1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN các mô HÌNH QUẢN lý CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

17 427 11

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 284 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nêu các mô hình quản lý chất lượng có thể vận dụng vào quản lý chất lượng giáo dục của nhà trường. Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng theo mô hình CIPO ở đơn vị công tác của anhchị.Vấn đề chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng là một trong những quan tâm lớn của các nền giáo dục hiện nay trên thế giới và Việt Nam.Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã xác định: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách và luật pháp để đảm bảo sự nghiệp giáo dục phát triển ổn định, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu về con người và nguồn nhân lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững”

Trang 1

Bài tiểu luận học phần QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC Nêu các mô hình quản lý chất lượng có thể vận dụng vào quản lý chất lượng giáo dục của nhà trường Xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng theo

mô hình CIPO ở đơn vị công tác của anh/chị.

LỜI MỞ ĐẦU

Vấn đề chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng là một trong những quan tâm lớn của các nền giáo dục hiện nay trên thế giới và Việt Nam.Văn kiện Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ XI đã xác định:

“Hoàn thiện cơ chế, chính sách và luật pháp để đảm bảo sự nghiệp giáo dục phát triển ổn định, chất lượng, hiệu quả đáp ứng nhu cầu về con người và nguồn nhân lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững” Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011 - 2020 cũng khẳng định yêu cầu các cơ quan quản lý giáo dục cần “Tập trung làm tốt ba nhiệm vụ chủ yếu: Xây dựng chiến lược, quy hoạch

và kế hoạch phát triển giáo dục; Xây dựng cơ chế, chính sách và quy chế quản lý nội dung và chất lượng đào tạo; Tổ chức kiểm tra và thanh tra Đặc biệt chú trọng công tác thanh tra giáo dục và đảm bảo chất lượng giáo dục thông qua việc

tổ chức và chỉ đạo hệ thống kiểm định chất lượng” Yêu cầu này đã và đang đặt

ra cho các cơ sở giáo dục và đào tạo ở nước ta cần nghiên cứu công tác quản lý đào tạo nhằm nâng cao chất lượng trong giai đoạn hiện nay

1 Một số khái niệm cơ bản

1.2 Khái niệm Chất lượng

Có nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng vì khái niệm này có thể được dùng với những nội hàm khác nhau, có thể xem xét các quan niệm về chất lượng như sau:

+ Quan niệm truyền thống về chất lượng, có một số cách hiểu như sau về chất lượng: Theo cách tiếp cận này, một sản phẩm có chất lượng là sản phẩm được làm ra một cách hoàn thiện, bằng các vật liệu quý hiếm và đắt tiền, sản phẩm đó nổi tiếng và tôn vinh người sở hữu Trong giáo dục, theo tiếp cận này,

Trang 2

một số trường phổ thông như Amsterdam, chuyên Lê Hồng Phong thành phố Hồ Chí Minh, chuyên ĐH Sư phạm Hà Nội có thể xem là các trường có chất lượng vì đó là những trường nổi tiếng ở nước ta, học sinh tại các trường này có thành tích học tập rất cao và đạt nhiều giải thưởng ở các cuộc thi cấp Quốc gia

+ Quan niệm chất lượng là sự phù hợp với các tiêu chuẩn: Chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ được đo bằng sự phù hợp của nó với các thông số hay tiêu chuẩn được quy định trước đó Trong giáo dục, cách tiếp cận này tạo cơ hội cho các cơ sở giáo dục muốn nâng cao chất lượng đào tạo có thể đề ra các tiêu chuẩn nhất định về các lĩnh vực trong quá trình đào tạo, nghiên cứu khoa học, phấn đấu theo các tiêu chuẩn của trường mình Tuy nhiên, nhược điểm của tiếp cận này là không nêu rõ các tiêu chuẩn chất lượng được xây dựng trên cơ sở nào, hơn nữa tiêu chuẩn trong giáo dục không phải là một khái niệm tĩnh vì thế tiếp cận này sẽ hạn chế sự phát triển của cơ sở giáo dục Trong một số trường hợp, tiêu chuẩn trong giáo dục phổ thông với nghĩa là tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp và đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi được xem là chất lượng

+ Quan niệm chất lượng là sự phù hợp với mục đích sử dụng: Khi đó, chất lượng được đánh giá bởi mức độ sản phẩm hay dịch vụ đáp ứng được mục đích

đã tuyên bố của nó Đây là một khái niệm động, phát triển tuỳ thời gian, tuỳ thuộc vào sự phát triển của đất nước, tuỳ thuộc đặc trưng trường và có thể sử dụng để phân tích chất lượng giáo dục ở các cấp độ khác nhau Nhược điểm của tiếp cận này là khó xác định mục tiêu giáo dục trong từng thời kỳ, khó cụ thể hoá mục tiêu cho từng trường cụ thể, thậm chí cho từng khoá, từng đơn vị đào tạo cho nên khó có thể đánh giá chất lượng của một trường khi không định hình được mục đích xác thực

+ Quan niệm chất lượng là tập hợp các đặc tính của một đối tượng, tạo cho đối tượng đó có khả năng thoả mãn nhu cầu nêu ra hoặc tiềm ẩn (TCVN ISO 1994) Theo quan niệm này, chất lượng sản phẩm giáo dục có thể bao gồm các đặc trưng sau: Sự tuân thủ quy trình; Quan điểm chung về chất lượng; Sự cam kết đảm bảo thực hiện mục tiêu chất lượng; Cải tiến liên tục; Mức độ phát triển nhân cách, gia tăng giá trị sử dụng; Sự thoả mãn tối đa nhu cầu khách

Trang 3

hàng; Sự cạnh tranh về giá trị, kết quả sản phẩm Tuy nhiên, các đặc trưng chất lượng gắn trực tiếp với một cơ sở đào tạo với toàn bộ tổ chức bộ máy, sản phẩm của nó chứ không chỉ sản phẩm trong giáo dục là con người, với cách hiểu này sản phẩm của giáo dục chỉ có chất lượng khi khi toàn bộ tổ chức của cơ sở đào tạo có chất lượng

+ Quan niệm chất lượng là sự trùng khớp với mục tiêu: “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu” (quan niệm của tổ chức ĐBCL GDĐH quốc tế INQAAHE), mục tiêu ở đây được hiểu một cách toàn diện gồm: Triết lý giáo dục, định hướng, mục đích, sứ mệnh, các nhiệm vụ chiến lược của tổ chức giáo dục

+ Xét trên quan điểm hệ thống, xác định cấu trúc của hệ thống giáo dục để xem xét chất lượng của hệ thống đó chất lượng của các cơ sở giáo dục là chất lượng của các yếu tố cấu thành nên nó, đánh giá chất lượng của cơ sở giáo dục cần đánh giá chất lượng của 3 thành tố cơ bản (đầu vào, quá trình, đầu ra) trong mối tương quan với bối cảnh thực mà cả 3 thành tố đang hoạt động Theo quan điểm này, một hệ thống giáo dục bao gồm nhiều phần tử bên trong (các cơ sở giáo dục) vừa có sự độc lập tương đối, vừa có mối tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau, các phần tử này chịu ảnh hưởng của các yếu tố gọi là bối cảnh Mỗi cơ

sở giáo dục là một tiểu hệ thống cũng bao gồm: đầu vào, quá trình, đầu ra và chịu tác động bởi bối cảnh nơi có cơ sở đó hoạt động

+ Chất lượng giáo dục là sự phù hợp với mục tiêu giáo dục, là chất lượng người học được hình thành từ các hoạt động giáo dục theo những mục tiêu định trước; sự phù hợp thể hiện qua mục tiêu giáo dục, phù hợp với nhu cầu của người học, với gia đình, với cộng đồng và xã hội Chất lượng giáo dục được xác định theo: chất lượng của môi trường học tập và đầu vào (chương trình, nội dung, giáo viên, CSVC, tài chính, QL); Chất lượng của quá trình học tập (PP dạy, PP học, thời lượng); Chất lượng của kết quả học tập (sự tiếp thu kiến thức, giá trị, thái độ, kĩ năng)

Trang 4

Những quan niệm về chất lượng trong giáo dục trên đây có nhiều điểm tương đồng và đặc thù riêng, chúng ta có thể hiểu chất lượng chính là đạt các tiêu chuẩn, hiệu quả của việc đạt mục đích do trường (cơ sở đào tạo) đề ra

2.2 Khái niệm quản lý chất lượng

2.2.1 Khái niệm quản lý

Quản lý là hoạt động đã có từ khi con người biết hợp tác với nhau để trồng trọt, săn bắn, để tự bảo vệ mình trước những đe doạ của thú dữ, của tự nhiên Tuy nhiên định nghĩa về quản lý rất đa dạng

Quản lý là tác động có mục đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý trong một tổ chức để tổ chức đó vận hành và đạt được kết quả đã dự kiến Xã hội càng phát triển, thì trình độ tổ chức quản lý ngày càng được nâng cao Quản

lý ngày càng có vai trò quan trọng trong việc điều khiển các hoạt động xã hội Ngược lại, xã hội phát triển đòi hỏi phải đổi mới quản lý, có cơ chế, phương thức, phương pháp quản lý phù hợp

Hiện nay người ta quan niệm: Quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu.

2.2.2 Quản lý chất lượng

Có hàng loạt định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng Song, cho dù đề cập đến khái niệm “quản lý chất lượng” từ góc độ nào, các nhà nghiên cứu cũng thống nhất ở một điểm chung nhất, đó là:

- Thiết lập chuẩn;

- Đối chiếu thực trạng so với chuẩn;

- Có các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn

Trong số các khái niệm về quản lý chất lượng, định nghĩa của A.G.Robertson, một chuyên gia về chất lượng người Anh được xem là một định

nghĩa khá rõ ràng: “Quản lý chất lượng sản phẩm được xác định như là một hệ thống quản trị nhằm xây dựng chương trình phối hợp các cố gắng của những đơn vị khác nhau để duy trì và tăng cường chất lượng trong các tổ chức thiết kế, sản xuất sao cho đảm bảo nền sản xuất có hiệu quả nhất, đồng thời cho phép thoả mãn đầy đủ các yêu cầu của người tiêu dùng”.

Trang 5

2.2.3 Các cấp độ của quản lý chất lượng

Quản lý chất lượng được chia thành 3 cấp độ với điểm chung là đều quản

lý bằng chuẩn, nhưng các cấp độ này được phân biệt với nhau ở mục đích, thời gian và người trực tiếp thực hiện

* Kiểm soát chất lượng

“Kiểm soát chất lượng” là thuật ngữ lâu đời nhất về mặt lịch sử của khoa học quản lý Nó bao gồm việc kiểm tra và loại bỏ các thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng không thoả mãn các tiêu chuẩn đã đề ra trước đó Đây là công đoạn xảy ra sau cùng khi sản phẩm đã được làm xong, có liên quan tới việc loại bỏ hoặc từ chối những hạng mục hay sản phẩm có lỗi Thanh tra nội bộ và thử nghiệm sản phẩm là những phương pháp phổ biến nhất Hệ thống chất lượng dựa chủ yếu trên giấy tờ, sổ sách ghi nhận kết quả từng ca sản xuất Các tiêu chí chất lượng hạn chế, chỉ căn cứ vào số lượng sản phẩm được chấp thuận Vì thế, cách làm này kéo theo sự lãng phí nhiều khi khá lớn do phải loại bỏ hoặc làm lại các sản phẩm không đạt yêu cầu

Chất lượng đề nghị

Cơ chế quản lý

Qúa trình

Phương pháp

Kiểm soát chất lượng Sản phẩm Loại bỏ sản phẩm

Nhận thức của khách hàng

Hình 1 Quá trình Kiểm soát chất lượng

Trang 6

* Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance-QA)

Thuật ngữ “đảm bảo chất lượng” ra đời vào thập niên 20 của thế kỷ XX

Đó là “toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng thực thể (đối tượng) sẽ thoả mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng” (TCVN 5814)

QA mang những đặc trưng sau: Kiểm soát quá trình bằng thống kê; Chú trọng can thiệp; Đánh giá ngoài; Sự tham gia có uỷ quyền; Kiểm toán các hệ thống chất lượng; Phân tích nhân quả

QA quan tâm đến Kiểm soát hệ thống chất lượng, Kiểm soát quá trình bằng thống kê (Statistical Quality Control - SQC), phân tích nhân quả để có biện

pháp khắc phục và ngăn ngừa sai phạm hoặc sự không trùng hợp Để đánh giá

và duy trì hệ thống QA, sự can thiệp của bên ngoài được chú trọng thông qua

các hình thức phổ biến như Thanh tra chất lượng (Quality Inspection) và Kiểm định chất lượng (Quality Accreditation).

Chất lượng đề nghị

Qúa trình

Nhận thức của khách hàng

Hình 2 Đảm bảo chất lượng như một hệ thống tránh lỗi trước và trong lúc có sự

cố

Trang 7

* Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management)

Thuật ngữ “Kiểm soát chất lượng toàn diện” (Total Quality Control - TQM) được sử dụng từ đầu những năm 50 của thế kỉ XX TQM mang những đặc trưng:

Sự tham gia của người cung ứng và khách hàng; Cải tiến liên tục; Quan tâm vào sản phẩm và quá trình; Trách nhiệm của tất cả mọi người; Làm việc theo đội TQM đồng nghĩa với đảm bảo chất lượng, nhưng mở rộng và phát triển thêm TQM tạo ra văn hoá chất lượng, mà ở đó, mục tiêu của từng nhân viên, của toàn bộ nhân viên là làm hài lòng khách hàng của họ, nơi mà cơ cấu tổ chức của cơ sở cho phép họ làm điều này Trong quan niệm về chất lượng toàn diện, khách hàng là thượng đẳng Điều này có nghĩa là công việc của mỗi thành viên trong tổ chức phải hướng đến phục vụ khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể Đó

là cung ứng cho khách hàng những thứ họ cần, đúng lúc họ cần và theo cách thức họ cần, thoả mãn và vượt cả những mong đợi của họ

Các cấp độ của quản lý chất lượng được mô hình hóa bằng sơ đồ dưới đây:

Hình 3 Các cấp độ quản lý chất lượng

2.2.4 Quản lý nhà trường

Nhà trường là một cơ sở giáo dục, là nơi tổ chức quá trình dạy học, giáo dục, đào tạo con người Trong nhà trường, diễn ra các hoạt động giáo dục toàn diện, quá trình quản lý giáo dục, trong đó hoạt động dạy học và quản lý dạy học

là trung tâm Có một số cách hiểu về quản lý nhà trường như sau:

+ “Quản lý nhà trường được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể sinh viên và cha mẹ của họ, các

Kiểm soát chất lượng

Đảm bảo chất lượng

Quản lý chất lượng toàn diện

Loại bỏ sản phẩm không

đạt chất lượng

P chống không đạt chất

lượng

Nâng cao liên tục chất

lượng

Trang 8

lực lượng xã hội trong và ngoài trường nhằm thực hiện chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”

+ Quản lý nhà trường: “Là quá trình tác động có mục đích, có định hướng, có tính kế hoạch của các chủ thể quản lý (đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường) đến các đối tượng quản lý (giáo viên, cán bộ nhân viên, người học, các bên liên quan ) và huy động, sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện sứ mệnh của nhà trường đối với hệ thống giáo dục và đào tạo, cộng đồng và xã hội nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục đã xác định trong một môi trường luôn biến động”

2.2.5 Quản lý chất lượng giáo dục

Theo từ điển Giáo dục học thì Quản lý chất lượng giáo dục là hoạt động quản lý giáo dục có nhiệm vụ bảo đảm kết quả của các hoạt động giáo dục đạt được mục tiêu giáo dục Quản lý chất lượng giáo dục được thực hiện thông qua các quá trình sau:

- Đánh giá kết quả Giáo dục và Đào tạo;

- Đánh giá hoạt động của nhà trường và các cơ sở giáo dục

2 Một số mô hình đảm bảo chất lượng

Khi đảm bảo chất lượng được xem như một hệ thống quản lý, có nghĩa là được đặt vào tay những người có trách nhiệm bên trong một trường học, câu hỏi

có thể được đặt ra là liệu hệ thống quản lý đó có phải được kiểm soát từ bên ngoài nhằm giúp các trường đảm bảo rằng quá trình đó là công bằng và khách quan không Có thể thấy rõ mối quan tâm về các cơ chế có tính tự chịu trách nhiệm nhằm có thể cải tiến khả năng đảm bảo chất lượng học tập ngày càng cao Bên cạnh đó, một số hệ thống các trường đang theo đuổi cơ chế chính sách thị

trường trong quản lý, trong đó có mô hình BS 5750/ ISO 9000; mô hình đảm bảo chất lượng CIPO; mô hình quản lý chất lượng tổng thể (TQM) (Ashworth

và Harvey, 1994) và mô hình các yếu tố tổ chức (Organizational Elements

Model) (SEAMEO, 1999)

Trang 9

2.1 Mô hình BS 5750/ ISO 9000

Bản chất của mô hình BS 5750 / ISO 9000 là một hệ thống các văn bản quy định tiêu chuẩn và quy trình chi tiết, nghiêm ngặt ở mỗi giai đoạn của quá trình sản xuất đảm bảo mọi sản phẩm hay dịch vụ phải phù hợp với mẫu mã, quy cách, các thông số kỹ thuật quy định trước đó với mục tiêu là tạo một đầu ra

“phù hợp với mục đích” BS 5750/ ISO 9000 đưa ra một kỷ luật nghiêm ngặt đối với những người sử dụng, đồng thời đòi hỏi sự đầu tư về nhân lực, tài lực và thời gian Mọi người phải nắm được các yêu cầu đặt ra và tuân thủ các quy trình một cách nghiêm túc BS5750/ ISO 9000 còn xa lạ với giáo dục đại học Do có nguồn gốc từ lĩnh vực sản xuất hàng hoá nên ngôn ngữ dùng trong bộ tiêu chuẩn này không phù hợp

Trong những năm 1980 và 1990, cùng với chủ nghĩa nghệ thuật quản lý và phong trào tiếp thị hóa, ISO bắt đầu được đưa vào các lĩnh vực kinh doanh, và sau đó được giới thiệu vào lĩnh vực giáo dục đại học (Russo, 1995) Tư tưởng chủ đạo của các chuẩn ISO có vẻ rất đơn giản: nói những gì bạn làm, làm những

gì bạn nói, ghi lại những gì bạn đã làm, kiểm tra lại kết quả và hành động khi có

sự khác biệt (Russo, 1995; Woodhouse, 1999) Có thể thấy là nếu như quá trình chất lượng của một công ty được tiến hành trôi chảy thì nó sẽ cho ra được những sản phẩm có chất lượng

Không giống như kiểm soát chất lượng, ISO không phải là một hệ thống có tính thanh tra mà ISO đòi hỏi bằng chứng nhận ISO được viết cho các lĩnh vực sản xuất, và được làm ra cho các tổ chức kinh doanh các sản phẩm nhất định Do

đó, các tiêu chí cần phải chính xác và nghiêm nhặt (Russo, 1995) Trong giáo dục, nhằm có được các tiêu chí thích hợp với tổ chức cần phải có các thay đổi phù hợp, vì câu hỏi có thể đặt ra là: sản phẩm trong giáo dục là gì? Có nhiều tranh luận rằng sản phẩm của giáo dục là những người tốt nghiệp, không hoàn toàn nằm trong dây chuyền sản xuất, và người học như những bình rỗng sẽ được lấp đầy với sự thông thái của người dạy và trong quá trình đến trường - quá trình nhận được sù giáo dục và rèn luyện kỹ năng Một ý kiến khác cho rằng người tốt

Trang 10

nghiệp đóng ba vai trò trong quá trình giáo dục: như khách hàng, như người diễn viên trong quá trình sự giáo dục diễn ra và như một phần của sản phẩm

Giải thưởng chất lượng quốc gia Malcolm Baldrige (The Malcolm Baldrige National Quality Award - MBNQA), là một ví dụ về một phiên bản của ISO trong giáo dục (Russo, 1995) Tuy nhiên, các tiêu chí của MBNQA được ghi rõ bằng những thuật ngữ chung chung hơn là trong kinh doanh Chương trình chất lượng quốc gia Baldrige cơ bản là dựa vào việc tự đánh giá và nhận phản hồi từ phía học viên, và khen thưởng cho những ai thực hiện xuất sắc Tuy vậy, các Tiêu chí thử nghiệm giáo dục (The Education Pilot Criteria - EPC) lại không phải là phiên bản của MBNQA mà là một cấu trúc giải thưởng tương tự khác cũng có giá trị như các tiêu chí của MBNQA (Woodhouse, 1999)

Hình 4 Mô hình ISO 9000 Các Tiêu chí giáo dục của Giải thưởng Malcolm Baldrige cho việc Thực hiện xuất sắc (Malcolm Baldrige Education Criteria for Performance Excellence-MBECPE) có bốn mục đích nhằm:

- Giúp cho việc cải tiến việc thực hiện công việc, thực hành và khả năng của một tổ chức;

Cải tiến liên tục hệ thống quản lý chất lượng

Khách

hàng và

các bên

quan tâm

Khách hàng và các bên quan tâm

Yêu

cầu

Thoả mãn

Trách nhiệm lãnh đạo

Quản lý nguồn lực đạo

Đo lường phân tích, cải tiến đạo

Thực hiện tạo sản phẩm

Ngày đăng: 29/10/2021, 21:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w