Đồng thời phát triển du lịch Khánh Hòa vẫn còn một số hạn chế như, 1 Cơcấu nguồn khách chưa đa dạng, 2 Thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách thấp,3 Cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, 4 Số
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
HỒ THỊ CHÂU
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH TỈNH KHÁNH HÒA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
ĐÀ NẴNG - 2021
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
TS PHAN THỊ DUNG
ĐÀ NẴNG - 2021
Trang 3TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu của Luận án là vận dụng lý luận và thực tiễn phát triểnbền vững du lịch trên thế giới để đánh giá thực trạng phát triển bền vững du lịch tạiKhánh Hòa, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần phát triển bềnvững du lịch Khánh Hòa trong thời gian tới Để đạt được mục tiêu trên, tác giả sửdụng phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp định lượng, phương phápthống kê mô tả, phương pháp phân tích và tổng hợp để trình bày các kết quả mộtcách có hệ thống về hoạt động du lịch tại Khánh Hòa Kết quả thống kê, phân tíchthực trạng chỉ ra hạn chế và nguyên nhân là cơ sở đề xuất giải pháp góp phần pháttriển bền vững du lịch Khánh Hòa trong thời gian tới
Nghiên cứu đã vận dụng phương pháp chuyên gia xây dựng được hệ thống chỉtiêu đánh giá tính bền vững của du lịch Kết quả phân tích đánh giá đã cho thấy nhữngchỉ tiêu tương đồng thể hiện được tính bền vững của du lịch Khánh Hòa trong thời gianqua theo từng góc độ Cụ thể, theo góc độ kinh tế, kết quả đạt được thông qua một sốđiểm nổi bật như: (1) Tốc độ tăng trưởng lượt khách trong và ngoài nước cũng nhưdoanh thu tăng đều liên tục qua các năm cho thấy mức độ phát triển lâu dài và ổn định,(2) Mức độ đóng góp của ngành du lịch vào ngân sách địa phương, tạo việc làm vànâng cao đời sống vật chất cho cộng đồng địa phương, (3) Thu hút được nhiều nhà đầu
từ vào phát triển các hoạt động dịch vụ du lịch với chất lượng và tầm ảnh hưởng quốc
tế Theo góc độ xã hội, kết quả đạt được đó là (1) Đã thu hút sự tham gia của cộng đồngđịa phương vào các hoạt động du lịch và tạo cơ hội cho du lịch được phát triển hướngđến tính bền vững; (2) Đã chú trọng hơn đến công tác bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử,phát huy giá trị văn hóa của địa phương nhằm hỗ trợ du lịch phát triển bền vững Dướigóc độ môi trường, môi trường du lịch Khánh Hòa vẫn được đánh giá đang trongngưỡng quy định, tuy nhiên trước những tác động đã và đang có nguy cơ tổn hại đếnmôi trường sinh thái, các cơ sở hoạt động kinh doanh du lịch cũng như du khách vàcộng động địa phương phải luôn có ý thức trách nhiệm gìn giữ và bảo vệ môi trường vìmột mục tiêu PTBV du lịch
Trang 4Đồng thời phát triển du lịch Khánh Hòa vẫn còn một số hạn chế như, (1) Cơcấu nguồn khách chưa đa dạng, (2) Thời gian lưu trú và chi tiêu của du khách thấp,(3) Cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, (4) Số lượng lao động thiếu, chất lượng lao độngcòn thấp, (5) Sự tham gia của cộng đồng vào phát triển du lịch còn hạn chế, (6) Môitrường du lịch chưa thực sự đảm bảo.
Kết quả nghiên cứu cho phép tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm gópphần phát triển bền vững du lịch Khánh Hòa như: (1) Cải thiện cơ sở hạ tầng dulịch, (2) Bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch, (3) Tạo nguồn khách ổn định vàbền vững, (4) Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch đặc trưng, (5) Tăng cường, nângcao tính trách nhiệm và khả năng tham gia của cộng đồng trong quá trình phát triển
du lịch, (6) Phát triển nguồn nhân lực, (7) Tăng cường công tác xúc tiến quảng bá
du lịch, hợp tác liên kết vùng, tìm kiếm và mở rộng thị trường, (8) Xây dựng các cơchế chính sách đối với bảo vệ tài nguyên môi trường tại địa phương, (9) Tăng cườngtôn tạo di tích lịch sử, văn hóa, phát triển các lễ hội truyền thống
Kết quả của nghiên cứu này sẽ là cơ sở để ngành du lịch Khánh Hòa triển khaiứng dụng nhằm phát triển du lịch tỉnh nhà hướng đến bền vững trong thời gian tới.Đồng thời, kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiêncứu, chuyên gia, độc giả trong việc tiếp cận nội dung, phương pháp đánh giá tínhbền vững trong phát triển du lịch làm cơ sở cho việc giảng dạy và thực hiện pháttriển mở rộng các nghiên cứu tiếp theo trong thời gian tới
Từ khóa: Phát triển bền vững, Du lịch, Phát triển bền vững du lịch, Chỉ tiêu, Khánh Hòa
Trang 5The research objective of this thesis is applying the theory and practice ofsustainable tourism development in the world to assess the current situation ofsustainable tourism development in Khanh Hoa, based on that, proposing somesolutions to contribute to sustainable tourism development in Khanh Hoa in thecoming time To achieve the objective, the author has used expertise researchmethod, quantitative analysis method, descriptive statistical method, analytical andsynthesis method to present the results systematically about tourism activities inKhanh Hoa The results of statistics and analysis help finding out the limitations andcauses as a basis for proposing solutions to improve and develop sustainabletourism in Khanh Hoa in the future
The research has applied the expert method to develop a system of indicatorsfor assessment of the sustainability of tourism Analysis and evaluation results haveshown the similar criteria showing the sustainability of Khanh Hoa tourism in recentyears from each angle Specifically, from an economic perspective, the resultsachieved through a number of highlights such as: (1) The growth of domestic andforeign visitors as well as the steady increase in revenue over the years shows thelevel of sustainable and long-term development, (2) The contribution of the tourismindustry to the local budget, creating jobs and improving material lives for the localcommunity, (3) Attracting more investors from developing tourism service activitieswith international quality and influence From a social perspective, the achievedresults are (1) Involving local communities in tourism activities and creatingopportunities for tourism to be developed towards sustainability; (2) More attentionhas been paid to the conservation and embellishment of historical relics, promotingthe local cultural values in order to support sustainable tourism development From
an environmental perspective, the tourism environment of Khanh Hoa is stillassessed to be within the prescribed threshold, but before the impacts have been andare in danger of harming the ecological environment, tourism businessestablishments Tourism as well as tourists and local communities
Trang 6must always have a sense of responsibility to preserve and protect the environmentfor a sustainable tourism development goal.
At the same time, it pointed out the limitations such as, (1) The structure ofthe source of guests is not diverse, (2) The length of stay and spending of guests islow, (3) The infrastructure is not synchronized, (4) The quality of the workforce isinsufficent, the quality is low, (5) The participation of the community in tourismdevelopment is limited, (6) The tourism environment is not really guaranteed
The research results encourages the author to propose some specific solutions
to contribute to sustainable tourism development in Khanh Hoa such as:
(1) Improving tourism infrastructure, (2) Protecting natural resources and tourismenvironment, (3) Creating a stable and sustainable source of visitors, (4) Diversifyingtypical tourism products, (5) Enhancing responsibility and community participation inprocess of tourism development, (6) Human resource development,
(7) Strengthening tourism promotion, regional cooperation, searching andexpanding markets, (8) Building mechanisms and policies for protecting localenvironmental resources, (9) Enhancing the embellishment of historical and culturalrelics, developing traditional festivals
The results of this research will be the basis for Khanh Hoa tourism industry
to develop tourism in the province towards sustainability in the future At the sametime, the research results are also a useful reference for researchers, experts andreaders in approaching content, method of assessing sustainability in tourismdevelopment as a foundation for teaching and implementing development andexpansion the coming researches
Keywords: Sustainable development, Tourism, Sustainable tourism
development, targets, Khánh Hòa
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Về mặt thực tiễn
Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, ngày càng có vị trí quan trọng đối vớiquá trình phát triển kinh tế, chính trị, xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường Pháttriển bền vững du lịch giữ vị trí trọng yếu trong phát triển bền vững của mỗi quốcgia, mỗi địa phương, mỗi vùng lãnh thổ Phát triển bền vững là yêu cầu tất yếutrong phát triển du lịch, nhưng cũng là nhiệm vụ hết sức phức tạp vì liên quan đếnnhiều chủ thể khác nhau (Nhà nước; Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch; Dukhách; Cộng đồng dân cư ở điểm đến; ) với những vấn đề có quan hệ tương hỗ vớinhau (Hệ thống luật lệ, cơ chế chính sách; Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và các sảnphẩm du lịch; Lợi ích và trách nhiệm của các doanh nghiệp; Sự tham gia và lợi íchcủa cộng đồng dân cư tại điểm đến; )
Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh “Phát triển du lịch thật sựtrở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt độngtrên cơ sở khai thác lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái, truyền thống văn hóa,lịch sử, đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch trong nước và phát triển nhanh du lịchquốc tế, phấn đấu sớm đạt trình độ phát triển du lịch khu vực Xây dựng và nângcấp cơ sở vật chất, hình thành các khu du lịch trọng điểm, đẩy mạnh hợp tác, liênkết với các nước” Nghị quyết số 36-NQ/TW về phát triển bền vững kinh tế biểnViệt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 nhấn mạnh đến ưu tiên phát triển
du lịch và dịch vụ biển dựa trên tiềm năng to lớn về tài nguyên du lịch và biển đảocủa Việt Nam Cụ thể đến năm 2019, du lịch Việt Nam đạt được 755.000 tỷ đồngdoanh thu (tương đương 32,8 tỷ USD tăng gấp 560 lần năm 1990, trong đó tổng thu
từ khách du lịch quốc tế đạt 421.000 tỷ đồng (18,3 tỷ USD), tổng thu từ khách dulịch nội địa đạt 334.000 tỷ đồng (14,5 tỷ USD), du lịch đã đóng góp khoảng 10%vào GDP cả nước
Cùng với sự phát triển du lịch của cả nước, Khánh Hòa với điều kiện thiênnhiên ưu đãi cả về vị trí, cảnh quan, khí hậu, lợi thế đặc thù về du lịch biển đảo, du
Trang 8lịch văn hóa, lịch sử, danh lam thắng cảnh, du lịch sinh thái núi rừng, kết hợp các lễhội, tổ chức sự kiện, hội nghị, do đó có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch
đa dạng, ngày càng có sức mạnh thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước, trởthành một bộ phận du lịch quan trọng của Miền Trung - Tây nguyên và cả nước.Công tác quản lý nhà nước về du lịch, công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng, pháttriển năng lực kinh doanh, công tác tuyên truyền thông tin, xúc tiến quảng bá dulịch, công tác an ninh trật tự và vệ sinh môi trường, công tác đào tạo nguồn nhân lực
đã được quan tâm và đẩy mạnh
Khánh Hòa có những điểm du lịch nổi tiếng trong lòng mỗi du khách cũng nhưngười dân địa phương như: Khu du lịch Vinpearl Land, Bãi biển Nha Trang, Viện Hảidương học Nha Trang, Đảo Hòn Mun, Hòn Chồng - Hòn Vợ, Tháp Bà Ponagar, Nhàthờ đá Nha Trang, Chùa Long Sơn, Khu du lịch Dốc Lết, Suối Ba Hồ, Đầm Nha Phu,Bãi biển Đại Lãnh, Thác Yangbay, Thành Diên Khánh, “Tứ Bình” Cam Ranh, Bãi Dài.Bên cạnh đó các Lễ hội văn hóa cũng rất phát triển như Lễ hội Tháp Bà, Lễ hội AmChúa, Lễ hội đình làng nông nghiệp, Lễ hội Ăn mừng lúa mới của người Raglai, Lễ hộiCầu ngư Những ưu đãi của điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội, tiềm năng tàinguyên thiên nhiên, tài nguyên văn hóa xã hội, các điểm du lịch nổi tiếng đã tạo nênbức tranh du lịch Nha Trang Khánh Hòa mà bất kể du khách nào cũng muốn được tớimột lần để được cảm nhận và trải nghiệm Dựa trên điều kiện tiềm năng để phát triển,thời gian qua du lịch Khánh Hòa phát triển rất ấn tượng cả về số lượng và cơ cấu, nếunhư năm 2011 tổng lượt khách đến Khánh Hòa chỉ là 2,2 triệu lượt khách, đến năm
2019 đạt trên 7 triệu lượt khách Tốc độ tăng trường bình quân giai đoạn 2011-2019 là15,7%, trong đó lượt khách nội địa 8,89%, khách quốc tế 29,87%, với hàng loạt cơ sởkinh doanh du lịch mọc lên Sự phát triển du lịch đã đóng góp đáng kể trong GRDP củatỉnh Khánh Hòa, cụ thể tỷ lệ thu nhập từ dịch vụ du lịch năm 2011 là 16,48 % đến năm
2019 đã là 31,47 %
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, phát triển du lịch Khánh Hòa giaiđoạn vừa qua thiếu tính bền vững và tạo ra nhiều thách thức đó là sự phát triểnnhanh của các cơ sở kinh doanh du lịch trong khi đó thiếu chú ý đến chất lượng
Trang 9dịch vụ, thiếu hụt lao động có trình độ chuyên môn tay nghề cao và đặc biệt là nảysinh vấn đề ô nhiễm môi trường trong phát triển du lịch Thực trạng phát triển dulịch giai đoạn vừa qua với cơ cấu nguồn khách chưa đa dạng, năm 2011 kháchTrung Quốc chỉ có 3% đến năm 2019 gần 70% trong khi đó khách Tây Âu từ 47%giảm còn 5%; Địa bàn du lịch chưa được mở rộng, thiếu các loại hình dịch vụ dulịch mới, các khu vui chơi giải trí, các trung tâm mua sắm, mức chi tiêu bình quânthấp (không quá 1,5 triệu đồng/ngày/khách), số ngày lưu trú của du khách tại địaphương khách nội địa bình quân 2 ngày/ khách và quốc tế là 3 ngày/khách; Chiếnlược phát triển thị trường khách chưa thực sự nhạy bén với sự biến động của môitrường kinh doanh; Chiến lược kinh doanh của các công ty du lịch thiếu bền vững
và định hướng lâu dài, thị trường khách du lịch quốc tế vẫn còn phụ thuộc vào mộtvài thị trường khách lớn, khách đến từ Trung Quốc tăng quá nhanh với tốc độ tăngbình quân năm 92,27%, khách Nga tăng 38,91%, Hàn Quốc tăng 27,6 %; Nhữngvấn đề văn hóa-xã hội và môi trường phát sinh từ sự phát triển du lịch trong thờigian qua chưa được xem xét và kiểm soát tốt, tình trạng quá tải của cơ sở hạ tầnggiao thông, các điểm du lịch cũng như các vấn nạn xã hội chưa được kiểm soát
Về mặt lý luận
Du lịch được xem là một ngành “Công nghiệp không khói-SI”, phát triểnnhanh chóng và mang lại nguồn thu quan trọng cho các nền kinh tế Thêm vào đó,với tiềm năng hết sức to lớn của mình, du lịch ngày càng được xem là một trongnhững ngành kinh tế lớn của thế giới (Harris, 2000) Vì vậy, chủ đề phát triển bềnvững, phát triển bền vững du lịch đang được nhiều nhà khoa học, các nhà quản lý ởtrong và ngoài nước hết sức quan tâm Kết quả là, nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến vấn đề này đã và đang thực hiện Theo hiểu biết của tác giả, các nghiêncứu phát triển bền vững du lịch tiếp cận khá đa dạng và phong phú liên quan đếnnhiều khía cạnh như bền vững đối với phát triển du lịch ở các quốc gia đang pháttriển có nhiều điểm tương đồng trong phát triển du lịch với Việt Nam như: Urquhart(1998); Tosun (2001); UNWTO (2005); Amir và cộng sự (2014); Huang (2011);Angelkova và cộng sự (2012)
Trang 10Trong khi đó, một số nghiên cứu ở Việt Nam của Lưu Đức Hải và cộng sự(2001); Trần Tiến Dũng (2006); Nguyễn Đức Tuy (2014); Nguyễn Văn Hợp (2014)
Vũ Văn Đông (2014); Lê Chí Công (2015) đã tiếp tục kế thừa các nghiên cứu trênthế giới để luận bàn đến nội hàm phát triển bền vững du lịch; phát triển các tiêu chíđánh giá tính bền vững trong du lịch; tiến hành đo lường mức độ bền vững trongphát triển du lịch ở mỗi loại hình du lịch khách nhau; khuyến nghị các giải phápnhằm giúp ngành du lịch ở mỗi địa phương khác nhau có sự phát triển hướng đếntính bền vững
Ở một chừng mực nào đó các tác giả đã làm nổi bật ba góc độ của tính bềnvững trong phát triển du lịch Góc độ thứ nhất liên quan đến “kinh tế” với việc đảm bảo
sự phát triển hướng đến nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, giá trị mang lại cho các đốitượng hữu quan và năng lực cạnh tranh của các điểm đến Góc độ thứ hai liên quan đến
“xã hội” với việc phát triển du lịch phải đảm bảo mang lại giá trị cho cộng đồng địaphương nhưng không tổn hại đến lợi ích nhận được của thế hệ tương lai Góc độ thứ baliên quan đến “môi trường” với việc phát triển du lịch phải tập trung vào khai thác, gìngiữ và bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch
Tuy nhiên, cho đến nay các nghiên cứu liên quan đến các đánh giá về pháttriển bền vững du lịch lại chỉ diễn ra ở các quốc gia phát triển nơi có nhiều điều kiệnđảm bảo cho du lịch phát triển một cách bền vững Trong khi đó mặc dù thời giangần đây phát triển bền vững du lịch đã được quan tâm hơn ở Việt Nam nhưng cácnghiên cứu hàn lâm và thực nghiệm về vấn đề này lại khá mờ nhạt và thiếu nhữngđiểm nhấn quan trọng trong việc đánh giá tổng thể phát triển bền vững du lịch trên
ba góc độ: kinh tế, xã hội và môi trường
Với những bất cập cả lý luận và thực tiễn ở trên, Luận án áp dụng lý thuyết
về phát triển bền vững kết hợp với các phương pháp nghiên cứu định tính và địnhlượng làm rõ tính bền vững trong phát triển du lịch tại một địa phương như KhánhHòa trong suốt thời gian vừa qua, đặt ra khoảng trống cho nghiên cứu nhằm tìm ragiải pháp phát triển du lịch địa phương, phát huy lợi thế to lớn của ngành du lịchKhánh Hòa, đồng thời khắc phục hạn chế nhằm phát triển du lịch hướng đến tính
Trang 11bền vững Nghiên cứu đánh giá một cách khách quan thực trạng phát triển du lịchtỉnh Khánh Hòa dưới góc nhìn phát triển bền vững, xác định đúng những hạn chếtồn tại, đề xuất định hướng và giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững du lịch tỉnhKhánh Hòa là nhiệm vụ vừa mang tính thời sự cấp thiết, vừa mang tính chiến lượctrong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Khánh Hòa Xuất phát từ những lý do trên tác
giả đã lựa chọn đề tài “Phát triển bền vững du lịch tỉnh Khánh Hòa” để làm Luận
Mục tiêu cụ thể
Làm rõ bản chất, vai trò, nguyên tắc phát triển bền vững du lịch
Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của du lịch Khánh Hòatheo góc độ kinh tế, xã hội và môi trường
Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển bền vững du lịch Khánh Hòa giaiđoạn từ 2011-2019 theo góc độ kinh tế, xã hội và môi trường
Đề xuất giải pháp nhằm góp phần phát triển bền vững du lịch Khánh Hòatrong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu lý luận và thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa theo quanđiểm bền vững
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu tập trung vào làm rõ thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa giaiđoạn 2011-2019 và tầm nhìn đến năm 2030 hướng tới tính bền vững trong đánh giá
và phân tích
Trang 121.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm giảiquyết các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra cụ thể:
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính nhằm: (1) Xây dựng chỉ tiêuđánh giá thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa hướng đến tính bền vững; (2)Thực hiện xây dựng các chỉ tiêu đánh giá sự hài lòng của du khách
Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm: (1) Điều tra khảo sát dữliệu thực tế từ chuyên gia; khách du lịch; (2) Phân tích các kết quả khảo sát dữ liệu sơcấp bằng phần mềm SPSS và Excel; (3) Thống kê, phân tích một cách có hệ thống các
dữ liệu sơ cấp; (4) Phân tích kết quả đánh giá chuyên gia về hạn chế, nguyên nhân;đánh giá mức độ quan trọng và tính khả thi của giải pháp được đề xuất
1.5 Tổng quan các công trình nghiên cứu
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Phát triển bền vững (PTBV) nói chung và PTBV du lịch nói riêng là mộttrong những vấn đề được các nhà khoa học cũng như nhà quản lý quan tâm nghiêncứu thông qua việc nghiên cứu các nguyên tắc, tiêu chí và hệ thống các chỉ tiêunhằm đánh giá sự PTBV
Các nghiên cứu cho rằng PTBV nói chung hướng đến sự bền vững trên bagóc độ: PTBV kinh tế, PTBV xã hội, PTBV môi trường, đồng thời chỉ ra các mốiquan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các trụ cột của PTBV, khẳng định mục tiêu tổngthể của PTBV là sự ổn định lâu dài của nền kinh tế và môi trường, điều đó chỉ cóthể đạt được thông qua việc tích hợp và thừa nhận mối quan tâm kinh tế, môi trường
và xã hội trong suốt quá trình ra quyết định Điển hình cho các nghiên cứu đó là:
“Basic Principles of Sustainable Development” của Harris (2000); “The Future Of
Sustainable Development” của Ekins (2009); “Links Between the Pillars of Sustainable Development” của Teodorescu (2012); “Theoretical Definitions and Models of Sustainable Development that Apply to Human Factors and Ergonomics”
của Thatcher (2014), “The Concept of Sustainable Development: Definition and
Defining Principles” của Emas (2015).
Trang 13Nghiên cứu xây dựng mục tiêu PTBV: Báo cáo nghiên cứu của Tổ chức du
lịch thế giới (UNWTO) (2005) với chủ đề “Making Tourism More Sustainable: A
Guide for Policy Makers”, đã đưa ra 12 mục tiêu cụ thể cho chương trình PTBV du
lịch: (1) Đảm bảo tính khả thi và khả năng cạnh tranh của các điểm du lịch và cácdoanh nghiệp, để họ có thể tiếp tục phát triển thịnh vượng và cung cấp lợi ích trongdài hạn; (2) Tối đa hóa sự đóng góp của du lịch đối với sự thịnh vượng kinh tế củađịa phương, bao gồm tỷ lệ chi tiêu khách được giữ lại tại địa phương; (3) Tăngcường số lượng và chất lượng công việc địa phương tạo ra và được hỗ trợ bởi dulịch, bao gồm cả mức lương, điều kiện dịch vụ và tính sẵn sàng cho tất cả mà khôngphân biệt đối xử theo giới tính, chủng tộc, khuyết tật hoặc bằng cách khác; (4) Tìmkiếm một phân phối rộng rãi và hợp lý các lợi ích kinh tế và xã hội từ du lịch trongcộng đồng, bao gồm cả việc cải thiện cơ hội, thu nhập và các dịch vụ có sẵn chongười nghèo; (5) Cung cấp sự an toàn, thỏa mãn và toàn bộ kinh nghiệm cho dukhách, sẵn sàng phục vụ cho tất cả mà không phân biệt đối xử theo giới tính, chủngtộc, khuyết tật hoặc bằng cách khác; (6) Tham gia và trao quyền cho cộng đồng địaphương trong việc lập kế hoạch và ra quyết định về việc quản lý và tương lai pháttriển của ngành du lịch trong khu vực của họ, tham vấn với các bên liên quan khác;(7) Duy trì và tăng cường chất lượng cuộc sống trong cộng đồng địa phương, baogồm cả cấu trúc xã hội và tiếp cận với các nguồn tài nguyên, tiện nghi và hệ thống hỗ trợcuộc sống, tránh bất kỳ hình thức suy thoái, khai thác xã hội; (8) Tôn trọng và tăng cườngcác di sản lịch sử, văn hóa đích thực, truyền thống và tính đặc trưng của các cộng đồng
sở tại; (9) Duy trì và nâng cao chất lượng của phong cảnh, cả thành thị và nông thôn, vàtránh sự suy thoái vật lý và hình ảnh của môi trường;
(10) Hỗ trợ việc bảo tồn các khu vực tự nhiên, môi trường sống và động vật hoang
dã, giảm thiểu thiệt hại cho mình; (11) Giảm thiểu việc sử dụng các nguồn tài nguyênkhan hiếm và không tái tạo trong việc phát triển và hoạt động của thiết bị và các dịch vụ
du lịch; (12) Giảm thiểu ô nhiễm không khí, nước và đất đai và phát sinh chất thải củacác doanh nghiệp du lịch và du khách
Các nghiên cứu đề cập đến các nguyên tắc PTBV: Đại diện cho nhóm này đó
là nghiên cứu của Urquhart (1998) với chủ đề “The Sustainable Development of
Trang 14Tourism in Africa” đã đưa ra 05 nguyên tắc chính để PTBV du lịch tại Châu Phi: (1)
Các yếu tố xã hội, kinh tế, công nghệ và sinh thái liên quan phải được xem xét mộtcách tổng thể trong phát triển du lịch; (2) Chính sách ở tất cả các cấp có một vai tròquan trọng trong việc quản lý du lịch bền vững; (3) Yêu cầu tư duy dài hạn ít nhất
ba thế hệ trong tương lai cho việc cân bằng giữa tự nhiên và năng lực khai thác củacon người; (4) PTBV du lịch cần thúc đẩy đáp ứng nhu cầu con người và đảm bảotính toàn vẹn của hệ thống sinh thái; (5) Sự tham gia của cộng đồng địa phương vàcác bên liên quan khác trong việc phát triển du lịch là rất quan trọng Nghiên cứu
của Dumbraveanu (2007) “Principles and Practice of Sustainable Tourism
Planning” đưa ra 06 nguyên tắc du lịch bền vững: (1) Giảm thiểu tác động của hoạt
động du lịch đến môi trường để có được sự bền vững sinh thái, bằng cách đóng góp
để duy trì và tăng cường bảo tồn thông qua việc trả lại một phần nguồn thu đối vớicác khu bảo tồn; (2) Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch đến cáccộng đồng địa phương và các thành viên của cộng đồng để có được bền vững xãhội; (3) Giảm thiểu các tác động tiêu cực của hoạt động du lịch về văn hóa, phongtục truyền thống của các cộng đồng địa phương để đạt được tính bền vững văn hóa;(4) Tối đa hóa các lợi ích kinh tế của người dân địa phương từ việc phát triển dulịch, để có được sự bền vững kinh tế; (5) Giáo dục, chuẩn bị và thông tin; (6) Kiểm soátđịa phương - nguyên tắc cơ bản về du lịch bền vững
Nghiên cứu xây dựng tiêu chí và chỉ số đo lường sự PTBV: Huang (2011) với
chủ đề “Good Practice in Sustainable Tourism” phát triển một hệ thống đo lường
dựa trên các tiêu chí và chỉ số hệ thống thường được sử dụng rộng rãi và được chấpnhận về thực hành tốt du lịch bền vững, đồng thời đóng góp vào công tác giám sát
và hệ thống báo cáo Khung nghiên cứu du lịch bền vững được tác giả xây dựng với
08 tiêu chí: (1) Biến đổi khí hậu - năng lượng và hiệu quả tài nguyên; (2) Di sảnthiên nhiên và văn hóa; (3) Đánh giá chất lượng, chứng nhận và xây dựng thươnghiệu; (4) Quản lý chuỗi cung ứng bền vững cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ; (5)Quản lý điểm đến và quản trị tốt; (6) Vận tải và du lịch bền vững; (7) Mạng lưới trithức, đào tạo và giáo dục; (8) Tiêu thụ bền vững, sản xuất và du lịch Đồng cáchtiếp cận trên, nghiên cứu của Anna Torres và Saarinen (2014) với chủ đề “Using
Trang 15indicators to assess sustainable tourism development: a review” đã phân tích mộtcách hệ thống việc lựa chọn và vận dụng các tiêu chí và chỉ tiêu để đánh giá PTBV
du lịch của các tác giả: McCool và cộng sự (2001), Chris và Sirakaya (2006), Moore
và Polley (2007), McElroy (1998), Sanchez và Pulido (2008), Castellani và Sala(2010), Blancas và cộng sự (2010), đồng thời chỉ ra các thách thức trong sử dụngcác chỉ tiêu này ở cấp độ địa phương
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến PTBV: Nghiên cứu của Butler (1999) với
chủ đề “Sustainable Tourism: A State-of-the-Art Review chỉ ra ba yếu tố cụ thể liên
quan đến các ứng dụng của PTBV cho ngành du lịch là: (1) Sức chứa điểm đến(carrying capacity); (2) Năng lực kiểm soát sự quá tải trong du lịch (control overtourism) và (3) Du lịch đại chúng hoặc du lịch thông thường (mass or conventional
tourism) Nghiên cứu của Tosun (2001) với chủ đề “Challenges of Sustainable Tourism
Development In the Developing World: The Case of Turkey” đã trình bày những thách
thức để PTBV du lịch ở các nước đang phát triển bao gồm các ưu tiên của chính sáchkinh tế quốc gia, cơ cấu hành chính công, sự xuất hiện của các vấn đề môi trường thôngqua thương mại hóa, và cấu trúc của hệ thống du lịch quốc tế Nghiên cứu của
Angelkovaa (2012) với chủ đề “Sustainability and Competitiveness of Tourism” đã chỉ
ra rằng du lịch là hoạt động có tác động lớn về PTBV Tính bền vững của du lịch liênquan đến việc mở rộng hợp tác giữa các công ty du lịch, điểm du lịch và các cơ quanquốc gia, khu vực và địa phương để trang trải một nhóm lớn các thách thức và đồngthời để duy trì cạnh tranh Cơ hội cho PTBV du lịch và bảo tồn năng lực cạnh tranh,ảnh hưởng chủ yếu bởi chất lượng của môi trường, bảo tồn di sản thiên nhiên, văn hóahấp dẫn và giá trị khác, hàng hóa và các nguồn lực Đối với tính bền vững, nó được coi
là bất kỳ loại hình du lịch, góp phần vĩnh viễn đối với việc bảo vệ và thúc đẩy môitrường, thiên nhiên và các nguồn lực khác, các giá trị văn hóa và tính toàn vẹn của cáccộng đồng địa phương Nghiên cứu của Amir và cộng sự (2015) với chủ đề
“Sustainable Tourism Development: A Study on Community Resilience for Rural
Tourism in Malaysia” đã thảo luận khả năng phục hồi của các cộng đồng nông thôn ở
Malaysia với sự giúp đỡ của các quy hoạch PTBV trong du lịch nông thôn Nghiên cứucho thấy PTBV du lịch ở khu vực nông thôn sẽ
Trang 16góp phần cải thiện khả năng phục hồi trong cộng đồng địa phương Đồng thời khẳngđịnh cần có các chiến lược để đảm bảo sự PTBV du lịch nông thôn và để duy trì khảnăng phục hồi của cộng đồng địa phương.
Cuối cùng, nghiên cứu của Ninerola và các cộng sự (2019) với chủ đề
“Tourism Research on Sustainability: A Bibliometric Analysis” đã chỉ ra trong giaiđoạn 1987 - 2018 có 4647 bài báo xuất bản trên các tạp chí và khái quát các vấn đềcủa PTBV du lịch, nhấn mạnh các vấn đề thống nhất và chưa thống nhất trong đánhgiá phát triển du lịch bền vững và triết lý giảm tăng trưởng (de-growth) Theo đó,một số tác giả nhận định du lịch sinh thái (ecotourism) được xem là đồng nghĩa vớibền vững du lịch, tuy nhiên các tác giả lập luận rằng du lịch sinh thái không tự độngbền vững, nó phải có hiệu quả kinh tế, môi trường phù hợp, và được chấp nhận vềmặt văn hóa xã hội để được coi là bền vững Nghiên cứu cũng đề xuất trong tươnglai nên tiếp tục khám phá mối quan hệ của du lịch bền vững với các khái niệm nhưđạo đức kinh doanh hoặc trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, để đáp ứng các kỳvọng của tất cả các bên liên quan đồng thời cung cấp bằng chứng thực nghiệm vềkết quả của việc thực hiện các chính sách khác nhau được phát triển ở cả cấp địaphương và quốc tế, nhằm tăng cường hiệu quả và tái sử dụng các nguồn lực
Nhìn chung các nghiên cứu về chủ đề PTBV du lịch tiếp cận khá đa dạng vàphong phú Tuy nhiên, các tác giả đều làm nổi bật ba góc độ của tính bền vữngtrong phát triển du lịch Góc độ thứ nhất liên quan đến “kinh tế” với việc đảm bảo
sự phát triển hướng đến nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, giá trị mang lại chocác đối tượng hữu quan và năng lực cạnh tranh của các điểm đến Góc độ thứ hailiên quan đến “xã hội” với việc phát triển du lịch phải đảm bảo mang lại giá trị chocộng đồng địa phương nhưng không tổn hại đến lợi ích nhận được của thế hệ tươnglai Góc độ thứ ba liên quan đến “môi trường” với việc phát triển du lịch phải tậptrung vào khai thác, gìn giữ và bảo tồn các giá trị tài nguyên du lịch
1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu hàn lâm và thực nghiệm liên quan đến PTBV và PTBV dulịch tại Việt Nam tương đối nhiều, đa phần là liên quan đến quan điểm, nguyên tắc,tiêu chí, các giải pháp hướng đến PTBV du lịch
Trang 17Các nghiên cứu liên quan đến nguyên tắc PTBV: Nghiên cứu của Trần Tiến
Dũng (2006) với chủ đề “Phát triển du lịch bền vững ở Phong Nha Kẻ Bàng” đã
đưa ra những nguyên tắc PTBV du lịch và các khuyến nghị đối với ngành du lịchtrong việc PTBV du lịch Đánh giá một cách toàn diện thực trạng PTBV du lịchPhong Nha Kẻ Bàng Tác giả đã đề xuất được một số giải pháp PTBV du lịch phùhợp với điều kiện cụ thể của Vườn quốc gia và có tính thực thi cao Nghiên cứu của
Đinh Kiệm (2013) với chủ đề “Phát triển du lịch sinh thái các tỉnh vùng duyên hải
cực Nam Trung Bộ đến năm 2020” đã làm rõ lý luận về du lịch sinh thái, các
nguyên tắc, điều kiện để hoạch định sự phát triển du lịch sinh thái bền vững, cácgiai đoạn phát triển của loại hình này và nguyên tắc quy hoạch PTBV du lịch sinhthái biển, đảo trên địa bàn lãnh thổ tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận Tác giả đã chỉ
ra các định hướng mục tiêu phát triển, định hướng tổ chức không gian du lịch sinhthái của vùng, đề xuất các giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển du lịch sinh tháicủa vùng đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030
Các nghiên cứu liên quan đến chỉ tiêu PTBV: Nghiên cứu của Bùi Đình
Thanh (2000) với chủ đề “Xã hội học Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI” đã
chỉ ra 07 hệ chỉ báo cơ bản về PTBV: Chỉ báo kinh tế, xã hội, môi trường, chính trị,tinh thần, trí tuệ, văn hoá, vai trò phụ nữ và chỉ báo quốc tế Các công trình nghiêncứu có một điểm chung là cụ thể hoá khái niệm PTBV theo Brundtland, tuy nhiên
sự cụ thể này còn mang tính liệt kê, tính thích ứng của các chỉ báo với thực tiễn ViệtNam, cụ thể là ở cấp độ địa phương, vùng miền, hay các lĩnh vực hoạt động của đờisống xã hội vẫn chưa được thể hiện rõ Nghiên cứu Lưu Đức Hải và cộng sự (2001)
với chủ đề “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” đã trình bày hệ thống
quan điểm lý thuyết và hành động quản lý môi trường cho PTBV Công trình nàyxác định PTBV qua những tiêu chí: bền vững kinh tế, bền vững môi trường, bềnvững văn hóa Đồng thời đã tổng quan các mô hình PTBV như: mô hình 03 vòngtròn kinh kế, xã hội, môi trường giao nhau của Jacobs và Sadler (1990); mô hìnhtương tác đa lĩnh vực kinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xãhội của WCED (1987); mô hình liên hệ thống kinh tế, xã hội, sinh thái của Villen
Trang 18(1990); mô hình 03 nhóm mục tiêu kinh tế, xã hội, môi trường của Worl Bank
(1990) Nghiên cứu của Vũ Văn Đông (2014) với chủ đề “Phát triển du lịch bền
vững Bà Rịa-Vũng Tàu” đã xây dựng các tiêu chí đánh giá hoạt động PTBV du lịch
để phân tích đánh giá thực trạng hoạt động PTBV du lịch Các hoạt động PTBV du
lịch được đánh giá thông qua 07 chỉ tiêu cơ bản: (1) Số lượng đơn vị tham gia hoạt
động PTBV du lịch; (2) Số lượng khách du lịch tham gia du lịch; (3) Chất lượngdịch vụ du lịch; (4) Đóng góp đối với cơ quan quản lý trong việc xây dựng và thựchiện cơ chế chính sách PTBV du lịch; (5) Đóng góp đối với phát triển kinh tế; (6)Đóng góp về mặt xã hội; (7) Đóng góp về môi trường Tác giả đề xuất 12 nhân tốảnh hưởng đến hoạt động PTBV du lịch làm cơ sở phân tích, đánh giá về mặt địnhtính, định lượng Cuối cùng tác giả đã xác định được 04 nhân tố khám phá có ảnhhưởng chủ yếu đến PTBV du lịch là: (1) Các yếu tố về môi trường; (2) Các yếu tố
về xã hội, (3) Các yếu tố về kinh tế, (4) Các yếu tố về sản phẩm du lịch Nghiên cứu
của Lê Chí Công (2015) với chủ đề “Xây dựng chỉ tiêu đánh giá du lịch bền vững:
Nghiên cứu điển hình tại thành phố Nha Trang” đã xây dựng hệ tiêu chí giúp đánh
giá PTBV du lịch biển đảo tại Nha Trang-Khánh Hòa Tác giả đã sử dụng phươngpháp chuyên gia để xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá trên 03 góc độ: kinh tế, xãhội và môi trường Sau khi thực hiện phương pháp Delphi, có 08/38 tiêu chí bị loại
bỏ Kết quả tác giả đề xuất 28 tiêu chí dùng để đánh giá tính bền vững trong pháttriển du lịch biển tại Nha Trang – Khánh Hòa Nghiên cứu đã cung cấp những thôngtin hữu ích cho nhà quản lý ngành du lịch, đơn vị kinh doanh du lịch nhằm ra cácquyết định đúng đắn hơn trong quản lý, đặc biệt là chú trọng cung cấp sảnphẩm/dịch vụ du lịch mang tính bền vững Đây được xem là công cụ hữu ích choPTBV trong hoạt động du lịch biển đảo tại Nha Trang-Khánh Hòa
Các nghiên cứu về giải pháp phát triển du lịch theo hướng bền vững: Nghiên
cứu của Nguyễn Văn Đức (2013) với chủ đề “Tổ chức các hoạt động du lịch tại một
số di tích lịch sử - văn hóa quốc gia của Hà Nội theo hướng phát triển bền vững”
đã có những đóng góp về lý luận: (1) Nhu cầu của khách du lịch tại các di tích lịch
sử văn hóa: nhu cầu được chứng kiến hiện vật, được cung cấp thông tin, được tham
Trang 19gia các hoạt động du lịch, được mua các sản phẩm lưu niệm; (2) Phối hợp chặt chẽ
tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử văn hóa không chỉ góp phần bảo tồn,tôn tạo mà còn tạo ra các sản phẩm du lịch theo hướng PTBV; (3) Quan trọng nhấtcủa sự phối hợp giữa các đơn vị quản lý di tích và các doanh nghiệp lữ hành là sựphù hợp giữa nhu cầu của du khách với giá trị thực sự của di tích lịch sử văn hóa;(4) Quan điểm cơ bản trong việc tổ chức hoạt động du lịch tại các di tích lịch sử vănhóa là: bảo tồn và khai thác bền vững di tích lịch sử văn hóa, hợp tác PTBV giữa đơn vịquản lý di tích và doanh nghiệp lữ hành Nghiên cứu của Châu Quốc Tuấn và Nguyễn
Thị Minh Hiền (2014) với chủ đề “Đánh giá phát triển du lịch biển đảo bền vững Vịnh
Bái Tử Long” đã chỉ ra rằng du lịch Vịnh đang phát triển khá thuận lợi, góp phần vào sự
tăng trưởng kinh tế của địa phương, làm giảm tỷ lệ hộ nghèo, giải quyết việc làm chongười lao động bản địa Tuy nhiên, du lịch biển đảo của Vịnh cũng phải đối mặt vớinhững nguy cơ phát triển thiếu tính bền vững như: nguy cơ ô nhiễm môi trường biển đảo,suy thoái văn hóa, nguy cơ mất ổn định về trật tự an ninh trên địa bàn Nghiên cứu đã đềxuất giải pháp về chính sách và qui hoạch phát triển du lịch, nâng cao chất lượng nguồnnhân lực du lịch, đẩy mạnh xúc tiến quảng bá, bảo vệ môi trường để PTBV du lịch biển
đảo vịnh Bái Tử Long Nghiên cứu của Nguyễn Đức Tuy (2014) với chủ đề “Giải pháp
phát triển du lịch bền vững Tây Nguyên” đã làm rõ những vấn đề cơ bản như: PTBV du
lịch, yếu tố ảnh hưởng đến PTBV du lịch, khung lý thuyết về hợp tác, liên kết phát triển
du lịch, xây dựng các tiêu chí đánh giá PTBV du lịch Tác giả đưa ra 03 nhân tố quantrọng PTBV du lịch Tây Nguyên: (1) sản phẩm du lịch (du lịch nghỉ dưỡng núi, hồ; dulịch nghiên cứu, tìm hiểu giá trị văn hóa bản địa; du lịch nghiên cứu hệ sinh thái tự nhiên;
du lịch hội họp, hội nghị, triển lãm; du lịch vui chơi giải trí, du lịch thể thao mạo hiểm;
du lịch lễ hội; du lịch tham quan lịch sử văn hóa; (2) liên kết phát triển du lịch (liên kếtcác tỉnh trong vùng và vùng Tây Nguyên với các vùng khác, liên kết giữa các tỉnh trongvùng có liên kết với nhau và cùng liên kết với các tỉnh, thành phố ngoài vùng) và (3)công tác xúc tiến quảng bá du lịch Tác giả cũng đã đưa ra 07 nhóm giải pháp để PTBV
du lịch Tây Nguyên đến năm 2020 (nhóm giải pháp bền vững
Trang 20về kinh tế; nhóm giải pháp về ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội; nhóm giải pháp PTBV về văn hóa – xã hội; nhóm giải phápPTBV về môi trường; giải pháp hợp tác, liên kết PTBV du lịch; hội nhập và hợp tácquốc tế về du lịch; tăng cường quản lý nhà nước về kinh tế, văn hóa, xã hội và môi
trường) Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hợp (2014) với chủ đề “Giải pháp quản lý và
khai thác du lịch sinh thái ở các Vườn quốc gia Việt Nam theo hướng phát triển bền vững” Tác giả khẳng định du lịch sinh thái theo quan điểm PTBV là du lịch sinh
thái có quan hệ mật thiết với cộng đồng dân cư địa phương và phải được quản lýkhai thác theo công nghệ mới đó là công nghệ giảm thiểu tác động của du lịch đếnmôi trường và những công nghệ phát triển du lịch thỏa mãn những nhu cầu của dukhách Tác giả đã đề xuất mô hình phát triển du lịch sinh thái tại các Vườn quốc giatheo hướng PTBV nhằm quản lý và khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái ởcác Vườn quốc gia Điểm hạn chế của luận án là chỉ tập trung nghiên cứu quản lý
và khai thác du lịch sinh thái theo hướng bền vững Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh
Cường (2015) với chủ đề “Vai trò của chính quyền địa phương cấp tỉnh trong phát
triển du lịch bền vững tỉnh Ninh Bình” đã đóng góp về mặt học thuật, lý luận đó
chính là chứng minh vai trò của Chính quyền địa phương cấp tỉnh trong PTBV dulịch Kết quả nghiên cứu cũng góp phần tăng cường khả năng cạnh tranh của cáccông ty địa phương, tạo các cơ hội đầu tư kinh doanh mới, xoá bỏ những rào cảnhoạt động không hiệu quả, tạo lợi thế cho vùng và các công ty trong vùng tronghoạt động phát triển du lịch Đồng thời tác giả đã đề xuất 04 nhóm giải pháp nhằmnâng cao vai trò của chính quyền tỉnh trong PTBV du lịch Mặc dù luận án đã cónhiều đóng góp ý nghĩa, tuy nhiên hạn chế của luận án là chưa đưa ra được nhữngtính toán cụ thể để giải quyết do vậy cần phải có những nghiên cứu tiếp tục trong
tương lai Nghiên cứu của Dương Hoàng Hương (2017) với chủ đề “Phát triển du
lịch bền vững ở tỉnh Phú Thọ” đã hệ thống, bổ sung thêm lý thuyết về phát triển du
lịch bền vững ở địa phương cấp tỉnh, làm rõ thực trạng phát triển du lịch tỉnh PhúThọ và cũng đã xuất các mục tiêu, định hướng, giải pháp phát triển du lịch bềnvững ở tỉnh Phú Thọ đến năm 2030
Trang 21Các nghiên cứu tại Việt Nam nhìn chung đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận
về PTBV, PTBV du lịch, xây dựng các chỉ tiêu đánh giá PTBV du lịch, đánh giáthực trạng phát triển du lịch và đề xuất được một số giải pháp nhằm góp phần PTBV
du lịch cho địa phương
Tổng quan nghiên cứu trên đã chỉ ra rằng, nhìn chung vấn đề PTBV nóichung và PTBV du lịch nói riêng đã được các nhà khoa học trên thế giới và ViệtNam nghiên cứu từ lâu, có nhiều đóng góp trong quá trình phát triển của nhân loại.Các công trình nghiên cứu đã hệ thống hoá các vấn đề lý luận về PTBV, PTBV dulịch; đề cập vấn đề PTBV du lịch trên ba góc độ kinh tế, văn hóa-xã hội và môitrường; xây dựng được một số mô hình PTBV và PTBV du lịch; xây dựng được một
số nguyên tắc và chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của du lịch; đúc kết từ những kinhnghiệm của các nước trên thế giới và thực trạng tại mỗi quốc gia, địa phương, một
số tác giả luận án đã hình thành một số giải pháp nhằm góp phần vào quá trìnhPTBV du lịch nói chung và PTBV du lịch nói riêng tại mỗi địa phương
Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu vẫn còn một số vấn đề chưa giải quyếtđược như: (1) Đề xuất khung lý thuyết đánh giá tính bền vững cho du lịch địa phươngcòn mờ nhạt, khung phân tích chưa cụ thể, chỉ tiêu đánh giá mang tính tổng quát, chungchung; (2) Các phương pháp đánh giá thiếu tính thống nhất đặc biệt là áp dụng phươngpháp nghiên cứu định tính và định lượng trong phân tích và đánh giá;(3) Chưa đánh giá
sự ảnh hưởng của yếu tố sức chứa đến du lịch một cách cụ thể
Tiếp cận khoảng trống của những nghiên cứu trước, tác giả tiến hành nghiêncứu và xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của du lịch Khánh Hòamột cách cụ thể theo ba góc độ kinh tế, xã hội và môi trường Phân tích và đánh giáthực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa theo hướng bền vững dựa trên hệ thống cácchỉ tiêu đã xây dựng Kết hợp sử dụng phương pháp chuyên gia đánh giá thực trạngphát triển du lịch, đánh giá hạn chế và nguyên nhân gây ra hạn chế, trên cơ sở đó đềxuất giải pháp góp phần phát triển du lịch Khánh Hòa theo hướng bền vững đồngthời kết hợp sử dụng phương pháp chuyên gia đánh giá sơ bộ giải pháp, tầm quantrọng và tính khả thi của giải pháp đề xuất Giải quyết khoảng trống nhằm đem lại
Trang 22những đóng góp có ý nghĩa về mặt lý thuyết cũng như thực tiễn cho phát triển dulịch Khánh Hòa hướng đến bền vững ở hiện tại và tương lai.
1.6 Đóng góp của luận án
1.6.1 Về mặt lý luận
Luận án đã có những đóng góp có ý nghĩa về mặt lý luận, cụ thể đó là:
Đã xây dựng được hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của phát triển dulịch đặc thù cho một địa phương theo góc độ kinh tế, xã hội và môi trường
Sử dụng các phương pháp phân tích định lượng phù hợp nhằm đánh giá mức độphát triển bền vững của du lịch Khánh Hòa theo góc độ kinh tế, xã hội và môi trường
Sử dụng phương pháp phân tích định lượng nhằm đánh giá các hạn chế,nguyên nhân và thứ tự ưu tiên các giải pháp phù hợp
Đã sử dụng phương pháp chuyên gia đánh giá hạn chế nguyên nhân, trên cơ
sở đó đã xây dựng được 09 giải pháp nhằm góp phần phát triển du lịch Khánh Hòahướng đến bền vững trong thời gian tới Với những giải pháp đã xây dựng, tác giả
sử dụng phương pháp chuyên gia đánh giá tính khả thi và đánh giá mức độ quantrọng của từng giải pháp
Đã đề xuất một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương,các đơn vị kinh doanh du lịch tại Khánh Hòa nhằm góp phần thúc đẩy phát triển dulịch Khánh Hòa hướng tới bền vững trong thời gian tới
Trang 231.7 Kết cấu của luận án
Luận án gồm 05 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững du lịch
Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Một số giải pháp góp phần phát triển bền vững du lịch Khánh Hòa
Trang 24TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Trong Chương 1 tác giả đã trình bày được tính cấp thiết của đề tài nghiêncứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn theo đó các nghiên cứu liên quan đến các đánhgiá về phát triển bền vững du lịch lại chỉ diễn ra ở các quốc gia phát triển nơi cónhiều điều kiện đảm bảo cho du lịch phát triển một cách bền vững Trong khi đómặc dù thời gian gần đây phát triển bền vững du lịch đã được quan tâm hơn ở ViệtNam nhưng các nghiên cứu hàn lâm và thực nghiệm về vấn đề này lại khá mờ nhạt
và thiếu những điểm nhấn quan trọng trong việc đánh giá tổng thể phát triển bềnvững du lịch trên ba góc độ: kinh tế, xã hội và môi trường Trên cơ sở đó, luận án đãxác định mục tiêu nghiên cứu bao gồm: Làm rõ bản chất, vai trò, nguyên tắc pháttriển bền vững du lịch; Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá tính bền vững của dulịch Khánh Hòa theo góc độ kinh tế, xã hội và môi trường; Phân tích và đánh giáthực trạng phát triển bền vững du lịch Khánh Hòa giai đoạn từ 2011-2019 theo góc
độ kinh tế, xã hội và môi trường; Đề xuất giải pháp nhằm góp phần phát triển bềnvững du lịch Khánh Hòa trong thời gian tới
Đối tượng nghiên cứu của luận án tập trung vào những lý luận và thực trạngphát triển du lịch Khánh Hòa theo quan điểm bền vững, phạm vi nghiên cứu tập trungvào làm rõ thực trạng phát triển du lịch Khánh Hòa giai đoạn 2011-2019 và tầm nhìnđến năm 2030 hướng tới tính bền vững trong đánh giá và phân tích Để đạt được mụctiêu nghiên cứu, Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng phùhợp và nhất quán Đặc biệt, trong chương này tác giả đã trình bày tổng quan các nghiêncứu về PTBV, PTBV du lịch ở trong và ngoài nước theo từng chủ đề và theo thời gian
từ đó rút ra một số nhận định của tác giả về những khoảng trống của các nghiên cứutrước, tiếp cận nghiên cứu giải quyết khoảng trống này nhằm phát triển du lịch KhánhHòa theo hướng bền vững Đồng thời tác giả cũng đã nêu những đóng góp có ý nghĩacủa luận án về mắt lý luận cũng như thực tiễn trong quá trình nghiên cứu Cuối cùngtrong chương 1 trình bày kết cấu của luận án gồm có 05 chương: Chương 1: Tổng quanvấn đề nghiên cứu, Chương 2: Cơ sở lý thuyết về phát triển bền vững du lịch, Chương3: Phương pháp nghiên cứu, Chương 4: Kết quả nghiên cứu, Chương 5: Một số giảipháp góp phần phát triển bền vững du lịch Khánh Hòa
Trang 25CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG DU LỊCH 2.1 Một số khái niệm liên quan phát triển bền vững du lịch
2.1.1 Du lịch
Theo UNWTO (2002) “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của nhữngngười du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệmhoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề vànhững mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bênngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính làkiếm tiền”
Theo Luật Du lịch (2017): Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến
đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một nămliên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phátài nguyên du lịch hoặc kết hợp mục đích hợp pháp khác
2.1.2 Phát triển bền vững
Thuật ngữ “PTBV” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩmChiến lược bảo tồn Thế giới (được công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên vàTài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung đơn giản: “Sự phát triển củanhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng nhữngnhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”
Khái niệm này bắt đầu được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 bởi Báo cáoBrundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Thế giới về môitrường và phát triển - WCED (nay là Ủy ban Brundtland) Trong báo cáo ghi rõ,PTBV là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnhhưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai ”
Năm 1989, Sự phát hành và tầm quan trọng của Our Common Future đượcthảo luận tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc, đã ra đời Nghị quyết 44/228 - tiền đề để
tổ chức Hội nghị về môi trường và phát triển của Liên hiệp quốc
Trang 26Đến năm 1992, tại Rio de Janeiro, Brazil, nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh
về Trái Đất, tên gọi chính thức là Hội nghị về môi trường và phát triển của Liênhiệp quốc (UNCED) Tại Hội nghị, với đại diện của hơn 200 quốc gia trên thế giới
và một số tổ chức phi chính phủ đã thống nhất những nguyên tắc cơ bản và phátđộng chương trình hành động vì sự PTBV có tên là Chương trình Nghị sự 21(Agenda 21) Hội nghị đưa ra bản Tuyên ngôn Rio về môi trường và phát triển,đồng thời thông qua một số văn kiện như: hiệp định về sự đa dạng sinh học, bộkhung của hiệp định về sự biến đổi khí hậu, tuyên bố về nguyên tắc quản lý, bảo tồnrừng Đây là những văn kiện quốc tế quan trọng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,được quán triệt trong suốt thế kỷ XXI Chương trình Nghị sự 21 về PTBV trở thànhchiến lược phát triển toàn cầu trong thế kỷ XXI và “Mục tiêu phát triển thiên niênkỷ” với 08 nội dung (xóa đói, giảm nghèo; phổ cập giáo dục tiểu học; thúc đẩy bìnhđẳng giới tính, đồng thời nâng cao quyền lợi của nữ giới; giảm tỷ lệ trẻ em tử vong;cải thiện và đảm bảo sức khỏe sản phụ; đấu tranh với các loại bệnh như HIV, sốtxuất huyết; bảo vệ môi trường; thúc đẩy phát triển hợp tác toàn cầu) đã được tậptrung để thực hiện
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về PTBV tổ chức tại Johannesburg,Nam Phi là dịp để các bên tham gia nhìn nhận lại những việc đã làm được trong 10 nămqua theo phương hướng mà Tuyên ngôn Rio và Chương trình Nghị sự 21 đã vạch ra.Tiếp tục tiến hành với một số mục tiêu được ưu tiên, những mục tiêu này gồm: xóanghèo đói, phát triển những sản phẩm tái sinh hoặc thân thiện với môi trường nhằmthay thế các sản phẩm gây ô nhiễm, bảo vệ và quản lý các nguồn tài nguyên thiênnhiên Hội nghị cũng đã đề cập chủ đề toàn cầu hóa gắn với vấn đề liên quan tới sứckhỏe và phát triển Đại diện của các quốc gia tham dự hội nghị cũng cam kết phát triểnchiến lược về PTBV tại mỗi quốc gia trước năm 2005
Theo Luật Bảo vệ môi trường (2014), quan điểm PTBV được thể hiện: “PTBV
là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khảnăng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòagiữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”
Trang 272.1.3 Mối quan hệ giữa du lịch và phát triển bền vững
Du lịch có một vị trí đặc biệt trong những đóng góp của nó đối với sự PTBV
và những thách thức mà nó phải đối mặt Thứ nhất, mối quan hệ đặc biệt được giảithích là do sự năng động và tăng trưởng của ngành du lịch, cũng như đóng góp lớncủa nó cho nền kinh tế của nhiều quốc gia và các điểm đến Thứ hai, vì du lịch làmột hoạt động có mối quan hệ đặc biệt giữa người tiêu dùng (du khách), ngành, môitrường và cộng đồng địa phương
Mối quan hệ đặc biệt này nảy sinh bởi vì, không giống như hầu hết các lĩnhvực khác, người tiêu dùng du lịch (khách du lịch) chủ động tìm đến người sản xuất
và các sản phẩm du lịch Điều này dẫn đến ba khía cạnh quan trọng và độc đáo củamối quan hệ giữa du lịch và PTBV:
Sự tương tác: bản chất của du lịch, với tư cách là một ngành dịch vụ dựa trên
việc cung cấp trải nghiệm về những địa điểm mới, có nghĩa là nó bao gồm mộtlượng tương tác đáng kể, cả trực tiếp và gián tiếp, giữa du khách, cộng đồng địaphương và môi trường địa phương
Nhận thức: du lịch làm cho mọi người (du khách và người cung ứng sản
phẩm) trở nên có ý thức hơn về các vấn đề môi trường và sự khác biệt giữa các quốcgia và nền văn hóa Điều này có thể thể hiện thái độ và mối quan tâm đối với cácvấn đề bền vững không chỉ khi đi du lịch mà trong suốt cuộc sống của mọi người
Sự phụ thuộc: phần lớn du lịch dựa trên việc du khách tìm cách trải nghiệm
môi trường nguyên vẹn và trong lành, các khu vực tự nhiên hấp dẫn, truyền thốnglịch sử và văn hóa đích thực, và trân trọng những tình cảm nồng ấm từ nhà cungứng du lịch tại các điểm đến Ngành du lịch phụ thuộc vào các thuộc tính này
2.1.4 Phát triển bền vững du lịch
Theo định nghĩa của UNWTO (1992) đưa ra tại Hội nghị về môi trường và pháttriển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janeiro “Du lịch bền vững là việc phát triển cáchoạt động du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dânbản địa trong khi vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên choviệc phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản
lý các nguồn tài nguyên nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã
Trang 28hội, thẩm mỹ của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa,
đa dạng sinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộcsống của con người”
Theo Butler's (1993) cho rằng PTBV du lịch là quá trình phát triển và duy trìtrong một không gian và thời gian nhất định (ở đó tồn tại cộng đồng, môi trường),thêm nữa sự phát triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi trường của conngười trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác động tiêu cực tới sự phát triển lâudài Đây là quan điểm đã nhận được sự đồng thuận khá cao của các tác giả khác nhưMurphy (1994), Mowforth và Munt (1998)
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế (1996) “Du lịch bền vững là việcđáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo nhữngkhả năng đáp ứng nhu cầu cho thế hệ du lịch trong tương lai”
Nghiên cứu của Tosun (1998) đề xuất PTBV du lịch như là một trong nhữngthành phần của phát triển du lịch và nó tạo ra những đóng góp đáng kể hoặc ít hoặc phủnhận sự duy trì các nguyên tắc của sự phát triển trong một thời kỳ nhất định mà khôngtổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu và mong muốn của thế hệ tương lai
Bổ sung vào quan điểm này, Hens (1998) chỉ ra rằng PTBV du lịch đòi hỏi
sự quan tâm của các bên có liên quan đến việc quản lý các nguồn tài nguyên theocác cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung cấp các sản phẩm du lịch đáp ứngcác nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa,
đa dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho thế hệ mai sau
Theo Weaver (1998), Du lịch bền vững là hình thức mới của thực hành dulịch liên quan đến công ty nhỏ hoặc doanh nghiệp, nhằm mục đích hỗ trợ cộngđồng, giữ gìn môi trường và bảo vệ văn hóa địa phương Sự khác biệt chính giữacác hình thức cũ và mới của du lịch là việc thay đổi sự chú trọng về điều tốt đẹp chokhách du lịch sang điều tốt đẹp cho cộng đồng Tại thời điểm đó, khái niệm này đãgây tranh cãi khá nhiều, và nó đã không nhận được sự thiện cảm trong ngành côngnghiệp du lịch, vì họ không hài lòng để đặt bất kỳ giới hạn cho sự tăng trưởng vàcoi nó là một “ảo tưởng” không liên quan đến thị trường Du lịch bền vững cũngđược coi là “kiêu ngạo, tốn kém, xa hoa và vô ích” (Lane, 2009)
Trang 29Một số tác giả như Swarbrooke (1999), Hunter (2002) tin rằng “sự phát triểncủa du lịch phải cung cấp lợi ích kinh tế cho tất cả đối tác (các bên liên quan), miễn
là họ không bất lợi ảnh hưởng đến nguồn lực sẵn có cho các thế hệ tương lai”.Weaver (2006) định nghĩa du lịch bền vững như là một hình thức khôn ngoan củaviệc khai thác để có thể bảo quản lâu dài
Theo Liu (2003) cho rằng du lịch bền vững là “tất cả các hình thức du lịch
mà tương thích với và đóng góp cho PTBV” Trong bối cảnh của định nghĩa này,phát triển không nhất thiết phải bao hàm tăng trưởng, về cơ bản là một quá trình màtheo đó các mục tiêu cụ thể của xã hội và kinh tế đạt được Để đạt được các mụctiêu này có thể bao gồm ổn định, tốc độ tăng trưởng, giảm hoặc thậm chí biến mấtcủa sản phẩm hiện có, các công ty hoặc thậm chí cả các ngành công nghiệp
Machado (2003) nhấn mạnh đến tính bền vững của các sản phẩm trong pháttriển du lịch, ông cho rằng PTBV du lịch là quá trình phát triển các sản phẩm du lịchnhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địaphương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ tương lai
Như vậy có thể xem PTBV du lịch là một nhánh của PTBV đã được Hội nghịcủa Ủy ban Thế giới về môi trường và phát triển (hay Uỷ ban Brudtlant) xác định năm
1987 Tính bền vững của hoạt động phát triển du lịch được xây dựng trên nền tảng sựthành công trong phát triển của các ngành khác, sự PTBV chung của khu vực
Theo Luật du lịch (2017): PTBV du lịch là sự phát triển du lịch đáp ứngđồng thời nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và môi trường bảo đảm hài hòa lợi íchcủa các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đápứng nhu cầu về du lịch trong tương lai
Bảng 2.1: Tổng hợp các khái niệm phát triển bền vững du lịch
Khái niệm phát triển bền vững du lịch Nguồn Năm
Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du Tổ chức Du lịch 1992lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại của khách du thế giới
lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm đến
việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc
phát triển hoạt động du lịch trong tương lai Du lịch bền
Trang 30vững sẽ có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên
nhằm thỏa mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹ
của con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn
vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học, sự phát triển của các
hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộc sống của
con người
Phát triển bền vững du lịch là quá trình phát triển và Butler 1993duy trì trong một không gian và thời gian nhất định (ở
đó tồn tại cộng đồng, môi trường), thêm nữa sự phát
triển sẽ không làm giảm khả năng thích ứng môi trường
của con người trong khi vẫn có thể ngăn chặn những tác
động tiêu cực tới sự phát triển lâu dài
Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại Hội đồng du lịch 1996của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm bảo những và lữ hành quốc
khả năng đáp ứng nhu cầu cho thế hệ du lịch trong tế
tương lai
Phát triển bền vững du lịch là một trong những thành Tosun 1998phần của phát triển du lịch và nó tạo ra những đóng góp
đáng kể hoặc ít hoặc phủ nhận sự duy trì các nguyên tắc
của sự phát triển trong một thời kỳ nhất định mà không
tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu và mong
muốn của thế hệ tương lai
Phát triển bền vững du lịch đòi hỏi sự quan tâm của các Hens 1998bên có liên quan đến việc quản lý các nguồn tài nguyên
theo các cách thức khác nhau nhằm khai thác và cung
cấp các sản phẩm du lịch đáp ứng các nhu cầu kinh tế,
xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc
văn hóa, đa dạng hệ sinh thái và bảo đảm sự sống cho
thế hệ mai sau
Trang 31Du lịch bền vững là hình thức mới của thực hành du Weaver 1998lịch liên quan đến công ty nhỏ hoặc doanh nghiệp,
nhằm mục đích hỗ trợ cộng đồng, giữ gìn môi trường
và bảo vệ văn hóa địa phương Sự khác biệt chính giữa
các hình thức cũ và mới của du lịch là việc thay đổi sự
chú trọng về điều tốt đẹp cho khách du lịch sang điều
Phát triển bền vững du lịch là quá trình phát triển các Machado 2003sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại
của khách du lịch, ngành du lịch và cộng đồng địa
phương mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng
nhu cầu của thế hệ tương lai
Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đáp ứng được Luật Du lịch 2005các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng đáp ứng nhu cầu về du lịch của tương lai
Du lịch bền vững như là “một hình thức khôn ngoan Weaver 2006của việc khai thác để có thể bảo quản lâu dài”
Nguồn: Tác giả tổng hợp (2016)
Cho đến nay đã có nhiều định nghĩa về khái niệm PTBV du lịch, tuy nhiêntựu trưng của các định nghĩa này đều nhấn mạnh đến sự cân bằng giữa việc khaithác sử dụng trong hiện tại và gìn giữ cho tương lai, đảm bảo nhiều mặt đến lợi íchcho cộng đồng địa phương PTBV nói chung và PTBV du lịch nói riêng mang hàm
ý cốt lõi là sự phát triển có định hướng, có sự hòa hợp giữa ba yếu tố là kinh tế, xãhội và môi trường nhằm mang lại giá trị tốt nhất cho cuộc sống con người ở hiện tại
Trang 32và tương lai Đặc biệt, cho đến nay định nghĩa “du lịch bền vững” của UNWTO(1992) có nội hàm chứa đựng đầy đủ nhất các nội dung liên quan đến PTBV, địnhnghĩa này tập trung vào quá trình phát triển du lịch nhưng vẫn luôn đáp ứng đượcnhu cầu hiện tại của khách du lịch và quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo tàinguyên, duy trì sự toàn vẹn về văn hóa, đa dạng sinh học ở tương lai Định nghĩanày chứa đựng cả ba thành phần khác nhau nhưng vẫn luôn tồn tại trong một tổngthể thống nhất của PTBV đó là (1) kinh tế, (2) xã hội và (3) môi trường Tiếp cậnđịnh nghĩa này PTBV du lịch Khánh Hòa theo ba góc độ kinh tế, xã hội và môitrường Theo đó, về góc độ kinh tế tiến hành xây dựng các chỉ tiêu đánh giá tính bềnvững của phát triển du lịch hiện tại nhưng không ảnh hưởng đến tương lai đó là sựphát triển kinh tế có sự tăng trưởng phát triển du lịch nhưng dựa trên chất lượng dulịch thông qua đánh giá các chỉ tiêu như thời gian lưu trú, chi tiêu du khách, tăng sốlượng có thể ít nhưng cơ cấu nguồn khách phải bền vững ổn định để vừa đảm bảođược tăng trưởng cũng như đảm bảo được doanh thu Về góc độ xã hội đảm bảođược tỷ lệ việc làm ngành du lịch, chất lượng việc làm du lịch, cũng như các chỉ tiêuđánh giá mức độ bảo tồn di sản, toàn vẹn sinh học, mức độ tham gia của cộng đồngvào hoạt động du lịch PTBV du lịch về khía cạnh kinh tế, xã hội đồng thời đặttrong bối cảnh đảm bảo ổn định về góc độ môi trường, khổng thể quan tâm đến lợiích kinh tế mà bỏ qua các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường hiện tại cũng như tươnglai Cách tiếp cận này phù hợp với bối cảnh nghiên cứu cho luận án của tác giả cả về
lý luận cũng như thực tiễn, do đó tác giả kế thừa định nghĩa “du lịch bền vững” củaUNWTO làm kim chỉ nam xuyên suốt nội dung của luận án
2.2 Mô hình phát triển bền vững và phát triển bền vững du lịch
2.2.1 Mô hình phát triển bền vững
2.2.1.1 Mô hình của Hội đồng về môi trường và phát triển bền vững thế giới
Mô hình của Hội đồng về môi trường và phát triển bền vững thế giới (1987)
có ưu điểm là tiếp cận quan niệm PTBV đòi hỏi sự hài hòa giữa các lĩnh vực nhưkinh tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội Tuy nhiên, môhình này không chỉ ra được sự tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các hệthống trong quá trình phát triển bền vững
Trang 33Chính trị Hành chính
Kinh tế
CôngPhát triển
nghệbền vững
Xã hội
Quốc tếSản xuất
Hình 2.1: Mô hình phát triển bền vững của WCED
2.2.1.2 Mô hình của Jacobs và Sadler
Nghiên cứu của Jacobs và Sadler (1990) đã vận dụng mô hình của WCED
(1987) để đề xuất mô hình PTBV Theo đó, PTBV là kết quả tương tác qua lại và
phụ thuộc lẫn nhau bởi ba hệ thống chủ yếu của thế giới thể hiện bằng các vòng tròn
giao nhau: (1) Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phối sản phẩm); (2) Hệ thống
xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); (3) Hệ thống tự nhiên (bao gồm các hệ
sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trường của Trái
Đất) Mô hình của Jacobs và Sadler (1990) cho rằng, sự PTBV không cho phép vì
sự ưu tiên của hệ này sẽ dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay
PTBV là sự dung hoà tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên Nếu 03
vòng trong có kích thước tương đương nhau thì diện tích giao cắt của 03 vòng tròn
là lớn nhất (sự PTBV đạt giá trị cao nhất) Tuy nhiên, hạn chế của cách tiếp cận này
là chưa làm rõ được tính độc lập của hệ “Thể chế” trong mối quan hệ tương tác với
ba phân hệ còn lại
Trang 34Xã hội
Hệ kinh tế
Pháttriển bềnvững
Hệ Tự nhiên
Hình 2.2: Mô hình của Jacobs và Sadler
2.2.1.3 Mô hình Ngân hàng Thế giới
Ưu điểm của mô hình PTBV của Ngân hàng thế giới (1990) là PTBV hướngtới mục tiêu rõ ràng Theo đó, sự PTBV được hiểu là sự phát triển nhằm đạt đượcđồng thời các mục tiêu: (1) Mục tiêu kinh tế, (2) Mục tiêu xã hội, (3) Mục tiêu sinhthái Mô hình Jacobs và Sadler (1990) và mô hình Ngân hàng Thế giới có điểmgiống nhau nên được gọi chung là mô hình “ba trụ cột”, đều được xây dựng dựa trên
ba trụ cột của PTBV là: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.Tuy nhiên, hai mô hình này cũng có những điểm khác biệt nhất định đó là: mô hìnhPTBV kiểu ba vòng tròn nhấn mạnh để PTBV nhất thiết phải đảm bảo cả ba mụctiêu kinh tế, xã hội và môi trường Trong khi đó, mô hình tam giác nhấn mạnh vào
sự ràng buộc, chi phối và tác động thuận nghịch giữa ba thành tố: mục tiêu kinh tế,mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường để PTBV Ngoài ra, có ý kiến cho rằng hai
mô hình này chưa tính toán một cách đầy đủ, rõ ràng đến yếu tố “chất lượng cuộcsống của con người” Thực tế cho thấy các mục tiêu của PTBV thường bị “xungđột” lẫn nhau vì thế để đảm bảo PTBV theo tiêu chí hài hòa các mục tiêu cho mộtquốc gia/lãnh thổ là vô cùng khó khăn và mất nhiều thời gian
Trang 35Mục tiêu kinh tế
Phát triểnbền vững
Hình 2.3: Mô hình của Ngân hàng Thế giới
2.2.1.4 Mô hình của Villen
Ưu điểm của mô hình tam giác được đề xuất bởi Villen (1990) là trình bày chi
tiết các chỉ tiêu PTBV với các góc cạnh (Kinh tế, Xã hội và Sinh thái) Sự PTBV chính
là việc duy trì sự cân bằng trong mối quan hệ giữa các mục tiêu kinh tế, sinh thái và xã
hội Tuy nhiên, mô hình này không hướng đến mục tiêu rõ ràng và cũng đã bỏ qua yếu
tố chất lượng cuộc sống của con người trong quá trình PTBV
Kinh tế
Giá trị của máy móc
Bảo vệ nguồn nước
Phát triển
Kiểm soát thuốc bảo vệ thực vật
Bảo vệ chất lượng cuộc sống, văn Hệ thống quata
Chính sách thu nhập
bền vững Sinh thái
Chất lượng nước
Quản lý và bảo vệ môi
Đa dạng sinh học
trường vùng nông thôn
Các giá trị giải trí
Du lịch sinh thái
Trang 3629
Trang 372.2.1.5 Mô hình lăng kính phát triển
Lăng kính của PTBV được xây dựng từ Trường Wuppertal theo Spangenberg
và Bonniot (1998), Valentin và Spangenberg (1999) quy định bốn yếu tố: (1) Khíacạnh kinh tế (vốn con người tạo ra); (2) Khía cạnh môi trường (vốn tự nhiên); (3)Khía cạnh xã hội (nguồn nhân lực); (4) Khía cạnh thể chế chính sách (vốn xã hội)
Lăng kính phát triển bền vững
Thể chế
Môi trường Hình 2.5: Mô hình lăng kính phát triển
Khi mô hình này đưa ra đã bị chỉ trích do thể chế không đóng vai trò như 03đỉnh còn lại nhưng vẫn được thể hiện tương tự nên dễ gây nhầm lẫn trong mô tả vàphân tích (Kain, 2000) Kain cũng đưa ra mô hình “lăng kính MAIN (Mind,Artifact, Institute, Nature) của PTBV” Trong mô hình này, Kain sử dụng các yếu tốtrí tuệ, tạo tác, thể chế và tự nhiên Khía cạnh tự nhiên gồm tất cả các nguồn vốn tựnhiên, có thể được chia làm nguồn tài nguyên không tái tạo và nguồn tài nguyên táitạo Khía cạnh tạo tác (Artefact) là đại diện cho tất cả các vật chất nhân tạo như cáctòa nhà và đường sá Khía cạnh xã hội (Mind) gồm thế giới quan, kiến thức, kinhnghiệm Khía cạnh thể chế liên quan đến xã hội chúng ta và các quan hệ con người
Mặc dù có những ưu điểm ở trên, đặc biệt là việc nhấn mạnh đến việc pháttriển bền vững dưới góc độ thể chất thông qua lăng kinh của phát triển bền vững.Tuy nhiên, mô hình đã không làm rõ được tính tương tác giữa các khía cạnh trongphát triển bền vững Đặc biệt, mô hình chưa chỉ ra được tính ưu tiên trong phát triểnbền vững ở những giai đoạn khác nhau
Lăng kính phát triển bền vững MAIN
Trí tuệ
Thể chế Tạo tác
Tự nhiên Hình 2.6: Mô hình lăng kính MAIN
Trang 382.2.1.6 Mô hình quả trứng
Năm 1997, Trung tâm nghiên cứu phát triển Quốc tế (IDRC) đã đề xuất thay
cấu trúc của ba trụ cột xã hội, kinh tế và môi trường bằng một mô hình “trứng của
PTBV” “Trứng của PTBV” minh họa mối quan hệ giữa con người và hệ sinh thái
theo dạng cái này lồng vào cái kia, giống như lòng đỏ quả trứng Ưu điểm của mô
hình này được chỉ ra mối quan hệ khăng khích giữa con người và hệ sinh thái, có
quan hệ phụ thuộc lẫn nhau Giống như một quả trứng tốt chỉ khi cả màu trắng và
lòng đỏ đều tốt Do đó, một xã hội tốt và bền vững chỉ khi cả hai yếu tố, con người
và hệ sinh thái đều tốt Sự phát triển kinh tế xã hội chỉ có thể diễn ra nếu môi trường
cung cấp các nguồn lực cần thiết như: nguyên liệu sống, không gian cho sự phát
triển, vấn đề an sinh Tuy nhiên, mô hình đã không chỉ ra được sự vận động rất
nhanh của xã hội loài người đã ảnh hưởng tiêu cực lên hệ sinh thái Chính điều này
đã bắt đầu hình thành nhiều điểm “thiếu bền vững” trong quá trình phát triển suốt
thời gian vừa qua
Mô hình phát triển bền vững hình quả trứng
Hệ sinh thái
Con người
Hình 2.7: Mô hình quả trứng
2.2.2 Mô hình phát triển bền vững du lịch
2.2.2.1 Mô hình ba trụ cột
Mô hình PTBV du lịch được Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc và
Tổ chức du lịch Thế giới xây dựng nhằm mục đích: (1) Tận dụng tối ưu nguồn tài
Trang 3931
Trang 40duy trì quá trình sinh thái, bảo tồn di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học; (2) Tôntrọng tính xác thực văn hóa xã hội của cộng đồng địa phương, bảo tồn công trình, disản văn hóa sống và những giá trị truyền thống của họ, đóng góp vào sự hiểu biết vàkhoan dung của liên văn hóa; (3) Đảm bảo lợi ích kinh tế lâu dài cho các bên liênquan được phân phối công bằng, trong đó có việc làm ổn định, cơ hội tạo thu nhập
và các dịch vụ xã hội cho các địa phương, nhằm góp phần xóa đói giảm nghèo
Tuy vậy, mô hình có điểm hạn chế là chưa xác định được tầm quan trọngtrong vai trò bền vững về thể chế có tác động đến các khía cạnh kinh tế, xã hội vàmôi trường hiện nay
Hình 2.8: Mô hình ba trụ cột
2.2.2.2 Mô hình DIT-ACHIEV
Ưu điểm của mô hình DIT- ACHIEV được xem như là công cụ quản lý đểxác định các vấn đề PTBV và giải quyết chúng Mô hình sử dụng các chỉ số (1) Cơ
sở hạ tầng; (2) Di sản văn hóa; (3) Doanh nghiệp; (4) Cộng đồng; (5) Quản lý; (6)
Du khách để đánh giá tích cực và thay đổi tiêu cực theo thời gian Các kết quả chỉtiêu có thể cung cấp một cảnh báo sớm khi một chính sách thay đổi hoặc hành độngmới có thể cần thiết, cũng như cung cấp cơ sở cho quy hoạch du lịch bền vững Tuynhiên, tính bền vững của các chỉ số hoạt động được đề cập trong mô hình là khá biệtlập và chưa thể hiện được sự kết nối/liên kết đầy đủ các chỉ số trong mối quan hệtổng thể để phát triển bền vững