Giới thiệu – kết cấuDựa theo hệ tư tưởng tác giả: Tài năng, danh vị xã hội 6 câu đầu Phong cách sống khác đời 12 câu kế Khẳng định mình câu kết... Cảm hứng chủ đạo của bài thơBiểu
Trang 1Bài ca ngất ngưởng
Nguyễn Công Trứ
Trang 2Giới thiệu - hoàn cảnh sáng tác
Được viết năm 1848 (lúc Nguyễn
Công Trứ đã cáo quan)
Trang 3Giới thiệu – thể thơ
Ca trù (hát nói) – một lối thơ khá tự do
so với thơ Đường, có kết hợp thể thơ song thất lục bát và lối hát chèo
Trang 4Giới thiệu – thể thơ – bố cục
Bố cục thường có những câu lục bát ở đầu hoặc cuối bài (câu mưỡu) để nói bao quát ý toàn bài
Một bài đầy đủ thường có 11 câu (không kể những câu lục bát)
Trang 5Giới thiệu – thể thơ - ngôn ngử
Phần cố định bắt buộc về số tiếng: khổ
giữa (ngũ ngôn hoặc thất ngôn); câu
mưỡu (lục bát); câu cuối (sáu tiếng)
Phần tự do: các câu còn lại, phổ biếng là
bảy, tám tiếng
Có thể xen câu đối hoặc câu thơ chữ
Hán.
Trang 6Giới thiệu – thể thơ – vần nhịp
Câu đầu vần chân, thanh trắc
Hai câu tiếp theo vần chân, thanh bằng
Hai câu tiếp nữa vần chân, thanh trắc
⇒Cứ thế luân phiên đắp đối từng cặp cho đến hết.
⇒Thể hát nói có sự hài hòa giữa phầm ngâm và phần đối.
Trang 7Giới thiệu – thể thơ
Do những đặc điểm trên, hát nói rất phù hợp với việc thể hiện những tư tưởng, tình cảm tự do, phóng túng.
Trang 8Giới thiệu – kết cấu
Dựa theo hệ tư tưởng tác giả:
Tài năng, danh vị xã hội (6 câu đầu)
Phong cách sống khác đời (12 câu kế)
Khẳng định mình (câu kết)
Trang 9Cảm hứng chủ đạo của bài thơ
Biểu hiện tập trung ở từ “ngất ngưởng”
Xuất hiện bốn lần cùng với tựa đề
Nguyễn Công Trứ thể hiện về mình qua
thái độ sống, tư thế Một con người tinh
thần vươn lên thế tục, khác đời, bất chấp
đời Đó là một kiểu người thách thức, đối
lập xung quanh, ý thức được tài năng, bản
lĩnh, phẩm chất của mình
Trang 10Vũ trụ nội mạc phi phận sự
Câu thơ chữ Hán bày tỏ quan
niệm “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”
Cũng là một cách Nguyễn Công
Trứ khẵng định bản lĩnh, tài năng
của mình
Trang 11Ông Hí Văn tài bộ đã vào lồng
• Nguyễn Công Trứ coi việc làm quan như một
trói buộc, giam hãm vào lồng Điều này nói
lên tính cách của ông.
• Ông coi việc làm quan là mất tự do vậy mà
vẫn ra làm quan : Vì ông coi việc làm quan là
một điều kiện, một phương tiện để thể hiện
hoài bão vì dân vì nước và tài năng của
mình điều quan trọng là trong một môi
trường có nhiều trói buộc, ông vẫn thực hiện
được lí tưởng xã hội của mình và vẫn giữ
được bản lĩnh, cá tính.
Tài bộ >< vào lồng
Trang 12Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng ,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
Sự ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ khi
đang làm quan
• Ngất ngưởng khi khẵng định tài năng hơn
đời
• Ngất ngưởng khi khẵng định chức vị cao
sang hơn đời, công lao hơn đời
• Lời kể thật sang, thật hồ hởi cũng là một
sự ngất ngưởng
Trang 13Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông,
Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng
Lúc bình Tây, cờ đại tướng ,
Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên.
-Nghệ thuật liệt kê, sử dụng điệp từ kết
hợp âm điệu nhịp nhàng thể hiện một
phong thái cứng cõi, đỉnh đạc
-Cách dùng nghệ thuật liệt kê và phép
điệp …có tác dụng khoe tài, vừa nhấn
mạnh các chức danh mà thơ đã trải qua
-Sử dụng nhiều tứ Hán Việt mang màu
sắc trang trọng
Trang 14Đoạn thơ là niềm tự hào của tác giả về ban thân, với một tài năng phi thường và một ý chí mạnh mẽ
Trang 15Sự ngất ngưởng khi về nghỉ hưu
Ngất ngưỡng trong lối sống khác đời:
Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng.
Khi có phận sự thì xuôi ngược hết mình, còn khi đã
về trí sĩ, “ngất ngưởng” vui sống bất chấp ai cười
Trả áo mũ cho triều đình, ông về quê không cưỡi
ngựa mà là cưỡi bò vàng đeo đạc ngựa, đó là một sự
“ngất ngưởng”, rất khác người.
Trang 16Sự ngất ngưởng khi về nghỉ hưu
Ngất ngưỡng trong sở thích khác đời
khi lên chùa vẫn Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì
Khiến cho Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng
Đi vãn cảnh chùa chiền, đi thăm cảnh đẹp : “Kìa
núi nọ phau phau mây trắng”,
ông đã mang theo “một đôi dì” (một hai nàng hầu)
Và do đó “Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”.
Trang 17Sự ngất ngưởng khi về nghỉ hưu
Ngất ngưởng ở nhân cách vượt ra
ngoài vòng cương tỏa, vượt lên thói
tục Ông coi rẻ sự được mất, sự khen
chê tầm thường
Được mất dương dương người thái thượng
Khen chê phơi phới ngọn đông phong
Trang 18Sự ngất ngưởng khi về nghỉ hưu
Ngất ngưởng ở nhân cách vượt ra
ngoài vòng cương tỏa, vượt lên thói
tục:
Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng
Không Phật, không Tiên, không vướng tục
Trang 19• Con người sống vượt ra ngoài khuôn
khổ lễ giáo phong kiến mà vẫn trước
sau trọn vẹn đạo quân thần
Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,
Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.
Trang 20Nguyễn Công Trứ là con người sống vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo phong kiến mà vẫn trước sau trọn vẹn đạo quân thần.
Trang 21Bài thơ kết thúc bằng một câu khẳng định tư
thế hiên ngang, trong phong cách khác đời,
hoàn toàn đối lập với tập đoàn phong khiến
đương thời
Trong triều ai ngất ngưởng như ông!
Trang 22 Xây dựng hình tượng phần nào có ý vị trào phúng nhưng không che khuất được phẩm chất một nhà nho chân chính “được mất dương dương”
danh lợi
cũng xác định đạo nghĩa của chính mình
“nghĩa vua tôi”
Trang 23Nghệ thuật toàn bài
=> bộc lộ lối sống ngất ngưởng của mình, rất hợp lí trong sự thống nhất giữa nội dung và hình thức tác phẩm Một lối sống tự do phóng khoáng đã tìm đến một thể loại có nhiều phá cách, tự do.
Trang 24Nghệ thuật toàn bài
Đại từ xưng hô có tính khẩu ngữ được sử dụng nhiều và đa dạng:
Ông (3 lần)
Tay (2 lần): tay ngất ngưởng, tay kiếm cung
=> Ngôn ngử có tính chất điệu nói, đồng thời làm nổi bật sự ý thức về cá nhân có phần cao ngạo.
Trang 25Nghệ thuật toàn bài
Cách nói giản dị, tự nhiên như ngôn ngữ giao tiếp hằng ngày: đã vào lồng, kìa núi
nọ, đủng đỉnh một đôi dì, bụt cũng nực cười
Bên cạnh những câu toàn chữ Hán: Vũ trụ nội mạc phi phận sự - Đô môn giải tổ chi niên
=> Làm nỗi bật tính cách “ông ngất ngưởng”
Trang 26 Nhận định về Nguyễn Công Trứ: xem thường danh lợi, có bản lĩnh, tài năng và phẩm chất cao đẹp