNG
3 NGHỆ THUẬT
III MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA GIAI ĐOẠN THẾ KỈ X – XV
1 BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ
1.1 Văn hóa điển tích, điển cố
1.2 Văn hóa địa danh
1.3 Chí nam nhi
1.4 Văn hóa đoàn kết
1.5 Văn hiến
2 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
2.1 Văn hóa tự cường, tự chủ
3.1Văn hóa nghệ thuật dân gian
3.2 Văn hóa ngâm thơ
3.3 Văn hóa điển tích, điển cố
3.4 Văn hóa xuất - xử
3.5 Văn hóa Phật giáo
4 HỊCH TƯỚNG SĨ
4.1 Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa.
4.2 Điển cố, điển tích.
4.3 Văn hóa ứng xử.
4.4 Tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc.
IV KẾT LUẬN
Trang 4I KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIAI ĐOẠN TK X - XV
1 TƯ TƯỞNG, TÔN GIÁO
* Nho giáo
Thời Lý, Trần, Nho giáo dần dần trở thành hệ tư tưởng chính thống của giai cấp thống trị, chi phối nội dung giáo dục thi cử song không phổ biến trong nhân dân.
Trang 5I KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIAI ĐOẠN TK X - XV
2 GIÁO DỤC
Khuê Văn Các - Kiến trúc tiêu biểu của
Văn Miếu - Quốc Tử Giám
Trang 6I KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIAI ĐOẠN TK X - XV
Trang 7I KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIAI ĐOẠN TK X - XV
nhất Việt Nam.
Trang 8I KHÁI QUÁT ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA GIAI ĐOẠN TK X - XV
3 NGHỆ THUẬT
Tháp Phổ Minh,cạnh
Đền Trần
Thành Nhà Hồ ( hay còn gọi là thành Tây Đô, thành Tây Giai) thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, ở phía Tây thành phố
Thanh Hóa.
Trang 9II KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ X – XV
1 BỐI CẢNH LỊCH SƯ
CHIẾN THẮNG BẠCH ĐẰNG (938)
Trang 10Dân tộc vừa giành được độc lập -> Xã hội đang bước vào giai đoạn phát triển.
VĂN HỌC
Chữ Hán Chữ Nôm
Trang 112 NỘI
DUNG:
Yêu nước là thương
dân, vì dân diệt bạo
Yêu nước là xây dựng đất nước hoà bình Mong ước giang san bền vững
Tinh thần yêu nước
Trang 122 NỘI DUNG:
* Yêu nước là thương dân, vì dân diệt bạo
“Ta thường tới bữa quên
ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể
xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”.
=> lòng căm thù giặc sâu sắc
Trang 132 NỘI
DUNG: * Yêu nước là thương dân, vì dân diệt bạo
“Ngẫm thù lớn há đội trời chung;
Căm giặc nước thề không cùng sống.
Để vì dân mà diệt bạo:
Việc nhân nghĩa cốt ở yến dân;
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.
(Bình Ngô đại cáo)
Trang 142 NỘI
binh Mong ước giang san bền vững muôn đời:
“Thái bình nên gắng sức, Non nước ấy nghìn thu.”
(Phò giá về kinh)
Trang 152 NỘI
binh Mong ước giang san bền vững muôn đời:
“Giặc tan muôn thuở thanh bình Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.”
Trang 162 NỘI
quật khởi chống xâm lược Thể hiện
qua lời cảnh cáo bọn giặc cướp nước:
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.
(Sông núi nước Nam)
Múa giáo non sống trải mấy thu
Ba quân khí mạnh át sao Ngưu.
(Tỏ lòng)
Trang 172 NỘI
DUNG: * Ý chí chiến đấu kiên cường, lập chiến
công lừng lẫy, đuối giặc ra khỏi bờ cõi Chiến thắng rực rỡ trong đời Trần:
Chương Dương cướp giáo giặc.
Hàm Tử bắt quân Hồ.
(Phò giá về Kinh) Thuyền bè muôn đội Tinh kì phấp phới.
Tì hổ ba quân Giáo gươm sáng chói.
(Phú sông Bạch Đằng)
khí thế oai hùng
Trang 182 NỘI
công lừng lẫy, đuối giặc ra khỏi bờ cõi Chiến thắng rực rỡ trong đời Trần:
Gươm mài đá, đá núi cũng mòn;
Voi uống nước, nước sông phải cạn.
Tiến công giặc như vũ bão, chiến thắng oanh liệt: Đánh một trận sạch không kình ngạc;
Đánh hai trận tan tác chim muông.
Nổi gió to quét sạch lá khô Thông tổ kiến phá toang đê vờ.
(Bình Ngô đại cáo)
Trang 21II MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA GIAI ĐOẠN THẾ KỈ X – XV
1 BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ
1 1 Văn hóa điển tích, điển cố
“Khách có kẻ:
Giương buồm giong gió chơi vơi
Lướt bể chơi trăng mải miết
Sớm gõ thuyền chừ Nguyên Tương
Chiều lần thăm chừ Vũ Huyệt”
Cửu Giang, Ngũ Hổ
Tam ngô, Bách Việt
Nơi có người đi
→ là người đi nhiều, hiểu nhiều
Trang 221 BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ
1 2 Địa danh
“Bèn giữa dòng chừ buông chèo
Học Tử Trường chừ thú tiêu diêu
Qua cửa Ðại Than
Ngược bến Ðông Triều
Trang 231 BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ
1 3 Chí nam nhi
“Nơi có người đi
Ðâu mà chẳng biết
Ðầm Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều
Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha thiết”.
Con người của những hoài bão lớn
Trang 24Đương khi ấy:
Thuyền tàu muôn đội,
Tinh kì phấp phới
Hùng hổ sáu quân,
Giáo gươm sáng chói.
Trận đánh được thua chửa phân,
Chiến luỹ bắc nam chống đối
Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ,
Bầu trời đất chừ sắp đổi
Tự hào, tôn vinh ở lời ca của “bô lão” đồng thời nhấn mạnh đến vai trò của con người trong chiến công x a, cũng
là chân lí thấm đẫm tinh thần nhân văn cho muôn đời.
Trang 251 BẠCH ĐẰNG GIANG PHÚ
1 5 Văn hiến
Từ có vũ trụ,
Đã có giang san.
Quả là: trời đất cho nơi hiểm trở,
Cũng nhờ: nhân tài giữ cuộc điện an!
Anh minh hai vị thánh quân,
Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh.
Giặc tan muôn thuở thăng bình.
Bởi đâu đất hiểm cốt mình đức cao.
Ca ngợi chiến tích của sông Bạch Đằng, đồng thời khẳng định chân lý: Nhân kiệt là yếu tố quyết định thắng lợi, thể hiện niềm tự hào dân tộc và tư tưởng nhân văn cao
đẹp
Trang 262 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
1 1 Văn hóa tự cường tự chủ
“ Như nước Đại Việt ta từ trước,
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác ;
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần; bao đời xây nền độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên;
Mỗi bên hùng cứ một phương;
Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau,
Song hào kiệt thời nào cũng có.”
Bình Ngô đại cáo chính là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của dân tộc
Trang 272 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
1 2 Văn hóa làng nghề
Tan tác cả nghề canh cửi.
Nghề canh cửi là nghề dệt vải, lụa theo lối thủ công.
-> chứa đựng những nét văn hóa thuần Việt với không gian văn hóa nông nghiệp: Cây đa, giếng nước, sân đình, với những câu hát dân gian, cánh cò trắng, lũy tre xanh
Trang 282 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
1 3 Văn hóa ứng xử
1.3.1 Văn hóa ứng xử đối với nhân dân
“Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”
Vấn đề cốt lõi đó của tư tưởng nhân nghĩa được thể hiện ở cả hai mặt thống nhất : quan tâm đến sự yên ổn, no ấm cho dân cũng đồng nghĩa với việc phải chiến đấu đánh đuổi kẻ thù của nhân dân, diệt trừ những kẻ tham tàn bạo ngược
Trang 292 BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO
1 3 Văn hóa ứng xử
1.3.1 Văn hóa ứng xử đối với giặc ngoại xâm ( văn hóa hòa hiếu )
"Đem đại nghĩa thắng hung tàn
Lấy chí nhân thay cường bạo”
Nhân nghĩa còn là tinh thần yêu chuộng hoà bình, công lý, tình nhân loại , là sự hiếu sinh, hiếu hoà, sự độ lượng bao dung thể hiện tinh thần nhân đạo cao cả của dân tộc ta, đã mở đường hiếu sinh cho kẻ thù khi chúng đã bị bại vong
Trang 303 CÔN SƠN CA
3.1 Văn hóa nghệ thuật dân gian
Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.
Côn Sơn có đá rêu phơi,
Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm"
Trang 313 CÔN SƠN CA
3.2 Văn hóa ngâm thơ
"Trong ghềnh thông mọc như nêm,
Tìm nơi bóng mát ta lên ta năm.
Trong rừng có bóng trúc râm,
Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn "
Trang 323 CÔN SƠN CA
3.3 Văn hóa điển tích, điển cố
“ Sao, Do bằng có tái sinh, Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn”.
Sao Phủ và Hứa Do - hai cao sĩ đời vua Nghiêu trong lịch sử truyền kì Trung Quốc không màng công danh, chỉ thích sống cuộc đời ẩn sĩ, coi trọng
thanh cao, chan hòa với núi cao rừng thẳm.
Nguyễn Trãi một mặt cảm thông, kính trọng tấm
gương sáng của hai người hiền xa xưa, mặt khác
tự hào biểu lộ niềm tự hào về tâm thế của mình.
Trang 333 CÔN SƠN CA
3.3 Văn hóa xuất - xử
"Về đi sao chẳng sớm toan, Nửa đời vướng bụi trần hoàn làm chi.
Muôn chung chín vạc làm gì, Cơm rau nước lã nên tuỳ phận thôi.
Đồng, Nguyên để tiếng trên đời,
Hồ tiêu ăm ắp, vàng mười chứa chan.
Lại kia trên núi Thú San,
Di, Tề nhịn đói chẳng màng thóc Chu.
Hai đàng khó sánh hiền ngu, Đêu làm cho thoả được như ý mình"
Tâm trạng thời thế cuả Nguyễn Trãi
(Nguyễn Trãi đã mang nặng hoài bão nhập thế giúp đời, thế
nhưng ông sống những tháng ngày bi kịch dưới bọn nịnh thần Ông muốn trở về với cuộc sống ẩn mình cùng thiên nhiên)
Trang 343 CÔN SƠN CA
3.3 Văn hóa xuất - xử
Xoay đời, trời sáng sinh vua giỏi, Gặp bạn, hùm thiêng nổi gió tài
(Đề gươm)
Nguyễn Trãi đã mang nặng hoài
bão nhập thế giúp đời
Trang 353 CÔN SƠN CA
3.4 Văn hóa xuất-xử
“Ngán vòng thế tục thân danh hão,
Quẳng cái phù sinh giấc mộng hờ
Tính khí một đời nguyên nếp cũ,
Lênh đênh há giảm chí hào xưa! ”
(Đêm đậu thuyền ở cửa Lâm)
Nguyễn Trãi đã nhiều lần khẳng định mình sau khi ông đã giải
quyết xong bài toán xuất – xử:
Trang 363 CÔN SƠN CA
3.5 Văn hóa Phật giáo
“ Trăm năm trong cuộc nhân sinh,
Người như cây cỏ thân hình nát tan.
Hết ưu lạc đến bi hoan,
Tốt tươi khô héo tuần hoàn đổi thay,
Núi gò đài các đó đây,
Chết rồi ai biết đâu ngày nhục vinh.
Sào, Do bằng có tái sinh,
Hãy nghe khúc hát bên ghềnh Côn Sơn”
-> Quan niệm sống của một người
có cốt cách văn hóa giao thoa giữa Nho- Phật- Đạo
Trang 374 HỊCH TƯỚNG SĨ
4.1 Chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung
Hoa.“Ta thường nghe: Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu
thoát cho Cao Đế; Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương; Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung; Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc…”
Những danh tướng Trung Hoa mãi vẫn còn lưu tiếng tốt về sau bởi tinh thần hi sinh vì chủ, vì nước của
họ Ngoài ra còn có nét văn hóa khác như: nhạc thái thường, trò chọi gà…
Trang 384 HỊCH TƯỚNG SĨ
4.2 Điển cố, điển tích
Nghìn thây ta bọc trong da ngựa : Bậc đại trượng phu
nên chết ở giữa chiến trường, lấy da ngựa mà bọc thây
Đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ: Ôm mồi lửa, đặt dưới đống củi rồi nằm lên trên, lửa chưa kịp cháy vẫn cho là yên
Kiềng canh nóng mà thổi rau nguội: Người bị bỏng vì canh nóng, trong lòng đã e sợ sẵn, dù gặp rau nguội đi nữa, cũng vẫn thổi như thường
Mãi mãi vững bền: Chỉ những của cải được lưu truyền
từ đời này sang đời khác
Trang 394 HỊCH TƯỚNG SĨ
4.2 Văn hóa ứng xử
Toàn bài Hịch Trần Quốc Tuấn sử dụng ngôi xưng ta và các ngươi để phân biệt giữa chủ và tướng, giữa bề trên và bề dưới
Thông qua ngôi xưng, Trần Quốc Tuấn chỉ ra cho
tì tướng thấy nhiệm vụ, cách ứng xử của một bề tôi đối với đất nước khi đát nước đang loạn lạc.
Trang 404 HỊCH TƯỚNG SĨ
4.2 Tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc.
“Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể
xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm.” “ Nay ta
cùng các ngươi sinh ra vào thời loạn lạc, lớn lên gặp buổi gian nan…” “Chẳng những ta… mà các ngươi….”
Tinh thần vì dân vì nước của người chủ tướng
Trang 41IV KẾT LUẬN
Văn học và văn hóa có mối gắn kết, hòa quyện nhau trong tiến trình phát triển của nhân loại nói chung và giai đoạn văn học TK X - XV nó riêng
Văn học luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các lĩnh vực khác nhau của văn hoá