1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BÀI-TẬP-LỚN-GDSK- Kim Oanh

49 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 49
Dung lượng 453 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • LỜI CẢM ƠN

  • DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

  • STT

  • Chữ cái viết tắt

  • Từ đầy đủ

  • 1

  • QHTD

  • Quan hệ tình dục

  • 2

  • QHTDTHN

  • Quan hệ tình dục trước hôn nhân

  • 3

  • SKSS

  • Sức khỏe sinh sản

  • 4

  • TTN

  • Thanh thiếu niên

  • 5

  • VTN

  • Vị thành viên

  • 6

  • BCS

  • Bao cao su

  • 7

  • TDAT

  • Tình dục an toàn

  • 8

  • LTQĐTD

  • Lây truyền qua đường tình dục

  • PHẦN MỞ ĐẦU

  • 1. Lý do chọn đề tài

  • 2. Mục đích nghiên cứu

  • Mô tả một số đặc điểm đời sống cá nhân, kiến thức, thái độ và các mối quan hệ với gia đình, bạn bè liên quan đến hành vi QHTD trước hôn nhân của sinh viên trường đại học Vinh.

  • 3. Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • 4. Giả thuyết khoa học

  • 5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • 6. Phương pháp nghiên cứu

  • 7. Cấu trúc của đề tài

  • PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

  • CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TRÁNH THAI TRONG QUAN HỆ TÌNH DỤC CỦA SINH VIÊN

  • 1.1. Một số vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam.

  • 1.1.1. Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên trên thế giới.

  • Ngày nay trên thế giới việc QHTD THN của TTN không còn quá xa lạ. Tuy nhiên, tình hình QHTD THN ở TTN rất khác nhau giữa các quốc gia và châu lục. Tại châu Phi kết quả nghiên cứu của Melhado (2009) tiến hành ở 4 nước khu vực cận Sahara cho thấy ¾ nước này đếu có trên 50% TTN trong độ tuổi từ 18-19 đã từng QHTD THN. Còn tại các nước phương Tây như Mỹ tỷ lệ QHTD THN ở TTN là 75%. Tương tự ở các quốc gia như Anh và Pháp tỷ lệ TTN dưới 20 có QHTD là 79% và 67%. Trên đối tượng sinh viên, tại châu Á, nghiên cứu của Barbour trên đối tượng sinh viên đại học tại Lebanon năm 2009 có 73,3% nam giới và 21,8% nữ giới có QHTD THN. Trong đó hầu hết nam giới quan hệ có sử dụng BCS tuy nhiên có đến 75,6% nữ giới không sử dụng BCS. Tuy nhiên con số này lại thấp hơn nhiều tại các quốc gia khác như Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam. Nghiên cứu về hành vi tình dục THN năm 2004 do tác giả Vũ Mạnh Lợi thực cho thấy: ở Hà Nội, chỉ có 8% TN trong mẫu nghiên cứu đã từng QHTD, ở Thượng Hải tỷ lệ này tăng lên gấp 2 lần (16%) và cao nhất là ở Đài Loan (34%). Điều này có thể lý giải Đài Loan mặc dù nằm trong khu vực châu Á nhưng ảnh hưởng của văn hóa phương Tây trong thời gian dài. Trong khi đó Thượng Hải và Hà Nội có nền văn hóa đậm chất phương Đông, đại đa số người dân không ủng hộ những hành vi tình dục ngoài hôn nhân.

  • Tuổi quan hệ tình dục lần đầu

  • Không chỉ tỷ lệ QHTN THN mà tuổi QHTD lần đầu cũng có sự khác biệt. Nhìn chung VTN ngày nay có QHTD khá sớm. Số liệu điều tra quốc gia về VTN Mỹ 11 (2006) cho thấy 42% VTN nhóm 13-15 tuổi và 69% nhóm 16-18 tuổi đã QHTD. Nghiên cứu tại các trường trung học ở bang West Virginia (Mỹ), tỷ lệ VTN có QHTD là 52%. Nghiên cứu ở Thổ Nhĩ Kì (2008) thấy rằng tuổi trung vị QHTD lần đầu là 16 tuổi ở nam và 17 tuổi ở nữ VTN và tỷ lệ VTN có QHTD có xu hướng tăng lên. Ở Thụy Điển, xã hội cởi mở về tình dục và kiến thức tình dục, SKSS được giảng dạy trong trường phổ thông, tuổi được đồng ý QHTD là 15 tuổi. Ở một số nước châu Phi, việc VTN có QHTD sớm và quan hệ với nhiều bạn tình khá phổ biến. Tại Nam Phi, trên 50% người trong độ tuổi 15-24 cho biết đã từng có QHTD trước 18 tuổi. Trong khi đó, kết quả nghiên cứu ở Nigeria (2006) thấy rằng 19% nam và 6% nữ trong độ tuổi THPT đã QHTD. Trong khi đó tuổi trung bình QHTD lần đầu ở nam là 15,7 tuổi và ở nữ là 16,1 tuổi. Khoảng 1/4 VTN có sử dụng bao cao su trong lần QHTD gần nhất và 25% VTN QHTD lần đầu không tự nguyện

  • 1.1.2. Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên ở Việt Nam.

  • TTN Việt Nam ngày nay đã cởi mở hơn và có xu hướng QHTD THN nhiều hơn so với thế hệ trước. Theo điều tra SAVY2, năm 2005, tính chung cho cả những người đã kết hôn lẫn những người chưa kết hôn, kết quả cho thấy có 9,5% TTN cho biết họ đã từng có QHTD trước hôn nhân. Đối chiếu với tỷ lệ này ở SAVY1 là 7,6%. Riêng trong nhóm TN đang là SV, một số nghiên cứu tại các trường Cao đẳng, Đại học công bố tỷ lệ QHTD trước hôn nhân ở SV nằm trong khoảng 10 – 30% [1, 10, 12] cao hơn so với kết quả điều tra về VTN, TN nói chung (SAVY2). Đa số các nghiên cứu đều cho thấy tỷ lệ QHTD THN ở nam SV cao hơn so với nữ từ 1,5-3 lần [10, 12, 18] Các nghiên cứu khác cũng cho thấy tỷ lệ QHTD cũng có chiều hướng tăng lên qua các năm. Năm 2001, nghiên cứu của Nguyễn Thúy Quỳnh tại một trường Đại học Hà Nội trên 440 SV trong độ tuổi từ 17-24 cho tỷ lệ là 16,5% (nam 30,5%, nữ 11,9%) QHTD THN. Nghiên cứu của Vũ Hoàng Anh (2013) tại một trường khu vực đồng bằng Sông Hồng cho tỷ lệ 19,3% (21,4% nam và 12,6% nữ) [1]. Năm 2014, nghiên cứu tại trường Cao đẳng Y tế Phú THọ cho kết quả 29,1% (42% nam và 19,5% nữ), cá biệt có tới 9,5% nữ SV đã QHTD do bị ép buộc, cưỡng bức, lừa gạt; số sinh viên QHTD nhiều lần chiếm tỷ lệ cao.

  • Tuổi QHTD lần đầu

  • Tuổi QHTD lần đầu có xu hướng giảm. Ở SAVY1 tuổi QHTD lần đầu trung bình là 19,6 đối với nam là 20 và với nữ là 19,4 tuổi. Trong khi đó chỉ 3 năm sau, ở SAVY2, tuổi QHTD lần đầu trung bình toàn mẫu là 18,1 giảm 1,5 tuổi so với SAVY1. Con số này ở nam là 18,2 (giảm 1,8 tuổi so với SAVY1) và nữ là 18 (giảm 1,4 tuổi so với SAVY1). Tỷ lệ TTN có QHTD cũng khác nhau giữa nông thôn và thành thị. Tỷ lệ TTN ở nông thôn từng có QHTD THN là 7,1%, ở thành thị là 9%. TN nông thôn có xu hướng QHTD sớm hơn TN đô thị (18 tuổi ở nông thôn và 18,4 tuổi ở thành thị) [5,3]

  • 1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài

  • 1.2.1. Quan hệ tình dục

  • 1.2.2. Quan hệ tình dục trước hôn nhân

  • Ở đây cần làm rõ khái niệm hôn nhân. Theo Đại từ điển tiếng việt: “Hôn nhân là việc kết hôn giữa nam và nữ”.

  • Ở đây, khái niệm hôn nhân được hiểu “đó là sự ràng buộc giữa hai người nam và nữ được luật pháp thừa nhận cho phép yêu nhau và xây dựng gia đình”.

  • Sự thừa nhận đó được thể hiện bằng giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do chính quyền địa phương cấp. Giấy chứng nhận kết hôn chính là bằng chứng thừa nhận hợp pháp của quan hệ vợ chồng. Như vậy, QHTDTHN là QHTD xảy ra trước kh làm đám cưới, giữa hai người khác giới. Nó có thể phân thành hai tình huống: Một là giữa hai người không có quan hệ yêu đương phát sinh QHTD, tức là một người chưa kết hôn này với một người chưa kết hôn khác hoặc một người đã kết hôn không phải là đối tượng yêu của mình phát sinh quan hệ nam nữ không chính đáng; một tình huống khác là giữa hai người yêu nhau, trước khi đăng ký kết hôn đã phát sinh QHTD.

  • 1.2.3. Bệnh lây qua đường tình dục

  • Bệnh lây truyền qua đường tình dục còn gọi là bệnh hoa liễu, hay nhiễm trùng lây qua đường tình dục là bệnh có xác suất truyền từ người sang người thông qua các hành vi tình dục, bao gồm cả giao hợp âm đạo, quan hệ tình dục bằng miệng hay hậu môn.

  • 1.2.4. Tình dục an toàn

  • Quan hệ tình dục an toàn (TDAT) được hiểu là tình dục không có nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục, kể cả HIV/AID, hoặc gây ra thương tổn. Hiện nay khái niệm tình dục an toàn còn được hiểu là tình dục không dẫn tới có thai ngoài ý muốn

  • 1.2.5. Biện pháp tránh thai

  • Biện pháp tránh thai (BPTT) là biện pháp can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai ở nữ giới. Các BPTT thường áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể nhằm cắt đứt đường đi, ngăn cản không cho trứng gặp tinh trùng, hoặc các nỗ lực của các cá nhân nhằm tránh thụ thai

  • 1.3. Lý luận chung về vấn đề nghiên cứu

  • 1.3.1. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên

  • 1.3.2. Các yếu tố liên quan dến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên.

  • TTN nói chung và sinh viên nói riêng ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của bạn bè do thời gian của họ chủ yếu là ở trường học, nơi làm việc. Đặc biệt là những SV sống xa nhà, đi trọ học, sống ở kí túc xá thì bạn bè, người yêu là đối tượng gần gũi và có nhiều ảnh hưởng tới họ. Những người chịu tác động xấu từ bạn bè có tỷ lệ QHTD THN cao gấp 2,6 đến 3,8 lần. Tác động xấu từ bạn bè có ảnh hưởng đến nam giới hơn là nữ giới. Khi so sánh nhóm TTN ít chịu tác động từ bạn bè với nhóm TTN chịu nhiều tác động tiêu cực từ bạn bè ở mức độ trung bình và cao thì TTN có xu hướng QHTD cao hơn là 4 và 7,5 lần.

  • Một nghiên cứu khác chỉ ra những nam thanh niên biết bạn bè của mình có QHTD THN thì có nguy cơ QHTD cao hơn 3,37 lần so với nhóm còn lại [45] Việc trao đổi với bạn bè về các vấn đề liên quan tới tình dục cũng là một yếu tố liên quan đến QHTD THN của TTN. Nghiên cứu trên hơn 1000 nam giới 15-19 tuổi tại Bangladet cho biết TTN từng nói chuyện với bạn bè về tình dục có QHTD THN cao gấp 3 lần những người không trao đổi về vấn đề này.

  • Như vậy, yếu tố đồng đẳng, bạn bè là một phần rất quan trọng quyết định hành vi QHTD của TTN và SV.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

  • CHƯƠNG 2

  • THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN

  • CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

  • 2.1. Vài nét về địa bàn điều tra

  • 2.1.1. Mẫu nghiên cứu.

  • 2.2.2. Vài nét về khách thể nghiên cứu.

  • 2.2. Khái quát về điều tra thực trạng

  • 2.2.1. Mục đích và nhiệm vụ

  • 2.2.2. Phương pháp điều tra.

  • 2.3. Kết quả thực trạng

  • 2.3.1. Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục.

  • Bảng 2.3.1.1. Sinh viên hiểu về tình dục.

  • STT

  • Ý Kiến

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • 1

  • 11

  • 18.3

  • 2

  • Chỉ là một cách để có con

  • 9

  • 15

  • 3

  • 32

  • 53.3

  • 4

  • Không biết

  • 8

  • 13.3

  • Kết quả cho thấy có 32 sinh viên (chiếm 54.1 %) cho rằng “quan hệ tình dục là biểu hiện của sự hấp dẫn về thể xác và tình cảm” trong khi đó chiếm tỉ lệ 18.3% là 11 sinh viên có ý kiến “quan hệ tình dục chỉ sự thỏa mãn đơn thuần cho một đòi hỏi tự nhiên”. Ý kiến cho rằng “quan hệ tình dục chỉ là một cách để có con” chiếm tỉ lệ khiêm tốn là 15% với 9 sinh viên lựa chọn. Đồng thời có 8 sinh viên (13.3%) không biết quan hệ tình dục nghĩa là gì.

  • Bảng 2.3.1.2. Nhận thức của sinh viên về QHTD trước khi kết hôn.

  • STT

  • Ý kiến

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • Nam

  • Nữ

  • Nam

  • Nữ

  • 1

  • Đồng ý

  • 16

  • 9

  • 53.3

  • 30

  • 2

  • Lưỡng lự

  • 5

  • 6

  • 16.6

  • 20

  • 3

  • Không đồng ý

  • 9

  • 15

  • 30

  • 50

  • Qua bảng số liệu trên cho thấy có 41.6 % tỉ lệ sinh viên đồng ý việc sinh viên “có quyền QHTD khi yêu nhau, không cần đợi đến khi hứa hôn”. Tỉ lệ sinh viên nam đồng ý là 53.3 % còn 30% sinh viên nữ đồng ý. Như vậy, tỉ lệ số sinh viên nữ đồng ý việc QHTD khi yêu nhau ít hơn nam giới. Ngược lại, tỉ lệ sinh viên nữ không đồng ý thấp hơn ở nam giới. Tỉ lệ sinh viên lưỡng lự ở nam giới và nữ giới là tương đương nhau. Chúng ta cũng nhận thấy rằng giữa hai nhóm đối tượng nam giới và nữ giới có sự khác biệt lớn về nhận thức cho rằng “có quyền QHTD khi yêu nhau, không cần đợi đến khi kết hôn”

  • Bảng 2.3.1.3. Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết lên án của xã hội đối với QHTDTHN

  • STT

  • Ý kiến

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • Nam

  • Nữ

  • Nam

  • Nữ

  • 1

  • Đồng ý

  • 6

  • 12

  • 20

  • 40

  • 2

  • Lưỡng lự

  • 7

  • 5

  • 23.3

  • 16.6

  • 3

  • Không đồng ý

  • 17

  • 13

  • 56.7

  • 43.4

  • QHTDTHN của giới trẻ gây ra nhiều hậu quả đáng tiếc như việc có thai ngoài ý muốn, tỉ lệ nạo phá thai ngày càng tăng. Bên cạnh đó là sự ảnh hưởng đến tư tưởng, lối sống của họ. Những ảnh hưởng đó không chỉ trên phương diện cá nhân mà là toàn xã hội. Chính vì điều đó mà xã hội cần lên án hiện tượng QHTDTHN.

  • 2.3.2. Nhận thức của sinh viên về nhóm quan hệ tình dục.

  • Khi tìm hiểu nhận thức của sinh viên về QHTDTHN, tôi đã đi vào tìm hiểu các khía cạnh trong nhận thức để thấy được sự khác nhau trong suy nghĩ, quan điểm cũng như cách đánh giá của sinh viên. Bên cạnh đó, tôi cũng tìm hiểu nhận thức về nhóm có QHTDTHN trong sinh viên. Cụ thể bao gồm hai nhóm giới tính nam, nữ và bốn năm học. Tiêu chí chúng tôi đưa ra ở đây là những sinh viên đã QHTDTHN và những sinh viên chưa QHTDTHN.

  • Bảng 2.3.2.1.Nhận thức về nhóm có QHTDTHN trong sinh viên

  • Ý kiến

  • Nam

  • Nữ

  • Năm 1

  • Năm 2

  • Năm 3

  • Năm 4

  • Năm 1

  • Năm 2

  • Năm 3

  • Năm 4

  • Đã QHTD

  • 3

  • 3

  • 5

  • 5

  • 3

  • 5

  • 5

  • 2

  • Chưa QHTD

  • 4

  • 5

  • 3

  • 2

  • 4

  • 3

  • 6

  • 2

  • Qua bảng số liệu trên chúng ta nhận thấy có 31 sinh viên ở bốn năm đã QHTDTHN chiếm 53.3%; trong đó có 16 nam sinh viên (26.6%) và 15 nữ sinh viên (25%). Tỉ lệ sinh viên nam có QHTDTHN cao hơn tỉ lệ sinh viên nữ. Tỉ lệ chênh lệch này không đáng kể. Ở đây, chúng ta cũng nhận thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm nam nữ. đối với việc đã QHTDTHN.

  • Với 31 sinh viên đã QHTDTHN thì số sinh viên năm thứ nhất là 6 người (chiếm 10.0%), sinh viên năm thứ hai là 8 người (chiếm 13.3%), sinh viên năm thứ ba là 10 người (chiếm 16.6%) và số sinh viên năm thứ tư cũng là 7 người (11.6 %). Trong đó, tỉ lệ sinh viên năm thứ nhất đã QHTDTHN là thấp nhất. Tỉ lệ sinh viên đã QHTDTHN năm thứ ba là cao nhất còn tỉ lệ sinh viên đã QHTDTHN ở năm thứ hai và thứ tư có tỉ lệ tương đối bằng nhau.

  • Hiện nay, ở độ tuổi thiếu niên nhiều em đã QHTD, đến tuổi sinh viên việc có QHTDTHN cũng trở nên phổ biến. Lối sống hiện đại cũng như sự tác động của các phương tiện thông tin đại chúng đã ảnh hưởng đến nhận thức, đến suy nghĩ của thế hệ trẻ dẫn đến việc họ có những thay đổi trong thái độ, hành vi của bản thân. Việc bước vào QHTD sớm như hiện nay là tiếng chuông cảnh tỉnh cho các bậc phụ huynh, những người làm công tác giáo dục cũng như bản thân thế hệ trẻ rút ra những bài học cho bản thân mình. Đằng sau việc QHTDTHN là một loạt các hậu quả và các hệ lụy khác mà thế hệ trẻ phải gánh chịu.

  • 2.3.3. Nhận thức về biện pháp tránh thai trong QHTDTHN của sinh viên.

  • Trong quá trình điều tra chúng tôi thấy có 16 nam và 15 nữ đã QHTDTHN. Con số này nói lên rằng số lượng sinh viên QHTDTHN không nhiều nhưng thực tế có sinh viên đã QHTD. Những sinh viên QHTDTHN có thể có hoặc không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ đầu tiên đó. Và khi được hỏi là sinh viên có hay không sử dụng biện pháp QHTD chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

  • STT

  • Nam

  • Nữ

  • Tổng số

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • Có sử dụng BPTT

  • 9

  • 56.25

  • 8

  • 53.3

  • 17

  • 54.8

  • Không sử dụng BPTT

  • 7

  • 43.75

  • 7

  • 46.7

  • 14

  • 45.2

  • Tổng

  • 16

  • 100

  • 15

  • 100

  • 31

  • 100

  • Qua bảng số liệu ta thấy có 54.8 % sinh viên có sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên, trong đó có 56.25% là nam và 53.3% là nữ. Số không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên là 45.2%, trong đó có 43.75% là nam và 46.7% là nữ. Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy một điều là tỉ lệ có sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên ở nam cao hơn nữ. Điều đó có nói lên rằng việc phòng tránh có thai ngoài ý muốn ở các bạn nam cao hơn các bạn nữ hay không? Khi điều tra tôi thu được các ý kiến, hầu hết các bạn nam đều không muốn bạn nữ mang thai vì sẽ ảnh hưởng đến công việc học tập cũng như sợ mang tiếng, gánh chịu hậu quả. Những biện pháp tránh thai được sử dụng rất đa dạng như uống thuốc, tính ngày kinh, bao cao su… thì biện pháp dùng bao cao su được sử dụng nhiều nhất. Các bạn nam đều lý giải rằng biện pháp này tiện lợi, kín đáo, vừa tránh được việc mang thai và cũng phòng tránh được những bệnh lây qua đường tình dục.

  • Việc sinh viên có hay không dùng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên nói lên ý thức bảo vệ sức khỏe cho bản thân cũng như cho bạn tình của mình. Nếu như QHTD không dùng biện pháp tránh thai sẽ gây ra những hậu quả không mong muốn. Việc mang thai ngoài ý muốn sẽ cản trỏ công việc học tập cũng như sinh viên phải đối mặt với những vấn đề khác xảy ra. Khi hỏi những sinh viên không dùng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên thì các bạn có ý kiến không nghĩ lần quan hệ đầu sẽ làm có thai. Một số bạn thì nói do không thích hay bạn tình không đồng ý sử dụng biện pháp tránh thai…Có ý kiến còn cho rằng do việc QHTD xảy ra bất ngờ nên bản thân họ không chuẩn bị trước được. Ngoài ra còn có các ý kiến khác như không biết sử dụng BPTH, không nghĩ mình sẽ có thai trong lần QHTD đầu hay sợ các BPTT sẽ ảnh hưởng ến sức khỏe.

  • Như vậy, việc sinh viên không dùng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên đều có những lý do được đưa ra. Dù sinh viên biết hay không biết về các biện pháp tránh thai hay do những lý do này lý do khác thì việc không dùng biện pháp tránh thai nói lên sinh viên có nghĩ đến sức khỏe, những hậu quả mà QHTD mang lại hay không? Sinh viên lựa chọn ở tất cả các phương án là do lý do này hay 68 lý do khác, không có một lý do nào mà sinh viên không lựa chọn. Điều đó, cho thấy những sinh viên đã QHTD đều rơi vào hoàn cảnh như vậy, gặp phải trường hợp như thế, có và không sử dụng các biện pháp tránh thai. Những biện pháp tránh thai được sử dụng khi QHTD hầu như sinh viên đều biết, nhưng việc họ có sử dụng hay không và sử dụng như thế nào phụ thuộc vào chủ quan bản thân mỗi người.

  • 2.3.4. Nhận thức của sinh viên về biểu hiện nhu cầu của QHTDTHN

  • Với câu hỏi, đâu là biểu hiện của nhu cầu QHTD, tôi thu được biểu hiện qua bảng số liệu sau đây.

  • Bảng 2.3.4.1. Biểu hiện nhu cầu của QHTDTHN.

  • STT

  • Các nhu cầu

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • 1

  • Thỏa mãn nhu cầu giới tính của con người

  • 34

  • 56.6

  • 2

  • Biết trước khả năng sinh sản của người yêu

  • 1

  • 1.6

  • 3

  • Trao đổi để đạt mục đích của bản thân

  • 5

  • 8.3

  • 4

  • Thể hiện tình yêu với nhau

  • 10

  • 16.6

  • 5

  • Tạo sự gắn kết giữa hai người khác giới

  • 7

  • 11.6

  • 6

  • Thể hiện khả năng sinh lý của bản thân

  • 2

  • 3.2

  • 7

  • Khẳng định sự hiểu biết của bản thân mình về QHTD

  • 1

  • 1.6

  • Trong số các nhu cầu được đưa ra thì sinh viên nhận thức nhu cầu của QHTDTHN là nhằm “thỏa mãn nhu cầu giới tính của con người” chiếm tỉ lệ cao nhất (56.6%). QHTD là nhu cầu bản năng của con người. Nó thiết thực như cơm ăn, nước uống và cần có trong cuộc sống. Đến một độ tuổi nhất định thì việc QHTD không còn xa lạ với con người nữa. Nhưng việc QHTD như thế nào cho có văn hóa lại là chuyện khác. Mặc dù là bản năng, là nhu cầu tự nhiên nhưng không phải con người có thể thực hiện hành vi đó bất cứ khi nào hay ở bất cứ nơi đâu mà cần phải thực hiện cho có văn hóa, nghiêm túc. Xuất phát từ chính nhu cầu này mà đã ảnh hưởng đến nhận thức cũng như thái độ của sinh viên đối với QHTDTHN. Khi khẳng định QHTD là một nhu cầu giới tính thì thái độ chấp nhận QHTDTHN hay có hành vi QHTDTHN cũng dễ dàng được tán thành hơn.

  • Nhu cầu thứ hai của QHTDTHN được sinh viên nhận thức đó là để “thể hiện tình yêu với nhau”. Có nhiều sinh viên nghĩ rằng khi yêu cần phải có QHTD thì mới thể hiện được tình yêu với nhau. Suy nghĩ đó đã ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với QHTDTHN và cũng là điểm xuất phát để họ chấp nhận QHTDTHN. QHTD như là minh chứng chứng minh tình yêu. Tức là có QHTD thì mới là yêu nhau còn không thì không phải. Nhiều người cho rằng tình yêu và tình dục gắn liền với nhau. Nhu cầu này đã tác động đến thái độ của họ đối với QHTDTHN. Khi yêu nhau luôn có sự trao đổi tình cảm, cảm xúc để hiểu nhau hơn, tạo sự gắn bó, sự đồng điệu giữa hai tâm hồn.

  • Cũng có những người yêu nhau QHTDTHN và dẫn đến kết hôn nhưng cũng có những người yêu nhau có QHTDTHN nhưng không dẫn đến hôn nhân. Sự gắn kết giữa hai người ở đây chỉ dừng lại khi họ yêu nhau. Sinh viên nhận thức biểu hiện nhu cầu của QHTDHN là tạo sự gắn kết giữa hai người yêu nhau chứ không phải sự gắn kết lâu dài dẫn đến hôn nhân. Biểu hiện nhu cầu này cũng ảnh hưởng đến nhận thức của họ về những vấn đề khác và có những lựa chọn khác nhau liên quan đến thái độ và hành vi QHTDTHN (chiếm 11,6%)

  • Một biểu hiện nhu cầu khác của QHTDTHN đó là nhằm “trao đổi để đạt mục đích của bản thân”. Biểu hiện nhu cầu này chiếm tỉ lệ 8.3%. Có người chấp nhận QHTDTHN để thể hiện tình yêu, có người muốn chinh phục người yêu, có người chỉ vì lời thách đố của người khác, có người để nhằm đạt được tiền tài, danh vọng... Nói chung, mỗi người một nhu cầu nhưng đều nhằm vào ý muốn chủ quan của bản thân họ.

  • Như vậy, xuất phát từ những nhu cầu khác nhau mà mỗi người có những cách lựa chọn khác nhau cho thái độ và hành vi của bản thân mình. Việc lấy QHTDTHN để nhằm đạt được những mong muốn, nguyện vọng cá nhân cũng là suy nghĩ lệch lạc, sai lầm và cần được giáo dục để chấm dứt. Những nhu cầu khác của QHTDTHN đó là: “thể hiện khả năng sinh lý của bản thân” (3.2%), “khẳng định sự hiểu biết của bản thân về QHTD” (1.6%) và “biết trước khả năng sinh sản của người yêu” (1.6%) được sinh viên nhận thức ở mức độ tương đối thấp. Một số sinh viên cho rằng việc QHTDTHN giúp họ thể hiện được khả năng sinh lý của bản thân mình, chứng minh mình là người bình thường, có khả năng sinh lý, có thể làm cha, làm mẹ. Một số khác thì lại cho rằng QHTDTHN giúp họ chứng tỏ được sự hiểu biết những kiến thức liên quan đến tình dục với người khác. Những nhu cầu này đều nhằm vào việc nâng cao giá trị của bản thân họ trước người khác. Xuất phát từ suy nghĩ, quan niệm như vậy mà một phần sinh viên đã lựa chọn nhu cầu của QHTDTHN là để thể hiện khả năng sinh lý cũng như khẳng định sự hiểu biết của bản thân mình.

  • Qua đây chúng ta thấy rằng sinh viên nhận thức biểu hiện nhu cầu của QHTDTHN chủ yếu là do nhu cầu sinh lý còn những nhu cầu khác là thứ yếu.

  • 2.3.5. Lựa chọn của sinh viên khi QHTDTHN dẫn tới mang thai.

  • Hầu hết các sinh viên khi QHTDTHN đều không muốn mang thai vì điều đó ảnh hưởng đến công việc học tập. Chúng tôi đưa ra câu hỏi giả định các bạn sinh viên QHTDTHN nếu có thai sẽ lựa chọn cách thức nào.

  • Với câu hỏi, “Giả sử bạn có QHTDTHN và có thai, bạn sẽ chọn giải pháp nào”, tôi thu được kết quả như sau:

  • Bảng 2.3.5.1. Lựa chọn của sinh viên khi QHTDTHN dẫn tới mang thai

  • STT

  • Lựa chọn

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • 1

  • 7

  • 11.6

  • 2

  • Lưỡng lự khi quyết định phá thai.

  • 22

  • 36.7

  • 3

  • 3

  • 4

  • 28

  • 46.7

  • Qua bảng số liệu trên ta thấy có 11.6 % tỉ lệ sinh viên sẽ có quyết định “phá thai một cách dễ dàng không đắn đo” khi QHTDTHN và có thai ngoài ý muốn. Tỉ lệ sinh viên “lưỡng lự khi quyết định phá thai” là 36.7%. Như vậy, tỉ lệ sinh viên có quyết định sẽ phá thai là 48.3% mặc dù phá thai dễ dàng không đắn đo hay lưỡng lự. Điều đó cho thấy được trách nhiệm của sinh viên đối với tình yêu, với người yêu, với sức khỏe bản thân thậm chí với sinh linh bé nhỏ - kết quả của QHTD không lành mạnh.

  • Những sinh viên chọn giải pháp “để đẻ rồi cho người khác nuôi” chiếm tỉ lệ nhỏ. Giải pháp này được sinh viên lựa chọn không cao nhưng đã phần nào nói lên được trách nhiệm của họ với đứa con của mình. Dù sao họ cũng chấp nhận thái độ có thể là coi thường từ những người xung quanh để mang thai. Nhưng việc họ nuôi con sẽ ảnh hưởng đến công việc học tập thậm chí họ không đảm bảo được điều kiện về tài chính để nuôi con và việc cho con là giải pháp giúp họ vượt qua khó khăn.

  • Tỉ lệ sinh viên lựa chọn giải pháp “để đẻ và nuôi” chiếm cao nhất là 46.7%. So với các giải pháp khác thì đây lại là giải pháp được ưu tiên hơn cả. Khi được hỏi thì sinh viên nói rằng dù sao đứa bé cũng đáng được sống và họ không nhẫn tâm cướp đi mạng sống của nó. Có sinh viên đưa ra giải pháp đó nhưng có giải thích với chúng tôi rằng đó là chưa rơi vào hoàn cảnh thực sự chứ việc sinh con rồi nuôi sẽ gặp nhiều chuyện khác. Sinh viên khó mà đảm bảo được việc sinh con, nuôi con. Nhiều sinh viên nói việc phá thai cũng là một sự bất đắc dĩ chứ trong thâm tâm họ, họ cũng không muốn làm vậy.

  • 2.3.6. Nhận thức của sinh viên về hậu quả QHTDTHN

  • Sau quá trình khảo sát, tôi thu được 1 số hậu quả như sau:

  • Xa lánh bạn bè, người thân.

  • Trầm lặng.

  • Đau khổ

  • Ý nghĩ bị phản bội.

  • Sợ hãi cho hạnh phúc gia đình sau này.

  • Ghê tởm bản thân mình.

  • Căng thẳng.

  • Bị tổn thương.

  • Tội lỗi.

  • Sợ bị người khác ghét bỏ.

  • Sợ bị bỏ rơi.

  • Có thể thấy rằng, những hậu quả này là phổ biến, ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý của sinh viên.

  • 2.3.7. Thái độ của sinh viên đối với bạn bè và người yêu có QHTDTHN.

  • 2.3.7.1. Đối với bạn bè.

  • Việc những người bạn có QHTDTHN được sinh viên nhận thức và biểu hiện ra bằng thái độ của mình ở việc tán thành hay không tán thành. Câu hỏi được đưa ra là “bạn thấy thế nào khi biết những người bạn của mình có QHTDTHN” với 4 phương án trả lời: “không đồng ý”; “không đồng ý lắm”; “thấy đó là chuyện bình thường trong xã hội bây giờ”; “hoàn toàn là chuyện bình thường” để sinh viên trả lời. Kết quả thể hiện qua bảng sau:

  • STT

  • Thái độ

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • 1

  • Không đồng ý

  • 24

  • 40

  • 2

  • Không đồng ý lắm

  • 16

  • 26.6

  • 3

  • Thấy đó là chuyện bình thường trong xã hội bây giờ

  • 12

  • 20

  • 4

  • Hoàn toàn là chuyện bình thường

  • 8

  • 13.4

  • Chúng ta nhận thấy rằng tỉ lệ sinh viên có thái độ không đồng ý chuyện QHTDTHN của bạn bè cao hơn so với tỉ lệ đồng ý. Mức độ này nói lên việc sinh viên hoàn toàn không tán thành QHTDTHN của bạn bè. Những sinh viên này cho rằng việc QHTDTHN là không thể chấp nhận được, đáng bị phê phán. Trong quá trình điều tra chúng tôi cũng thu được những ý kiến nói rằng họ cảm thấy coi thường những người đã QHTDTHN. Họ cho đó là những người sống dễ dãi với bản thân mình, có lối sống buông thả, không tôn trọng giá trị bản thân mình và người khác. Một số bạn sinh viên còn nói sau khi biết bạn mình đã QHTD trở nên xa lánh người bạn đó. Như thế cho thấy, sinh viên có thái độ không thể chấp nhận QHTDTHN của bạn bè mình.

  • 2.3.7.2. Đối với người yêu có QHTDTHC với người khác.

  • Ngoài việc tìm hiểu thái độ của sinh viên đối với QHTDTHN của bạn bè chúng tôi còn tìm hiểu thái độ của sinh viên đối với người yêu có QHTDTHN với người khác. Với câu hỏi được đưa ra là: “nếu người yêu của bạn trước khi kết hôn với bạn đã từng có QHTD thì bạn nghĩ sao?” với 3 phương án trả lời được đưa ra “có quyền, không sao hết”; “có thể chấp nhận”; “không chấp nhận” để sinh viên lựa chọn.

  • STT

  • Thái độ

  • Số lượng

  • Tỉ lệ (%)

  • 1

  • Có quyền, không sao hết.

  • 8

  • 13.3

  • 2

  • Có thể chấp nhận

  • 25

  • 41.6

  • 3

  • Không chấp nhận.

  • 27

  • 45

  • Trước câu hỏi hỏi về thái độ của sinh viên đối với QHTDTHN của người yêu trước khi kết hôn thì có 13.3% tỉ lệ sinh viên cho rằng “có quyền, không sao hết”. Nghĩa là họ chấp nhận được việc người yêu của họ khi kết hôn với họ đã QHTD với một người khác. Có 41.6% tỉ lệ sinh viên “có thể chấp nhận” người yêu đã từng QHTDTHN. Như vậy, tỉ lệ những người đồng ý là 54.6%. Những người này giải thích rằng ai cũng có quá khứ, việc nhìn lại quá khứ không những cản trở con người sống tốt ở hiện tại và tương lai thậm chí còn gây ra nhiều chuyện khác. Có người nói rằng tùy theo hoàn cảnh có thể xem xét để chấp nhận hay không chấp nhận việc người yêu đã từng có QHTDTHN. Trong tình yêu có sự bao dung, tha thứ nên nhiều người nói rằng có thể chấp nhận việc người yêu đã từng có QHTDTHN.

  • Có một số bạn chia sẻ rằng nếu người yêu của mình không may bị cưỡng hiếp hay bắt buộc phải QHTDTHN thì nên tha thứ và chấp nhận người yêu. Nhưng nếu là người đã từng có lối sống buông thả, dễ dãi thì khó mà chấp nhận được. Có bạn sinh viên thì nói tuy vẫn chấp nhận được nhưng vẫn cảm thấy buồn vì người yêu không còn nguyên vẹn. Một số khác thì nói rằng xã hội hiện nay cũng đã thoáng hơn trong chuyện QHTDTHN của giới trẻ nên việc chấp nhận chuyện QHTDTHN của người 99 yêu cũng không còn khắt khe như trước, chỉ cần hiện tại người yêu yêu mình, tin tưởng và có mục đích cho cuộc sống tương lai. Một số bạn nói rằng có thể chấp nhận được QHTDTHN của người yêu vì người đó đã thật lòng chia sẻ chuyện đã xảy ra. Qua đó cho thấy việc sinh viên có thái độ chấp nhận QHTDTHN của người yêu trước khi kết hôn được họ lý giải với rất nhiều lý do khác nhau. Những lý do ấy khiến họ có thể tha thứ, chấp nhận người yêu và coi chuyện QHTDTHN như một tai nạn xảy ra trong cuộc đời người yêu mà thôi. Đối với họ cuộc sống hiện tại, tương lai mới là điều quan trọng.

  • Sinh viên có thái độ chấp nhận QHTDTHN của người yêu trước kết hôn ở hai mức độ khác nhau lên tới 54.6%, đây là một tỉ lệ khá cao. Số sinh viên chấp nhận QHTDTHN của người yêu cao hơn so với những người không chấp nhận. Tỉ lệ số sinh viên có thái độ “không chấp nhận” QHTDTHN của người yêu trước khi kết hôn là 45.4%. Đây cũng là một tỉ lệ tương đối, mặc dù thấp hơn so với tỉ lệ đồng ý nhưng cũng nói lên rằng số lượng người không chấp nhận người yêu có QHTDTHN không phải là ít. Một số bạn nam nói rằng không thể chấp nhận việc người yêu có QHTDTHN vì không muốn lấy một người vợ không còn trinh tiết. Một số khác nói sợ phải nghe những lời dèm pha, sợ bị chê cười vì lấy vợ hư hỏng. Như vậy, số sinh viên chấp nhận người yêu trước khi kết hôn có QHTDTHN cao hơn số sinh viên phản đối. Sự chấp nhận đó được lý giải bởi những nguyên nhân khác nhau, bày tỏ được quan điểm của bản thân. Chúng tôi đưa ra câu hỏi giả định như vậy để xem xét và đánh giá nhận thức cũng như thái độ của sinh viên đối với QHTDTHN.

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

  • CHƯƠNG 3

  • ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ QHTDTHN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

  • 3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

  • 3.1.1. Đảm bảo tính mục tiêu

  • 3.1.2. Đảm bảo tính thực tiễn

  • 3.1.3. Đảm bảo tính hiệu quả

  • 3.1.4. Đảm bảo tính khả thi

  • 3.2. Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên K58 – GDMN trường Đại học Vinh

  • 3.2.1.Biện pháp 1: Cung cấp thông tin, kiến thức cho sinh viên về biện pháp tránh thai hiệu quả

  • 3.2.2.Biện pháp 2: Phát huy vai trò của gia đình trong việc nâng cao nhận thức cho sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân.

  • 3.2.3.Biện pháp 3: Tổ chức câu lạc bộ sinh viên để làm công tác tuyên truyền giáo dục về các biện pháp tránh thai, hậu quả của quan hệ tình dục trước hôn nhân

  • 3.5. Biện pháp 5: Tăng cường sự chỉ đạo của nhà trường, giải đáp những thắc mắc của sinh viên khi gặp những vấn đề nhằm nâng cao nhận thức về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

  • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

  • PHẦN 3

  • KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT SƯ PHẠM

  • 1. Kết luận sư phạm

  • 1.1. Về lí luận

  • 1.2. Về kết quả nghiên cứu

  • 2. Kiến nghị

  • 2.1. Đối với nhà trường

  • 2.2. Đối với phụ huynh

  • 2.3. Đối với sinh viên.

  • - SV cần nhận thức về nguy cơ về sức khỏe khi QHTDTHN ( có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai, các bệnh LTQĐTD). Do đó, cần tự trang bị kiến thức, kỹ năng sống, quan điểm sống đúng đắn để không bị lôi kéo vào các hành vi lối sống không lành mạnh, có kiến thức về tình dục an toàn tốt để bảo vệ cho bản thân.

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • 5. Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ. Tâm lý học (Tập một). NXB Giáo Dục, 1988.

  • PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU

  • Câu 3: Bạn nghĩ sao về ý kiến “có quyền QHTD khi yêu nhau, không cần đợi đến khi kết hôn”?

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

Sinh viên trường đại học Vinh có đời sống cá nhân đa dạng, thể hiện qua kiến thức và thái độ về hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân Nhiều sinh viên cho rằng việc tìm hiểu và giáo dục giới tính là cần thiết để xây dựng mối quan hệ lành mạnh Các mối quan hệ với gia đình và bạn bè cũng ảnh hưởng lớn đến quan điểm của họ về vấn đề này; trong khi một số sinh viên nhận được sự hỗ trợ và hiểu biết từ gia đình, những người khác lại phải đối mặt với áp lực xã hội và định kiến Thái độ cởi mở và cầu thị trong việc trao đổi thông tin về tình dục có thể giúp sinh viên có những quyết định đúng đắn hơn trong cuộc sống tình cảm.

Bài viết mô tả thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Trường Đại học Vinh, đồng thời đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức cho sinh viên Những kiến nghị này sẽ giúp sinh viên lựa chọn lối sống lành mạnh trong tình yêu và biết cách phòng tránh an toàn trong quan hệ tình dục trước hôn nhân.

Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu: Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Trường Đại học Vinh.

3.2 Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên Trường Đại học Vinh

3.3 Địa bàn nghiên cứu: Trường Đại học Vinh, số 182 đường Lê

Duẩn, Thành phố Vinh, Tỉnh Nghệ An

Giả thuyết khoa học

Đánh giá thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Trường Đại học Vinh sẽ giúp nâng cao kiến thức về sức khỏe sinh sản và hình thành thái độ đúng đắn về vấn đề này.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận về kiến thức quan hệ tình dục của sinh viên là cần thiết để hiểu rõ hơn về nhận thức và hành vi của họ Bên cạnh đó, việc khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Trường Đại học Vinh sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về xu hướng và thách thức mà sinh viên đang đối mặt Thông qua những dữ liệu này, chúng ta có thể đề xuất các giải pháp giáo dục phù hợp nhằm nâng cao kiến thức và ý thức của sinh viên về vấn đề này.

Để nâng cao kiến thức về quan hệ tình dục và sử dụng biện pháp phòng tránh an toàn cho sinh viên Trường Đại học Vinh, cần triển khai các chương trình giáo dục giới tính toàn diện Những biện pháp này bao gồm tổ chức các buổi hội thảo, cung cấp tài liệu hữu ích và tạo ra môi trường thảo luận cởi mở Bên cạnh đó, việc hợp tác với các chuyên gia y tế để tư vấn và giải đáp thắc mắc cũng rất quan trọng Thông qua các hoạt động này, sinh viên sẽ được trang bị kiến thức cần thiết để có quyết định đúng đắn và an toàn trong quan hệ tình dục.

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại, so sánh.

- Phương pháp thu thập số liệu: Thực tế điều tra

Tôi đã thu thập các tài liệu liên quan đến vấn đề này,để hỗ trợ việc nghiên cứu

- Là phương pháp sử dụng câu hỏi đề điều tra trên sinh viên Trường Đại học Vinh

- Công thức tính cỡ mẫu: áp dụng công thức cho một tỷ lệ n =

+ n: số lượng sinh viên tối thiểu

+ e: sai số cho phép (trong nghiên cứu này lấy sai số cho phép e 0,08 (8%) với độ tin cậy ở ngưỡng là 90%, z = 1,645)

+ p: ước lượng tỷ lệ ước đoán sinh viên đã từng QHTD (trong nghiên cứu này chọn p = 0,2 tức là ước đoán nó vào khoảng 20%)

Theo công thức tính toán, cỡ mẫu cần thiết là 68 người Tuy nhiên, với ước tính 12% đối tượng có khả năng từ chối tham gia, số lượng mẫu cần thiết được làm tròn là 60 người Cuối cùng, quá trình thu thập dữ liệu đã hoàn tất với 60 người tham gia.

Chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả được thực hiện bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn giản và hệ thống, đảm bảo rằng các sinh viên được lựa chọn phù hợp với đối tượng nghiên cứu mà không có sự chọn lọc định hướng Mục tiêu là thu thập các chỉ số liên quan đến tình trạng sử dụng biện pháp phòng tránh thai (BPTT) của sinh viên trong quan hệ tình dục.

Phương pháp lý thuyết: Phân tích, tổng hợp, phân loại

- Phương pháp sưu tầm tài liệu, đọc, hệ thống phân tích giải thích đánh giá số liệu thu được thông qua nghiên cứu.

- Phương pháp thu thập thông tin thông qua kênh thông tin đại chúng, internet.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục nghiên cứu, tài liệu tham khảo, đề tài gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về việc quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên.

Chương 2: Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

Chương 3: Đề xuất ý kiến và bàn luận

PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC SỬ DỤNG BIỆN PHÁP TRÁNH THAI TRONG QUAN HỆ TÌNH DỤC CỦA SINH VIÊN

Một số vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên trên thế giới

Ngày nay, quan hệ tình dục ở thanh thiếu niên (TTN) đã trở nên phổ biến trên toàn cầu, nhưng mức độ khác nhau giữa các quốc gia và châu lục Nghiên cứu của Melhado (2009) cho thấy tại châu Phi, hơn 50% TTN trong độ tuổi 18-19 đã từng có quan hệ tình dục Trong khi đó, ở các nước phương Tây như Mỹ, tỷ lệ này lên tới 75%, và ở Anh và Pháp lần lượt là 79% và 67% cho nhóm TTN dưới 20 tuổi Tại châu Á, một nghiên cứu của Barbour về sinh viên đại học tại Lebanon cũng cho thấy xu hướng tương tự.

Năm 2009, tỷ lệ nam giới có quan hệ tình dục ở độ tuổi thanh niên đạt 73,3%, trong khi tỷ lệ nữ giới chỉ là 21,8% Mặc dù phần lớn nam giới sử dụng bao cao su, nhưng có tới 75,6% nữ giới không áp dụng biện pháp bảo vệ này So với các quốc gia như Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam, con số này vẫn thấp hơn nhiều Nghiên cứu về hành vi tình dục của thanh niên đã chỉ ra những xu hướng đáng chú ý trong việc sử dụng biện pháp an toàn.

Năm 2004, tác giả Vũ Mạnh Lợi chỉ ra rằng tại Hà Nội, chỉ có 8% thanh niên trong mẫu nghiên cứu đã từng có quan hệ tình dục, trong khi tỷ lệ này ở Thượng Hải là 16% và cao nhất ở Đài Loan với 34% Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hóa phương Tây tại Đài Loan, mặc dù khu vực này nằm trong châu Á Ngược lại, Thượng Hải và Hà Nội đều có nền văn hóa phương Đông, nơi mà đại đa số người dân không ủng hộ các hành vi tình dục ngoài hôn nhân.

Tuổi quan hệ tình dục lần đầu

Tỷ lệ quan hệ tình dục ở thanh niên hiện nay có sự khác biệt đáng kể, đặc biệt là về độ tuổi lần đầu quan hệ tình dục Theo số liệu từ cuộc điều tra quốc gia về thanh niên Mỹ năm 2006, có tới 42% thanh niên trong độ tuổi 13-15 và 69% trong độ tuổi 16 đã có quan hệ tình dục.

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ vị thành niên (VTN) có quan hệ tình dục (QHTD) ở bang West Virginia, Mỹ là 52% Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tuổi trung vị QHTD lần đầu là 16 tuổi cho nam và 17 tuổi cho nữ, với xu hướng gia tăng trong tỷ lệ VTN có QHTD Ở Thụy Điển, nơi có xã hội cởi mở về tình dục và giáo dục sức khỏe sinh sản trong trường học, tuổi đồng ý QHTD là 15 Tại một số nước châu Phi, việc VTN có QHTD sớm và với nhiều bạn tình là phổ biến; ở Nam Phi, hơn 50% người từ 15-24 tuổi đã từng QHTD trước 18 Kết quả nghiên cứu tại Nigeria năm 2006 cho thấy 19% nam và 6% nữ trong độ tuổi THPT đã có QHTD, với tuổi trung bình lần đầu là 15,7 cho nam và 16,1 cho nữ Khoảng 25% VTN đã sử dụng bao cao su trong lần QHTD gần nhất, trong khi 25% VTN có QHTD lần đầu không tự nguyện.

1.1.2 Thực trạng hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên ở Việt Nam

TTN Việt Nam hiện nay đã cởi mở hơn và có xu hướng quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTD THN) cao hơn so với thế hệ trước Theo điều tra SAVY2 năm 2005, 9,5% TTN cho biết đã từng có QHTD trước hôn nhân, tăng từ 7,6% ở SAVY1 Trong nhóm thanh niên đang là sinh viên, tỷ lệ QHTD trước hôn nhân dao động từ 10-30%, cao hơn so với tỷ lệ chung Đặc biệt, nam sinh viên có tỷ lệ QHTD cao hơn nữ từ 1,5-3 lần Các nghiên cứu qua các năm cho thấy tỷ lệ QHTD đang tăng lên; năm 2001, tỷ lệ là 16,5% (30,5% nam và 11,9% nữ), trong khi năm 2014, tỷ lệ đạt 29,1% (42% nam và 19,5% nữ) Đáng lưu ý, có 9,5% nữ sinh viên đã trải qua QHTD do bị ép buộc, cưỡng bức hoặc lừa gạt, và số sinh viên có nhiều lần QHTD cũng chiếm tỷ lệ cao.

Tuổi quan hệ tình dục lần đầu có xu hướng giảm, theo khảo sát SAVY1, tuổi trung bình là 19,6, với nam là 20 và nữ là 19,4 Ba năm sau, khảo sát SAVY2 cho thấy tuổi trung bình giảm xuống còn 18,1, giảm 1,5 tuổi so với SAVY1 Cụ thể, nam giới có tuổi trung bình là 18,2 (giảm 1,8 tuổi) và nữ giới là 18 (giảm 1,4 tuổi) Tỷ lệ thanh niên có quan hệ tình dục cũng khác nhau giữa nông thôn và thành phố, với tỷ lệ ở nông thôn là 7,1% và ở thành phố là 9%, cho thấy thanh niên nông thôn có xu hướng quan hệ tình dục sớm hơn.

TN đô thị (18 tuổi ở nông thôn và 18,4 tuổi ở thành thị) [5,3]

Các khái niệm cơ bản của đề tài

Quan hệ tình dục, hay giao hợp, là hành vi đưa bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ nhằm tạo khoái cảm hoặc sinh sản Hình thức này thường được biết đến là tình dục qua đường âm đạo Ngoài ra, còn có các hình thức khác như quan hệ tình dục qua đường hậu môn, tình dục bằng miệng, và xâm nhập bằng ngón tay hoặc dương vật giả Những hoạt động này không chỉ mang lại sự gần gũi về thể xác mà còn giúp tăng cường mối quan hệ giữa các cá nhân, tạo ra sự thân thiết và bền chặt hơn.

1.2.2 Quan hệ tình dục trước hôn nhân Ở đây cần làm rõ khái niệm hôn nhân Theo Đại từ điển tiếng việt: “Hôn nhân là việc kết hôn giữa nam và nữ”. Ở đây, khái niệm hôn nhân được hiểu “đó là sự ràng buộc giữa hai người nam và nữ được luật pháp thừa nhận cho phép yêu nhau và xây dựng gia đình”.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn do chính quyền địa phương cấp là bằng chứng hợp pháp thừa nhận quan hệ vợ chồng Quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTDTHN) xảy ra giữa hai người khác giới trước khi tổ chức đám cưới QHTDTHN có thể chia thành hai tình huống: Thứ nhất, giữa hai người chưa kết hôn hoặc một người đã kết hôn không phải là đối tượng yêu của nhau, phát sinh quan hệ nam nữ không chính đáng; thứ hai, giữa hai người yêu nhau, trước khi đăng ký kết hôn, đã có quan hệ tình dục.

1.2.3 Bệnh lây qua đường tình dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục, hay còn gọi là bệnh hoa liễu, là những nhiễm trùng có khả năng lây lan từ người này sang người khác thông qua các hoạt động tình dục, bao gồm giao hợp âm đạo, quan hệ tình dục bằng miệng và hậu môn.

Quan hệ tình dục an toàn (TDAT) được định nghĩa là hành vi tình dục không làm tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục, bao gồm cả HIV/AIDS, và không gây ra tổn thương cho sức khỏe Ngoài ra, TDAT còn được hiểu là hình thức tình dục không dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn.

Biện pháp tránh thai (BPTT) là những phương pháp can thiệp nhằm ngăn chặn quá trình thụ thai ở nữ giới Các BPTT phổ biến bao gồm thuốc, hóa chất và thiết bị đưa vào cơ thể, với mục tiêu cắt đứt đường đi của tinh trùng và trứng, từ đó ngăn cản sự thụ thai Những nỗ lực này giúp cá nhân kiểm soát khả năng mang thai một cách hiệu quả.

Lý luận chung về vấn đề nghiên cứu

1.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên

1.3.1.1 Đặc điểm sinh lý của lứa tuổi sinh viên nói chung.

Tuổi thanh niên gắn liền với khái niệm lứa tuổi quá độ, trong đó sự chín muồi giới tính đóng vai trò trung tâm Quá trình sinh lý học này được chia thành ba giai đoạn chính.

- Thời kỳ trước dậy thì.

- Thời kỳ dậy thì, mà trong đó các quá trình cơ bản của sự chín muồi giới tính được thực hiện.

- Thời kỳ sau dậy thì, khi cơ thể đạt tới sự trưởng thành sinh học đầy đủ.

Sinh viên năm 1 và năm 2 thường nằm trong độ tuổi từ 18 đến 20, đánh dấu giai đoạn chuyển tiếp từ tuổi thanh niên sang tuổi trưởng thành Trong thời gian này, quá trình phát triển sinh học đã hoàn thiện, cho phép họ bước vào chu trình của người lớn.

1.3.1.2 Đặc điểm sinh lý của em gái lứa tuổi sinh viên.

Đối với sinh viên nữ, quá trình chín muồi sinh học đã hoàn thiện, với sự xuất hiện của kinh nguyệt không còn là điều gây bối rối Tuyến vú phát triển và các dấu hiệu sinh dục thứ cấp như âm hộ và hệ thống xương chậu cũng phát triển rộng hơn.

- Sự phát triển đến mức hoàn chỉnh của buồng trứng:

Buồng trứng, hình thành vào tuần thứ 10 hoặc 11 của phôi, có hai chức năng chính là sản xuất trứng và tiết hormone sinh dục nữ Khi đến tuổi trưởng thành, hệ thống ống dẫn trứng và dạ con đã phát triển hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình mang thai và sinh đẻ.

Hệ cơ ở trẻ em phát triển mạnh mẽ, giúp tăng cường sức lực và hỗ trợ sự phát triển của hệ xương Trong giai đoạn này, chiều cao của các bé gái đã ổn định, các chi phát triển đồng đều và cân đối, mang đến những đường nét mềm mại đặc trưng cho phái nữ.

- Hệ thần kinh: Hệ thống tim mạch, thần kinh mang tính ổn định và hoạt động theo nhịp bình thường thuộc chu kỳ người lớn.

1.3.1.3 Đặc điểm sinh lý của em trai lứa tuổi sinh viên.

Trong giai đoạn phát triển giới tính thứ cấp, kích thước tinh hoàn và bìu cũng như sự phát triển của lông đạt đến mức hoàn thiện Các em trai có chiều cao tương đối ổn định và hệ cơ phát triển mạnh mẽ, mang lại tầm vóc cân đối hơn so với thời kỳ dậy thì, thể hiện rõ nét cứng cáp và nở nang của nam giới Mặc dù trọng lượng cơ thể tăng ít hơn so với giai đoạn dậy thì, nhưng sự trao đổi chất lại được tăng cường, trong khi hệ thần kinh vẫn hoạt động tương đối mạnh.

1.3.1.4 Đặc điểm tâm lý của lứa tuổi sinh viên

Ở lứa tuổi sinh viên, nhân cách của họ phát triển với những phẩm chất mới, thể hiện sự trưởng thành Khác với thời học sinh, sinh viên không chỉ học kiến thức chung mà còn chuyên sâu vào nghề nghiệp, gắn liền với quyền lợi và trách nhiệm xã hội Họ có quyền tham gia bầu cử và ứng cử vào đại biểu hội đồng nhân dân, thể hiện vai trò quan trọng trong đời sống chính trị Tâm lý sinh viên cũng phản ánh sự tự xác định về mặt xã hội, giúp họ định vị bản thân trong thế giới người lớn Xã hội không chỉ coi sinh viên là đối tượng cần giáo dục mà còn là những chủ thể có trách nhiệm trong hoạt động xã hội và sản xuất, với kết quả được đánh giá theo tiêu chuẩn của người lớn Sinh viên tích cực tham gia vào nghiên cứu khoa học và các phong trào đoàn thể, góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.

Sự phát triển nhận thức và trí tuệ ở sinh viên diễn ra đồng thời về chất lượng và số lượng, liên quan chặt chẽ đến năng lực sáng tạo Sinh viên có khả năng tập trung cao, nhưng cần kỷ luật và sự tập trung trí tuệ để phát huy tiềm năng Trình độ học vấn ngày càng cao, tính độc lập trong học tập và nghề nghiệp phát triển mạnh mẽ, chuyển từ sự điều khiển bên ngoài sang tự điều khiển Việc khám phá hình ảnh "cái tôi" không chỉ phụ thuộc vào nhận thức mà còn vào tâm thế xã hội và thái độ cá nhân, bao gồm ba yếu tố: nhận thức, xúc cảm và hành vi Tâm trạng sinh viên ổn định hơn, thể hiện qua sự phát triển tình cảm cao như tình cảm đạo đức, nghĩa vụ xã hội và khả năng đồng cảm Sinh viên nhạy cảm với sự tương phản và có sự phát triển óc hài hước gắn liền với trí tuệ Họ bắt đầu chấp nhận vẻ bề ngoài của mình và ổn định kỳ vọng, đồng thời chú trọng đến những phẩm chất khác của "cái tôi" như năng lực trí tuệ, phẩm chất đạo đức và ý chí, quyết định thành công trong hoạt động và quan hệ xã hội.

Nhu cầu giao tiếp ở lứa tuổi thanh niên rất lớn, không chỉ là cách nghỉ ngơi mà còn là phương tiện tự thể hiện nhân cách và thiết lập tình cảm mới Các nhóm bạn bè hỗn hợp dần tan rã, nhường chỗ cho những mối quan hệ khác giới, trong đó tình bạn thường chứa đựng tình yêu đang nảy sinh Bên cạnh việc chuẩn bị kiến thức cho sự nghiệp, lứa tuổi này còn có nhiệm vụ quan trọng là xây dựng nền tảng cho gia đình trong tương lai.

1.3.2 Các yếu tố liên quan dến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên.

1.3.2.1 Các yếu tố liên quan đến cá nhân

Yếu tố hành vi lối sống

Một số hành vi lối sống không lành mạnh như xem phim khiêu dâm, sử dụng chất gây nghiện, thuốc lá và rượu bia có ảnh hưởng tiêu cực đến hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTD THN) Nghiên cứu của Raheel (2013) cho thấy sinh viên sử dụng ma túy có nguy cơ QHTD trước hôn nhân cao gấp 2,5 lần so với những người không sử dụng rượu bia hay chất kích thích Ngoài việc thúc đẩy QHTD THN, những hành vi này còn dẫn đến tình trạng quan hệ tình dục không an toàn Cụ thể, nguy cơ QHTD không an toàn khi uống rượu bia cao hơn so với người không sử dụng, với tỷ lệ 40% so với 35% Hơn nữa, việc tiêu thụ rượu bia còn làm tăng khả năng QHTD với bạn tình ngẫu nhiên như gái mại dâm hay người mới quen.

Nghiên cứu cho thấy rằng sinh viên có xu hướng truy cập vào các trang web khiêu dâm có khả năng đồng thuận cao với những quan niệm cởi mở về tình dục, như xem tình dục là nhu cầu cơ bản, gắn liền với tình yêu và là một hình thức giải trí Cụ thể, nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh (2008) tại TTN Gia Lâm, Hà Nội chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa việc xem ấn phẩm khiêu dâm và hành vi quan hệ tình dục trước hôn nhân, với hơn 40% thanh thiếu niên thừa nhận cảm thấy kích thích và 23% mong muốn bắt chước các hành vi trong phim.

1.3.2.2 Các yếu tố liên quan đến gia đình

Gia đình là môi trường giáo dục đầu tiên và quan trọng nhất, nơi mà các cá nhân tiếp nhận kiến thức và giá trị xã hội Đặc biệt, gia đình có vai trò then chốt trong việc hình thành nhân cách mà xã hội mong đợi, cũng như cung cấp hiểu biết về sinh lý sinh sản cho thanh thiếu niên Tại Việt Nam, thanh thiếu niên trong độ tuổi 18-24 bắt đầu cuộc sống tự lập, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng lớn từ gia đình Nếu gia đình không định hướng đúng đắn và thiếu sự quan tâm, giám sát, thanh thiếu niên có xu hướng có hoạt động quan hệ tình dục cao hơn.

Nghiên cứu tại Philippines cho thấy nam giới ở đây có quan điểm thoáng về quan hệ tình dục đồng giới, coi đó là một biểu hiện của nam tính Tuy nhiên, việc sống cùng gia đình vẫn giúp giảm nguy cơ tham gia vào các quan hệ tình dục đồng giới ở nam giới Philippines.

Nghiên cứu tại Thái Lan chỉ ra rằng việc sống cùng cả bố và mẹ có tác dụng bảo vệ hành vi quan hệ tình dục không an toàn ở thanh thiếu niên Cụ thể, nữ thanh thiếu niên không sống cùng bố hoặc mẹ có nguy cơ quan hệ tình dục không an toàn tăng 1,5 lần, và nếu không sống với cả hai, nguy cơ này tăng gấp 4 lần so với những người sống cùng bố mẹ Đối với nam thanh thiếu niên, việc không sống cùng cả bố và mẹ cũng làm gia tăng nguy cơ quan hệ tình dục không an toàn gấp 2 lần.

Nghiên cứu tại một số trường đại học ở Hà Nội cho thấy, sinh viên ngoại tỉnh trong độ tuổi từ 17-24 có tỷ lệ quan hệ tình dục trước hôn nhân cao hơn so với sinh viên sống tại địa phương.

THỰC TRẠNG QUAN HỆ TÌNH DỤC TRƯỚC HÔN NHÂN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Vài nét về địa bàn điều tra

Dựa trên mục tiêu của đề tài và đặc điểm của khách thể, việc lựa chọn khách thể được thực hiện theo quy định nghiêm ngặt, nhằm đảm bảo tính khách quan, trung thực và đại diện cao.

Danh sách sinh viên được chọn bao gồm 60 sinh viên, trong đó có 30 nam và 30 nữ, hiện đang theo học tại trường Đại học Vinh.

2.2.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu

Tôi đã chọn 30 sinh viên nam và 30 sinh viên nữ đang theo học tại trường Đại học Vinh làm đối tượng nghiên cứu, dựa trên các tiêu chí nhất định.

- Phần lớn các sinh viên đang theo học tại trường Đại học Vinh đều là những sinh viên đang thuê trọ, ở nhiều nơi khác nhau

- Môi trường đại học nơi các sinh viên học đều lành mạnh tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập, nghiên cứu, rèn luyện của sinh viên

- Khách thể nghiên cứu là những thanh niên học sinh tốt nghiệp các trường phổ thông trung học đã qua kỳ tuyển sinh đại học theo quy định của

Bộ Giáo dục và đào tạo Phần lớn họ là đoàn viên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

Họ là những cá nhân sở hữu sức mạnh, phẩm chất và năng lực vượt trội Dưới đây là bảng phân bố phần trăm các đặc điểm của khách thể, thể hiện sự đa dạng và phong phú trong những yếu tố này.

Hiện nay sinh viên đang sống cùng: Ở cùng gia đình Ở cùng người yêu Ở với bạn bè Ở một mình Ở KTX

Tình trạng mối quan hệ Đã có người yêu Đã từng có nhưng hiện tại không có

Qua bảng số liệu trên ta thấy khách thể có một số đặc điểm sau:

- Tỉ lệ nam và nữ được nghiên cứu là như nhau Điều đó phục vụ cho mục đích nghiên cứu của đề tài.

- Nơi cư trú của phần lớn sinh viên là ở Nghệ An (81,6 ), sinh viên đến⁒ từ tỉnh khác chỉ chiếm 19,4 ⁒

- Sinh viên đang và đã từng có có người yêu chiếm tỉ lệ cao nhất (79,9 ),⁒ sinh viên chưa có ngươi yêu chiếm tỉ lệ thấp (20,1 ) ⁒

Khái quát về điều tra thực trạng

2.2.1 Mục đích và nhiệm vụ

Bài viết này tìm hiểu thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức về tình yêu và khuyến khích lối sống lành mạnh Đồng thời, bài viết cũng cung cấp những biện pháp phòng tránh an toàn trong quan hệ tình dục trước hôn nhân, giúp sinh viên có những lựa chọn đúng đắn.

Chọn mẫu cho nghiên cứu mô tả bằng phương pháp ngẫu nhiên đơn giản và hệ thống, đảm bảo rằng các sinh viên được chọn phù hợp với đối tượng nghiên cứu mà không có sự chọn lọc định hướng Mục tiêu là thu thập các chỉ số về tình trạng sinh viên sử dụng biện pháp phòng tránh thai (BPTT) trong quan hệ tình dục.

2.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã tổng hợp và phân tích nhiều tài liệu liên quan đến nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục an toàn (QHTDTHN) Những tài liệu này bao gồm các công trình nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước, cùng với bài viết từ sách báo và tạp chí Tôi đã áp dụng phương pháp phân tích và hệ thống hóa tư liệu để xác định thực trạng nhận thức của sinh viên tại hai trường đại học Qua việc phân tích, tôi cũng đã làm rõ một số khái niệm cơ bản như hôn nhân, sinh viên, QHTD, QHTDTHN, tình dục an toàn và bệnh lây qua đường tình dục Đề tài còn chỉ ra các nội dung liên quan đến nhận thức của sinh viên về QHTDTHN, tạo cơ sở cho việc xây dựng công cụ nghiên cứu thực tiễn như bảng hỏi và câu hỏi phỏng vấn sâu.

2.2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Để thực hiện nghiên cứu, tôi đã thiết kế bảng hỏi (Ankét) với các câu hỏi đóng và mở, đây là phương pháp chính được áp dụng trong nghiên cứu đề tài.

Bảng hỏi gồm 17 câu được chia thành các phần như sau:

- Thông tin chung về đối tượng điều tra.

- Nhận thức về khái niệm tình dục.

- Nhận thức về các phương tiện truyền thông tác động đến nhận thức của sinh viên về QHTDTHN.

- Những thông tin mà sinh viên chia sẻ về QHTD.

- Nhận thức của sinh viên về hậu quả của QHTDTHN.

- Nhận thức về biện pháp tránh thai khi QHTDTHN

2.2.2.4 Phương pháp thống kê toán học.

Trong quá trình xử lý số liệu, đề tài đã sử dụng phần mềm SPSS 13.0 For Windows để tìm hiểu các thông tin quan trọng như tần suất, giá trị trung bình và mối tương quan giữa các yếu tố liên quan đến nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân Dựa trên các số liệu thu thập được, tôi đã lập bảng tổng hợp và tiến hành phân tích số liệu cùng với việc tạo ra các biểu đồ nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu Các chỉ số thống kê mô tả được áp dụng trong quá trình phân tích này.

- Điểm trung bình (mean): được dùng để tính điểm đạt được của từng ý kiên, của từng nhân tố cũng như nội dung nhận thức về QHTDTHN của sinh viên

- Độ lệch chuẩn (SD) được dùng để mô tả mức độ phân tán hay mức độ tập trung của câu trả lời được lựa chọn

- Tần số và chỉ số phần trăm các phương án lựa chọn cho từng ý kiến. Phần thống kê suy luận sử dụng các phép thống kê sau:

Trong nghiên cứu này, việc phân tích so sánh chủ yếu dựa vào giá trị trung bình, với các giá trị được coi là khác nhau có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05 Đối với so sánh giữa hai nhóm, tôi áp dụng phép kiểm định T độc lập (T-Test), trong khi so sánh giá trị trung bình của ba nhóm trở lên, tôi sử dụng phân tích phương sai một yếu tố (ANOVA) Ngoài ra, tôi cũng thực hiện các so sánh chéo để tăng tính chính xác của kết quả.

Kết quả thực trạng

2.3.1 Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục

Bảng 2.3.1.1 Sinh viên hiểu về tình dục.

STT Ý Kiến Số lượng Tỉ lệ (%)

1 Chỉ sự thỏa mãn đơn thuần cho một đòi hỏi tự nhiên.

2 Chỉ là một cách để có con 9 15

3 Biểu hiện của sự hấp dẫn về thể xác và tình cảm

Kết quả khảo sát cho thấy, 32 sinh viên (54.1%) cho rằng quan hệ tình dục thể hiện sự hấp dẫn về thể xác và tình cảm, trong khi 11 sinh viên (18.3%) cho rằng đó chỉ là sự thỏa mãn nhu cầu tự nhiên Chỉ có 9 sinh viên (15%) cho rằng quan hệ tình dục chỉ nhằm mục đích sinh con Đáng chú ý, có 8 sinh viên (13.3%) không biết quan hệ tình dục nghĩa là gì.

STT Ý kiến Số lượng Tỉ lệ (%)

Theo bảng số liệu, 41.6% sinh viên đồng ý rằng "có quyền QHTD khi yêu nhau, không cần đợi đến khi hứa hôn", trong đó 53.3% sinh viên nam đồng ý so với chỉ 30% sinh viên nữ Điều này cho thấy tỷ lệ sinh viên nữ đồng ý về quyền QHTD khi yêu thấp hơn đáng kể so với nam giới, trong khi tỷ lệ không đồng ý của nữ sinh lại thấp hơn nam Tỷ lệ sinh viên lưỡng lự giữa hai giới là tương đương Sự khác biệt lớn trong nhận thức giữa nam và nữ về quyền QHTD khi yêu mà không cần đợi kết hôn cũng được ghi nhận.

STT Ý kiến Số lượng Tỉ lệ (%)

Quan hệ tình dục thiếu an toàn trong giới trẻ đang dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng, bao gồm tình trạng mang thai ngoài ý muốn và tỷ lệ nạo phá thai ngày càng gia tăng Những tác động này không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn tác động đến tư tưởng và lối sống của toàn xã hội Vì vậy, việc lên án hiện tượng quan hệ tình dục thiếu an toàn là điều cần thiết để bảo vệ sức khỏe và tương lai của thế hệ trẻ.

2.3.2 Nhận thức của sinh viên về nhóm quan hệ tình dục

Trong quá trình nghiên cứu nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục và tình yêu, tôi đã xem xét các khía cạnh khác nhau trong suy nghĩ, quan điểm và đánh giá của sinh viên Đồng thời, tôi cũng tìm hiểu nhận thức của sinh viên về nhóm có quan hệ tình dục và tình yêu, bao gồm hai nhóm giới tính nam và nữ, cùng với bốn năm học khác nhau Tiêu chí phân loại ở đây là giữa những sinh viên đã trải qua quan hệ tình dục và những sinh viên chưa có trải nghiệm này.

Bảng 2.3.2.1.Nhận thức về nhóm có QHTDTHN trong sinh viên Ý kiến Nam Nữ

Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Năm 1 Năm 2 Năm 3 Năm 4 Đã

Theo số liệu, có 31 sinh viên đã trải qua quan hệ tình dục lần đầu (QHTDTHN), chiếm 53.3% tổng số sinh viên, với 16 nam (26.6%) và 15 nữ (25%), cho thấy tỉ lệ nam sinh có QHTDTHN cao hơn nữ nhưng chênh lệch không đáng kể Trong số này, sinh viên năm thứ nhất có tỉ lệ QHTDTHN thấp nhất (10.0%), trong khi năm thứ ba có tỉ lệ cao nhất (16.6%), còn năm thứ hai và thứ tư tương đối bằng nhau Sự phổ biến của QHTDTHN ở độ tuổi sinh viên phản ánh sự ảnh hưởng của lối sống hiện đại và truyền thông đến nhận thức của giới trẻ Điều này cũng là lời cảnh tỉnh cho phụ huynh, giáo viên và chính thế hệ trẻ về những hậu quả và hệ lụy tiềm tàng từ việc bước vào quan hệ tình dục sớm.

2.3.3 Nhận thức về biện pháp tránh thai trong QHTDTHN của sinh viên.

Trong quá trình điều tra, chúng tôi ghi nhận có 16 nam và 15 nữ đã có quan hệ tình dục lần đầu Mặc dù số lượng sinh viên tham gia QHTDTHN không nhiều, nhưng thực tế cho thấy vẫn có sinh viên đã trải qua trải nghiệm này Đáng chú ý, những sinh viên này có thể đã sử dụng hoặc không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ đầu tiên.

Và khi được hỏi là sinh viên có hay không sử dụng biện pháp QHTD chúng tôi đã thu được kết quả như sau:

STT Nam Nữ Tổng số

Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%) Số lượng Tỉ lệ (%)

Theo số liệu, có 54.8% sinh viên đã sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên, trong đó 56.25% là nam và 53.3% là nữ Tỷ lệ không sử dụng biện pháp tránh thai là 45.2%, với 43.75% là nam và 46.7% là nữ, cho thấy nam sinh có xu hướng sử dụng biện pháp tránh thai cao hơn nữ Điều này cho thấy nam giới có ý thức hơn trong việc phòng tránh thai ngoài ý muốn, phần lớn vì lo ngại ảnh hưởng đến học tập và danh tiếng Các biện pháp tránh thai được sử dụng đa dạng, nhưng bao cao su là lựa chọn phổ biến nhất do tính tiện lợi và khả năng ngăn ngừa cả thai kỳ lẫn bệnh lây qua đường tình dục.

Việc sinh viên lựa chọn sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên phản ánh ý thức bảo vệ sức khỏe của bản thân và bạn tình Thiếu biện pháp tránh thai có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn như mang thai ngoài ý muốn, ảnh hưởng đến việc học tập và cuộc sống của sinh viên Nhiều sinh viên cho rằng họ không nghĩ lần quan hệ đầu sẽ dẫn đến thai kỳ, trong khi một số khác không muốn hoặc không nhận được sự đồng ý từ bạn tình về việc sử dụng biện pháp tránh thai Một số ý kiến cho rằng việc quan hệ tình dục xảy ra bất ngờ khiến họ không kịp chuẩn bị Thêm vào đó, có sinh viên không biết cách sử dụng biện pháp tránh thai, không nghĩ rằng mình sẽ có thai trong lần đầu hoặc lo ngại rằng các biện pháp này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe.

Nhiều sinh viên không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên vì nhiều lý do khác nhau, cho thấy họ có thể không quan tâm đến sức khỏe và hậu quả của quan hệ tình dục Dù có hiểu biết về các biện pháp tránh thai hay không, việc không lựa chọn sử dụng chúng phản ánh quan điểm cá nhân của sinh viên Sự lựa chọn này không chỉ dựa vào một lý do duy nhất mà có thể liên quan đến nhiều yếu tố khác nhau Mặc dù sinh viên thường biết về các biện pháp tránh thai, việc họ có sử dụng hay không lại phụ thuộc vào ý thức và quyết định cá nhân của mỗi người.

2.3.4 Nhận thức của sinh viên về biểu hiện nhu cầu của QHTDTHN

Với câu hỏi, đâu là biểu hiện của nhu cầu QHTD, tôi thu được biểu hiện qua bảng số liệu sau đây.

Bảng 2.3.4.1 Biểu hiện nhu cầu của QHTDTHN.

STT Các nhu cầu Số lượng Tỉ lệ (%)

1 Thỏa mãn nhu cầu giới tính của con người 34 56.6

2 Biết trước khả năng sinh sản của người yêu 1 1.6

3 Trao đổi để đạt mục đích của bản 5 8.3 thân

4 Thể hiện tình yêu với nhau 10 16.6

5 Tạo sự gắn kết giữa hai người khác giới 7 11.6

6 Thể hiện khả năng sinh lý của bản thân 2 3.2

7 Khẳng định sự hiểu biết của bản thân mình về QHTD 1 1.6

Sinh viên nhận thức rằng nhu cầu quan hệ tình dục là để "thỏa mãn nhu cầu giới tính của con người" chiếm tỷ lệ cao nhất (56.6%) Quan hệ tình dục là nhu cầu bản năng thiết yếu như cơm ăn, nước uống, và trở nên quen thuộc ở một độ tuổi nhất định Tuy nhiên, thực hiện quan hệ tình dục một cách có văn hóa và nghiêm túc là điều quan trọng Dù là nhu cầu tự nhiên, việc thực hiện hành vi này cần tuân thủ các quy tắc văn hóa Nhận thức về nhu cầu này ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với quan hệ tình dục Khi công nhận quan hệ tình dục là nhu cầu giới tính, sinh viên có xu hướng chấp nhận và thực hiện hành vi quan hệ tình dục một cách dễ dàng hơn.

Nhu cầu thứ hai của quan hệ tình dục trong tình yêu (QHTDTHN) mà sinh viên nhận thức là để thể hiện tình yêu với nhau Nhiều sinh viên cho rằng QHTD là cách duy nhất để chứng minh tình yêu, dẫn đến việc họ chấp nhận QHTDTHN như một minh chứng cho tình cảm Họ tin rằng tình yêu và tình dục luôn gắn liền với nhau, ảnh hưởng đến thái độ của họ đối với QHTDTHN Trong tình yêu, việc trao đổi cảm xúc và tình cảm là cần thiết để hiểu nhau hơn, tạo sự gắn bó và đồng điệu giữa hai tâm hồn.

Một số cặp đôi yêu nhau có quan hệ tình dục trước hôn nhân (QHTDTHN) và kết thúc bằng hôn nhân, trong khi những cặp khác lại không Sự gắn kết giữa họ thường chỉ tồn tại trong tình yêu, không nhất thiết dẫn đến hôn nhân Sinh viên nhận thức rằng nhu cầu về QHTDTHN chủ yếu nhằm tạo sự kết nối tình cảm, không phải là một cam kết lâu dài Điều này cũng ảnh hưởng đến quan điểm của họ về các vấn đề khác và dẫn đến những lựa chọn khác nhau liên quan đến thái độ và hành vi trong QHTDTHN.

Một biểu hiện khác của nhu cầu trong quan hệ tình dục là "trao đổi để đạt mục đích cá nhân", chiếm 8.3% Một số người chấp nhận quan hệ tình dục để thể hiện tình yêu, trong khi người khác muốn chinh phục đối tác hoặc chỉ đơn giản là để đáp ứng lời thách thức từ người khác Một số người tham gia vào quan hệ này với mong muốn đạt được tiền tài và danh vọng Tóm lại, mỗi cá nhân có nhu cầu riêng nhưng đều hướng đến lợi ích và mong muốn của bản thân.

Mỗi người có những nhu cầu và cách lựa chọn khác nhau cho thái độ và hành vi của bản thân Việc sử dụng quan hệ tình dục để đạt được mong muốn cá nhân là một suy nghĩ lệch lạc và cần được giáo dục để chấm dứt Ngoài ra, một số nhu cầu khác liên quan đến quan hệ tình dục là thể hiện khả năng sinh lý (3.2%) và khẳng định sự hiểu biết về quan hệ tình dục (1.6%).

Nghiên cứu cho thấy chỉ có 1.6% sinh viên nhận thức về khả năng sinh sản của người yêu ở mức độ tương đối thấp Một số sinh viên cho rằng quan hệ tình dục lần đầu (QHTDTHN) giúp họ thể hiện khả năng sinh lý cá nhân, chứng minh mình là người bình thường và có khả năng làm cha, làm mẹ Ngược lại, một số khác lại nhìn nhận QHTDTHN như một cách để thể hiện hiểu biết về kiến thức tình dục với người khác Những nhu cầu này đều nhằm nâng cao giá trị bản thân trước người khác, dẫn đến việc một phần sinh viên chọn QHTDTHN để khẳng định khả năng sinh lý và sự hiểu biết của mình.

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ QHTDTHN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Các nguyên tắc đề xuất biện pháp

3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu

Nguyên tắc này yêu cầu xây dựng các biện pháp thiết thực, phù hợp với nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân Khi đề xuất các biện pháp, cần chú ý đến sự hiểu biết và quan điểm của sinh viên để đảm bảo hiệu quả và tính khả thi.

Biện pháp nâng cao nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân là rất cần thiết, nhằm thực hiện mục tiêu sử dụng biện pháp tránh thai an toàn và hiệu quả Việc này không chỉ giúp sinh viên hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hậu quả của quan hệ tình dục trước hôn nhân, mà còn góp phần bảo vệ sức khỏe và tương lai của họ.

- Biện pháp đề xuất phù hợp với tâm lí của sinh viên

3.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn

Các biện pháp giáo dục giới tính cần phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của sinh viên Đảm bảo tính thực tiễn trong các biện pháp này giúp sinh viên áp dụng hiệu quả vào cuộc sống, từ đó hình thành nhận thức đúng đắn về quan hệ tình dục trước hôn nhân.

3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả

Yêu cầu này nhấn mạnh rằng các biện pháp đề xuất cần được thực hiện một cách hiệu quả, nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân Đặc biệt, những biện pháp này phải đảm bảo rằng tất cả sinh viên đều có khả năng thực hiện, không chỉ riêng một cá nhân nào.

3.1.4 Đảm bảo tính khả thi

Khi xây dựng các biện pháp, cần đảm bảo tính chính xác và có căn cứ khách quan Những biện pháp này phải có khả năng thực hiện cao, có thể áp dụng rộng rãi và được điều chỉnh để ngày càng hoàn thiện hơn.

Một số biện pháp nhằm nâng cao nhận thức về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên K58 – GDMN trường Đại học Vinh

3.2.1.Biện pháp 1: Cung cấp thông tin, kiến thức cho sinh viên về biện pháp tránh thai hiệu quả

Việc trang bị kiến thức đầy đủ về biện pháp tránh thai là rất cần thiết để sinh viên có thể hiểu rõ và áp dụng hiệu quả, từ đó giảm thiểu tình trạng nạo phá thai Các biện pháp như sử dụng bao cao su, đặt vòng tránh thai và uống viên tránh thai hàng ngày đều là những lựa chọn an toàn và hiệu quả mà sinh viên nên nắm vững.

Để nâng cao nhận thức cho sinh viên về biện pháp tránh thai hiệu quả, cần cung cấp đầy đủ thông tin và kiến thức liên quan Việc này có thể thực hiện thông qua việc giới thiệu sách báo và tài liệu chứa nội dung về các phương pháp tránh thai.

Cung cấp tài liệu, sách báo, tờ rơi, băng đĩa liên quan đến biện pháp tránh thai là rất quan trọng Việc tận dụng ảnh hưởng của báo chí và các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, vận động và quảng cáo về các biện pháp tránh thai hiệu quả sẽ giúp nâng cao nhận thức cộng đồng.

Thông qua việc trao đổi và tư vấn từ cha mẹ và thầy cô giáo, cũng như các buổi thảo luận trong sinh hoạt đoàn thể, chúng ta có thể nhận được sự hỗ trợ từ các tư vấn viên tại các trung tâm tư vấn tỉnh hoặc phòng tư vấn tâm lý giáo dục tại trường học (nếu có).

- Mặt khác cũng cần chú ý đến nguồn thông tin, kiến thức cung cấp cho

SV phải đảm bảo tính chính xác, tính khoa học.

3.2.2.Biện pháp 2: Phát huy vai trò của gia đình trong việc nâng cao nhận thức cho sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân

Các bậc cha mẹ cần trang bị kiến thức về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên, bao gồm việc hiểu rõ đặc điểm tâm lý của họ, các biện pháp tránh thai hiệu quả, cũng như nhận thức về nguyên nhân và hậu quả của hành vi này đối với sinh viên.

Các bậc cha mẹ nên khuyến khích sinh viên tự giác tiếp nhận kiến thức về tình dục và sức khỏe sinh sản, nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng phòng tránh nguy cơ cho bản thân Việc tuyên truyền thông tin về tác hại và hậu quả của quan hệ tình dục không an toàn là rất cần thiết, giúp nâng cao nhận thức cho bạn bè và những người xung quanh về vấn đề này.

3.2.3.Biện pháp 3: Tổ chức câu lạc bộ sinh viên để làm công tác tuyên truyền giáo dục về các biện pháp tránh thai, hậu quả của quan hệ tình dục trước hôn nhân

Tổ chức câu lạc bộ chuyền đề mang lại lợi ích lớn cho sinh viên, giúp họ mở rộng và nâng cao kiến thức cũng như sự hiểu biết về các vấn đề liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân.

Sinh viên đóng vai trò quan trọng trong xã hội và đất nước, với độ tuổi trẻ trung, họ tích cực tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội, văn học, nghệ thuật, thể dục và thể thao Điều này khiến cho các câu lạc bộ trở thành hình thức hấp dẫn, thu hút sự tham gia đông đảo của sinh viên.

Câu lạc bộ sinh viên tạo cơ hội cho các thành viên thể hiện quan điểm và chia sẻ kiến thức về những vấn đề quan trọng như tình bạn, tình yêu, cách ứng xử trong tình bạn khác giới, cũng như nhận thức về tình dục và quan hệ trước hôn nhân Để đáp ứng nhu cầu này, câu lạc bộ tổ chức các buổi tọa đàm và thảo luận, giúp sinh viên khám phá và bàn luận về những tình huống mà họ quan tâm.

Biện pháp 5: Tăng cường sự chỉ đạo của nhà trường, giải đáp những thắc mắc của sinh viên khi gặp những vấn đề nhằm nâng cao nhận thức về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

Nội dung giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cần được đưa vào trường học sớm và có chiều sâu để tạo ra tác động tích cực Chương trình giáo dục này phải thực sự ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ và hành vi của học sinh đối với quan hệ tình dục an toàn.

Nhà trường và các tổ chức đoàn thể cần nhận thức rõ về mục tiêu chung của xã hội trong việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản Cần tích cực vận động xây dựng lối sống văn minh và lành mạnh để nâng cao nhận thức cộng đồng.

Mỗi trường học cần có các nhà giáo dục học đường để hỗ trợ sinh viên giải đáp thắc mắc và vượt qua khó khăn, đặc biệt là các vấn đề tâm lý Nhiều sinh viên gặp trở ngại trong cuộc sống thường khó tìm nơi an toàn để chia sẻ cảm xúc Do đó, việc thiết lập đường dây tư vấn và hỗ trợ tâm lý là cần thiết, giúp sinh viên có chỗ để bày tỏ nỗi niềm Những người làm công tác này sẽ cung cấp cho sinh viên kiến thức và tài liệu về tình dục và sức khỏe sinh sản, giúp họ nâng cao nhận thức và hiểu biết về quan hệ tình dục an toàn.

Các biện pháp nêu trên hy vọng sẽ nâng cao nhận thức của sinh viên K58 – GDMN trường Đại học Vinh, giúp họ lựa chọn lối sống lành mạnh trong tình yêu và phòng tránh quan hệ tình dục trước hôn nhân Đồng thời, sinh viên cần chọn lựa các biện pháp tránh thai an toàn và hiệu quả để ngăn ngừa tình trạng mang thai ngoài ý muốn.

Ngày đăng: 27/10/2021, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Trần Thị Phương Mai (2004), Bài giảng Sức khỏe sinh sản, Nhà xuất bản y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Sức khỏe sinh sản
Tác giả: Trần Thị Phương Mai
Nhà XB: Nhà xuất bảny học
Năm: 2004
3. Côvaliốp, A.G. Tâm lý học cá nhân. NXB Giáo dục, Hà Nội, tập III – 1971 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học cá nhân
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Cruchetxki, V.A. Những cơ sở của tâm lý học sư phạm. NXB Giáo dục, Hà Nội, tập II – 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: V.A. Những cơ sở của tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Vũ Thị Nho. Tâm lý học phát triển, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
7. Nguyễn Quang Uẩn ( Chủ biên): Tâm lý học đại cương. NXB Đại học Quốc Gia, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Nhà XB: NXB Đại họcQuốc Gia
8. Đào Xuân Dũng (2012), Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục dành cho tuổi vị thành niên, Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục dành chotuổi vị thành niên
Tác giả: Đào Xuân Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2012
11. Nguyễn Linh Khiếu và cộng sự (2003), Gia đình trong giáo dục sức khỏe vị thành niên, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình trong giáo dục sức khỏevị thành niên
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu và cộng sự
Nhà XB: Nhà xuất bản khoa học xã hội
Năm: 2003
12. Phạm Thị Hương Trà Linh (2015), Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến hành vi quan hệ tình dục của sinh viên trường Cao đẳng Y tế Phú Thọ, năm 2014, Tạp chí Y tế Công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và một số yếu tố liên quanđến hành vi quan hệ tình dục của sinh viên trường Cao đẳng Y tế PhúThọ, năm 2014
Tác giả: Phạm Thị Hương Trà Linh
Năm: 2015
1. Bộ Y tế (2010), Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam lần thứ 2 (SAVY2) Khác
5. Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ. Tâm lý học (Tập một). NXB Giáo Dục, 1988 Khác
9. Trần Thanh Nguyên (2007), Nhận thức của sinh viên trường đại học Tiền Giang về sức khỏe sinh sản, thành phố Hồ Chí Minh Khác
10. Trần Mai Hương, Nguyễn Thị Kim Thoa và cộng sự (2007), Quan điểm của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân. Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, Quyển 17, số 3-2007 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng số liệu trên ta thấy khách thể có một số đặc điểm sau: - BÀI-TẬP-LỚN-GDSK- Kim Oanh
ua bảng số liệu trên ta thấy khách thể có một số đặc điểm sau: (Trang 23)
Bảng 2.3.2.1.Nhận thức về nhóm có QHTDTHN trong sinh viên - BÀI-TẬP-LỚN-GDSK- Kim Oanh
Bảng 2.3.2.1. Nhận thức về nhóm có QHTDTHN trong sinh viên (Trang 27)
Bảng 2.3.1.3. Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết lên án của xã hội đối với QHTDTHN - BÀI-TẬP-LỚN-GDSK- Kim Oanh
Bảng 2.3.1.3. Nhận thức của sinh viên về sự cần thiết lên án của xã hội đối với QHTDTHN (Trang 27)
Qua bảng số liệu ta thấy có 54. 8% sinh viên có sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên, trong đó có 56.25% là nam và 53.3% là nữ - BÀI-TẬP-LỚN-GDSK- Kim Oanh
ua bảng số liệu ta thấy có 54. 8% sinh viên có sử dụng biện pháp tránh thai trong lần QHTD đầu tiên, trong đó có 56.25% là nam và 53.3% là nữ (Trang 29)
Bảng 2.3.4.1. Biểu hiện nhu cầu của QHTDTHN. - BÀI-TẬP-LỚN-GDSK- Kim Oanh
Bảng 2.3.4.1. Biểu hiện nhu cầu của QHTDTHN (Trang 30)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w