1. Trang chủ
  2. » Đề thi

bai ca ngat nguong

31 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 6,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngất ngưởng khi về hưu Đô môn giải tổ chi niên Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng Kìa núi nọ phau phau mây trắng Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì Bụt cũng[r]

Trang 2

- Biệt hiệu: Hi Văn

- Quê: Nghi Xuân-Hà Tĩnh

- Xuất thân trong gia đình Nho học

- Năm 42 tuổi ông mới đỗ giải nguyên

và được bổ dụng làm quan Ông gách

vác nhiều trọng trách lớn, văn võ

toàn tài nhưng trong 30 năm làm

quan ông gặp nhiều thăng trầm trên

con đường hoạn lộ

Trang 3

- Ông ôm hoài bão lí tưởng lập

công danh, giúp đời:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông”

(Đi thi tự vịnh)

“Trong cuộc trần ai ai dễ biết

Rồi ra mới rõ mặt anh hùng”

(Chí nam nhi) Đền thờ Nguyễn Công Trứ

Trang 4

NGUYỄN CÔNG TRỨ LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN KHAI HOANG LẬP LÊN HUYỆN TIỀN HẢI , KIM SƠN

Trang 5

NGUYỄN CÔNG TRỨ DẸP LOẠN KHỞI NGHĨA PHAN BÁ VÀNH, NÔNG VĂN VÂN, GIẶC KHÁCH

Trang 6

ĐỀN THỜ NGUYỄN CÔNG TRỨ Ở HUYỆN KIM

SƠN, NINH BÌNH

Trang 9

-Ca trù là một thể loại dân ca dân nhạc, do đào nương, kép hát (chơi đàn

đáy), người cầm trịch đánh trống chầu biểu diễn Đào nương vừa hát vừa gõ nhịp Bài hát mà đào nương ca lên gọi là bài thơ hát nói, đó là một thể thơ dân tộc.

- Bài thơ hát nói gồm có 3 khổ; khổ đầu có 4 câu; khổ giữa có 4 câu; khổ xếp chỉ có 3 câu; câu cuối chỉ có 6 tiếng gọi là câu keo Thi pháp quy định chặt chẽ như thế.

Trường hợp ngoại lệ:

- Bài thơ hát nói thiếu khổ: khổ giữa

- Bài thơ hát nói dôi khổ: kề tiếp sau khổ giữa

- Bài thơ hát nói có mưỡu đầu hoặc mưỡu hậu; đó là hai hoặc bốn câu thơ lục bát nằm vào đầu hoặc cuối bài thơ.

- "Bài ca ngất ngưởng" của Nguyễn Công Trứ có hai khổ dôi; câu keo là thế này: "Đời ai ngất ngưởng như ông?" Không hiểu vì lí do gì mà văn bản

trong sách "Ngữ Văn 11 nâng cao" lại có đến 7 tiếng (chữ): "Trong triều ai ngất ngưởng như ông?".

- Câu thơ hát nói rất biến hoá, có thể 5 chữ, 7 chữ, 8, 9 chữ… đan xen vào nhau Cách ngắt nhịp, cách gieo vần (cả vần bằng lẫn vần trắc, cả vần chân lẫn vần lưng) tạo nên nhịp điệu, vần điệu du dương, uyển chuyển, hấp dẫn.

- Bài thơ hát nói viết bằng chữ Nôm, có bài được đan xen vào một hai câu

chữ Hán cho thêm phần cổ kính, ý vị.

Trang 10

- Hoàn cảnh sáng tác: Tác giả đã cáo quan về hưu.

- Ý nghĩa: Bài ca có tính chất như một bài tổng kết

cuộc đời và bày tỏ thái độ sống của Nguyễn Công Trứ.

Trang 11

I ĐỌC VÀ TÌM HIỂU CHUNG

II TÌM HIỂU VĂN BẢN

Ngoài nhan đề, từ “ngất ngưởng” được NCT sử dụng

mấy lần? Mỗi từ “ngất ngưởng” gắn liền với

quãng đời nào của ông?

Trang 12

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc Bình Tây cờ Đại tướng

Có khi về Phủ Doãn Thừa Thiên

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông

Ngất ngưởng khi tự

đánh giá tổng kết cuộc đời

Ngất ngưởng khi

làm quan

Ngất ngưởng khi

làm quan

Trang 13

1 Bố cục: 3 đoạn

2 Ý nghĩa của từ “ngất ngưởng”

: ngồi cao hơn so với bình thường, không vững chắc, ngả nghiêng chực đổ mà không đổ (Nghĩa đen).

: khác người, thoải mái, tự do phóng

túng, không theo khuôn khổ (Nghĩa bóng).

Em hiểu như thế nào về hai từ “ngất ngưởng”?

Trang 14

3 Phân tích

a Ngất ngưởng khi làm quan

“Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”

Trang 15

Vũ trụ nội mạc phi phận sự

Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

Trong trời đất không việc

nào không phải phận sự của ta,

ông Hi Văn tài giỏi đã vào lồng

Trong trời đất không việc

nào không phải phận sự của ta,

ông Hi Văn tài giỏi đã vào lồng

Vào lồng: nhốt mình vào vòng trói buộc của

xã hội phong kiến

Vào lồng: nhốt mình vào vòng trói buộc của

xã hội phong kiến

Trang 16

Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”

Liệt kê, điệp ngữ, giọng điệu tự hào, ngạo nghễ Liệt kê, điệp ngữ, giọng điệu tự hào, ngạo nghễ

Khi Thủ khoa , khi Tham tán , khi Tổng đốc Đông Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

Lúc bình Tây, cờ đại tướng

Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên ”

Trang 17

Đi thi:

Làm quan

Tổng đốc Đại tướng Phủ doãn

Khoe tài năng, danh vị hơn người (văn võ song toàn)

=> Khẳng định tài năng, bản lĩnh, vinh hiển hơn

người

Tham tán Thủ khoa

Trang 18

-> liệt kê, điệp ngữ, giọng điệu tự hào ngạo nghễ

=> tự tôn, khẳng định tài năng, bản lĩnh, vinh hiển hơn người

Trang 19

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Kìa núi nọ phau phau mây trắng

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Được mất dương dương người thái thượng Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

b Ngất ngưởng khi về hưu

Trang 20

Đô môn giải tổ chi niên

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng Kìa núi nọ phau phau mây trắng Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng

Trang 21

Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

Trang 22

Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì

một đôi dì

Là người quen kiếm cung nay

lại vào chùa vãn cảnh

Là người quen kiếm cung nay

lại vào chùa vãn cảnh

Vào chùa vãn cảnh lại mang

Trang 23

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

Giọng thơ tự trào, hóm hỉnh

Giọng thơ tự trào, hóm hỉnh

Chuyện "khen, chê" của thiên hạ, bỏ

ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua

Chuyện "khen, chê" của thiên hạ, bỏ

ngoài tai, như ngọn gió đông (xuân) phơi phới thổi qua

Trang 24

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

Không Phật, không tiên, không vướng tục

Điệp ngữ, liệt kê, nhịp thơ

làm thảo dân không vướng

tục, không quan tâm đến

việc được mất, không bận

lòng đến sự khen chê ở đời.

Phong thái ung dung, bản

lĩnh của một vị quan trở về

làm thảo dân không vướng

tục, không quan tâm đến

việc được mất, không bận

lòng đến sự khen chê ở đời.

Trang 25

b Ngất ngưởng khi về hưu

Trang 26

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

c Ngất ngưởng khi tổng kết cuộc đời

Trang 27

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

Tổng kết cuộc đời mình,

Nguyễn Công Trứ tự cho

rằng hai điều quan trọng

nhất đối với kẻ nam nhi là

trách nhiệm “kinh bang tế

thế” và đạo nghĩa vua tôi

Ong đã giữ được trọn vẹn,

đã thực hiện một cách xuất

sắc, sánh được với những

danh tướng đời Hán, Tống

thời xưa như Trái, Nhạc,

Hàn, Phú.

Tổng kết cuộc đời mình,

Nguyễn Công Trứ tự cho

rằng hai điều quan trọng

nhất đối với kẻ nam nhi là

trách nhiệm “kinh bang tế

thế” và đạo nghĩa vua tôi

Ong đã giữ được trọn vẹn,

đã thực hiện một cách xuất

sắc, sánh được với những

danh tướng đời Hán, Tống

thời xưa như Trái, Nhạc,

Hàn, Phú.

Trang 28

- Nhà thơ tự coi mình là duy nhất, không ai sánh được về cốt cách, đồng thời là sự ý thức về giá trị của cá nhân đối lập với các nho sĩ đương thời, dám vượt ra khỏi vòng cương tỏa của nho giaó.

Có thể xem câu kết là một tuyên ngôn về cá tính không?

Có thể xem câu kết là một tuyên ngôn về cá tính không?

- Tự khẳng định con người cá nhân trong một xã hội thủ tiêu con người cá nhân-> đó phải là con người có bản lĩnh, có cá tính riêng mạnh mẽ

- Một cái tôi tự do, ngạo đời nhưng tấm lòng vẫn sau trước như một với đất nước

Trang 29

- Chẳng Trái Nhạc…

- Nghĩa vua tôi vẹn đạo…

-> so sánh => khẳng định tài năng và lòng trung với vua

- Trong triều ai ngất ngưởng như ông!

-> khẳng định cá tính tự do, phóng khoáng, vượt qua khuôn phép của lễ giáo phong kiến

3 Phân tích

c Ngất ngưởng khi tổng kết cuộc đời

Trang 30

b Nội dung

a Nghệ thuật

- Khoa trương nhưng ẩn hiện khẩu khí trào lộng.

- Sử dụng ngôn ngữ tự xưng (ông Hi Văn) thể hiện cá tính mạnh mẽ, ý thức cá nhân cao Điều này phù hợp với khuôn khổ và đặc trưng của thể hát nói.

- Bài thơ phát huy được ưu thế của thể hát nói: Bài thơ phá thể, gieo vần đúng thể loại ( câu đầu gieo vần chân, thanh trắc-“sự”; hai câu tiếp theo gieo vần chân, thanh bằng-“lồng, Đông”; hai câu tiếp theo gieo vần chân, thanh trắc- “ngưởng.tướng”…) tạo nên tính nhạc và sự nhịp nhàng cho bài thơ.

Thể hiện con người Nguyễn Công Trứ: từng làm nên sự nghiệp lớn, tâm hồn tự do phóng khoáng, bản lĩnh sống mạnh mẽ, ít nhiều có sự phá cách

về quan niệm sống, vượt qua khuôn sáo khắt khe của lễ giáo phong kiến

Trang 31

• Học và nắm vững nội dung bài

• Học thuộc lòng bài thơ

• Sưu tầm và tìm đọc một số bài thơ của Nguyễn Công Trứ

• Chuẩn bị bài mới: “Bài ca ngắn đi trên cát”

Ngày đăng: 06/11/2021, 04:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w