Một nhà nước tiến bộ là một nhà nước tồn tại trên cơ sở hướng đến việc bảo đảm các lợi ích của con người, hạnh phúc của con người là thước đo mọi giá trị của cuộc sống. Và tất nhiên một nhà nước tiến bộ, dân chủ mà Việt nam ta muốn hướng đến cũng không nằm ngoài tiêu chí đó. Do đó, Bộ luật hình sự Việt Nam đã ra đời nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, răn đe những thành phần xấu trong xã hội. Và đương nhiên, trong Bộ luật hình sự chắc chắn có tồn tại một số hình phạt khá nhạy cảm, tiêu biểu đó là luật tử hình, một công cụ răn đe cao nhất đối với mọi loại tội phạm nguy hiểm, nhằm loại bỏ hoàn toàn họ ra khỏi xã hội.
Trang 1✪ KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO TRONG BỘ LUẬT
Trang 2NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN:
KÝ TÊN
Trang 3MỤC LỤC
Trang 4MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Một nhà nước tiến bộ là một nhà nước tồn tại trên cơ sở hướng đến việc bảođảm các lợi ích của con người, hạnh phúc của con người là thước đo mọi giá trịcủa cuộc sống Và tất nhiên một nhà nước tiến bộ, dân chủ mà Việt nam ta muốnhướng đến cũng không nằm ngoài tiêu chí đó Do đó, Bộ luật hình sự Việt Nam
đã ra đời nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam, răn đenhững thành phần xấu trong xã hội Và đương nhiên, trong Bộ luật hình sự chắcchắn có tồn tại một số hình phạt khá nhạy cảm, tiêu biểu đó là luật tử hình, mộtcông cụ răn đe cao nhất đối với mọi loại tội phạm nguy hiểm, nhằm loại bỏ hoàntoàn họ ra khỏi xã hội
Tuy nhiên hiện nay, xã hội ngày càng phát triển, mọi người ngày càng ý thức
rõ hơn về quyền được sống của một con người Còn đối chính phủ của các nước,đặc biệt là các nước phát triển, họ gọi đó là “nhân quyền”, do đó, xu thế hiệnnay của luật hình sự trên thế giới đó là tập trung hướng đến cải tạo tội phạm,biến họ trở thành người tốt hơn là lấy đi mạng sống của họ Còn đối với Việtnam, quan điểm đạo đức mang giá trị nhân văn, thể hiện đạo lý về tình thươngcon người bao trùm trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như là mộttruyền thống tốt đẹp của dân tộc Từ đó, kết hợp giữa xu thế chung của thế giới,
sự phát triển nhân loại và truyền thống dân tộc, Việt Nam ta đã có những cảicách rất rõ ràng trong việc đưa tính nhân đạo vào công cụ pháp lý của mình, đóchính là Bộ luật hình sự Việc đưa tính nhân đạo vào Bộ luật hình sự chắc chắn
sẽ tạo ra một hiệu ứng tích cực, làm hoàn chỉnh hơn nữa pháp luật của chúng tavốn đã được đánh giá rất cao về mặt hoàn thiện
Với sự quan tâm sâu sắc đến pháp luật, cùng với đó là khao khát muốn hiểu
rõ hơn nữa sự vận hành, ứng dụng của pháp luật trong cuộc sống, cụ thể là tínhnhân đạo trong pháp luật mà nhà nước ta đã ban hành Đồng thời làm rõ hơn nữa
Trang 5vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về tư tưởng nhân đạo dưới khía cạnh pháp lý,
từ đó nhóm chúng em đã quyết định chọn đề tài “Quy tắc nhân đạo trong Bộ luật hình sự Việt Nam” cho bài tiểu luận này.
2. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ các khái niệm về nhân đạo, nhân đạo từ góc độ pháp lý, các khíacạnh khác nhau của quy tắc nhân đạo áp dụng trong pháp luật hình sự Chỉ rõđược sự hiện diện của quy tắc nhân đạo trong pháp luật Việt Nam ở các đềukhoản nội dung cụ thể Thể hiện được tính tích cực của bộ luật hinh sự năm
2015 (sửa đổi bổ sung 2017) so với Bộ luật hình sự năm 1999 khi chưa áp dụngnhiều quy tắc nhân đạo Nêu ra thực trạng của việc áp dụng tính nhân đạo trongluật hình sự và xu hướng của luật hình sự, cụ thể là áp dụng tính nhân đạo trongtương lai
Trang 6PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO
1.1.Một số khái niệm
1.1.1 Nhân đạo
Chủ nghĩa nhân đạo là một đạo lý có lòng tốt, từ thiện, và nhân ái đếntoàn thể loài người một cách vô tư Trong lịch sử, chủ nghĩa nhân đạo là mộtkhái niệm luôn tiến triển nhưng luôn có tính toàn thể Theo chủ nghĩa này,không ai nên kỳ thị người đau khổ hoặc bị hành hạ vì lý do giới tính, thiênhướng tình dục, dân tộc, đẳng cấp, tuổi, tôn giáo, hay quốc tịch
Chủ nghĩa nhân đạo bao hàm cả cách nhìn nhận, đánh giá con người vềnhiều mặt trong các quan hệ với tự nhiên, xã hội và đồng loại Nhân đạo từ xưađến nay là một thế giới mà trong đó con người luôn đấu tranh chống lại mọi thếlực thù địch luôn xuất hiện dưới mọi hình thức, để khẳng định chính mình,khẳng định quyền năng và sức mạnh của mình, đồng thời thể hiện khát vọng làmngười mãnh liệt và cao đẹp của mình
1.1.2. Nhân đạo từ góc độ pháp luật
Nhân đạo là đạo làm người Đạo làm người thể hiện ở lòng thương yêu,với ý thức tôn trọng các giá trị danh dự, nhân phẩm của con người, không làmđau đớn con người Luật hình sự Việt Nam khoan hồng với những người tự thú,thật thà khai báo, tố giác đồng bọn, lập công chuộc tội, ăn năn, tự nguyện sửachữa hoặc bồi thường thiệt hại Luật hình sự không có mục đích trả thù, hạ thấpnhân phẩm người phạm tội mà nhằm tạo điều kiện để họ được cải tạo trở thànhngười có ích cho xã hội, sống lương thiện Luật hình sự Việt Nam có nhiều quyđịnh nhằm tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo như quy định về miễntrách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, v.v Trong hệ thống hình phạt của Luậthình sự Việt Nam có nhiều loại hình phạt không tước tự do như cảnh cáo, cải tạokhông giam giữ
Trang 71.2. Nội dung, ý nghĩa của nguyên tắc nhân đạo trong luật hình sự Việt Nam
Nguyên tắc này thể hiện ở việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tộichủ yếu nhằm cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội Hình phạtkhông gây đau đớn về thể xác của người phạm tội Bộ luật hình sự có nhiều quyđịnh tạo điều kiện cho người phạm tội tự cải tạo, có cơ hội để sớm hòa nhập vàocộng đồng như: quy định về miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, án treo
và một số hình phạt không tước quyền tự do như hình phạt cảnh cáo
Công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam Dù có phạm tội họvẫn là công dân Việt Nam, vẫn là thành viên của xã hội Chính vì vậy, khi xemxét hành vi phạm tội của họ, Nhà nước luôn chú ý đến nhiều khía cạnh như độtuổi, tình trạng sức khỏe, tình trạng bản thân khi phạm tội như mang thai, hoàncảnh gia đình đang gặp khó khăn đặc biệt để xác định mức hình phạt phù hợp,điều đó xuất phát từ đạo đức, truyền thống dân tộc Việt Nam và được thấmnhuần trong nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa của Luật Hình sự Việt Nam.Nguyên tắc nhân đạo được thể hiện như sau:
Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giácđồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệmtrong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hốicải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra;
Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, thì có thể áp dụng hìnhphạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát,giáo dục;
Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt tại các cơ
sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ
có đủ điều kiện do Bộ luật này quy định, thì có thể được xét giảm thời hạn chấphành hình phạt, tha tù trước thời hạn có điều kiện;
Trang 8Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sốnglương thiện, hòa nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì đượcxóa án tích Khi quyết định hình phạt cơ quan xét xử chú ý đặc điểm nhân thânngười phạm tội như phụ nữ có thai, người chưa thành niên, người già yếu, bệnhtật, người đang trong thời kỳ nuôi con nhỏ, người có hoàn cảnh gia đình đặc biệtkhó khăn.
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa còn thể hiện trong hàng loạt quyđịnh của Bộ luật hình sự như quy định miễn chấp hành hình phạt cho người lậpcông lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, quy định về án treo
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa thể hiện rõ nét ở mục đích áp dụnghình phạt là cải tạo người phạm tội, giáo dục để họ trở thành người lương thiện
có ích cho xã hội, thể hiện nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội.Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội và ápdụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết, nếu xétthấy không cần thiết thì Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp Tử hình và tù chungthân không áp dụng với người chưa thành niên Khi xử phạt tù có thời hạn,người chưa thành niên được hưởng mức án nhẹ hơn mức án với người thànhniên phạm tội tương ứng
1.3.Mối liên hệ giữa nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc khác trong luật
hình sự Việt Nam
Theo định hướng của đảng và nhà nước, quy tắc nhân đạo khi đã áp dụng thìphải áp dụng một cách thống nhất, đồng bộ với các quy định, điều khoản mộtcách rõ ràng Từ đó ta sẽ dễ dàng thấy được mối liên hệ chặt chẽ giữa quy tắcnhân đạo với các quy tắc cơ bản trong pháp luật hình sự việt nam: nguyên tắcpháp chế; nguyên tắc dân chủ; nguyên tắc hành vi và nguyên tắc lỗi; nguyên tắcphân hóa trách nhiệm hình sự
1.3.1. Nguyên tắc pháp chế
Trang 9Nguyên tắc pháp chế là một nguyên tắc hết sức quan trọng và cơ bản củaquá trình xây dựng và đổi mới pháp luật ở Việt Nam Nói đến pháp chế tức lànói đến sự triệt để tuân thủ pháp luật từ phía Nhà nước, các tổ chức chính trị, xãhội và của công dân Nguyên tắc pháp chế có nguồn gốc từ nguyên lý không cótội nếu không có luật.
Trong lĩnh vực hình sự, nguyên tắc pháp chế được coi là nguyên tắc cơbản, xuyên suốt toàn bộ các hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự
Những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế cụ thể:
Về mặt lập pháp: Việc sửa đổi, bổ sung, quy định tội phạm mới hay xoá
bỏ một tội phạm phải được tiến hành một cách hợp pháp, theo đúng thủ tục luậtđịnh Theo cơ chế này, mọi tội phạm và hình phạt phải được Luật hình sự quyđịnh " có luật, có tội ".Ngoài ra, nguyên tắc pháp chế còn đòi hỏi pháp luật hình
sự phải được xây dựng trên những cơ sở khoa học, được xây dựng một cáchhoàn thiện, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm Các quyđịnh của Luật hình sự phải được xây dựng một cách cụ thể, chính xác với cácdấu hiệu của từng hành vi phạm tội và hậu quả pháp lý của nó
Về mặt áp dụng pháp luật: Nhà nước không chấp nhận một bản án hình sự
về một tội nào đó, nếu như tội này không được quy định trong Luật hình sự hiệnhành Việc xét xử phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không bỏ sót tộiphạm, không để oan người vô tội Hình phạt mà Toà án tuyên cho người phạmtội phải phù hợp với các quy định của luật hình sự
Các cơ quan tiến hành tố tụng khi thực hiện các hoạt động điều tra, truy
tố, xét xử phải tuân theo đúng và đầy đủ các thủ tục luật định
Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi sự chính xác và thống nhất trong việc ápdụng Luật hình sự, trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hộicủa tội phạm và của bản thân người phạm tội Điều đó có nghĩa là trên phạm vi
Trang 10toàn lãnh thổ Việt Nam, pháp luật hình sự phải được áp dụng như nhau, khôngphân biệt giai cấp, tôn giáo, thành phần xã hội của người phạm tội.
Đối với công dân, nguyên tắc pháp chế đòi hỏi mỗi người dân đều phảituân thủ pháp luật một cách triệt để
1.3.2. Nguyên tắc dân chủ
Dân chủ là quyền làm chủ của nhân dân, sự tham gia rộng rãi của nhândân vào quá trình quản lý Nhà nước, quản lý xã hội Đây là một nguyên tắc hiếnđịnh Trong Luật hình sự, nội dung của nguyên tắc dân chủ thể hiện ở các điểmsau: Luật hình sự bảo vệ và tôn trọng các quyền dân chủ của công dân trong tất
cả các mặt của đời sống xã hội, kiên quyết xử lý các hành vi xâm phạm nhữngquyền dân chủ của công dân; Luật hình sự bảo đảm cho nhân dân lao động tựmình hay thông qua các tổ chức xã hội tham gia vào việc xây dựng và áp dụngLuật hình sự, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm; Luật hình sự coi việcđấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là sự nghiệp của toàn dân
1.3.3. Nguyên tắc hành vi và nguyên tắc có lỗi
Xuất phát từ quan điểm: Đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ có thể làhành vi của con người mà không thể là ý nghĩ, tư tưởng của họ, Ngành luật hình
sự Việt Nam thừa nhận nguyên tắc hành vi là một trong các nguyên tắc chính.Theo đó, Luật hình sự không truy cứu trách nhiệm hình sự của một người về tưtưởng của họ mà chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của họkhi hành vi đó thỏa mãn các dấu hiệu được quy phạm pháp luật quy định
Gắn liền với nguyên tắc hành vi là nguyên tắc có lỗi Luật hình sự truycứu trách nhiệm hình sự về hành vi của một người chỉ khi hành vi đó có lỗi
1.3.4. Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự
Cũng như các nguyên tắc khác, nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sựphải được thể hiện trong xây dựng pháp luật hình sự và áp dụng pháp luật hình
Trang 11sự Trong áp dụng pháp luật hình sự, nguyên tắc này còn được gọi là nguyên tắc
cá thể hóa trách nhiệm hình sự hay nguyên tắc cá thể hóa hình phạt
Chức năng giáo dục của Luật hình sự chỉ có thể thành hiện thực khi tráchnhiệm hình sự được xác định đúng cho từng chủ thể phạm tội Hình phạt ápdụng cho chủ thể phạm tội phải tương xứng với mức độ gây nguy hiểm cho xãhội của tội phạm gây ra và phải phù hợp với nhân thân cũng như hoàn cảnh củachủ thể phạm tội
Như vậy ta có thể thấy Pháp luật hình sự và các nguyên tắc của Luật hình
sự có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Có thể hiểu và vận dụng tốt, có hiệu quảcác quy định của pháp luật hình sự thông qua nội dung của các nguyên tắc củaLuật hình sự
Pháp luật hình sự và các nguyên tắc của luật hình sự trong Luật Hình sựViệt Nam được thể hiện ở việc xét xử hình sự phải đúng người, đúng tội, không
bỏ lọt tội phạm, không xử oan người vô tội, hình phạt phải tương xứng với tínhchất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm Bảo đảm tính nghiêm minhtriệt để của Luật Hình sự Việt Nam, bảo vệ hữu hiệu các lợi ích của Nhà nước,của xã hội và lợi ích hợp pháp của công dân
Trang 12CHƯƠNG II: NỘI DUNG NGUYÊN TẮC NHÂN ĐẠO TRONG BỘ
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
2.1.Nội dung nguyên tắc nhân đạo
2.1.1. Nguyên tắc nhân đạo trong các quy định về đường lối chính
sách hình sự
Chính sách hình sự là một bộ phận của chính sách pháp luật thể hiện tưtưởng, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tộiphạm trong từng thời kỳ nhất định Tư tưởng nhân đạo trong chính sách hình sựcủa Đảng và nhà nước ta thể hiện đường lối xử lý đối với các tội phạm được xácđịnh trên cơ sở coi trọng cả mục đích trừng trị và giáo dục, phòng ngừa tội
phạm, trong đó mục đích giáo dục người phạm tội, đề cao tính “hướng thiện”
luôn được đặt lên hàng đầu
Trước hết phải kể đến Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Đảng,
trong đó Đảng ta đã chỉ rõ, cần phải “Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình
sự và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội Giảm hình phạt tù, mở rộng áp dụng hình phạt tiền, hạn chế áp dụng hình phạt tử hình…” Bộ luật hình sự (bộ luật hình sự) số
100/2015/QH13 (gọi là bộ luật hình sự năm 2015) được Quốc hội khóa XIII, kỳhọp thứ 10 thông qua ngày 27 tháng 11 năm 2015, có hiệu lực toàn phần kể từngày 01 tháng 01 năm 2018 đã kịp thời thể chế hoá chủ trương cải cách tư pháp
của Đảng, bảo đảm phù hợp với Hiến pháp, trong đó nhấn mạnh phải “tạo ra cơ
chế hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và tổ chức, góp phần bảo vệ trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ
và thúc đẩy sự phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, góp phần tháo
gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm và tăng cường hội nhập quốc tế” Đây là những định hướng quan trọng, là
cơ sở nền tảng cho việc xây dựng các chế định khác nhau của Bộ luật hình sự
Trang 13Tội phạm và hình phạt được quy định phải xuất phát từ tính đặc thù của từngloại tội phạm cũng như các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội chi phối Có nhưvậy, tính chất giáo dục cũng như phòng ngừa của hình phạt mới đạt được hiệuquả và đảm bảo được sự đồng thuận trong dư luận xã hội
Nguyên tắc nhân đạo trong chế định tội phạm
Tội phạm là hành vi nguy hiểm đáng kể cho xã hội so với các hành vi viphạm pháp luật khác Việc xác định và ghi nhận một hành vi nguy hiểm cho xãhội bị coi là tội phạm và đưa nó vào bộ luật hình sự là kết quả của sự đánh giátính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và sự cần thiết phải xử lý hành vi đótrước pháp luật Biểu hiện của tính nhân đạo trong việc quy định một hành vinguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm không phải là sự áp đặt ý chí của Nhànước mà về bản chất hành vi đó vốn dĩ đã hội đủ những yếu tố tiêu cực tồn tạimột cách khách quan, người làm luật quy định tội phạm nhằm mục đích để bảo
vệ các giá trị xã hội quan trọng khác
Xuyên suốt trong các quy định về chế định tội phạm được quy định trong bộluật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với 314 tội danh quy định từchương XIII đến chương XXVI là sự ghi nhận và phản ánh đúng những hành vinguy hiểm cho xã hội đã và đang tác động tiêu cực đến các phương diện của đờisống chính trị-xã hội Tuy nhiên việc cân nhắc, tính đến khả năng phải chịu hậuquả pháp lý bất lợi của nhà nước đối với từng hành vi nguy hiểm, từng tội phạm
cụ thể sẽ được xét dựa trên nhiều yếu tố khác nhau với phương châm: cụ thể hóacác trường hợp bị coi là tội phạm và không bị coi là tội phạm (được loại trừtrách nhiệm hình sự)
“Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải
chịu trách nhiệm hình sự Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu trách nhiệm hình sự” Điều
đó có nghĩa là xác định tội phạm phải theo nguyên tắc có luật mới có tội, không