1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bài thu hoạch lớp NCVC 2019 Kim oanh

34 9 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu chủ đề: Đề tài nghiên cứu những chủ trương, chính sách khởi nghiệp; phân tích thực trạng doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam;đưa ra một số nhận xét và định hướng giải

Trang 1

MỤC LỤC

Trang 2

MỞ ĐẦU

Lý do chọn chủ đề:

Năm 2016 được chọn là năm “Quốc gia khởi nghiệp”, điều này chothấy vấn đề khởi nghiệp đang được nhà nước và xã hội dành sự quan tâm đặcbiệt Cùng với thành tựu của các doanh nghiệp truyền thống trong hơn 30 nămtiến hành đổi mới, tuy còn non trẻ nhưng sự phát triển nhanh chóng của cácdoanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đã góp phần đáng kể vào nhữngthành tựu phát triển chung của đất nước Các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi

mới sáng tạo đang ngày càng khẳng định vai trò không thể thiếu của mình

trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Thực tiễn phát triển của nhiều nước trên thế giới hiện nay đã chứng minhvai trò to lớn của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đối với sự pháttriển của nền kinh tế Khuyến khích phát triển doanh nghiệp khởi nghiệp đổimới sáng tạo cho phép khai thác tốt hơn nguồn lao động, nguồn vốn, công nghệ

và thị trường Đặc biệt doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là môitrường thuận lợi để khai thác tối đa lượng chất xám, tinh thần làm giàu, ước mơvươn mình ra thế giới của thế hệ trẻ hiện nay Ngoài ra, doanh nghiệp khởinghiệp sáng tạo làm giảm nguy cơ thất nghiệp, góp phần chuyển dịch cơ cấukinh tế, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo, thúc đẩy phát triển khoa học côngnghệ cao của quốc gia

Trong thời gian gần đây, cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạngcông nghiệp 4.0) đã trở thành chủ đề được nghiên cứu, phân tích và bàn luậnrộng rãi với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau Thực tế đã cho thấy cách mạngcông nghiệp 4.0 đã bắt đầu có ảnh hưởng đến Việt Nam ở những mức độ khácnhau trong các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, chính trị Vì vậy, việc nghiên cứu,đánh giá về hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, coi đó như một giải phápphù hợp, một cách ứng phó hiệu quả để tranh thủ các cơ hội mà cuộc cách

1

Trang 3

mạng 4.0 đem lại cho Việt Nam là một nhiệm vụ rất cần thiết, có ý nghĩa cả về

lý luận và thực tiễn Quá trình hội nhập vào các FTA đem lại rất nhiều cơ hộicho các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sángtạo có những sản phẩm mới, những ý tưởng mới muốn phát triển rộng rãi trênthị trường thế giới Hòa vào sân chơi chung đã mang lại nhiều cơ hội, nhưng nócũng đem đến không ít các thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt

là các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, rất cần sự hỗ trợ từ phíaNhà nước Cả nước đang lỗ lực phấn đấu đạt mốc 1 triệu doanh nghiệp khởinghiệp sáng tạo vào năm 2020 đây là điều không hề dễ dàng đòi hỏi sự quyếttâm mạnh mẽ của cả nhà nước, doanh nghiệp và người dân Một trong nhữngvấn đề cấp thiết để giúp các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo phát triểnnhanh và mạnh trong bối cảnh hội nhập hiện nay là xây dựng, hoàn thiện vàthực hiện tốt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo Việc thựchiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo cần phải có cơ sởkhoa học, phương pháp luận khoa học và căn cứ vào tình hình thực tế

Xuất phát từ việc phân tích lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài: “Khởi

nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp

lần thứ tư” đã được tác giả lựa chọn và tiến hành nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu chủ đề: Đề tài nghiên cứu những chủ trương, chính

sách khởi nghiệp; phân tích thực trạng doanh nghiệp khởi nghiệp ở Việt Nam;đưa ra một số nhận xét và định hướng giải pháp và những kiến nghị thực hiệngiải pháp cho hoạt động khởi nghiệp ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng côngnghiệp 4.0 diễn ra nhanh và mạnh

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng: Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu: Nhiệm vụ giới hạn ở việc nghiên cứu Khởi nghiệp đổi mới

sáng tạo ở Việt Nam trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư

Phương pháp nghiên cứu:

3

Trang 4

Trên cơ sở vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,nhiệm vụ chú ý phương pháp so sánh tổng hợp - phân tích thống kê.

Xử lý tài liệu và đánh giá, phân tích rút ra các kết luận khoa học về bản chất,đặc điểm của vấn đề

Nguồn số liệu:

Nhiệm vụ sẽ tiếp cận với các nguồn tài liệu thứ cấp như sách, bài viết tạpchí, các bài viết nghiên cứu, tài liệu của các dự án nghiên cứu, số liệu thống kêchính thức và một số nguồn thông tin tin cậy trên internet

NỘI DUNG

1 Cơ sở lý thuyết liên quan đến khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong cuộc cách mạng 4.0

1.1 Khái niệm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (ĐMST)

Khởi nghiệp theo từ điển tiếng Việt được giải nghĩa là bắt đầu sự nghiệp.Định nghĩa khởi nghiệp cũng thay đổi qua thời gian với các nhà nghiên cứu khácnhau Đến đầu thế kỷ 20, định nghĩa khởi nghiệp đã được hoàn thiện và đượcdiễn đạt là quá trình tạo dựng một tổ chức kinh doanh và người khởi nghiệp làngười sáng lập nên doanh nghiệp đó Để phân biệt “khởi nghiệp” với hoạt động

“lập nghiệp thông thường”, khái niệm khởi nghiệp được gắn với đặc thù là dựatrên sáng tạo, vì vậy thường dùng khái niệm “Khởi nghiệp ĐMST” Trong vănbản chính sách hiện nay ở Việt Nam, doanh nghiệp Khởi nghiệp ĐMST được

mô tả là “loại hình doanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khaithác tài sản trí tuệ, công nghệ, mô hình kinh doanh mới”1 Theo các tài liệu họcthuật quốc tế, Startup là doanh nghiệp hoặc một tổ chức tạm thời, được thiết kế

để tìm ra một mô hình hoạt động có thể lặp lại hoặc mở rộng nhanh chóng(Blank, 2010)

1 Phát biểu của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam tại Chợ công nghệ (Techfest) Hà Nội, 2016 và Nguyên Hạnh, 2016.

4

Trang 5

Theo các tài liệu học thuật quốc tế, Startup là doanh nghiệp hoặc một tổ chứctạm thời được thiết kế để tìm ra một mô hình hoạt động có thể lặp lại hoặc mởrộng nhanh chóng2.

Năm 2016, Việt Nam đã ban hành văn bản chính thức đầu tiên lien quan đếnkhởi nghiệp Đó là Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Hỗtrợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến 2025” Đề án này đãlàm rõ khái niệm của Việt Nam về doanh nghiệp khởi nghiệp là: “loại hìnhdoanh nghiệp có khả năng tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ,công nghệ, mô hình kinh doanh mới”3

Ở Việt Nam khi phân biệt “Khởi nghiệp ĐMST” (Startup) để phân biệt vớilập nghiệp thông thường như mở quán phở hay cửa hàng bán quần áo, không cónghĩa là chính sách nhà nước chỉ hỗ trợ khởi nghiệp ĐMST mà không hỗ trợ lậpnghiệp thông thường Bất kỳ lĩnh vực nào cũng cần khích lệ tinh thần doanhthương nên sự phân biệt này chỉ để tìm cách hỗ trợ một cách phù hợp nhất vớitính chất của từng loại hình Ví dụ khi thu hút đầu tư mạo hiểm thì chỉ liên quanđến “khởi nghiệp ĐMST”4

“Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải dựa trên một công nghệ mới, hoặc tạo rahình thức kinh doanh mới, hoặc xây dựng một phân khúc thị trường mới Tức làcác doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo phải có gì đó khác biệt khôngchỉ với các doanh nghiệp ở trong nước, với tất cả các công ty trước đây và cảvới các doanh nghiệp khác trên thế giới Vì đặc điểm đó nên doanh nghiệp khởinghiệp đổi mới sáng tạo nhanh chóng thu hút được đầu tư trong và ngoài nước

để phát triển nhanh, ví dụ như Facebook, Google chả hạn, thế nên chỉ trong 2-3năm đã phát triển để trở thành các tập đoàn lớn", ông Bùi Thế Duy - Chánh vănphòng Bộ KH&CN5

1.2 Hệ sinh thái khởi nghiệp

4 Đặng Ngọc Dinh (2018), “Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo một số đánh giá và đề xuất chính sách”, Tạp

chí Chính sách và Quản lý khoa học và công nghệ, tập 7, số 1.

5

Trang 6

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for EconomicCooperation and Development - OECD), Hệ sinh thái khởi nghiệp là “tổng hợpcác mối liên kết chính thức và phi chính thức giữa: các chủ thể khởi nghiệp(tiềm năng hoặc hiện tại); tổ chức khởi nghiệp (công ty, nhà đầu tư mạo hiểm,nhà đầu tư thiên thần, hệ thống ngân hàng); và các cơ quan liên quan (trường đạihọc, các cơ quan nhà nước, các quỹ đầu tư công) và tiến trình khởi nghiệp (tỉ lệthành lập doanh nghiệp, số lượng doanh nghiệp có tỉ lệ tăng trưởng tốt, số lượngcác nhà khởi nghiệp) tác động trực tiếp đến môi trường khởi nghiệp tại địaphương” (Mason, C & Brown, R., 2014).

Theo định nghĩa của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum,2013) Hệ sinh thái khởi nghiệp bao gồm các yếu tố sau: (1) Thị trường; (2)Nguồn nhân lực; (3) Nguồn vốn và tài chính; (4) Hệ thống hỗ trợ khởi nghiệp(tư vấn); (5) Khung pháp lý và cơ sở hạ tầng; (6) Giáo dục và đào tạo; (7) Cáctrường đại học, học viện; và (8) Văn hóa quốc gia

1.3 Đặc thù của khởi nghiệp đổi mới sáng tạo

1.3.1 Sáng tạo - Sử dụng môi trường Internet kết nối vạn vật (IoT)

“Các doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST là một cộng đồng đặc biệt vì

tính chất tạo ra những sản phẩm mới, phân khúc khách hàng mới, bằng

những công nghệ mới và ý tưởng mới, chưa từng có, cách tiếp cận thị

trường mới Hoạt động của loại doanh nghiệp này thường liên quan đến

công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và vì qua mạng Internet nên

có tính không biên giới”6

Doanh nghiệp khởi nghiệp ĐMST đóng vai trò quan trọng trong quá

trình đổi mới công nghệ của quốc gia Một đặc điểm chung của cộng

đồng doanh nghiệp này là công nghệ thông tin được sử dụng sâu rộng

hầu như trong mọi công đoạn, từ thiết kế, chế tạo, đến tiếp thị, chăm sóc

khách hàng,

5 Khánh Nguyễn, 20170410180923025.htm

https://vtv.vn/kinh-te/phan-biet-dn-khoi-nghiep-doi-moi-sang-tao-va-khoi-nghiep-lap-nghiep-6

6

Trang 7

Một đặc điểm cốt lõi của “khởi nghiệp” là sáng tạo, nghĩa là “không

làm ra một sản phẩm mà ai đó đã biết, như việc thực hiện quy trình tuần

tự từ 1 đến 2, 3, n Thách thức ở đây là phải tạo ra cái mới, tạo ra khác

biệt, kiểu “nhảy vọt”, từ 0 tới 1 (Peter Thiel, 2014) Tính sáng tạo đảm

bảo cho “khởi nghiệp” thành công, tuy cũng chứa đựng những yếu tố

mạo hiểm, rủi ro Khởi nghiệp ĐMST luôn gắn liền với công nghệ, có

công nghệ là nền tảng để giải quyết các vấn đề của xã hội (Nguyễn Xuân

Cường, 2016)

1.3.2 Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo hướng tới thị trường toàn cầu

Do tính chất đổi mới sáng tạo nên có thể quan niệm là: “Cộng đồng

khởi nghiệp không có người thất bại Một doanh nghiệp khởi nghiệp vì

không đủ sức cạnh tranh mà rời khỏi ngành không phải là doanh nghiệp

thất bại Khát vọng đạt tới thành công và thịnh vượng là nguồn năng

lượng dồi dào, không ngừng tái tạo và thúc giục người khởi nghiệp tìm

kiếm những cơ hội thị trường mới, gắn kết hiểu biết và kinh nghiệm để

vượt qua chính mình, chinh phục công chúng tiêu dùng toàn cầu bằng

sản phẩm sáng tạo mới, hữu ích hơn và hiệu quả hơn”7

1.4 Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4:

Cách mạng công nghiệp được hiểu là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ tronglĩnh vực sản xuất để ứng dụng các quy trình mới với những thay đổi cơ bản vềđiều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và kỹ thuật Cách mạng công nghiệp khiến chonền kinh tế giản đơn, quy mô nhỏ, dựa trên lao động chân tay được thay thếbằng hoạt động sản xuất công nghiệp và chế tạo máy móc quy mô lớn Cho dùvẫn còn nhiều tranh luận khác nhau về việc phân chia cách mạng công nghiệptheo các thời kỳ lịch sử phát triển của thế giới, nhưng quan điểm đạt được nhiềuđồng thuận của các học giả vẫn cho rằng, nếu lấy mốc thời gian là cuối thế kỷXVIII khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất bùng nổ ở Vương quốc Anhthì tính đến hiện tại, thế giới đã bước vào giai đoạn đầu của cuộc cách mạngcông nghiệp 4.0 với sức lan tỏa tăng gấp nhiều lần và các tác động ở cấp độ toàncầu Cách mạng công nghiệp 4.0 tiếp sau những thành tựu lớn kế thừa từ cách

7 Phát biểu của ông Vương Quân Hoàng, Viện Quản trị kinh doanh (FSB), http://ceoclubvietnam.com

7

Trang 8

mạng công nghiệp lần thứ ba, được hình thành trên nền tảng cải tiến của cuộc

cách mạng số, với những công nghệ mới như in 3D, robot, trí tuệ nhân tạo, IoT

(internet kết nối vạn vật), SMAC, công nghệ nano, sinh học, vật liệu mới Cáchmạng công nghiệp 4.0 hiện đã trở thành chiến lược bản lề cho các nước đangphát triển tiến đến để theo kịp với xu hướng phát triển của thế giới

Xét về trung và dài hạn, cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại nhiều tác độngtích cực, giúp cho kinh tế thế giới bước vào giai đoạn tăng trưởng dựa trên độnglực không có trần giới hạn là công nghệ và đổi mới sáng tạo, thay cho tăngtrưởng chủ yếu dựa vào các yếu tố đầu vào luôn có trần giới hạn Về ngắn hạn,cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra nhiều thách thức khiến các ngành, lĩnhvực dựa vào công nghệ, vào đổi mới sáng tạo có thể tăng trưởng mạnh mẽ,

nhưng một số ngành lạc nhịp về công nghệ khác phải thu hẹp đáng kể và bị đào

thải

Cùng với các diễn biến nhanh chóng của cách mạng công nghiệp 4.0, mộttrong những cách thức ứng phó phù hợp được Việt Nam đưa ra là việc đẩy mạnh

hoạt động khởi nghiệp đổi mới sáng tạo (start-up) Các định hướng chính sách

cho thấy, hoạt động khởi nghiệp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân,

đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm Văn kiện Đại hội XII của ĐảngCộng sản Việt Nam (2016) khẳng định, nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa của Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế,

trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng Hội nghị Trung ương 5 (khóa XII) đã ban hành Nghị quyết 10-NQ/

TW ngày 3 tháng 6 năm 2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một độnglực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Chủ

trương phát triển kinh tế tư nhân cho thấy, việc đẩy mạnh hoạt động khởi nghiệp

và khuyến khích tinh thần khởi nghiệp ở Việt Nam dựa trên nền tảng là các

doanh nghiệp tư nhân đã trở thành hướng đi đúng đắn

Từ nền tảng chung như vậy, các nghiên cứu của nước ngoài và trong nước

đã ngày càng làm rõ hơn nhận thức về một doanh nghiệp khởi nghiệp Nghiêncứu của Paul Graham (2005)8 cho rằng, doanh nghiệp khởi nghiệp là doanh

8 Paul Graham (2005), How to start a start-up?, http://paulgraham.com/start.html

8

Trang 9

nghiệp được lập ra với kỳ vọng tăng trưởng nhanh Tốc độ tăng trưởng gắn với ýtưởng sáng tạo mới là yếu tố quan trọng nhất xác định đó là một doanh nghiệpkhởi nghiệp Các yếu tố khác (như doanh nghiệp mới thành lập, thuộc lĩnh vựccông nghệ, được quỹ đầu tư rủi ro tài trợ, v.v.) chỉ có ý nghĩa phụ trợ

Tóm lại, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo là hoạt động khởi nghiệp dựa trên nền tảng khoa học công nghệ, trong đó hầu hết gắn liền với ứng dụng thành quả

của cuộc cách mạng 4.0

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới khởi nghiệp ĐMST

1.5.1 Yếu tố môi trường chính trị

Những biến đổi trong hoàn cảnh chính trị có tác động đến khởi nghiệpĐMST Thành phần trước tiên và cũng quan trọng nhất của một hệ sinh thái hỗtrợ khởi nghiệp ĐMST đó là chính sách của chính phủ Điều này không chỉ liênquan đến các lĩnh vực quan hệ trực tiếp với doanh nghiệp khởi nghiệp nhỏ haytinh thần khởi nghiệp, mà đối với một phạm vi rộng các chính sách liên quanđến hệ thống thuế, các dịch vụ tài chính, viễn thông, giao thông, thị trường laođộng, hỗ trợ công nghiệp, giáo dục và đào tạo, cơ sở hạ tầng và y tế

1.5.2.Yếu tố môi trường kinh tế

Những thay đổi về điều kiện kinh tế có tác động to lớn đến việc thực hiệnchính sách hỗ trợ khởi nghiệp ĐMST Một dự án hỗ trợ khởi nghiệp ĐMST phảidựa vào những điều kiện kinh tế Nhà nước có ngân sách dồi dào ưu tiên cho việcthực hiện chính sách hay Nhà nước chỉ hỗ trợ hạn hẹp cho doanh nghiệp Chẳnghạn một ưu đãi về thuế thu nhập cho khởi nghiệp ĐMST Thực tế, giảm thuế Thunhập doanh nghiệp (TNDN) cho khởi nghiệp ĐMST không phải là phương pháphữu hiệu nhất giúp các doanh nghiệp thoát khỏi tình cảnh bấp bênh, khó khăn lúcmới bắt đầu, nhưng đây lại là một giải pháp tạo động lực, tạo niềm tin cho doanhnghiệp, đồng thời đây cũng chính là trong số những giải pháp nuôi dưỡng nguồnthu Việc nhà nước có những chính sách giảm thuế sẽ giúp doanh nghiệp mới khởinghiệp rất lớn vì có thể tiết kiệm được chi phí và chuyển dòng vốn sang phục vụcho công tác đầu tư, đồng thời giảm chi phí trả lãi tiền vay, từ đó giảm giáthành, chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, thuhút đầu tư

9

Trang 10

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì những thayđổi của thế giới (bao gồm cả thay đổi chính sách của nhà nước và các tổ chứckinh tế thế giới, các tổ chức khu vực) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cựctới quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ khởi nghiệp ĐMST thông qua ảnhhưởng của chúng đến môi trường các nước, đặc biệt đối với những khởi nghiệpĐMST sự thay đổi chính sách của các nhà đầu tư, các quỹ đầu tư thiên thần trựctiếp ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách

1.5.3 Yếu tố môi trường xã hội

Phong trào khởi nghiệp ngày càng sôi nổi và bắt đầu phát triển hệ sinh tháikhởi nghiệp Đây là điểm thuận lợi cho chính sách hỗ trợ DNKNST nhanhchóng đi vào đời sống, tạo làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ Nếu phong trào nàythành công, doanh nghiệp khởi nghiệp chính là những đối tượng tạo ra nhiềuviệc làm, mang lại giá trị gia tăng vượt bậc cho nền kinh tế của mỗi quốc gia

1.6.Chủ trương, chính sách khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

1.6.1 Nhận thức của các cấp lãnh đạo

Hiện nay ở Việt Nam, các nhà lãnh đạo chính trị cũng như tầng lớp tinh hoa(elite) luôn bày tỏ nhận thức và quan điểm khích lệ khởi nghiệp ĐMST Có thểtrích dẫn nhiều phát biểu xác minh cho nhận xét này:

- “Một trong những lực lượng chiến đấu của dân tộc Việt Nam chính là nhàkhởi nghiệp Đại học Quốc gia Hà Nội có vai trò, sứ mệnh trong việc xây dựng

và phát triển lực lượng khởi nghiệp cho quốc gia hiện tại và tương lai nhằmhiện thực hóa mục tiêu xây dựng quốc gia khởi nghiệp Phải xem khởi nghiệp

là một phần của tầm nhìn trong phát triển Một trong những thước đo thànhcông của trường đại học là có bao nhiêu sinh viên khởi nghiệp và thành danh từtrường, chứ không chỉ là có bao nhiêu sinh viên kiếm được việc làm”9

- “Quốc gia khởi nghiệp là quốc gia dám đầu tư cho hoạt động đầu tư mạohiểm, chấp nhận rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh doanh, sẵn sàng đầu tưcho những ý tưởng sáng tạo cho dù không đảm bảo chắc chắn nó sẽ thành

9 Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khi làm việc với Đại học Quốc gia Hà Nội Lưu ý: Đại học Tokyo, Nhật Bản có khoảng 240 công ty khởi nghiệp Trong đó, có 16 công ty đã lên sàn Chứng khoán với mức vốn hóa thị trường đạt khoảng 8 tỷ USD Hệ thống giáo dục đại học ở Nhật Bản rất quan tâm đến khởi nghiệp.

10

Trang 11

công Văn hóa của nền kinh tế ở quốc gia khởi nghiệp nằm ở 3 yếu tố thenchốt: có sáng kiến, chấp nhận rủi ro và tốc độ Trong đó, nhà nước cần tạodựng môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo đượcsinh ra và phát triển, hay nói cách khác là xây dựng một hệ sinh thái khởinghiệp sáng tạo”10;

- “Trong bối cảnh hiện nay, các công ty start-up có thể góp phần đưa ViệtNam thành quốc gia khởi nghiệp để thay đổi vị thế của Việt Nam trên toàn thếgiới Chúng ta chỉ có hai kịch bản: một là theo kịp Cách mạng số, hoặc bị bỏrơi như từng bỏ rơi trước đây Việt Nam cần có khát vọng và ý chí để theo kịpCách mạng số Kinh tế số và khởi nghiệp ĐMST chính là câu trả lời cho tháchthức và cơ hội đó”14

tế hợp lý và năng động hơn, có năng suất cao hơn, có năng lực cạnh tranh caohơn, có tiềm năng tăng trưởng lớn hơn và đảm bảo tăng trưởng xanh, sạch, bền

vững Để thực hiện mục tiêu này, vấn đề phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân trong nước và thu hút hợp lý đầu tư trực tiếp nước ngoài, cải thiện môi

trường kinh doanh được xác định là trọng tâm chính sách của Chính phủ

10 TS Nguyễn Quân, Nguyên Bộ trưởng Bộ KH&CN đã bày tỏ quan điểm trong bài viết “Việt Nam có trở thành Quốc gia khởi nghiệp?” đăng trên trang Khởi nghiệp trẻ, <https://khoinghieptre.vn/viet-nam-co-tro-thanh-quoc- gia-khoi-nghiep/>http://pace.edu.vn 13/11/2014, Diễn đàn Talk&Think , Trường Doanh nhân PACE.

11

Trang 12

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra, yêu cầu về pháttriển kinh tế tư nhân đang ngày càng trở nên cấp thiết và một loạt các chủtrương, chính sách của Đảng và Nhà nước đã được ban hành bao gồm: Nghịquyết số 10-NQ/TW ngày 3 tháng 6 năm 2017 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trung ương Đảng khóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành mộtđộng lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Dựthảo Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó có các quy định về cơ chế,chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp; Nghị quyết số 35/NQ-CP củaChính phủ ngày 16 tháng 5 năm 2016 về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đếnnăm 2020; Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 18 tháng

5 năm 2016 phê duyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạoquốc gia đến năm 2025”

Theo các chủ trương, chính sách đã công bố, đặc biệt là Nghị quyết số 35 củaChính phủ, mục tiêu đặt ra đến năm 2020 là: sẽ xây dựng doanh nghiệp ViệtNam có năng lực cạnh tranh, phát triển bền vững; cả nước có ít nhất 1 triệudoanh nghiệp hoạt động, trong đó có các doanh nghiệp quy mô lớn, nguồn lựcmạnh; khu vực tư nhân Việt Nam đóng góp khoảng 48-49% tổng sản phẩm quốcnội (GDP), khoảng 49% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; năng suất các nhân tố tổnghợp (TFP) đóng góp khoảng 30-35% GDP; năng suất lao động xã hội tăngkhoảng 5%/năm Hàng năm, khoảng 30-35% doanh nghiệp Việt Nam có hoạtđộng đổi mới sáng tạo Tiếp đó, đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mớisáng tạo quốc gia đến năm 2025” thể hiện các mục tiêu cụ thể là:

(1) đến năm 2020 hoàn thiện hệ thống pháp lý hỗ trợ khởi nghiệp đổi mớisáng tạo; thiết lập được Cổng thông tin khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốcgia; hỗ trợ được 800 dự án, 200 doanh nghiệp khởi nghiệp, trong đó 50doanh nghiệp gọi được vốn thành công từ các nhà đầu tư mạo hiểm, thựchiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 1.000 tỷ đồng;(2) đến năm 2025, hỗ trợ phát triển 2.000 dự án khởi nghiệp đổi mới sángtạo; hỗ trợ phát triển 600 doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; 100doanh nghiệp tham gia Đề án gọi được vốn đầu tư từ các nhà đầu tư mạo

12

Trang 13

hiểm, thực hiện mua bán và sáp nhập, với tổng giá trị ước tính khoảng 2.000

tỷ đồng

- Quỹ Khởi nghiệp doanh nghiệp KH&CN được thành lập ngày 16/12/2014theo Quyết định số 1286/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhằm thu hút độingũ tri thức, tổ chức, cá nhân, doanh nhân, nhà khoa học đóng góp vào các lĩnhvực phát triển kinh tế, tham gia thành lập các doanh nghiệp KH&CN;

- Chương trình Thanh niên Khởi nghiệp giai đoạn 2016-2021, nhằm tạo lậpmôi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ thanh niên trong quá trình khởi nghiệp,ĐMST;

- Chương trình TECHFEST là sự kiện thường niên của Chính phủ dành chocộng đồng khởi nghiệp ĐMST, nhằm quy tụ các đối tác trong hệ sinh thái khởinghiệp ĐMST

- Quỹ Khởi nghiệp doanh nghiệp KH&CN được thành lập ngày 16/12/2014theo Quyết định số 1286/QĐ-BNV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhằm thu hút độingũ tri thức, tổ chức, cá nhân, doanh nhân, nhà khoa học đóng góp vào các lĩnhvực phát triển kinh tế, tham gia thành lập các doanh nghiệp KH&CN.

- Chương trình hỗ trợ DNNVV đổi mới sáng tạo của Quỹ Phát triểnDNNVV, nhằm hỗ trợ cho DNNVV đổi mới sáng tạo vay vốn đầu tư cơ bản

- Chương trình Thanh niên Khởi nghiệp giai đoạn 2016-2021, nhằm tạo lậpmôi trường thuận lợi để thúc đẩy, hỗ trợ thanh niên trong quá trình khởi nghiệp,ĐMST;

- Chương trình TECHFEST là sự kiện thường niên của Chính phủ dành chocộng đồng khởi nghiệp ĐMST, nhằm quy tụ các đối tác trong hệ sinh thái khởinghiệp ĐMST

2 Thực trạng khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở Việt Nam

Với những diễn tiến rất nhanh của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, tinhthần khởi nghiệp cũng được đề cao với các chủ trương, chính sách bước đầuđược đưa ra để thúc đẩy khởi nghiệp Dù vậy, một doanh nghiệp chỉ có thể đượccoi là doanh nghiệp khởi nghiệp khi thể hiện được tính đổi mới sáng tạo Điềunày khiến cho việc xác định rõ thực trạng doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt

13

Trang 14

Nam là một nhiệm vụ không dễ dàng Thực tế cho thấy, Việt Nam chưa có sốliệu thống kê riêng về doanh nghiệp khởi nghiệp Hơn nữa, chính khái niệmdoanh nghiệp khởi nghiệp vẫn còn tương đối mới và thường bị nhầm lẫn với cáchoạt động khác như hoạt động “dựng nghiệp”, “lập nghiệp” hay nói chung làthành lập doanh nghiệp mới Từ sự thiếu rõ ràng như vậy, cơ bản mới chỉ thống

kê được về số doanh nghiệp thành lập mới tại Việt Nam trong những năm gầnđây và không thể tách được nhóm các doanh nghiệp khởi nghiệp ra khỏi cácdoanh nghiệp thành lập mới Với tình hình như vậy, nghiên cứu về thực trạngkhởi nghiệp đổi mới sáng tạo tại Việt Nam được giới hạn ở một số khía cạnh cụthể như sau:

2.1 Số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam.

Theo đánh giá không chính thức của Diễn đàn Khởi nghiệp trẻ, tính đến

hết năm 2016, Việt Nam có khoảng 3.000 doanh nghiệp khởi nghiệp và phần lớntrong số đó là các doanh nghiệp công nghệ, được thành lập trong khoảng 4 nămtính đến thời điểm tiến hành khảo sát sơ bộ (2016) Như vậy, nghiên cứu tổngthể về các trường hợp doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực công nghệ chothấy, các doanh nghiệp khởi nghiệp tăng mạnh trong những năm gần đây chủyếu là nhờ tác động lan tỏa của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 khi khả năngkết nối IoT gia tăng cùng với nhiều ứng dụng, điều kiện phụ trợ khác trở nên sẵn

có hơn Cộng đồng khởi nghiệp đồng thời cũng cho rằng, Việt Nam “đang ởtrong thời kỳ bùng nổ của làn sóng khởi nghiệp thứ hai, với mốc thời gian 2016

là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nhân rộng và đặt nền tảng chonhững chặng đường tiếp theo của cộng đồng khởi nghiệp trong nước”11 Thực tếthì việc làm rõ về số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam hiện nay mới

chỉ dừng ở mức ước tính chứ chưa có điều tra, thống kê đầy đủ.

Khởi nghiệp đang là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.Thủ tướng Chính phủ đã khẳng định: “Khởi nghiệp là một trong những thước

đo thành công của Chính phủ kiến tạo Ngược lại, người dân, đặc biệt là lớptrẻ khởi nghiệp càng nhiều thì nền kinh tế càng năng động, chất lượng nguồnnhân lực được rèn luyện, nâng cao” Nhằm tạo lập môi trường thuận lợi để

11 https://khoinghieptre.vn/het-nam-2016-khoi-nghiep-viet-nam-da-di-den-dau/

14

Trang 15

thúc đẩy, hỗ trợ phát triển các doanh nghiệp khởi nghiệp, Chính phủ đã phêduyệt Đề án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đếnnăm 2025” (Quyết định số 844/ QĐ-TTg ngày 18/5/2016) Mặc dù đã có một

số thành công bước đầu, nhưng nhìn chung, hoạt động khởi nghiệp và hỗ trợkhởi nghiệp ở Viêt Nam vẫn còn nhiều khó khăn; các nhóm khởi nghiệp vẫnchưa được đào tạo bài bản, thiếu kiến thức kỹ năng cơ bản, thiếu sự lien kết

và chưa đủ mạnh để phát triển một cách bền vững

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, môi trường khởi nghiệp ở ViệtNam đã có sức sống, tuy nhiên vẫn cần có cơ chế, chính sách đặc thù cùng sựđầu tư, hỗ trợ kịp thời từ Nhà nước và xã hội để doanh nghiệp khởi nghiệpphát triển Cụ thể, năm 2016 có 110.100 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới(cao nhất từ trước đến nay), tăng 16,2% so với năm 2015 Nhiều lĩnh vực có

tỷ lệ doanh nghiệp thành lập mới tăng cao như kinh doanh bất động sản (tăng83,9%), y tế và hoạt động trợ giúp xã hội (tăng 52%), giáo dục đào tạo (tăng43,1%)… đã tạo việc làm cho gần 1,3 triệu lao động Tuy nhiên cũng trongnăm này, cả nước có 12.478 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng3.011 doanh nghiệp so với năm 2015 Trong số này, phần lớn là các doanhnghiệp có quy mô vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng (11.611 doanh nghiệp), chiếm93,1% tổng số doanh nghiệp giải thể/ngừng hoạt động

Cộng đồng doanh nghiệp khởi nghiệp hầu hết bắt đầu bằng ý tưởng sáng tạo,dựa trên kỹ thuật, công nghệ cao, tri thức khoa học, kinh doanh vào lĩnh vựcmới Đặc điểm của loại hình này là ý tưởng sáng tạo khá phong phú nhưng dothiếu kinh nghiệm nên khả năng thành công tương đối thấp Theo số liệu thống

kê, cứ khoảng 100 doanh nghiệp khởi nghiệp thì có tới 90 đứng trước nguy cơgiải thể trong 2 năm đầu hoạt động Nguyên nhân chính xuất phát từ việc thiếukiến thức về quản trị điều hành doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm 50%), thiếuvốn (chiếm 40%) và thiếu kinh nghiệm thực tế trong môi trường kinh doanh(chiếm 30%), thiếu hiểu biết về KH&CN Mặc dù, hoạt động khởi nghiệp pháttriển nhanh nhưng đa số diễn ra một cách tư phát, chưa có hệ thống và sự kết nốichặt chẽ, thậm chí có ý kiến cho rằng nhiều hoạt động, sự kiện chỉ mang tính

15

Trang 16

“phong trào” mà chưa thực sự giúp ích cho hoạt động cua các doanh nghiệpkhởi nghiệp Những khó khăn về thông tin và kết nối với các dịch vụ hỗ trợ khởinghiệp đang hạn chế sự phát triên của các doanh nghiệp cũng như các tổ chức

hỗ trợ khởi nghiệp

Việt Nam có thế mạnh về dân số vàng với lực lượng lao động trẻ, dồi dào.Mỗi năm nước ta có khoảng 400 nghìn sinh viên tốt nghiệp, nhưng có đến 225nghìn sinh viên không tìm được việc làm Số liệu khảo sát tại 1.500 doanhnghiệp khởi nghiệp cho thấy, hầu hết sinh viên mới tốt nghiệp ở trong nướcchưa đáp ứng được kỳ vọng của hoạt động khởi nghiệp Nguyên nhân là do các

cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam thường chỉ tập trung vào các vấn đề liênquan đến kỹ thuật, chưa trang bị cho sinh viên kiến thức cần thiết trong lĩnh vựckhởi nghiệp như: Lập kế hoạch kinh doanh, đánh giá nhu cầu thị trường, thuyếttrình kêu gọi đầu tư… Ở Việt Nam, hệ thống giáo dục chưa chú trọng khơi dậytinh thần khởi nghiệp cho thế hệ trẻ Học sinh tốt nghiệp phổ thông trung họcchưa được trang bị những nguyên lý cơ bản về kinh tế học và tiếp cận thực tiễn

về kinh doanh, không ít sinh viên sau khi tốt nghiệp đại học vẫn chưa có ý niệmđầy đủ về lập thân, lập nghiệp Một nghịch lý là, tinh thần làm chủ, tinh thầnkhởi nghiệp lại được bắt đầu từ những con người lăn lộn với thực tiễn, ít có cơhội học hành nên phần lớn những người khởi nghiệp ở Việt Nam có trình độ họcvấn thấp, còn những người có trình độ học vấn, chuyên môn cao hơn, có nhiều

cơ hội khởi nghiệp thành công, lại hướng đến việc đi làm công, làm thuê

Biểu đồ 1 cho thấy tổng số doanh nghiệp có thể được xác định là doanhnghiệp khởi nghiệp tính đến hết năm 2016 chỉ vào khoảng 1.500 doanh nghiệp12.Mặc dù vậy, nếu tính trên đầu người thì số các công ty khởi nghiệp của ViệtNam cao hơn các quốc gia khác như Trung Quốc (2.300 công ty khởi nghiệp),

Ấn Độ (7.500 công ty khởi nghiệp) và Indonesia (2.100 công ty) So sánh giữacác lĩnh vực hoạt động cho thấy, doanh nghiệp công nghệ thông tin có con sốvượt trội so với các doanh nghiệp trong lĩnh vực khác Thực tế này phản ánhđúng xu hướng phát triển trong điều kiện cách mạng công nghiệp 4.0 với các

12 Đánh giá trong báo cáo của TS Hoàng Quang Phòng, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI),

Hà Nội, 2017

16

Trang 17

đặc điểm: (1) doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tinkhông cần quá nhiều vốn đầu tư ban đầu như nhiều lĩnh vực truyền thống khác;(2) doanh nghiệp trong lĩnh vực này dựa chủ yếu vào ý tưởng mới và cách làmmang tính sáng tạo cao, có khả năng tăng trưởng nhanh; (3) khả năng dễ dàngkết nối toàn cầu qua công nghệ IoT giúp cho các ý tưởng sáng tạo tốt dễ dàngđến được với thế giới và ngược lại, doanh nghiệp cũng dễ dàng học hỏi được từcác mô hình thành công khác của quốc tế.

Biểu đồ 1: Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2011 - 2016

Nguồn: Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh - Bộ Kế hoạch và Đầu tư

2.2.Trình độ công nghệ của doanh nghiệp

Một trong những yếu tố quyết định việc doanh nghiệp mới thành lập cóphải là doanh nghiệp khởi nghiệp hay không, chính là trình độ công nghệ làmnền tảng cho tính đổi mới sáng tạo Trình độ công nghệ của doanh nghiệp gópphần quan trọng tạo điều kiện cho tinh thần khởi nghiệp và doanh nghiệp khởinghiệp Các nước có trình độ công nghệ cao cũng thường là các quốc gia cónhiều doanh nghiệp khởi nghiệp thành công Số liệu khảo sát năm 2014 đượccông bố13 cho thấy, trong tổng số 7.450 doanh nghiệp được khảo sát, chỉ có 464doanh nghiệp khẳng định là có các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D)chiếm 6,23% Điều này có nghĩa rằng, đại bộ phận các doanh nghiệp chưa quantâm đến các hoạt động phát triển, ứng dụng công nghệ Ngoài ra, nghiên cứu về

13 Lương Minh Huân, Nguyễn Thị Thùy Dương (2016), “Thực trạng đầu tư cho Khoa học và Công nghệ của

doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Công nghệ Việt Nam, số 9A.

17

Ngày đăng: 28/08/2019, 08:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w