1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đổi mới phương pháp giảng dạy ca dao nhằm gây hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 7 các trường THCS trong Cụm chuyên môn số 4 ở huyện Nga Sơn

23 537 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời gian qua, là một Phó Hiệu trưởng, được phân công nhiệm vụ làm Tổ trưởng bộ môn Ngữ Văn của Cụm Chuyên môn số 3 thuộc địa bàn huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Gồm 4 nhà trường: THCS Nga Trường, THCS Nga Thiện, THCS Nga Giáp, THCS Nga Vịnh), tôi luôn luôn trăn trở tìm tòi và quan tâm tới việc tự học tự bồi dưỡng cho bản thân đồng thời giúp đỡ các bạn đồng nghiệp trong tổ Ngữ Văn của Cụm chuyên môn trong đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm gây nhiều hứng thú học tập bộ môn và từ đó nâng cao chất lượng bộ môn ở các nhà trường thuộc cụm chuyên môn của mình. Vì vậy, trong phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm lần này, tôi xin mạnh dạn trình bày về: “Đổi mới phương pháp giảng dạy ca dao nhằm gây hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 7 các trường THCS trong Cụm chuyên môn số 4 ở huyện Nga Sơn”. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm này đã được đưa vào vận dụng giảng dạy trong tổ Ngữ Văn thuộc Cụm chuyên môn và đã mang lại những hiệu quả nhất định.

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ

Ca dao, dân ca là “ tiếng hát từ trái tim lên miệng” Thơ ca trữ tình dân gian

phát triển và tồn tại để đáp ứng những nhu cầu bộc lộ tình cảm, cảm xúc củanhân dân Nó đã, đang và sẽ ngân vang mãi trong tâm hồn con người Việt Nam

“ Và nay mai, đến khi chủ nghĩa cộng sản thành công, thì câu ca dao Việt nam vẫn rung động lòng người Việt Nam hơn hết” (Lê Duẩn)

Trong “Bình luận văn chương”, nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội 1998, nhà phê bình văn học Hoài Thanh viết: “Văn chương sẽ là hình dung của sự sống muôn hình vạn trạng Chẳng những thế, văn chương còn sáng tạo ra sự sống […] văn chương gây cho ta những tình cảm ta không có, luyện những tình cảm

ta sẵn có: cuộc đời phù phiếm và chật hẹp của cá nhân vì văn chương mà trở nên thâm trầm và rộng rãi đến trăm nghìn lần”.

Trong “Tiếng nói của Văn nghệ” - tuyển tập III - Nhà xuất bản văn học Hà nội 1997, Nguyễn Đình Thi cũng viết: “ Tác phẩm nghệ thuật vừa là kết tinh của tâm hồn người sáng tác, vừa là sợi dây truyền cho mọi người sự sống mà nghệ sĩ mang trong lòng […] Nghệ thuật không đứng ngoài trỏ vẽ cho ta đường

đi Nghệ thuật vào đốt lửa trong lòng chúng ta, khiến chúng ta phải tự bước lên đường ấy Bắt rễ ở cuộc đời hằng ngày của con người, văn nghệ lại tạo được sự sống cho tâm hồn con người Nghệ thuật mở rộng khả năng của tâm hồn, làm cho con người vui buồn nhiều hơn, yêu thương và căm hờn được nhiều hơn, tai mắt biết nhìn, biết nghe thêm tế nhị, sống được nhiều hơn”.

Xuất phát từ giá trị vô cùng to lớn của tác phẩm văn chương nói chung vànhững bài ca dao nói riêng, người giáo viên dạy Ngữ văn qua mỗi giờ dạy cadao, cần chú trọng việc đổi mới phương pháp giảng dạy, nhằm rèn và bồi dưỡngcho học sinh những phẩm chất và năng lực nhất định Mỗi bài ca dao hay, đượccảm nhận đúng đắn, tích cực sẽ góp phần rất lớn vào việc hình thành và pháttriển nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, khơi gợi những tình cảm tốt đẹp như tìnhcảm gia đình, tình yêu quê hương đất nước, biết đồng cảm với những cảnh đời,

số phận éo le… Từ đó nhằm phát huy thiên chức kỳ diệu của Văn học là khơigợi trong tâm hồn người học những cảm xúc mới mẻ, những tìn cảm đẹp đẽ, vềtình yêu con người, tình yêu quê hương đất nước, thắp lên trong tâm hồn các emnhững ước mơ cao đẹp, rèn luyện và hun đúc ý chí quyết tâm “Học để ngày mailập nghiệp làm giàu đẹp quê hương…” Hay nói cách khác, từ mỗi giờ học cadao, học sinh biết cảm nhận cái hay, cái đẹp từ mỗi bài ca dao, biết tự làm giàu

có vẻ đẹp tâm hồn và có khả năng vận dụng vào đời sống một cách có hiệu quảnhất

Ngày nay, đất nước ta đang trên con đường phát triển trở thành một nướccông nghiệp hóa - hiện đại hóa, trước nhịp điệu khẩn trương hối hả đến chóngmặt của cuộc sống hiện đại với biết bao thành tựu khoa học kỹ thuật, những sảnphẩm điện tử tân tiến nhất vv, trong các nhà trường, việc bồi dưỡng tâm hồnnhân cách, lối sống cho con người lại càng là thiên chức kỳ diệu của Văn học vàcũng là trách nhiệm vô cùng quan trọng của người giáo viên Ngữ văn

Việc đổi mới phương pháp dạy học, rèn luyện và bồi dưỡng cho học sinh

Trang 2

năng lực cảm thụ, bình giá một bài ca dao nói riêng, rộng ra là năng lực cảm thụmột tác phẩm Văn học nói chung nhằm gây hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văntrong nhà trường là một việc làm cần thiết.

Trong thời gian qua, là một Phó Hiệu trưởng, được phân công nhiệm vụ làm

Tổ trưởng bộ môn Ngữ Văn của Cụm Chuyên môn số 3 thuộc địa bàn huyệnNga Sơn, tỉnh Thanh Hóa (Gồm 4 nhà trường: THCS Nga Trường, THCS NgaThiện, THCS Nga Giáp, THCS Nga Vịnh), tôi luôn luôn trăn trở tìm tòi và quantâm tới việc tự học tự bồi dưỡng cho bản thân đồng thời giúp đỡ các bạn đồngnghiệp trong tổ Ngữ Văn của Cụm chuyên môn trong đổi mới phương phápgiảng dạy nhằm gây nhiều hứng thú học tập bộ môn và từ đó nâng cao chấtlượng bộ môn ở các nhà trường thuộc cụm chuyên môn của mình Vì vậy, trong

phạm vi của sáng kiến kinh nghiệm lần này, tôi xin mạnh dạn trình bày về: “Đổi mới phương pháp giảng dạy ca dao nhằm gây hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh lớp 7 các trường THCS trong Cụm chuyên môn số 4

ở huyện Nga Sơn” Nội dung sáng kiến kinh nghiệm này đã được đưa vào vận

dụng giảng dạy trong tổ Ngữ Văn thuộc Cụm chuyên môn và đã mang lại nhữnghiệu quả nhất định

B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ

1 Các khái niệm và giải thích khái niệm

1.1 Khái niệm “Ca dao”

Ca dao, dân ca là những khái niệm tương đương, chỉ các thể loại trữ tình

dân gian, kết hợp lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người

Hiện nay, người ta phân biệt hai khái niệm “dân ca” và “ca dao” “Dân ca”

là những sáng tác kết hợp lời và nhạc, tức là những câu hát dân gian trong diễnxướng Ca dao là lời thơ của dân ca Khái niệm “ca dao” còn được dùng để chỉmột thẻ thơ dân gian – thể ca dao

1.2 Khái niệm "Bình giảng ca dao"

Trong phân tích một bài ca dao, một việc làm không thể thiếu đó là bình

giảng ca dao Bình ở đây có nghĩa là bình luận, nhận xét, đánh giá Bình có thểkhen hay chê hoặc vừa khen vừa chê Trong khi bình, không nên nặng về khen,khen quá lời, mòn sáo, kém hiệu quả Cái hay của tác phẩm không chỉ đượcnhận xét đấnh giá mà còn được thể hiện trong cách đọc diễn cảm tác phẩm Vậy khái niệm bình giảng ca dao bao hàm cả việc phê bình nhận xét vàviệc đọc tác phẩm một cách trực tiếp, sinh động, có nghệ thuật

1.3 Khái niệm “ Thi pháp văn học” và “Thi pháp ca dao”

Một bài ca dao là một tác phẩm văn học Bởi vậy, khi phân tích, bình giảngmột bài ca dao, cần nắm vững đặc điểm về thi pháp văn học Thi pháp văn học

là tổ hợp những đặc tính thẩm mỹ - nghệ thuật và phong cách của một hiệntượng văn học, là cấu trúc bên trong của nó, là hệ thống đặc trưng của các thành

tố nghệ thuật và mối quan hệ giữa chúng ((Nguyễn Xuân Kính - Viện Văn hóa dân gian, Thi pháp ca dao, trang 25, NXB Khoa học xã hội, 1992).

Thi pháp ca dao là một khái niệm thuộc phạm trù về thi pháp văn học dân

Trang 3

gian Thi pháp văn học dân gian cần được phân biệt với thi pháp văn học viết.Bên cạnh những điểm gặp nhau giữa thi pháp văn học dân gian với thi pháp vănhọc viết, giữa thi pháp văn học dân gian và thi pháp văn học viết có những điểmkhác biệt như: Trong văn học viết không có cách thức thể hiện và biểu hiệnriêng của nghệ nhân đối với bản kể (Truyện dân gian), đối với lời ca ( ca dao,dân ca) Ở văn học dân gian, những mối quan hệ sau đây là có thực, tạo nên sựkhác biệt giữa thi pháp văn học dân gian và thi pháp văn học viết: Mối quan hệgiữa nghệ nhân (Người kể, người diễn xướng) với văn bản tác phẩm; mối quan

hệ giữa thưởng thức (người nghe, người xem) với nghệ nhân và văn bản, tác

phẩm (Nguyễn Xuân Kính - Viện Văn hóa dân gian, Thi pháp ca dao, trang 28, NXB Khoa học xã hội, 1992).

2 Các cơ sở hướng dẫn.

a Tài liệu hướng dẫn “Bình giảng ca dao” (Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên của

Bộ Giáo dục & Đào tạo)

b Tài liệu hội thảo “Đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ Văn ở trường Trung học cơ sở” (Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên của Bộ Giáo dục & Đào tạo).

c Tài liệu “Thi pháp ca dao” (Nguyễn Xuân Kính - Viện Văn hóa dân gian, Thi pháp ca dao, NXB Khoa học xã hội, 1992)

d Sách giáo khoa, Sách giáo viên Ngữ văn lớp 7 – NXBGD.

II THỰC TRẠNG CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Thực trạng

Là một Phó Hiệu trưởng nhà trường THCS, trong nhiều năm chỉ đạo chuyênmôn, qua tìm hiểu thực trạng các nhà trường THCS nói chung và các trườngTHCS trong cụm chuyên môn mà tôi được trực tiếp tham gia nói riêng (Gồm 4nhà trường THCS: Nga Trường, Nga Thiện, Nga Vịnh, Nga Giáp) ở huyện NgaSơn, tôi thấy nhiều giáo viên có năng lực, giàu kinh nghiệm, vận dụng tốt việcđổi mới phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn nói chung và dạy ca dao nóiriêng Tuy vậy, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận giáo viên còn lúng túng khidạy phần ca dao Tôi xin nêu ra một số nhược điểm như sau:

1.1.Tình trạng diễn nôm ca dao Người dạy chỉ nói lại, kể lại nội dung trực

tiếp của những câu ca dao bằng lời lẽ thông thường có tính chất nôm na

Cách làm này làm cho người học không hào hứng Nguyên nhân của cáchlàm này là do giáo viên đánh giá thấp trình độ học sinh, cũng có khi do quanniệm sai về sự giản dị dễ hiểu của ca dao Cũng có khi do khả năng hạn chế hoặcthiếu đi sâu nghiên cứu ca dao Cách làm này đã dung tục hóa công việc giảngdạy ca dao

1.2 Tình trạng làm phức tạp hóa sự giản dị dễ hiểu của ca dao, lôi cuốn học

sinh bằng những lời lẽ văn hoa, bóng bảy, dùng nhiều khái niệm thuật ngữchuyên môn của nghiên cưú và giảng dạy văn học Cách làm này thường làmcho người học và người dạy cảm thấy giờ học như là hấp dẫn, sinh động, cónhiều màu sắc văn chương nhưng xét về lợi ích thực tế của việc giảng dạy cadao thì cũng không hơn gì cách thứ nhất vì không đem lại cho học sinh nhữngcảm xúc mới mẻ về những bài ca dao mà họ được học

Trang 4

1.3 Tình trạng lấy bài ca dao đang dạy làm điểm xuất phát để từ đó liên hệ, liên

tưởng dẫn dắt học sinh tới những câu thơ, tứ thơ trong những tác phẩm văn họckhác theo sở trường và cảm hứng tự do của người giảng

Cách làm này thường cuốn hút cả thầy lẫn trò đi vào giờ học một cách saysưa, nhiều khi quên cả giờ giấc Nhưng sự say sưa đó không phải là kết quả bìnhgiảng những câu ca dao gây nên mà chủ yếu là do sự trích dẫn liên hệ văn thơ ởngoài bài ca dao mang lại Người dạy đã biến bài ca dao thành nguyên cớ hợppháp để liên tưởng liên hệ tất cả những gì mình thích một cách tùy tiện thiếunguyên tắc

2 Kết quả của thực trạng

Từ thực trạng vừa trình bày ở trên, bên cạnh những kết quả to lớn về chấtlượng dạy học môn Ngữ văn của thầy và trò nói chung như những số liệu về sốhọc sinh giỏi các cấp, số học sinh đang trưởng thành từ các nhà trường và đangphát huy tài năng sang tạo ở khắp nơi trên đất nước… thì cũng còn một vài con

số đáng trăn trở như sau:

Qua kết quả năm học 2013-2014 ở 4 nhà trường trong Cụm Chuyên môn của Huyện Nga Sơn (Gồm 4 trường THCS: Nga Trường, Nga Thiện, Nga Vịnh, Nga Giáp), tôi đã khảo sát bộ môn Ngữ Văn ở mỗi nhà trường 10 học sinh lớp7 Danh sách học sinh dự khảo sát đã được lập một cách ngẫu nhiên, kết quả cho thấy:

Bảng 1:

Năm học HS lớp

Tổng sốhọc sinhđượckhảo sát

ở 4 nhàtrườngthuộccụmchuyênmôn

Số học sinhyêu thích họctập bộ mônNgữ Văn

Số học sinhkhông yêuthích học tập

III GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1 Các giải pháp thực hiện

1.1 Đối với giáo viên:

Trong những lần sinh hoạt Cụm chuyên môn trong hai năm học 2013 –

Trang 5

2014 và năm học 2014 - 2015, với vai trò trách nhiệm của một Phó hiệu trưởng,được phân công là tổ trưởng tổ chuyên môn bộ môn Ngữ Văn, tôi luôn luôn phốikết hợp các hoạt động để thực hiện nội dung sáng kiến kinh nghiệm này.

Cụ thể là thông qua các buổi sinh hoạt chuyên môn cụm, tôi thường dànhmột lượng thời gian để trao đổi với các đồng chí giáo viên bộ môn Ngữ Văntrong cụm Tôi đã nêu vấn đề này ra để cùng với các đồng chí giáo viên bộ môncùng nghiên cứu và bàn bạc nhằm đi đến thống nhất những giải pháp và phươngpháp tích cực nhằm nâng cao chất lượng mỗi giờ học Ngữ Văn nói chung và giờhọc Ca dao trong chương trình Ngữ Văn 7 nói riêng

Qua lắng nghe ý kiến trao đổi và những tâm tư của các bạn đồng nghiệptrong tổ Ngữ Văn ở cụm chuyên môn, tôi đã nắm bắt những ưu nhược điểm củamỗi đồng chí giáo viên, ghi chép tập hợp số liệu về những kết quả đạt được vànhững khó khăn vướng mắc, những hạn chế thiếu sót trong quá trình dạy ca daocủa từng đồng chí trong các nhà trường thuộc cụm chuyên môn trong đó có nhàtrường THCS Nga Trường là nơi tôi đang công tác Từ đó, tôi đã giúp các đồngchí giáo viên tự học tự bồi dưỡng để mỗi đồng chí nhận thức sâu sắc về ý nghĩa,vai trò quan trọng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm gây hứng thúhọc tập cho học sinh đối với bộ môn Ngữ Văn nhằm nâng cao chất lượng dạyhọc ở các nhà trường trong cụm chuyên môn tôi được phân công làm tổ trưởng.Đồng thời, tôi cũng đã giúp các đồng chí giáo viên nắm vững hơn về phươngpháp giảng dạy ca dao Cụ thể bao gồm những nội dung sau:

a Người giáo viên cần giúp học sinh phân biệt việc bình và phân tích ca dao

Đó là hai công việc gần nhau nhưng khác nhau rõ rệt Chúng có thể đượclàm độc lập riêng rẽ, cũng có thể kết hợp vừa bình vừa phân tích Khi bình cadao thì người bình có quyền trình bày sự cảm thụ, thưởng thức, đánh giá tácphẩm ca dao một cách tự do, mang tính chủ quan, nói lên những suy nghĩ tìnhcảm của mình mang tính cá nhân Còn khi phân tích, thì phải chỉ ra những nộidung ý nghĩa của bài ca dao một cách khoa học và khách quan, phải vận dụng trithức khoa học và các nguồn tri thức khác có quan hệ với tác phẩm để phân tích

lí giải tác phẩm giúp người nghe hiểu đúng hiểu sâu tác phẩm Nếu chỉ phân tíchđơn thuần thì sẽ khô khan, thiếu sinh động, khiến người nghe kém hứng thú, tiếpthu thụ động, khó có điều kiện nhận thức và cảm thụ nhiều mặt của tác phẩm Vìvậy khi phân tích một bài ca dao, học sinh cần biết cách bình giảng thêm để bàilàm thêm sâu sắc

Cũng cần giúp học sinh phân biệt bình giảng với bình chú Chú có nghĩa làgiải thích thêm, nói thêm cho rõ Khi bình chú một đoạn văn, một bài thơ, haymột bài ca dao, nếu lạm dụng bình chú thì sẽ rơi vào sự tùy tiện, giải thích qualoa, có khi đi lạc hướng, hiểu sai tác phẩm

b Người giáo viên cần giúp học sinh hiểu được vai trò, vị trí của bình giảng trong quá trình phân tích một bài ca dao.

Thông qua kỹ năng phân tích một cách khoa học, làm cho người nghe,người đọc hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu tác phẩm Trên cơ sở hiểu đúng, sẽbình xét một cách tinh tế nghệ thuật làm cho người nghe, người đọc cảm thụ

Trang 6

được cái hay, cái đẹp của tác phẩm Từ đó, học sinh có thể tự giáo dục, bồidưỡng tư tưởng tình cảm, tâm hồn cho bản thân.

c Người giáo viên cần rèn luyện cho học sinh nắm được những yêu cầu

cụ thể khi bình và phân tích ca dao.

c.1 Cần tuyển chọn được những bài ca dao hay để bình và phân tích.

Một bài ca dao được chọn để bình giảng phải có ít nhất những điều kiện sau:

- Thứ nhất, phải là một bài ca dao hay, có giá trị thực sự về nội dung, nghệthuật, đồng thời phải là bài ca dao có vấn đề, có điểm sáng nghệ thuật đáng đểbình

- Thứ hai, phải phù hợp với sở trường và khả năng của người học

- Thứ ba, phải phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của nguòi đọc, người nghe

c.2 Người giáo viên cần giúp học sinh hiểu được cái chung và cái riêng trong ca dao.

Không nên nghĩ rằng văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng là

sáng

tác tập thể, không phải là sản phẩm của cá nhân gắn liền với cá tính sáng tạo, do

đó cũng không có cá tính, không có cái riêng

Cái riêng của ca dao là cái riêng về đời sống vật chất, tinh thần, phong tụctập quán, ngôn ngữ của nhân dân trong từng địa phương, từng thời kỳ lịch sử,từng cộng đồng xã hội cụ thể Nếu học ca dao mà coi nhẹ hoặc phủ nhận cáiriêng thì không thể lý giải được cái hay cái đẹp, sự độc đáo của mỗi câu ca dao.Không nên coi hầu hết những câu, những bài về một đề tài cụ thể ( tỏ tình, thềnguyền, hận tình, than thân,…) là cùng một mô típ, thé là cứ lấy cách phân tíchbài này để làm mẫu cho bài kia

Ví dụ:

“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai?”

“ Thân em như tấm lụa đào

Dám đem xé lẻ vuông nào cho ai!”

“Thân em như tấm cau khô

Kẻ thanh tham mỏng người thô tham dầy.”

“Thân em như giếng giữa đàng

Người thanh rửa mặt, người phàm rửa chân….”

Hoặc “Còn duyên kẻ đón người đưa

Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng”

“Còn duyên đóng cửa kén chồng

Hết duyên ngồi gốc cây hồng nhặt hoa”

“Còn duyên kén cá chọn canh

Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ

“Còn duyên kén những trai tơ Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng”

“Còn duyên như tượng tô vàng Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa”

Trang 7

c.3 Người giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ ý và tứ, sự và tình trong ca dao.

Ở trong ca dao, ý và tứ là hai yếu tố, hai phạm trù khác nhau nhưng có quan

hệ với nhau rất mật thiết Một ý chung giống nhau hoặc gần nhau nào đó khimỗi người gặp những hoàn cảnh khác nhau thì trở thành những tứ khác nhau Chính vì vậy mà trong ca dao có hiện tượng cùng một chủ đề, có hàng trămbài dài ngắn khác nhau, mỗi bài có một tứ riêng độc đáo

Người sáng tác ca dao biến ý thành tứ, còn người phân tích, bình giảng cadao cần dựa vào tứ mà tìm ra ý Khi đã hiểu rõ được chủ ý của tác phẩm, mới cóđiều kiện và cơ sở chắc chắn để bình luận khen chê bài ca dao đó một cách chắcchắn, kĩ càng, chính xác và tinh tế

Trong ca dao còn có mối quan hệ giữa sự và tình Ca dao là sản phẩm củasuy tư, cảm xúc, là tiếng nói của tâm hồn tình cảm Trong ca dao, sự tình thường

đi đôi vói nhau, nương tựa vao nhau để tồn tại và phát triển Sự có thể có thậthay hư cấu, là phương tiện, là nguyên cớ để tác giả thể hiện tình cảm mà thôi

Có thể coi sự là xác, tình là hồn của ca dao Khi nào ý chuyển thành tình, tìnhgắn với sự thì tứ mới nảy sinh và phát triển Sự càng bất ngờ thì tứ càng độc đáo,

ý càng sâu sắc

c.4 Người giáo viên cần giúp học sinh chú ý mối quan hệ giữa lời và ý, chữ

và nghĩa trong ca dao

Ngôn ngữ trong ca dao là ngôn ngữ thông thường của quần chúng nhân dânnhưng đã được sử dụng theo phương thức trữ tình của thơ ca Muốn hiểu đúng,hiẻu rõ, hiểu sâu sắc thấu đáo một bài ca dao cần bám vào từ ngữ của nó, thôngqua từ ngữ để tìm ra ý, tứ, sự tình ở trong đó

Cái hay cái đẹp của ca dao được thể hiện ở nhiều yếu tố, nhiều phương diệnkhác nhau, nhưng tất cả mọi yếu tố, mọi phương diẹn khác nhau ấy đều quan hệvới từ ngữ Cho nên từ ngữ trong ca dao có vai trò đặc biệt quan trọng “Lời thơdân gian không những sẽ bước đầu cho ta làm quen với tâm tư tình cảm củađồng bào xưa mà đồng thời sẽ còn giúp ta học được những cách nói năng tài tìnhchính xác Theo tôi, đối với một người Việt Nam mà thiếu những kiến thức nàythì có thể xem như là thiếu một trong những điều cơ bản

c.5 Người giáo viên cần giúp học sinh nắm vững những yếu tố ngoài văn bản và thi pháp ca dao.

Một bài ca dao có thể cho phép hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau

Hiện tượng nhiều nghĩa nằm ngay trong văn bản, ngay trong thành phầnngôn từ Chính các nghĩa đó của văn bản đã dẫn đến những cách hiểu khác nhau,tùy theo sự cảm thụ và vốn sống thực tế của người đọc, một ý nghĩa sẽ được lựachọn

c.6 Người giáo viên cần giúp học sinh có những hiểu biết sâu sắc về thể thơ trong ca dao.

* Thể thơ lục bát: Đại đa số ca dao được sáng tác theo thể thơ lục bát, vì nó

có nhịp điệu uyển chuyển linh hoạt vô cùng Ngoài ra,với sự không gò bó,

không bị hạn chế về độ dài ngắn của tác phẩm, thể lục bát rất có sở trường trong

Trang 8

việc diễn tả cấc cảm xúc rất phong phú, thể hiện các nội dung hết sức đa dạng của hiện thực.

* Thể song thất lục bát: Bên cạnh nhịp điệu uyển chuyển của những cặp lụcbát, vần trắc và tiết tấu theo nhịp 3/4 của các cặp song thất có khả năng nhiềuhơn trong việc diễn tả những tình cảm khúc mắc, những nỗi đau khổ uất ức,những trở ngại, éo le

VD: “Đêm qua nguyệt lặn về tây

Sự tình kẻ đấy người đây đường dài”.

“Trúc với mai, mai về trúc nhớ Mai trở về mai nhớ trúc không?

Bây giờ kẻ Bắc người đông

Kể sao cho hết tấm lòng tương tư”.

c.7 Người giáo viên cần giúp học sinh hiểu rõ giá trị biếu đạt của yếu tố thời gian và không gian nghệ thuật.

*Thời gian nghệ thuật trong ca dao là thời gian hiện tại, thời gian diễn xướng

Dấu hiệu này trong một số trường hợp được bộc lộ trực tiếp bằng các từ “ Bây giờ”, “ Hôm nay”.

VD: “ Hôm nay ở đất nhà người

Kém ăn là một, kém cười là hai Mai về ở với nhà tôi

Dù che ngựa cỡi, rong chơi cả ngày”.

Các từ láy chỉ thời gian có tác dụng diễn tả quá trình sự viẹc diễn ra, đồngthời gợi tả tâm trạng sâu sắc:

VD: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều”.

“ Đêm đêm vuốt bụng thở dài Thở ngắn bằng chạch, thở dài bằng lươn”.

“ Ngày ngày ra đứng cổng làng Bâng khuâng như mất nhẫn vàng trên tay”.

Các công thức miêu tả thời gian: Tính chất công thức, ước lệ là đặc điểm nổi

bật trong việc miêu tả thời gian Các từ bây giờ, hôm nay, đêm đêm, chiều chiều, ngày ngày, hôm qua, đêm qua, thường mở đầu lời ca số lượng lớn Có khi các từ Đêm khuya, đêm nằm, sáng trăng, ngày ngày cũng được sử dụng nhiều Các từ

chỉ thời gian đối lập quá khứ với hiện tại không những giúp cho việc thể hiệntâm trạng mà còn tạo ra sự thay đổi, vận động của thời gian

Vd: “ Khi đi trúc chửa mọc măng

Khi về trúc đã cao bằng ngọn tre”.

* Không gian nghệ thuật : Trong ca dao, không gian động chiếm ưu thế Bên

cạnh không gian vật lý còn có không gian xã hội Những lời ca đượm buồn thường đi liền với không gian xã hội vào ban đêm

VD: “ Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá cá lặn trông sao sao mờ”.

Những không gian tên địa danh cụ thể không có nhiều Những không gian

Trang 9

phiếm chỉ được sử dụng phổ biến, khi bộc lộ những tâm trạng chung chung.

c.8 Người giáo viên cần giúp học sinh hiểu được ý nghĩa một số biểu tượng trong ca dao.

* Cây trúc, cây mai: Theo quan niệm của các nhà nho, tùng, cúc trúc mai là

những thứ cây tượng trưng cho khí tiết, đức tính cao thượng, phẩm chất trong

sạch của người quân tử Trúc biểu trưng cho người con gái xinh xắn, trúc mai

tượng trưng cho tình cảm lứa đôi thắm thiết

VD: “Hôm qua sum họp trúc mai

Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm”.

Hoa nhài được ví như nụ cười đáng yêu của người con gái, có khi vẻ đẹp

hình thức tâm hồn, có khi hương hoa nhài tượng trưng cho vẻ đẹp cao quý vănminh

* Con bống, con cò tượng tưng cho người Việt Nam Con cò có thể là cả trai lẫn gái, con bống chỉ người con gái.

* Bông sen : Trở thành ẩn dụ, tượng trưng cho cốt cách thanh cao của con người, tượng trưng cho một quan điểm sống : “ Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”.

* Con Kiến biểu tượng cho cuộc sống quẩn quanh bế tắc không lối thoát,

thân phận bè nhỏ của người nông dân trong xã hội cũ

c.9 Người giáo viên cần giúp học sinh nắm vững thủ pháp biểu hiện của ca dao.

* Thể phú: Chỉ trực tiếp bày tỏ mô tả mà không thông qua so sánh đối chiếu.

Đầu đội nón dấu vai mang súng dài”.

* Thể tỷ: là lối so sánh ví von là thể được dùng phổ biến trong ca dao.

Có 2 kiểu tỷ: Tỷ trực tiếp ( So sánh), tỷ gián tiếp : (ẩn dụ )

Thể tỷ làm cho ca dao thêm phong phú sâu sắc:

“Thân em như giếng giữa đàng Người thanh rửa mặt, người phàm rửa chân”

Thể hứng Là tình cảm nảy sinh khi có một tác động của ngoại cảnh.

( Đối cảnh sinh tình)

Thương em hỏi thật có chồng hay chưa?”

c.10 Người giáo viên cần giúp học sinh nắm vững phương pháp phân tích một bài ca dao

Quá trình phân tích một bài ca dao có thể tiến hành các thao tác sau:

- Xác định nhân vật trữ tình của bài ca dao

- Xác định đối tượng trữ tình của bài ca dao

- Nhân vật trữ tình bộc lộ cảm xúc tâm trạng gì ?

- Nhân vật trữ tình bộc lộ tình cảm ấy bằng cách nào?

- Rút ra chủ đề của bài ca dao

- Vận dụng những hiểu biết về thi pháp học để phân tích, chủ yếu là khai thác nghệ thuật ( Tránh nhược điểm tách nội dung ra khỏi hình thức )

Trang 10

1.2 Đối với học sinh

- Học sinh cần có nhiều hứng thú trong học tập Học sinh trong quá trìnhtiếp thu kiến thức không còn cảm thấy nhà chán đơn điệu khi học ca dao nhưphương pháp áp đặt như trước kia

- Học sinh cần tự giác nhiệt tình chủ động tham gia suy nghĩ tìm cách giảiquyết vấn đề một cách triệt để hoàn thiện

- Mỗi bài ca dao là một tác phẩm văn học Học sinh được phát huy vai tròchủ thể sáng tạo của mình trong quá trình tiếp nhận tác phẩm Các em đượcdùng đôi chân của chính mình đi trên con đường riêng độc đáo của mình để đếnvới tác phẩm, hiểu những vấn đề nhà đặt ra trong tác phẩm

NHỮNG CÂU HÁT THAN THÂN

Hoạt động 1: Kiểm tra bài cũ:

Kiểm tra học thuộc lòng bài ca dao về tình cảm gia đình, phân tích mộtbài cụ thể

Kiểm tra việc làm bài tập và chuẩn bị bài mới của học sinh

Hoạt động 2: Giới thiệu bài mới:

Ca dao dân ca là tấm gương phản ánh đời sống, tâm hồn nhân dân Nókhông chỉ là tiếng hát yêu thương nghĩa tình trong các mối quan hệ từng giađình, quan hệ con người đối với quê hương đất nước mà còn là tiếng hát thanthở về những cuộc đời, những cảnh ngộ đắng cay

Những bái ca dao than thân có số lượng lớn và là những bài ca dao rất tiêubiểu trong kho tàng ca dao dân ca Việt Nam Những bài ca dao này, ngoài ýnghĩa than thân, đồng cảm với nỗi niềm, cuộc đời đau khổ đắng cay của ngườinông dân, người phụ nữ, còn có ý nghĩa tố cáo xã hội phong kiến

Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh đọc và tìm hiểu các bài ca dao.

(Cho học sinh đọc diễn cảm các bài ca dao, xem các chú thích sách giáokhoa.)

Trước hết cho học sinh chỉ ra, trong ca dao cổ, cuộc đời, thân phận ngườinông dân thời xưa thường được thể hiện qua hình ảnh con cò

? Vì sao trong ca dao cổ, tác giả dân gian thường mượn hình ảnh con cò đểdiễn tả cuộc đơì, thân phận của người nông dân?

Vì trong các loài chim kiếm ăn ở đồng ruộng, cò là loài gần gũi nhất đối vớingười nông dân Con cò có nhiều đặc điểm giống cuộc đời, phẩm chất ngườinông dân: Gắn bó với đồng ruộng, chịu khó, lặn lối kiếm sống

Bài 2 “ Thương thay thân phận con tằm

Kiếm ăn được mấy phải nằm nhả tơ

Thương thay lũ kiến li ti

Kiếm ăn được mấy phải đi tìm mồi

Trang 11

Thương thay hạc lánh đường mây

Chim bay mỏi cánh biết ngày nào thôi

Thương thay con cuốc giữa trời

Dầu kêu ra máu có người nào nghe”.

* Cho học sinh đọc diễn cảm bài ca dao Chú ý nhấn giọng ở những từ

ngữ có khả năng biểu cảm cao: “thương thay”, “phải nằm nhả tơ”, “phải đi tìmmồi”, “chim bay mỏi cánh”, “kêu ra máu”

* Hướng dẫn học sinh xác định nhân vật trữ tình trong bài ca

? Bài ca là lời của ai? Nói với ai?

Là lời người lao động thương cho thân phận của những người khốn khổ vàcũng là chính mình Là tiếng than đầy thương cảm, xót xa

* Hướng dẫn học sinh phân tích giá trị nghệ thuật của bài ca.

? Em hiểu thế nào về cụm từ “ thương thay” và việc lặp lại cụm từ này?

“ Thương thay” là tiếng than thể hiện sự thương xót ở mức độ cao Điệp ngữ,lặp lại 4 lần cụm từ này Mỗi lần diễn tả một nỗi thương, thương thân phận mình

và thương thân phận người cùng cảnh ngộ Bốn câu ca là bốn nỗi thương khácnhau đã tô đậm mối thương cảm xót xa cho cuộc đời cay đắng nhiều bề củangười dân thường, có tác dụng kết nối và mở ra sự phát triển tình ý trong bài ca

Thủ pháp tăng tiến: “nằm nhả tơ”_ “đi tìm mồi”_” “mỏi cánh”_”kêu ra máu”: Cuộc đời số phận đắng cay tuyệt vọng của người nông dân bị dồn đến

chân tường của sự đau khổ, bế tắc, oan trái

? Em hãy phân tích ý nghĩa của hệ thống hình ảnh ẩn dụ trong bài ca?

Hệ thống hình ảnh ẩn dụ: Những con vật bé nhỏ tội nghiệp ẩn dụ cho số

kiếp, thân phận khốn khổ của người nông dân Thương thay cho chúng, tức là

thương chính mình.Những hình ảnh ẩn dụ đều đi kèm với sự miêu tả bổ sung.Nỗi thương không chung chung mà cụ thể, xúc động

Ý nghĩa của các hình ảnh ẩn dụ: Thương con tằm: là thương cho thân phận người suốt đời bị kẻ khác bòn rút sức lực Thương lũ kiến: Thương cho cho nỗi

khổ chung của những thân phận nhỏ nhoi suốt đời xuôi ngược làm lụng mà vẫn

nghèo khó Thương con Hạc: là thương cho cuộc đời phiêu bạt lận đận và những

cố gắng vô vọng của người lao động trong xã hội cũ Thương con quốc: là

thương cho thân phận thấp cổ bé họng, những nỗi khổ đau oan trái không được

lẽ công bằng nào soi tỏ của người lao động Tất cả đều nói lên nỗi khổ nhiều bềcủa nhiều phận người trong xã hội cũ

* Hướng dẫn học sinh bình giá đôi nét về bài ca.

Học sinh bổ sung thêm những cách hiểu khác của mình về bài ca

Bài ca dao “Thương thay thân phận con tằm” gồm có 8 câu lục bát Hai chữ thương thay được điệp lại 4 lần và đứng ở vị trí đầu câu “luc” đã làm cho giọng

điệu của bài ca đầy xót thương

“Con tằm” và “lũ kiến” là hai ẩn dụ nói về những thân phận nhỏ bé sống âm thầm dưới đáy xã hội cũ Thật đáng “thương thay”, thương xót cho những kiếp

người phải làm đầu tắt mặt tối mà chẳng được ăn, được hưởng một tý gì! Khác nào một kiếp tằm, một kiếp kiến!

Ngày đăng: 10/12/2016, 14:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 5: Hình ảnh em Lê Thị Trang – Học sinh lớp 7B trường THCS Nga Trường, trong giờ học Ngữ Văn (Tiết 13 –“ Những câu hát than thân” do cô giáo Phan Diệu Linh và các em học sinh lớp 7B trường THCS Nga Trường – Nga Sơn thực hiện -  Tiết 2 thứ 6 ngày 19/9/ - Đổi mới phương pháp giảng dạy ca dao nhằm gây hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh  lớp 7 các trường THCS trong Cụm chuyên môn số 4 ở huyện Nga Sơn
Hình 5 Hình ảnh em Lê Thị Trang – Học sinh lớp 7B trường THCS Nga Trường, trong giờ học Ngữ Văn (Tiết 13 –“ Những câu hát than thân” do cô giáo Phan Diệu Linh và các em học sinh lớp 7B trường THCS Nga Trường – Nga Sơn thực hiện - Tiết 2 thứ 6 ngày 19/9/ (Trang 23)
Hình 6: Hình ảnh các em học sinh lớp 7A trường THCS Nga Thiện trong phần  luyện tập Tiết 13 “Những câu hát than thân” do cô giáo Đặng Thị Nga  và các - Đổi mới phương pháp giảng dạy ca dao nhằm gây hứng thú học tập bộ môn Ngữ Văn cho học sinh  lớp 7 các trường THCS trong Cụm chuyên môn số 4 ở huyện Nga Sơn
Hình 6 Hình ảnh các em học sinh lớp 7A trường THCS Nga Thiện trong phần luyện tập Tiết 13 “Những câu hát than thân” do cô giáo Đặng Thị Nga và các (Trang 23)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w