Giải pháp rèn kĩ năng dùng từ khi viết tập làm văn cho học sinh lớp 7; Giải pháp rèn kĩ năng dùng từ khi viết tập làm văn cho học sinh lớp ; Giải pháp rèn kĩ năng dùng từ khi viết tập làm văn cho học sinh lớp Giải pháp rèn kĩ năng dùng từ khi viết tập làm văn cho học sinh lớp ;V Giải pháp rèn kĩ năng dùng từ khi viết tập làm văn cho học sinh lớp
Trang 1MỤC LỤC
1.2 Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp 2
1.5 Các phương pháp thực hiện ở trường THCS 5
1.Cơ sở đề xuất giải pháp
1.1 Sự cần thiết hình thành giải pháp
Như chúng ta đã biết, Tập làm văn là một phân môn có vị trí đặc biệt quantrọng trong việc đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn thông qua hệ thống cácbài tập tạo lập văn bản cũng như thực hành sử dụng tiếng Việt Trong chươngtrình Ngữ văn THCS, song song với việc giải mã các văn bản tự sự, miêu tả,
Trang 2biểu cảm, nghị luận, thuyết minh ở giờ đọc - hiểu văn bản, các em còn được họccách tạo lập các kiểu văn bản này trong giờ Tập làm văn Vì các em đang “tậplàm văn” cho nên vấn đề rèn luyện để học sinh biết cách dùng từ phù hợp vớimục đích diễn đạt là vô cùng quan trọng Rèn luyện để các em từ chỗ biết dùng
từ đúng đến chỗ biết dùng từ hay là cả một quá trình Thực tế chúng ta cũng thấyrằng khi đọc những bài làm văn của các em, có rất nhiều em chưa biết cách dùng
từ hoặc chưa hiểu rõ nghĩa của từ nên dùng sai gây ra sự khó hiểu hoặc hiểunhầm đáng tiếc Đứng trước thực tế đó, là một giáo viên dạy bộ môn Ngữ văn đãnhiều năm nay tôi luôn suy nghĩ mình sẽ làm thế nào để giúp các em nâng cao kĩnăng dùng từ khi viết Tập làm văn? Với những trăn trở này, tôi xin mạnh dạn
đưa ra đề tài “Giải pháp rèn kĩ năng dùng từ khi viết tập làm văn cho học sinh
lớp 7”.
1.2.Tổng quan các vấn đề liên quan đến giải pháp
Hệ thống hóa, chọn lọc, tổng hợp tất cả tài liệu, bài viết liên quan đến vấn đềdùng từ không hợp lí của học sinh và cách khắc phục, có liên quan mật thiết đếngiải pháp của tôi hoặc liên quan mật thiết đến các vấn đề, các mục cần được đềcập trong giải pháp
Cung cấp các phương pháp, giải pháp, thủ pháp, biện pháp cụ thể của đề tài,những ví dụ minh họa
Tôi đã phân tích, đánh giá và nêu rõ những mặt thành công và mức độ thànhcông của giải pháp này, đồng thời đưa ra những ví dụ cụ thể trong việc giảiquyết các vấn đề liên quan đến đề tài hoặc liên quan mật thiết đến các vấn đềcần được đề cập trong đề tài này
Lựa chọn và xác định những vấn đề thuộc nội dung giải pháp cần và sẽ tậptrung giải quyết
* Cấu trúc
Hình thành cấu trúc rõ ràng gồm 4 phần.
* Văn phong
Trang 3Văn phong khoa học (Tôi sẽ lí giải hai nguyên nhân dùng văn phong khoa
học:Thứ nhất đề tài này là một nghiên cứu khoa học nên phải dùng văn phong
khoa học, có sự gọt giũa, tập hợp, chọn lọc, tổng hợp của tôi khi đọc các sách
tham khảo sao cho phù hợp với sáng kiến của bản thân- điều đó có nghĩa là
sáng kiến này ra đời trước hết là dựa vào tình hình thực tế lúc giảng dạy mà đúc kết kinh nghiệm, sau đó căn cứ vào các sách tham khảo mang tính khoa học
có liên quan đến giải pháp để giải pháp mang tính chính xác của khoa học)
Văn phong tự sự, biểu cảm, nghị luận ( là ý kiến của bản thân trong quá
trình áp dụng giải pháp vào thực tế đã có quá trình thực hiện, kết quả như thếnào)
* Độ lớn: khoảng 9059 từ
* Nguồn tin: Sách giáo khoa Ngữ văn 7, Nxb Giáo dục Việt Nam; Sách giáo
viên Ngữ văn 7, Nxb Giáo dục Việt Nam; Sách Chuẩn kiến thức kĩ năng tập I,Nxb Giáo dục Việt Nam
*Sử dụng: là sáng kiến kinh nghiệm hoàn toàn độc lập.
1.3 Mục tiêu của giải pháp
Rèn kĩ năng dùng từ cho học sinh khi viết Tập làm văn Hướng các em từ chỗdùng từ chưa đúng đến chỗ biết dùng từ đúng, tiến đến biết dùng từ hay, phù hợpvới mục đích diễn đạt, góp phần hạn chế những lỗi diễn đạt mà học sinh haymắc phải
1.4 Các căn cứ đề xuất giải pháp
1.4.1 Căn cứ cơ sở lí luận: dựa vào các phương diện sau
Như chúng ta đã biết, tiếng là đơn vị cấu tạo nên từ và trong ngôn ngữ thì từ
là đơn vị quan trọng nhất Nói cách khác, từ là chất liệu cơ bản, được sử dụng đểtạo ra những đơn vị / kết cấu ở bậc cao hơn Vì thế, không có từ, con ngườikhông thể tiến hành giao tiếp được, và như vậy, bản thân ngôn ngữ cũng không
Trang 4tồn tại Vậy từ có vai trò quan trọng như thế nào? Chúng ta có thể xem xét vaitrò của từ ở hai góc độ:
Về phía người tạo lập văn bản (người nói, người viết), để truyền đạt một nộidung thông báo nào đó, tất nhiên phải tạo ra lời cụ thể, tồn tại dưới một loại hìnhngôn bản cụ thể Trong quá trình tạo câu, tạo đoạn trong ngôn bản, công việc
cơ bản của người nói/viết là lựa chọn và kết hợp từ để tạo thành câu, đoạn v.v
Về phía người tiếp nhận văn bản (người nghe, người đọc), khi nghe, đọc,trước hết là tiếp xúc với từ (dưới dạng âm thanh hay kí hiệu chữ viết) và hiểuđược từ, trên cơ sở đó mới hiểu được câu, đoạn và cuối cùng là hiểu được nộidung toàn ngôn bản
Từ có vai trò vô cùng quan trọng như vậy, nên năng lực ngôn ngữ của một cánhân thể hiện rõ nhất, dễ nhận thấy nhất qua việc dùng từ, xét ở cả hai mặt: đúng
và sai, hay và dở Yêu cầu cơ bản của việc dùng từ là phải đảm bảo tính chínhxác Vậy thế nào là dùng từ chính xác? Dùng từ chính xác là dùng từ đảm bảođược sự trùng khít, tương hợp sát sao giữa ý nghĩa của từ với nội dung muốnbiểu đạt, tức khái niệm, sự vật, hành động, tính chất, trạng thái v.v Căn cứ vàocác thành phần ý nghĩa của từ, có thể cụ thể hoá sự tương hợp, trùng khít vừanêu:
Thứ nhất, nghĩa biểu niệm hay biểu vật của từ phải phản ánh đúng khái niệm,
sự vật, hành động, tính chất mà người nói / người viết muốn đề cập đến Ðây
là sự tương hợp cơ bản nhất Không bảo đảm được sự tương hợp này thì sẽ dẫnđến chỗ lỗi chọn sai từ
Thứ hai, nghĩa biểu thái của từ phải phù hợp với tình cảm, thái độ của người
nói / viết đối với đối tượng được đề cập đến; đồng thời nghĩa biểu thái của các từphải tương hợp với nhau và tương hợp với sắc thái ý nghĩa chung của cả câuvăn
Trang 5Thứ ba, giá trị phong cách của từ phải phù hợp với phong cách ngôn ngữ văn
bản
Như vậy bất cứ người làm văn nào cũng thấy việc hiểu từ và dùng từ đúng làđiều quan trọng và cũng là điều khó khăn bậc nhất Và như chúng ta đã biết:
"Trong tiếng ta, một chữ có thể dùng để diễn đạt rất nhiều ý; hoặc ngược lại, một
ý nhưng lại có bao nhiêu chữ để diễn tả Vì vậy, nếu nói tiếng Việt của ta cónhững khả năng rất lớn để diễn đạt tư tưởng và tình cảm trong nhiều thể văn thìđiều đó hoàn toàn đúng Không sợ tiếng ta nghèo, chỉ sợ chúng ta không biếtdùng tiếng ta." (Phạm Văn Đồng)
1.4.2 Căn cứ cơ sở thực tiễn
Trong thực tế, khi giảng dạy, lúc yêu cầu học sinh tạo lập văn bản, tôi nhậnthấy rằng các em sử dụng từ sai rất nhiều Có những đoạn văn, bài văn rất hay,nhưng chỉ vì dùng từ sai đã khiến cho tính chất hay của văn bản bị giảm sút.Hoặc có những bài văn do dùng từ sai mà hậu quả là không biểu thị đúng đượcnội dung, dẫn đến việc khiến người đọc, người nghe hiểu vấn đề một cách lệchlạc và chất lượng bài văn còn thấp, không đạt yêu cầu
* Kết quả khảo sát: Kết quả thống kê đầu năm học 2017-2018 như sau:
Tổng số HS Số HS dùng từ sai/ Tỉ lệ % Số HS dùng từ đúng/ Tỉ lệ %
1.5 Phương pháp thực hiện ở trường THCS
Thông qua việc dạy Ngữ văn nhiều năm, tôi đã kết hợp nhiều phương pháp
hỗ trợ để triệt để sử dụng được giải pháp nêu trong phần 2
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu
+ Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
+ Phương pháp phân tích, thống kê – phân loại, thống kê – so sánh
+ Phương pháp thực tiễn
+ Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm
Trang 6và các trường THCS trong huyện Đất Đỏ nói chung trong năm học 2018-2019
và các năm tiếp theo
2 Quá trình hình thành và nội dung giải pháp
2.1 Quá trình hình thành giải pháp
Trong quá trình giảng dạy, tôi nhận thấy nhiều học sinh không biết hoặcchưa biết cách dùng từ dẫn đến bài viết tập làm văn có khi chỉ vỏn vẹn có mấyhàng hoặc ngược lại quá dài dòng nhưng lại diễn đạt không chính xác vấn đề,thậm chí nhiều em bỏ giấy trắng và vô cùng sợ hãi mỗi khi đến bài viết tập làmvăn Có em viết được nhưng thường hay mắc lỗi diễn đạt, đặc biệt là lỗi dùng từ.Đối với học sinh lớp 7, mặc dù đã học các bài về “Chữa lỗi dùng từ” ở lớp 6nhưng các em vẫn còn rất lúng túng, chưa biết cách dùng từ sao cho phù hợp.Chính vì thế, mới có những bài văn viết mà thầy cô chấm bài không nhịn được
cười, kiểu như: “Bạn em vẽ tranh rất đẹp Mỗi bức tranh bạn ấy vẽ đều như gieo
rắc vào lòng em những vùng hứng thú vì bạn em rất có tài, bạn ấy có đến mười
cái hoa tai lận!” Chính vì thực trạng không tốt như thế nên tôi đã nghiên cứu đề
tài rèn kĩ năng dùng từ khi viết Tập làm văn cho học sinh lớp 7
2.2.Nội dung của giải pháp
2.2.1 Thông qua các tiết dạy văn bản
Ở các tiết văn bản, khi tiến hành phân tích tác phẩm, ta sẽ chú ý các từ ngữtạo nên giá trị về nghệ thuật, diễn tả sâu sắc nổi bật nội dung của đoạn thơ, đoạnvăn Thông qua đó, hướng học sinh học tập cách dùng từ Ví dụ một số đoạn vănnhư:
Trang 7- “Vừa nghe thấy thế, em tôi bất giác run lên bần bật, kinh hoàng đưa cặp mắt tuyệt vọng nhìn tôi Cặp mắt đen của em lúc này buồn thăm thẳm, hai bờ mi
đã sưng mọng lên vì khóc nhiều.”
“Thuỷ mở to đôi mắt như người mất hồn, loạng choạng bám vào cánh tay
tôi.”
“Em cắn chặt môi im lặng, mắt lại đăm đăm nhìn khắp sân trường, từ cột cờ
đến tấm bảng tin và những vách than vẽ ô ăn quan trên hè gạch.”
“Tôi mếu máo trả lời và đứng như chôn chân xuống đất, nhìn theo cái bóng
bé nhỏ liêu xiêu của em tôi trèo lên xe.”
(Cuộc chia tay của những con búp bê - Khánh Hoài - Ngữ văn 7 tập I)
Qua những đoạn văn trên, học sinh sẽ học tập được cách dùng những từ láygợi tả, gợi cảm và sẽ vận dụng vào lời văn của mình Chúng ta sẽ so sánh để các
em thấy được sự khác nhau giữa hai cách diễn đạt: run lên - run lên bần bật;
buồn - buồn thăm thẳm; đứng không vững - loạng choạng; mắt lại chăm chú
nhìn khắp sân trường - mắt lại đăm đăm nhìn khắp sân trường Các em sẽ nhận
ra và chọn lựa được cách diễn đạt hay hơn khi viết tập làm văn
- “Tôi yêu Sài Gòn da diết Tôi yêu trong nắng sớm, một thứ nắng ngọt
ngào, vào buổi chiều lộng gió nhớ thương, dưới những cây mưa nhiệt đới bất
ngờ Tôi yêu thời tiết trái chứng với trời đang ui ui buồn bã, bỗng nhiên trong
vắt lại như thuỷ tinh Tôi yêu cả đêm khuya thưa thớt tiếng ồn Tôi yêu phố
phường náo động, dập dìu xe cộ vào những giờ cao điểm.”
(Sài Gòn tôi yêu - Minh Hương - Ngữ văn 7 tập I)
- “Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đậpmạnh hơn trong những ngày đông tháng giá Lúc ấy, đường sá không còn lầy lội
nữa mà là cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa.”
Trang 8(Mùa xuân của tôi - Vũ Bằng - Ngữ văn 7 tập I)
Qua những đoạn văn trên, học sinh sẽ học tập được cách dùng từ trong vănmiêu tả, đặc biệt là tả cảnh để vận dụng vào bài viết tập làm văn của mình, nhất
là kiểu bài văn biểu cảm mà các em đang học
2.2.2 Thông qua các tiết dạy tiếng Việt
Trong chương trình Ngữ văn 7 phần tiếng Việt ở học kì I, ngoài việc dạy thật
kĩ để học sinh phân biệt được các loại từ: Từ ghép, từ láy, từ đồng nghĩa, từ trái
nghĩa, từ đồng âm và biết cách sử dụng phù hợp, giáo viên cần chú ý đặc biệt
đến bài Chuẩn mực sử dụng từ Đây là một bài học mang tính thực hành, chưa
hề có trong chương trình tiếng Việt ở bậc THCS trước đây Chương trình tiếngViệt trước đây khi học về từ còn nặng về cung cấp các kiến thức lí thuyết ngônngữ học mang tính hệ thống, nặng về miêu tả và phân loại, chưa có những chỉdẫn về các chuẩn mực sử dụng từ Không có những hiểu biết về chuẩn mực sửdụng từ thì không có định hướng đúng khi nói, khi viết Kết quả là trong các bàiviết của học sinh và cả trong lời ăn tiếng nói thường ngày, học sinh thường phạmnhiều lỗi về sử dụng từ, làm giảm sút hiệu quả giao tiếp Nắm được các yêu cầu
cụ thể trong việc sử dụng từ, học sinh sẽ có ý thức hơn, tự giác hơn trong việcrèn luyện ngôn ngữ, nâng cao kĩ năng sử dụng ngôn từ Đây là một bài họcmang tính chất tổng hợp Nó xem xét vấn đề sử dụng từ một cách toàn diện từnhiều khía cạnh: ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, phong cách Những khía cạnh
đó đã được nói đến một cách riêng lẻ trong các bài học trước đây, đặt chúngtrong một hệ thống hoàn chỉnh để học sinh có thể có được một quan niệm tổngquát về chuẩn mực sử dụng từ Trong bài học, giáo viên cần chú ý cho học sinhthực hành những nội dung sau:
2.2.2.1 Sử dụng từ đúng âm, đúng chính tả
Việc viết sai chính tả có thể do nhiều nguyên nhân: do liên tưởng sai, do ảnh hưởng của tiếng địaphương, Ví dụ:
Trang 9Câu có từ dùng sai Nguyên nhân sai
- Một số người sau một thời gian dùi
đầu vào làm ăn, nay đã khấm khá
- Em bé đã tập tẹ biết nói.
- Đó là những khoảng khắc sung sướng
nhất trong đời em
- Do ảnh hưởng củatiếng địa phương
- Do liên tưởng sai
- Do liên tưởng sai
Muốn học sinh sửa lại từ dùng sai cho đúng thì chúng ta phải giải thích nghĩacủa mỗi từ:
- tập tẹ (không có nghĩa trong từ điển) - bập bẹ: nói chưa rõ, chưa sõi, chưa
thành câu, thành lời rành rõ, do mới học nói, mới biết chút ít
- khoảng khắc (không có nghĩa trong từ điển) - khoảnh khắc: khoảng thời
gian rất ngắn
Dựa vào cách giải thích trên, các em sẽ nhận ra được từ nào dùng đúng và sẽ sửa lại như sau:
Câu có từ dùng sai Nguyên nhân sai Sửa lại
- Do liên tưởng sai
- Do liên tưởng sai
Trang 10Câu có từ dùng sai Nguyên nhân sai
- Đất nước ta ngày càng sáng sủa.
- Ông cha ta đã để lại cho chúng ta những
câu tục ngữ cao cả để chúng ta vận dụng
trong thực tế
- Con người phải biết lương tâm.
- Do không nắm vững kháiniệm của từ
- Do không phân biệt được các
từ đồng nghĩa, gần nghĩa
Chúng ta cũng sẽ tiến hành giải thích để học sinh nắm rõ nghĩa của từ:
- sáng sủa: có nhiều ánh sáng làm cho thấy thoải mái, dễ chịu
- cao cả: hết sức cao quý
- biết: cảm nhận để có thể nhận ra cái gì đó
Với việc giải thích nghĩa của từ như trên, học sinh sẽ nhận ra được những từnày được dùng chưa đúng Giáo viên sẽ gợi ý nghĩa của các từ sau:
- tươi sáng: đầy hi vọng tốt đẹp
- sâu sắc: có tính chất đi vào chiều sâu, những vấn đề thuộc bản chất.
- có: tồn tại trong đối tượng nào một sự vật, sự việc, đặc tính quan hệ nào.
Dựa vào đó, học sinh sẽ sửa lại như sau:
sai
Sửa lại
- Đất nước ta ngày càng sáng sủa.
- Ông cha ta đã để lại cho chúng ta
những câu tục ngữ cao cả để chúng
ta vận dụng trong thực tế
- Con người phải biết lương tâm.
-Do không nắmvững khái niệmcủa từ
-Do không phânbiệt được các từđồng nghĩa, gầnnghĩa
- tươi
đẹp
- sâu sắc
- có
Trang 112.2.2.3 Sử dụng từ đúng tính chất ngữ pháp của từ
Về tính chất ngữ pháp của từ, học sinh đã được học trong các bài học về từ loại, về thành phầncâu Khi sử dụng, học sinh cần chú ý để tránh những lỗi sai, ví dụ:
- Nước sơn làm cho đồ vật thêm hào
quang (ánh sáng tỏa ra chung quanh)
- Ăn mặc của chị thật là giản dị.
- Bọn giặc đã chết với nhiều thảm hại:
máu chảy thành sông ở Ninh Kiều, thây
chất đầy nội ở Tuỵ Động,
- Đất nước phải giàu mạnh thật sự chứ
không phải là sự giả tạo phồn vinh.
- Danh từ khôngthể sử dụng làm vịngữ như tính từ
- Động từ khôngthể sử dụng nhưdanh từ
-hào nhoáng
(có vẻ màu
mè, bóngloáng ở bềngoài)
- sự ăn
mặc/Chị ăn mặc
- rất thảm
hại
- phồn vinh
giả tạo
2.2.2.4 Sử dụng từ đúng sắc thái biểu cảm, hợp phong cách
Điều này các em đã được học ở các tiết trước về từ đồng nghĩa, từ HánViệt, nhưng do không nắm rõ sắc thái biểu cảm của từ nên một số em còndùng chưa phù hợp Chúng ta cần tạo ra các bài tập tìm các từ Hán Việt dùngsai, phân tích được nguyên nhân sai và sửa lại cho đúng Nhờ vào quá trình xácđịnh và phân tích từ dùng sai, thay thế từ dùng đúng thì các em sẽ tập được thóiquen có ý thức sử dụng từ đúng sắc thái biểu cảm, hợp phong cách
Ví dụ: Nghĩa của các từ sau có sắc thái khác nhau:
- lãnh đạo: đề ra và chỉ đạo thực hiện mọi chủ trương đường lối
Trang 12- cầm đầu: nắm quyền cao nhất, điều khiển, chỉ huy một nhóm hay một tổ
chức
- dẫn đầu: đi đầu một đội ngũ, một phong trào.
Từ đó, chúng ta hướng dẫn các em làm bài tập:
Câu có từ dùng sai Nguyên nhân sai Sửa lại
- Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị lãnh đạo
sang xâm lược nước ta
- Đoàn đại biểu sang thăm Ma-lay-si-a do
chủ tịch nước ta cầm đầu.
- Phong trào khởi nghĩa do Phan Bội Châu
cầm đầu đã giành thắng lợi.
- Con hổ dùng những cái vuốt nhọn hoắt
cấu vào người, vào mặt Viên [ ] Nhưng
Viên vẫn ráng sức quần nhau với chú hổ.
- Chưa đúng sắcthái biểu cảm củatừ
2.2.3 Thông qua các tiết dạy phụ đạo phần tiếng Việt
Ở trường tôi có các tiết dạy tăng tiết cho học sinh (3 tiết/ tuần), tôi sẽ tranhthủ các tiết học này để rèn thêm kĩ năng dùng từ cho học sinh qua các dạng bàitập tiếng Việt Cụ thể như:
2.2.3.1 Lựa chọn từ thích hợp điền vào chỗ trống
Cho đoạn thơ sau:
Mang theo truyện cổ tôi đi,
Nghe trong cuộc sống (1) tiếng xưa.
……… (2) cơn nắng, trắng cơn mưa,
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi.
Trang 13Đời cha ông với đời tôi,
Như con sông với ……… (3) đã xa.
Chỉ còn truyện cổ thiết tha,
Cho tôi nhận mặt ………… (4) của mình.
Rất công bằng, rất thông minh,
Vừa độ lượng lại ………… (5) đa mang.
Thị thơm thì giấu ………… (6)
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà.
Đẽo cày theo ý người ta,
Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì.
(Lâm Thị Mĩ Dạ) Hãy lựa chọn một từ thật thích hợp để điền vào chỗ trống trong đoạn thơ:
Trang 15Mang theo truyện cổ tôi đi,
Nghe trong cuộc sống thầm thì tiếng xưa Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa,
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi Đời cha ông với đời tôi,
Như con sông với chân trời đã xa.
Chỉ còn truyện cổ thiết tha,
Cho tôi nhận mặt ông cha của mình.
Rất công bằng, rất thông minh,
Vừa độ lượng lại đa tình đa mang.
Thị thơm thì giấu người thơm,
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà Đẽo cày theo ý người ta,
Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì.
Trang 16(Lâm Thị Mĩ Dạ)
Qua dạng bài tập trên, học sinh sẽ thấy việc lựa chọn một từ thật thích hợp sẽ
có tác dụng nâng cao hiệu quả giao tiếp và ngược lại Từ đó các em sẽ ý thức và
có kinh nghiệm hơn trong việc dùng từ khi nói, viết, nhất là viết Tập làm văn
2.2.3.2 Lựa chọn từ Hán Việt thích hợp điền vào chỗ trống: trong kho từ
vựng Tiếng Việt, từ Hán Việt chiếm số lượng khá lớn nên chúng ta cần cho họcsinh làm các bài tập lựa chọn từ Hán Việt thích hợp điền vào chỗ trống trongcâu Dạng bài tập này hỗ trợ các em sau này khi viết bài tập làm văn biết chọn từHán Việt chính xác cho từng câu văn của mình
* kiến thức, tiềm thức :
- Những hiểu biết do học tập hoặc do từng trải mà tích luỹ được là
- Từ trong của mình, tôi đã bắt đầu nhận thấy bước khởi đầu nhưvậy là đúng hướng
* linh động, linh hoạt :
- Mong cô cho em về sớm 10 phút, vì em cần đi thăm người bệnh
- Chị ấy là người ……… trong mọi công việc
* lạnh lùng, lạnh lẽo, lạnh nhạt :
- Anh ấy là một con người ………… rất khó gần
- Căn phòng đã lâu không có người ở đó Nó mới ………… làm sao !
- Cô ấy vẫn giữ thái độ ……… đối với tôi
* nhỏ nhặt, nhỏ nhen, nhỏ mọn :
- Chẳng nên để ý những chuyện ……… trong cuộc sống
Trang 17- Tính tình cô ta thật là …………, ích kỉ.
- Nói xấu người khác khi người ta không có mặt là một hành động …………
* trong sạch, trong sáng, trong trẻo, trong veo:
- Giữ gìn sự ……… của tiếng Việt là nhiệm vụ của mọi người dân ViệtNam
- Vào những sáng mùa thu, bầu trời Hà Nội thật ………
- Chúng ta cần giữ gìn phẩm chất …………
- Ánh mắt nhìn ………… của cô bé làm tôi thấy áy náy vô cùng
* Yếu điểm, nhược điểm, khuyết điểm, trọng điểm:
- Đi học muộn là ………… chứ không phải là
- Nhút nhát là vốn có của anh ta
- Ở vùng máy bay địch thường xuyên bắn phá
Học sinh tập điền từ, đáp án thích hợp nhất sẽ là:
* kiến thức, tiềm thức :
- Những hiểu biết do học tập hoặc do từng trải mà tích luỹ được là kiến thức.
- Từ trong tiềm thức của mình, tôi đã bắt đầu nhận thấy bước khởi đầu như
vậy là đúng hướng
* linh động, linh hoạt :
- Mong cô linh động cho em về sớm 10 phút, vì em cần đi thăm người bệnh.
- Chị ấy là người linh hoạt trong mọi công việc.
Trang 18* lạnh lùng, lạnh lẽo, lạnh nhạt :
- Anh ấy là một con người lạnh lùng rất khó gần.
- Căn phòng đã lâu không có người ở đó Nó mới lạnh lẽo làm sao !
- Cô ấy vẫn giữ thái độ lạnh nhạt với tôi.
* nhỏ nhặt, nhỏ nhen, nhỏ mọn :
- Chẳng nên để ý những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống.
- Tính tình cô ta thật là nhỏ mọn, ích kỉ.
- Nói xấu người khác khi người ta không có mặt là một hành động nhỏ nhen.
* trong sạch, trong sáng, trong trẻo, trong veo
- Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt là nhiệm vụ của mọi người dân Việt
Nam
- Vào những sáng mùa thu, bầu trời Hà Nội thật trong trẻo.
- Chúng ta cần giữ gìn phẩm chất trong sạch.
- Ánh mắt nhìn trong veo của cô bé làm tôi thấy áy náy vô cùng.
* Yếu điểm, nhược điểm, khuyết đểm, trọng điểm:
- Đi học muộn là khuyết điểm chứ không phải là yếu điểm.
- Nhút nhát là nhược điểm vốn có của anh ta.
- Ở vùng trọng điểm, máy bay địch thường xuyên bắn phá.