Theo thống kê này mỗi ngày nước ta có đến hơn 20 lễ hội chưa kểtới những lễ hội tổ chức một, hai ngày trong năm có những lễ hội kéo dài cả tuần, cảtháng thu hút đông đảo người dân cũng n
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ KHOA DU LỊCH
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
DU LỊCH LỄ HỘI HOA TẠI BÀ NÀ HILLS - ĐÀ NẴNG
Giảng viên hướng dẫn: TS Lê Thị Kim Liên Sinh viên thực hiện: Lê Thị Hương-Lớp: K49KTDL
Huế, tháng 04/2019
MỤC LỤC
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU 3
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 3
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4
1 Mục tiêu chung 4
2 Mục tiêu cụ thể 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4 Phương pháp nghiên cứu 5
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH LỄ HỘI 6
1.1 Lễ hội 6
1.2 Du lịch lễ hội: 12
1.3 Phát triển bền vững du lịch lễ hội 15
1.4 Các nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch lễ hội 18
1.5 Xây dựng mô hình du lịch bền vững lễ hội Hoa-Bà Nà hills 21
CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ LỄ HỘI HOA TẠI BÀ NÀ 0
2.1 Tổng quan về lễ hội Hoa tại Bà Nà 0
2.2 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng 5
2.3 Tiến hành khảo sát, kiểm định độ tin cậy của thang đo và hiệu chỉnh bộ tiêu chí 6
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của quý thầy cô Khoa Du Lịch-Đại Học sau 4 tháng thực tập em
đã hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp “Đánh giá của du khách về phát triển bền vững
du lịch lễ hội Hoa tại Bà Nà hill-Đà Nẵng”
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, ngoài sự nỗ lực học hỏi của bản thân còn có sựhướng dẫn tận tình của thầy cô
Em chân thành cảm ơn Cô giáo – TS Lê Thị Kim Liên, người đã hướng dẫn cho emtrong suốt thời gian thực tập Mặc dù Cô bận dạy trên giảng đường và đi công tácnhưng không ngần ngại chỉ dẫn em, định hướng đi cho em, để em hoàn thành tốtnhiệm vụ Một lần nữa em chân thành cảm ơn Cô và chúc Cô dồi dào sức khoẻ
Xin cảm ơn tất cả các bạn bè, thư viện, công ty đã giúp đỡ, dìu dắt em trong suốt thờigian qua Tất cả các mọi người đều nhiệt tình giúp đỡ, đặc biệt ở Công ty dịch vụ cáptreo Bà Nà mặc dù số lượng công việc của công ty ngày một tăng lên nhưng công tyvẫn dành thời gian để hướng dẫn rất nhiệt tình
Tuy nhiên vì kiến thức chuyên môn còn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinhnghiệm thực tiễn nên nội dung của báo cáo không tránh khỏi những thiếu xót, em rấtmong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của quý thầy cô
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 4 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Hương
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các sốliệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quyđịnh Các kết quả nghiên cứu trong chuyên đề do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cáchtrung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưatừng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Hương
DANH MỤC BẢNG
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU.
I TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Nghị quyết hội nghị lần thứ V ban chấp hành trung ương khóa VIII đề ra mục tiêuxây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Trong đónghị quyết cũng khẳng định rõ vai trò của văn hóa “Văn hóa là nền tảng tinh thần của
xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội” Là mộttrong những thành tố quan trọng của văn hóa, lễ hội không chỉ đáp ứng đời sống tinhthần của con người mà nó mang giúp cho kinh tế-xã hội không ngừng phát triển.Theo thống kê 2009, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hộidân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôngiáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hộikhác (chiếm 0,5%) Theo thống kê này mỗi ngày nước ta có đến hơn 20 lễ hội chưa kểtới những lễ hội tổ chức một, hai ngày trong năm có những lễ hội kéo dài cả tuần, cảtháng thu hút đông đảo người dân cũng như du khách trong và ngoài nước tham gia.Trong giai đoạn hiện nay bên cạnh việc duy trì và phát triển các lễ hội truyền thống thìphát triển các lễ hội hiện đại là một việc không thể thiếu đối với một nước đang pháttriển như ở Việt Nam
Trong vòng 10 - 15 năm trở lại đây, lễ hội đương đại hay còn được gọi với rất nhiềutên khác: lễ hội hiện đại, lễ hội mới, lễ hội đại chúng, liên hoan, festival xuất hiệnngày càng nhiều ở Việt Nam Theo thống kê của Bộ VH-TT và DL, hiện cả nước cókhoảng 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài, chiếm 0,13% trong tổng số các loại lễ hội.Nhìn chung, các lễ hội du nhập thể hiện sự hội nhập mang tính tự nhiên và thú vị Khithế giới không có bức tường ngăn cách thì sự giao lưu, hòa nhập sẽ tạo nên sự phongphú cho đời sống văn hóa người Việt Các lễ hội được nhiều người biết đến như:Festival Huế, Festival Pháo hoa quốc tế Đà Nẵng, Valentine (Lễ tình nhân), Noel (Lễgiáng sinh), Halloween (Lễ hội hóa trang), Lễ hội Thời trang và Công nghệ, Lễ hộiÁnh sáng và các cuộc liên hoan văn hoá các dân tộc toàn quốc hoặc khu vực, do BộVăn hoá, Thể thao và Du lịch phối hợp với các địa phương tổ chức Một số lễ hội có
Trang 9mời cả đại diện một số nước tham gia Một số lễ hội hiện đại được du nhập từ phươngTây như là Lễ hội Thời trang và Công nghệ, Lễ hội Ánh sáng, được "khai sinh" năm
2017 Theo đại diện Sở Du lịch TP Hồ Chí Minh (đơn vị tổ chức) đây là 2 lễ hội hiệnđại du nhập từ phương Tây, được Việt hóa để phù hợp với điều kiện Việt Nam Lễ hộiThời trang và Công nghệ được tổ chức lần đầu từ ngày 20 đến 22-10-2017 Còn Lễhội Ánh sáng diễn ra vào đêm cuối cùng của năm, ngày 31-12-2017 Đêm đó, có tới50.000 người đổ ra đường tham dự, trầm trồ trước sự ảo diệu của ánh sáng và nhữngmàn biểu diễn nghệ thuật
Tần suất của loại hình lễ hội này diễn ra quanh năm, ở khắp các vùng miền của Tổquốc; phong phú, đa dạng cả về tên gọi, số lượng, quy mô, tầm vóc, phạm vi, nội dung
và hình thức thể hiện, ngay một lúc khó có thể thống kê đầy đủ và đánh giá một cáchthực sự toàn diện, chính xác tác động và hiệu quả kinh tế - xã hội của lễ hội đương đạinói chung và của từng lễ hội cụ thể nói riêng Sự ra đời của lễ hội đương đại là nhucầu tất yếu khách quan, là sự cần thiết của một đất nước đang chuyển mình mạnh mẽtrong thời kỳ hội nhập và phát triển, là sự sáng tạo nhằm đáp ứng các nhiệm vụ chínhtrị, kinh tế, văn hoá, là cơ hội để quảng bá hình ảnh đất nước, con người, tiềm năng,thế mạnh của địa phương và đất nước với bạn bè quốc tế Lễ hội đương đại cũng gópphần làm giàu thêm kho tàng đồ sộ hơn 8.000 lễ hội các loại hàng năm của cả nước
Bà Nà là một vùng núi cao thuộc về dãy núi Trường Sơn của thành phố Đà Nẵng.Theo số liệu từ công ty, trung bình mỗi ngày có 5.000 lượt khách đến Bà Nà Hills.Vào mùa cao điểm và lễ đón từ 18.000 – 20.000 lượt khách Khách du lịch đến với Bà
nà hills chủ yếu là khách Hàn Quốc, Trung Quốc và khách nội địa, gần đây có rấtnhiều du khách phương Tây và khách Thái Lan đến đây vì sự nổi tiếng của cây cầuVàng Du khách đến đây không chỉ để được trải nghiệm tuyến cáp treo dài gần6000m, chiêm ngưỡng cây Cầu Vàng được nhiều tờ báo nổi tiếng trên thế giới nói đến
mà một đặc điểm nổi bật nữa của Bà Nà hills thu hút nhiều khách du lịch đó là khôngkhí lễ hội Bà Nà thay đổi từng ngày như mùa lễ hội của nó, lễ hội thay đổi theo từngmùa trong năm như lễ hội Hoa được tổ chức khoảng từ tháng 02 đến tháng 03 hàngnăm, lễ hội bia B’estival thời gian tổ chức là vào tháng 05 đến tháng 09 hàng năm, lễ
Trang 10hội Halloween thời gian tổ chức là khoảng từ tháng 9 đến tháng 10 hàng năm, lễ hộiMùa Đông, thời gian tổ chức từ tháng 11 đến tháng 12 hàng năm
Được xem như là “xứ sở ngàn hoa” hành trình quy hoạch cảnh quan từ năm 2012 vớiviệc nhập mới các giống hoa từng được người Pháp trồng ở Đà Lạt như păng- xê,viola, forget me not, tường vi, phong lữ nhưng phải đến 2015, công cuộc “khoác áomới” cho Bà Nà Hills mới thực sự được làm ráo riết Từ chỗ có vỏn vẹn gần 10 giốnghoa bản địa, đến nay, Bà Nà đã có hàng trăm loài khác nhau đua nở trên đỉnh cao gần1.500 m Hệ thống vườn ươm rộng cả hecta được bố trí làm nơi thử nghiệm các giốngmới Với lợi thế về khí hậu những loài hoa ở đây phát triển rất tốt, không chỉ đơnthuần là trồng hoa ở khu du lịch mà Bà Nà hills còn tổ chức các mùa Lễ Hội Hoa hằngnăm trong khoảng từ tháng 2 đến tháng 3 Lễ hội Hoa thường được tổ chức ở đầu nămnên rất thu hút khách du lịch đến đây tham quan và mang lại những phản hồi tích cực
về lễ hội khi kết thúc chuyến du lịch của mình
Ngày 15/5/2014, tại Khu du lịch Bà Nà Hills vừa chính thức khai mạc Lễ hội hoa lầnthứ nhất với quy mô lớn tại vườn hoa Le Jardin D’Amour Lễ hội kéo dài trong batháng (từ 15/5 – 15/8/2014) Vườn hoa Le Jardin D’Amour (Vườn hoa Tình yêu)
được thiết kế như một thung lũng hoa đa dạng, phân chia thành các khu: vườn Bí ẩn, vườn Uyên Ương, vườn Suy Tưởng, vườn Thần Thoại, vườn Thiêng, vườn Địa Đàng, nhà Thư Giãn, nhà Tĩnh Tâm, vườn Nho, vườn Ký Ức, quảng trường Ước hẹn… Mỗi
khu vườn đều mang một sắc thái, cách trình bày chủ đề khác nhau
Lợi thế về thời tiết thuận tiện một ngày bốn mùa, khí hậu mát mẻ được xem như
“Đà Lạt giữa thành phố Đà Nẵng” Nên việc phát triển du lịch lễ hội ở đây là rất cầnthiết và việc đánh giá của du khách về phát triển bền vững du lịch lễ hội Hoa là mộtviệc làm quan trọng để duy trì và phát triển vẻ đẹp sẵn có của những loài hoa ở Bà
Nà và giới thiệu nó đến bạn bè quốc tế
Bên cạnh các vấn đề trên, công tác đánh giá và nhìn nhận các vấn đề thiếu bền vữngtrong các mô hình du lịch tại Việt Nam vẫn còn hạn chế, phương pháp đánh giá chưa
có cơ sở chặt chẽ, và hiển nhiên các giải pháp được đề xuất để nâng cao tính bền vữngcho các điểm du lịch vẫn chưa cụ thể Chính vì các lý do trên, tác giả đã lựa chọn thực
Trang 11hiện đề tài “Đánh giá của du khách về phát triển bền vững du lịch lễ hội Hoa tại Bà
Nà hills-Đà Nẵng” nhằm tìm kiếm và áp dụng một phương pháp đánh giá bài bản dựa
trên cơ sở định lượng để phát hiện các khía cạnh thiếu bền vững, qua đó đề xuất cácbiện pháp cải thiện cần thiết Đồng thời, đây cũng là căn cứ để rút ra bài học cho các
mô hình phát triển bền vững du lịch lễ hội khác đối với mục tiêu phát triển một cách
an toàn và ổn định trong tương lai
II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đánh giá của du khách về phát triển bền vững dulịch lễ hội Hoa tại Bà Nà hills Từ đó đề xuất một số phương án để phát triển bềnvững du lịch lễ hội này tại khu du lịch cáp treo Bà Nà
Trang 12 Không gian: Tại khu du lịch cáp treo Bà Nà hills.
Thời gian: Đề tài thu thập số liệu sơ cấp từ giữa tháng 2-2019 đến tháng 3năm 2019 Những số liệu thứ cấp được thu thập từ 2016-2018
4 Phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập số liệu
- Quy mô mẫu: Nhóm điều tra mẫu
b Phương pháp phân tích và xử lý sô liệu
Đề tài sử dụng phương pháp phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS để phântích và xử lý số liệu bao gồm:
- Sử dụng thang đo likert (1-5)
- Thống kê mô tả:
Tần suất (Frequencies)
Phần trăm (Percent)
Giá trị trung bình (Mean)
- Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ thống Crobach Alpha
Ý nghĩa của từng giá trị trung bình đối với thang đo khoảng (Interval Scale) Giá trị
1.00-1.80: Hoàn toàn không đồng ý
Trang 13Hệ số tải nhân tố (Factor loading ) > 0.5, 0.5 ≤ KMO ≤ 1: Hệ số KMO Olkin) là chỉ số được dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố Trị sốKMO lớn có ý nghĩa phân tích nhân tố là thích hợp Kiểm định Bartlett có ý nghĩathống kê (Sig < 0.05): Đây là một đại lượng thống kê dùng để xem xét giả thuyết cácbiến không có tương quan trong tổng thể Nếu kiểm định này có ý nghĩa thống kê(Sig < 0.05) thì các biến quan sát có mối tương quan với nhau trong tổng thể.Phần trăm phương sai toàn bộ (Percentage of variance) > 50%: Thể hiện phần trămbiến thiên của các biến quan sát Nghĩa là xem biến thiên là 100% thì giá trị này chobiết phân tích nhân tố giải thích được bao nhiêu %.
(Kaiser-Meyer-5 Kết cấu của đề tài
Nội dung đề tài nghiên cứu được trình bày theo kết cấu gồm 3 chương, ngoài mục lục,lời cảm ơn, lời cam đoan, danh mục hình vẽ, danh mục bảng, danh mục biểu đồ,chương mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục:
Chương 1: Tổng quan lý luận về phát triển bền vững du lịch lễ hội
Chương 2: Đánh giá của du khách về lễ hội Hoa tại Bà Nà hills
Chương 3: Kết luận, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu trong tương lai
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG DU LỊCH
1.1.2 Đặc điểm của lễ hội:
+ Tính Thiêng: Muốn hình thành một lễ hội bao giờ cũng phải tìm ra một tính
“thiêng” nào đó Đó là người anh hùng đánh giặc bị thương, ngã xuống mảnh đất ấy,
Trang 14lập tức được mối đùn lên thành mộ Đó là nơi một người anh hùng bỗng dưng hiểnthánh, bay về trời Cũng có khi đó chỉ là một bờ sông, nơi có một xác người chếtđuối, đang trôi bỗng nhiên dừng lại, không trôi nữa; dân vớt lên, chôn cất, thờphụng Cũng có khi lễ hội chỉ hình thành để tưởng nhớ đến ngày sinh, ngày mất củamột người có công với làng nước ở lĩnh vực này hay lĩnh vực khác (có người chữabệnh, có người dạy nghề, có người đào mương, có người trị thủy, có người đánhgiặc ) Song, những người đó bao giờ cũng được "thiêng hóa" và đã trở thành "Thầnthánh" trong tâm trí của người dân.
Nhân dân tin tưởng những người đó đã trở thành thần thánh không chỉ có thể phụ hộcho họ trong những mặt mà sinh thời người đó đã làm như: chữa bệnh, làm nghề, đánhgiặc…mà còn làm cho họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống
Chính tiếng “Thiêng” đã là chỗ dựa tinh thần cho người dân những lúc khó khăn vàthêm hy vọng vào cuộc sống và tương lai
+ Tính Cộng Đồng: lễ hội chỉ được sinh ra hình thành và phát triển khi nó trở thành nhucầu tự nguyện của một cộng đồng Cộng đồng lớn thì phạm vi của lễ hội cũng lớn Bởithế mới có lễ hội của một họ, một làng, một huyện, một vùng hoặc cả nước
+ Tính Địa Phương: lễ hội được sinh ra và tồn tại đều gắn với một vùng đất nhất định.Bởi thế lễ hội ở vùng nào mang sắc thái lễ hội của vùng đó.Tính đại phương của lễ hộichính là điều chứng tỏ lễ hội gắn bó rất chặt chẽ với đời sống của nhân dân, nó đáp ứngnhững nhu cầu tinh thần và văn hóa cảu nhân dân, không chỉ ở nội dung lễ hội mà còn
ở phong cách của lễ hội nữa Phong cách đó thể hiện ở lời văn tế, ở trang phục, kiểulọng, ở lễ vật dâng cúng…
+Tính Cung Đình: Đa phần các nhân vật được suy tôn thành Thần linh trong các lễhội của người Việt, là người đã giữ các chức vị trong triều đình ngày xưa Bởi thếnhững nghi lễ diễn ra trong lễ hội từ tế lễ, dâng hương đến rước kiệu… đều mô phỏngsinh hoạt cug đình Sự mô phỏng đó thể hiện ở cách bày trí, trang phục, động tác đilại điều này làm cho lễ hội trở nên trang trọng và lộng lẫy hơn Mặt khác lễ nghi cungđình cũng làm cho người tham gia cảm tháy được nâng lên một vị thế khác với thườngngày, đáp ứng tâm lý, những khát khao nguyện vọng của người dân
+ Tính Đương Đại: Tuy mang nặng sắc thái cổ truyền, lễ hội, trong quá trình vận độngcủa lịch sử, cũng dần tiếp thu những yếu tố đương đại Những trò chơi mới những cách
Trang 15bày trí mới, những phương tiện kỹ thuật mới như radio, video, tăng âm… đã tham gaivào lễ hội giúp cho việc tổ chức lễ hội diễn ra dễ dàng hơn, đáp ứng nhu cầu mới Tuy vậy nhưng sự tiếp thu này đều phải dần dần qua sự sàng lọc tự nguyện của nhândân, được cộng đồng chấp nhận, không thể là một sự lắp ghép tùy tiện, vô lý …
1.1.3 Phân loại lễ hội:
Căn cứ vào thời gian hình thành và phát triển của lễ hội.
+ Lễ hội truyền thống:
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thần của ngườidân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Những lễ hội ra đời trướcnăm 1945 thường được coi là lễ hội truyền thống Những lễ hội này diễn ra chủ yếudân cư ở các địa phương khác nhau Loại lễ hội này thường được tổ chức theo định
kì, lặp đi lặp lại theo thời gian âm lịch với các sinh hoạt văn hóa tương đối ổn định
Ví dụ như hội đền Hùng (Phú Thọ), hội chùa Hương (Hà Nội), hội Bà Chúa Xứ(An Giang)… Với số lượng đồ sộ và nội dung phong phú, lễ hội truyền thống baogồm:
Lễ hội dân gian: Đó là kho tàng di sản văn hóa của người Việt Nam, mang dấu ấncác giai đoạn phát triển của địa phương và dân tộc trong suốt tiến trình lịch sử Nóbao gồm các “lễ hội làng”, gắn với lao động sản xuất của tầng lớp cư dân địaphương khác nhau tạo nên những giá trị lớn lao trong kho tàng văn hóa quý báucủa dân tộc ta
Lễ hội cung đình: Gắn liền với văn hóa cung đình của các triều đại phong kiến màđỉnh cao là sự các lễ hội cung đình triều Nguyễn như lễ tế Nam Giao, tế Xã tắc, lễTruyền lô
+ Lễ hội hiện đại:
Là loại lễ hội mang tính thương mại cao, mang tính chính trị, hơi thở của thời đại
và sử dụng thành tựu khoa học kĩ thuật Lễ hội hiện đại ra đời từ sau cách mạngtháng Tám 1945, lấy thời gian tổ chức theo dương lịch, lễ hội hiện đại chủ yếu gắnvới: Các nhân vật và sự kiện lịch sử liên quan đến cách mạng và các hoạt động vănhóa thể thao – du lịch Các sự kiện lịch sử cách mạng, nhân vật lịch sử đã trở thành
Trang 16tâm điểm, cảm hứng sáng tạo lễ hội của nhân dân, ví dụ như: Lễ hội kỉ niệm 1000năm Thăng Long – Hà Nội, ngày Quốc khánh (2/9), ngày giải phóng miền Nam(30/4)…Rất nhiều lễ hội được hình thành, thu hút sự tham gia đông đảo của quầnchúng nhân dân dưới nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa, văn nghệ Bên cạnh đó,các hoạt động văn hóa thể thao – du lịch như các lễ hội du lịch, festival, hội chợcũng là những hình thức chính của lễ hội hiện đại Đây là những hoạt động mangnặng yếu tố kinh tế, phản ánh nhu cầu và xu thế phát triển của thời đại mới, thời đạicông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, ví dụ như: Lễ hội Hoa phượng đỏ HảiPhòng lần thứ 1- 2012, lần thứ 2 -2013, lễ hội hoa Đà Lạt, Carnaval Hạ Long…
- Căn cứ vào không gian tổ chức
Theo tác giả Dương Văn Sáu, căn cứ vào không gian, có thể chia lễ hội theo cáchình thức sau đây:
+ Lễ hội mang tính quốc tế:
Là những lễ hội được du nhập từ bên ngoài vào trong đời sống chính trị, vănhóa, xã hội của người Việt Nam, được cả người Việt Nam và thể giới tổ chứcnhư ngày Quốc tế lao động 1/5, ngày Quốc tế phụ nữ 8/3…Lễ hội mang tínhquốc tế thường được tổ chức vào các dịp kỉ niệm về các nhân vật, sự kiện lịch
sử, có liên quan
+ Lễ hội mang tính Quốc gia:
Là những lễ hội mà nhân vật, hoặc sự kiện được thờ cúng có liên quan ảnhhưởng sâu sắc, rộng lớn tới cả dân tộc và đất nước Những lễ hội đó thườngđược gọi là “quốc hội”, “quốc lễ”, “ quốc tự” như lễ hội đền Hùng (10/3 âmlịch), lễ hội chùa Hương…Hoặc các lễ hội hiện đại, phản ánh các sự kiện lịch
sử, có vai trò to lớn, tác động và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của lịch
sử dân tộc như các lễ hội chào mừng Quốc khánh mồng 2/9, lễ hội mừng ngàysinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5…
+ Lễ hội mang tính vùng miền: là những ngày lễ hội mà nhân vật hoặc sự kiệnđược thờ khá nổi tiếng Khi tổ chức lễ hội được sự tham gia, có mặt của đôngđảo nhân dân trong vùng ví dụ như: lễ hội Phủ Giầy 3/3, lễ hội đền Kiếp Bạc20/8 âm lịch…
Trang 17+ Lễ hội làng: là hình thức phổ biến rộng rãi, với số lượng nhiều, có nội dungphong phú, đa dạng và sinh động nhất Đây là lễ hội chủ đạo trong đời sống vănhóa của các tầng lớp dân cư, trở thành hạt nhân, nền tảng cho kho tàng lễ hội củadân tộc tồn tại, phát sinh, phát triển trong suốt tiến trình lịch sử.
Căn cứ vào mục đích thờ cúng
+ Lễ hội gắn liền với hoạt động sản xuất: Viêt Nam là một nước nông nghiệp,nên những lễ hội gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm số lượnglớn Văn hóa lúa nước có nhịp điệu mùa, tương ứng với công việc làm ăn lànhững ngày xuống đồng khẩn trương, những ngày mùa rộn rã hay các tháng
“nông nhàn” rỗi việc, khá thảnh thơi Bên cạnh đó là các lễ thức thờ cúng hồnlúa, cầu nước, tạ ơn chứa đựng những yếu tố về đời sống của cư dân nôngnghiệp mong sao mùa màng bội thu, người an vật thịnh
+ Lễ hội tôn vinh các danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc, các vị thànhhoàng và các chư vị thánh phật, các vị thiên thần và nhân thần đã có côngkhai minh, khai mang đến chùa giúp dân diệt ác, trừ tà, bảo vệ cái thiện
Có thể thấy, nhiều trong các lễ hội tôn vinh các anh hùng dân tộc này còn đồngnhất với hệ thống lễ hội có liên quan tới tín ngưỡng thờ thành hoàng làng.+ Lễ hội liên quan tới tín ngưỡng, tôn giáo:
Lễ hội tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên (thờ tổ nghề, tổ nước), ở phương diện quốcgia, lễ hội đền Hùng được coi như lễ hội liên quan đến tín ngưỡng thờ cúng tổtiên lớn nhất của người Việt, tổ chức vào mồng 10 tháng 3 âm lịch hàng năm,tín ngưỡng thờ thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu, tín ngưỡng thờ các thần
tự nhiên như Sơn thần, Thổ thần, Thủy thần, mộc Thần…, tín ngưỡng phồnthực
Lễ hội của tín ngưỡng phồn thực: là tín ngưỡng tôn thờ những hiện vật mangbiểu tượng về sinh thực khí âm dương và những nghi lễ biểu đạt hành động tínhgiao để cầu mong sự sinh sôi nảy nở, no đủ và phát triển Đây là một lễ hội đặcsắc, thu hút sự quan tâm chú ý của đông đảo tầng lớp nhân dân trong xã hội
Lễ hội Kitô giáo: thường là những hình thức nghi lễ tôn giáo mang tính toàncầu và được thực hiện nghiêm túc, thống nhất…Những nghi lễ tôn giáo đố
Trang 18thường chỉ là một trong những biểu hiện của sinh hoạt tôn giáo ở bất kì mộtgiáo xứ nào, ví dụ như lễ phục sinh, lễ chúa nhật, lễ chúa hiển linh… Lễ hộiPhật giáo: Phật giáo là tôn giáo du nhập sớm nhất vào Việt Nam ta và có ảnhhưởng sâu sắc nhất Trong năm có khá nhiều lễ hội liên quan đến những mốcthời gian gắn với Đức Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni như lễ Đản Sinh (15/4 âmlịch), lễ Vu Lan (15/7 âm lịch)…
1.1.4 Đặc trưng của lễ hội:
Lễ hội ở nước ta thường được tổ chức vào mùa xuân, khi đất trời giao hòa, thiênnhiên tươi tốt, lòng người hân hoan Lễ hội là chứng tỏ tính cố kết của cộng đồng, làminh chứng cho nét đẹp văn hoá ngàn đời của ông cha ta Theo thống kê của Bộ VH,TT&DL thì nước ta hiện có hơn 8.000 lễ hội trong năm Mỗi lễ hội mang một néttiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng hướng tới một một đối tượng linhthiêng cần được suy tôn như những vị anh hùng chống ngoại xâm, những người cócông dạy dỗ truyền nghề, chống thiên tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế Với tư tưởng uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôiđộng bằng những sự tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm chothế hệ trẻ hôm nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quêhương, đất nước của mình Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh,vùng đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân dân.Phần lớn các lễ hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người cócông với nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hộithường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: thi bắn nỏ, đấu vật(hội Cổ Loa) đấu vật, đấu võ, chạy thi (hội hoa Vị Khê, Nam Định), thi bắn nỏ, némcòn (ở vùng đồng bào dân tộc phía Bắc) v.v Có lễ hội lại gọi theo những trò chơidân gian như hội rước voi, rước chúa gái, hội đánh phết, ném còn, hội chọi gà, chọitrâu, hội đâm đuống Sự phong phú của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóadân tộc nhưng cũng vừa là một trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du kháchtrong và ngoài nước
Quy trình của lễ hội
Thông thường địa phương nào mở hội cũng đều tiến hành theo ba bước sau:
Trang 19Chuẩn bị: Chuẩn bị lễ hội được chia thành hai giai đoạn Giai đoạn chuẩn bị cho mùa
lễ hội sau và khi ngày hội đã đến gần Chuẩn bị cho mùa lễ hội sau được tiến hànhngay sau khi mùa hội trước kết thúc, mọi khâu chuẩn bị đã có sự phân công, cắt cửmọi việc để đón mùa lễ hội năm sau Khi ngày hội sắp diễn ra, công việc kiểm tra lại
đồ tế lễ, trang phục, quét dọn, mở cửa di tích, rước nước làm lễ tắm tượng (mộc dục)cùng các đồ tế tự, thay trang phục mũ cho thần
Vào hội: nhiều hoạt động diễn ra trong các ngày lễ hội, đó là các nghi thức tế lễ, lễ
rước, dâng hương, tổ chức các trò vui Đây là toàn bộ những hoạt động chính có ýnghĩa nhất của một lễ hội Lễ hội thu hút nhiều đối tượng hay ít khách đến với lễ hội,diễn ra trong nhiều ngày hay một ngày hoàn toàn chi phối bởi các hoạt động trongnhững ngày này
Kết thúc hội (xuất tịch, giã đám, giã hội): Ban tổ chức làm lễ tạ, đóng cửa di tích.
Thời gian mở hội
Lễ hội ở Việt Nam được tổ chức nhiều nhất vào ba tháng mùa xuân và mùa thu Haikhoảng thời gian trên là lúc người dân nhàn rỗi Mùa xuân tiết trời ấm áp, mùa thu tiếttrời mát mẻ, đều thuận lợi cho việc tổ chức lễ hội Hai yếu tố cơ bản tạo nên sự thoảimái, vui vẻ cho người đi dự hội
1.2 Du lịch lễ hội:
1.2.1 Khái niệm: Du lịch lễ hội thuộc loại hình du lịch du lịch văn hoá Du lịch lễ hội
có thể hiểu là hoạt động mà mọi người muốn thõa mãn nhu cầu tìm hiểu truyềnthống văn hóa, phong tục tập quán, lịch sử, tín ngưỡng dân gian…Thông quaviệc tham dự, chứng kiến kiến các hoạt động của lễ hội
- Sở dĩ chúng ta đặt ra vấn đề này là do mối quan hệ có tính tất yếu kháchquan của lễ hội và du lịch Lễ hội là một hoạt động văn hoá có tính tất yếu và thiếtyếu trong đời sống văn hoá xã hội của mỗi một quốc gia, dân tộc Đây là một sảnphẩm của lịch sử, nó tồn tại và vận hành cùng lịch sử Trong khi đó du lịch ra đờimuộn hơn nhưng lại phát triển với tốc độ nhanh chóng và là một nhu cầu khôngthể
thiếu của con người trong xã hội hiện đại Tự thân hai hoạt động này tạo ra nhauvà
tìm đến nhau như là những thành tố của một xã hội phát triển, là một xu hướng tất
Trang 20yếu khách quan của xã hội loài người trong không gian, môi trường, điều kiện vàhoàn cảnh mới
1.2.2 Đặc điểm của du lịch lễ hội:
Khác với loại hình du lịch thiên nhiên, du lịch thể thao, du lịch giải trí…du lịch lễhội có các đặc điểm sau:
Du lịch lễ hội thường gắn với không gian, thời gian và địa điểm nhất định
Chẳng hạn lễ hội Đên Hùng chỉ diễn ra 1 lần vào dịp 10/3 âm lịch hàng năm lạitỉnh Phú Thọ, lễ hội Quan Thế Âm chỉ diễn ra một lần vào 2 ngày 18 và 19tháng 6 âm lịch hàng năm trên núi Tứ Tượng trong khuôn viên Trung tâm dulịch tâm linh Phật giáo Quan Thế Âm tại xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy,Thừa Thiên Huế…Do vậy, việc tổ chức các hoạt động lễ hội phải nắm chắcthời gian, địa điểm và các hoạt động văn hóa đặc trưng, các nội dung chính của
lễ hội để khai thác đúng hướng và hiệu quả Thời gian, không gian thiêng vàtính chất thiêng của lễ hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc thu hút khách dulịch Bởi vì nếu các yếu tố này được “thiêng hóa” khách du lịch sẽ tri giác đượccái “linh thiêng” của lễ hội, nó có sức mạnh tinh thần to lớn, là niềm tin thiêngliêng để lôi cuốn con người trở về với quê hương cội nguồn Đây chính là mộtđặc điểm riêng biệt của du lịch lễ hội, mà không loại hình du lịch nào có được
- Du lịch lễ hội mang tính mùa vụ
Do du lịch lễ hội luôn gắn với thời gian mở hội nên thường diễn ra theo mùa
vụ Các lễ hội ở Việt Nam được tổ chức chủ yếu vào mùa xuân, một số ít lễ hội
tổ chức vào mùa thu Do vậy, yếu tố mùa vụ của lễ hội sẽ chi phối lớn đến cácthiết chế phục vụ hoạt động du lịch lễ hội như hệ thống tài nguyên du lịch, quyhoạch tuyến du lịch, điểm du lịch, các hoạt động dịch vụ, các cơ sở lưu trú, cácchương trình du lịch … cũng phải tuân theo các yếu tố mùa vụ Do vậy, việcchuẩn bị các yếu tố phục vụ các hoạt động du lịch lễ hội phải có sự sắp xếp kháchu đáo và khoa học Nếu không có sự chuẩn bị trước (từ cơ sở vật chất, cácdịch vụ, công tác tổ chức lễ hội…) sẽ dẫn đến không đáp ứng nhu cầu du kháchhoặc xảy ra tình trạng quá tải do lượng du khách tăng đột biến so với nhữngngày thường
Trang 21- Du lịch lễ hội là một hoạt động văn hóa sâu sắc vừa mang ý nghĩa lịch sử vừa có giá trị nghệ thuật độc đáo.
Bản sắc của du lịch là văn hóa do vậy bản sắc văn hóa của từng vùng, từng địaphương, tộc người là một khía cạnh cần được khai thác, nghiên cứu trong pháttriển du lịch Sự phong phú và sâu sắc về văn hóa của hoạt động du lịch lễ hộithể hiện ngay trong nội dung, hình thức và cách tổ chức của lễ hội Bên cạnh
đó, lễ hội còn là sản phẩm của lịch sử, do đó nó phản ánh lịch sử bằng hìnhảnh, sự kiện mang tính nghệ thuật hóa, biểu tượng hóa Điểm đến du lịch vớinhững lễ hội càng đặc trưng bao nhiêu, càng khác lạ bao nhiêu về phong tục tậpquán, lịch sử, ngôn ngữ, tín ngưỡng và các giá trị cuộc sống… thì càng hấp dẫn
lễ hội truyền thống cũng cần bảo tồn các di tích đảm bảo tính nguyên bản củanó
1.2.3 Phân loại:
Lễ hội gồm 2 phần: phần nghi lễ và phần hội
Phần nghi lễ: Các lễ hội dù lớn hay nhỏ đều có phần nghi lễ với những nghi thứcnghiêm túc, trọng thể mở đầu ngày hội theo không gian và thời gian Phần nghi lễ
mở đầu ngày hội bao giờ cũng mang tính tưởng niệm lịch sử, hướng về một sự kiệnlịch sử trọng đại, một vị anh hùng dân tộc lỗi lạc có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
xã hội
Trang 22Nghi thức lễ tế nhằm bày tỏ lòng tôn kính với các bậc thánh hiền và thần linh, cầumong được thiên thời, địa lợi nhân hòa và sự phồn vinh hạnh phúc Nghi lễ tạo thànhnền móng vững chắc, tạo một yếu tố văn hóa thiêng liêng, một giá trị thẩm mỹ đốivới toàn thể cộng đồng người đi hội trước khi chuyển sang phần xem hội.
Hội làng người Việt ở đồng bằng sông Hồng là loại lễ hội truyền thống rất tiêu biểucho làng xã nông thôn Việt Nam và truyền thống của người Việt Nam Tại lễ hộinày, người ta thường diễn những sinh hoạt thường niên do nhu cầu tồn tại và pháttriển cộng đồng, mặt khác cũng là để cân bằng sinh thái và tâm lý của người laođộng nông nghiệp
Lễ hội cũng có rất nhiều quy mô khác nhau, có hội làng, hội vùng và hội cả nước,nhưng đều phải có một làng làm gốc, là nơi tổ chức Bởi làng là tổ chức thuần Việt
và là cơ cấu gốc của xã hội cổ truyền Bản sắc dân tộc ở từng làng quy tụ thành bảnsắc dân tộc chung của Việt Nam
1.3 Phát triển bền vững du lịch lễ hội
Đầu 1980, xuất hiện thuật ngữ “các loại hình du lịch thay thế” (alternative tourism)(alternative tourism), để chỉ các loại hình du lịch có quan tâm đến môi trường baogồm “du lịch xanh”, “du lịch mềm”, “du lịch có trách nhiệm” Từ năm 1975 đến năm
1980, Krippendorf và Jungk là những nhà khoa học đầu tiên cảnh báo về những suythoái sinh thái do hoạt động du lịch gây ra Họ đã đưa ra khái niệm “du lịch rắn” (hardtourism) để chỉ loại hình du lịch ồ ạt và “du lịch mềm” (soft tourism) để chỉ một chiếnlược mới tôn trọng môi trường
Trang 23Năm 1996, xuất hiện một khái niệm mới là “du lịch bền vững” (sustainabletourism), ủng hộ và chủ trương phát triển du lịch mà ít ảnh hưởng xấu tới môi trườngtrên cơ sở cải tiến và nâng cấp từ khái niệm “du lịch mềm” của Krippedorf và Jungk.Theo “Luật Du lịch Việt Nam (2006): “Du lịch bền vững là sự phát triển du lịch đápứng được các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về
du lịch của tương lai”
Từ những năm 1990, các nhà khoa học trên thế giới đã đề cập nhiều đến việc pháttriển du lịch với mục đích đơn thuần về kinh tế đang đe dọa hủy hoại môi trườngsinh thái, đến nền văn hóa bản địa Hậu quả của các tác động ấy sẽ lại ảnh hưởngđến bản thân sự phát triển lâu dài của ngành du lịch Nhưng định nghĩa phát triển
du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trungvào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế,mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia Phát triển du lịch bềnvững được coi là một nhánh của Phát triển bền vững, có nhiều định nghĩa đã đượcđưa ra và nhóm nghiên cứu đưa ra một số khái niệm đã đưa ra:
Theo Hội nghị ủy ban Thế giới về Phát triển và Môi trường (hay Ủy banBrundtland) xác định năm 1987: “Hoạt động phát triển du lịch bền vững là hoạt độngphát triển ở một khu vực cụ thể sao cho nội dung, hình thức và quy mô là thích hợp vàbền vững theo thời gian, không làm suy thoái môi trường, làm ảnh hưởng đến khảnăng hỗ trợ.”
Phát triển du lịch bền vững (Sustainable Tourism) được Tổ chức Du lịch thế giới(United National World Tourist Organization, viết tắt là UNWTO) định nghĩa nhưsau: “Sự phát triển bền vững của ngành du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách
và của địa phương du lịch, đồng thời bảo vệ và thúc đẩy cơ hội phát triển cho tươnglai Sự quản lý của ngành phải cân bằng và đáp ứng được nhu cầu về kinh tế, xã hội,thẩm mỹ mà vẫn duy trì được các giá trị của sinh thái, văn hóa và môi sinh” Hoặc:
“Du lịch bền vững là các hình thức du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch,ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứngnhu cầu của các thế hệ mai sau Du lịch khả thi về kinh tế nhưng không phá hủy tài
Trang 24nguyên mà tương lai của du lịch phụ thuộc vào đó, đặc biệt là môi trường tự nhiên vàkết cấu xã hội của cộng đồng địa phương”
Tổ chức du lịch thế giới (WTO, 2002) định nghĩa “phát triển bền vững trong du lịch
là sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổnhại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai Sự phát triển nàyquan tâm đến lợi ích kinh tế, xã hội mang tính lâu dài trong khi vẫn đảm bảo sự đónggóp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa
để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và gópphần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương
Cho đến nay đa số ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực liên
quan khác ở Việt Nam đều cho rằng: “Phát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch, có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo
sự đóng góp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn về văn hóa để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai; cho công tác bảo vệ môi trường và góp phần nâng cao mức sống của cộng đồng địa phương” Đây cũng là
khái niệm mà nhóm tác giả sử dụng để làm căn cứ thực hiện nghiên cứu
1.4 Vai trò và ý nghĩa của phát triển du lịch bền vững
Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước Dulich có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục TiêuPhát triển Thiên niên kỷ (Millennium Development Goals) mà Liên Hợp Quốc đã đề
ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bềnvững môi trường và liên doanh quốc tế để phát triển
Chính vì vậy mà du lịch bền vững (sustainable tourism) là một phần quan trọngcủa phát triển bền vững (sustainable development) của Liên Hợp Quốc và của Địnhhướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ
Kế hoạch và Đầu tư)
Phát triển du lịch bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các hộinghị và diễn đàn lớn nhỏ trên toàn thế giới Mục đích chính của phát triển bền vững là
Trang 25để 3 trụ cột của du lịch bền vững - Môi trường, Văn hóa xã hội và Kinh tế - được pháttriển một cách đồng đều và hài hòa.
Những lí do đi sâu vào chi tiết để giải thích tại sao lại cần phát triển du lịch bềnvững thì có nhiều, nhưng có thể thấy rất rõ ở 3 yếu tố từ định nghĩa trên:
Thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững giúp bảo vệ môi trường sống Vì bảo vệ
môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sốngtrong môi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người đượchưởng lợi từ đó: Không bị nhiễm độc nguồn nước, không khí và đất Đảm bảo sự hàihòa về môi trường sinh sống cho các loài động thực vật trong vùng cũng là giúp chomôi trường sống của con người được đảm bảo
Thứ hai: Phát triển du lịch bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc
khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đờisống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch và sản phẩmđặc trưng của vùng miền, của vùng Phát triển du lịch bền vững cũng giúp người làm
du lịch, cơ quan địa phương, chính quyền và người tổ chức du lịch được hưởng lợi, vàngười dân địa phương có công ăn việc làm
Thứ ba: Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc
giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân trongvùng Ở một cái nhìn sâu và xa hơn, du lịch bền vững giúp khai thác nguồn tài nguyênmột cách có ý thức và khoa học, đảm bào cho các nguồn tài nguyên này sinh sôi vàphát triển để thế hệ sau, thế hệ tương lai có thể được tiếp nối và tận dụng
Với ba lí do được đề cập đến ở bên trên, ta có thể thấy rõ vai trò và tầm quantrọng của phát triển du lịch bền vững trong chính sách phát triển bền vững ở ViệtNam cũng như trên thế giới Phát triển du lịch bền vững để có thể đạt được 3 yếu tố
đó đòi hỏi rất nhiều công sức và sự làm việc nghiêm chỉnh trong lúc thực hiện, đặcbiệt đối với một nước nền kinh tế còn nghèo và còn nhiều phụ thuộc như ViệtNam, cùng với việc phát triển dân số, hệ thống luật lệ chồng chéo, và hệ thốnghành chánh còn nhiều yếu kém
Các tiêu chuẩn đánh giá du lịch bền vững toàn cầu
Trang 26Tiêu chuẩn du lịch bền vững toàn cầu hướng tới 4 mục tiêu chính: hoạch địnhphát triển bền vững và hiệu quả, nâng cao lợi ích kinh tế xã hội cho cộng đồng địaphương, gìn giữ di sản văn hóa và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực đối với môitrường Những tiêu chuẩn này là một phần trong các nỗ lực của cộng đồng kinh doanh
du lịch trước những thách thức toàn cầu hướng đến mục tiêu phát triển thiên niên kỷ.Xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường – bao gồm cả vấn đề biến đổi khí hậu – lànhững vấn đề chính được đề cập trong bộ tiêu chuẩn này
Bắt đầu từ năm 2007, Hiệp hội Tiêu chuẩn toàn cầu về du lịch bền vững – mộtliên minh với 27 tổ chức thành viên, đã nhóm họp các nhà lãnh đạo để cùng nhau pháttriển bộ tiêu chuẩn du lịch bền vững Trong vòng 15 tháng Hiệp hội này đã trao đổi,thảo luận với các chuyên gia về tính bền vững của ngành du lịch và phân tích 4.500tiêu chí của hơn 60 chứng chỉ hiện hành với sự tham gia của hơn 80.000 người baogồm những nhà bảo tồn, các nhà lãnh đạo ngành, các cơ quan chức năng của chínhphủ và Liên hợp quốc
Theo các chuyên gia, những tiêu chuẩn này chỉ là bước khởi đầu trong tiếntrình hướng đến một tiêu chuẩn chung áp dụng trong tất cả các hình thức hoạt độngcủa du lịch Bộ tiêu chuẩn này chỉ đưa ra những việc nên làm, song không chỉ ra cáchthức thực hiện hay xác định tính khả thi của mục tiêu Vì vậy, vai trò bổ sung của việcquản lý giám sát cùng với công cụ giáo dục truyền thông và các cách tiếp cận sẽ lànhững yếu tố không thể thiếu để góp phần hoàn thiện
(1) Quản lý hiệu quả và bền vững
- Các công ty du lịch cần thực thi một hệ thống quản lý bền vững, phù hợp với
quy mô và thực lực của mình để bao quát các vấn đề về môi trường, văn hóa xã hội,chất lượng, sức khỏe và an toàn
- Tuân thủ các điều luật và quy định có liên quan trong khu vực và quốc tế.
- Tất cả nhân viên được đào tạo định kỳ về vai trò của họ trong quản lý môi
trường, văn hóa xã hội, sức khỏe và các thói quen an toàn
- Cần đánh giá sự hài lòng của khách hàng để có các biện pháp điều chỉnh
phù hợp
Trang 27- Quảng cáo đúng sự thật và không hứa hẹn những điều không có trong chương
trình kinh doanh
- Thiết kế và thi công cơ sở hạ tầng: (i) Chấp hành những quy định về bảo tồn
di sản tại địa phương; (ii) Tôn trọng những di sản thiên nhiên và văn hóa địa phươngtrong công tác thiết kế, đánh giá tác động, quyền sở hữu đất đai và lợi nhuận thu được;(iii) Áp dụng các phương pháp xây dựng bền vững thích hợp tại địa phương; (iv) Đápứng yêu cầu của các cá nhân có nhu cầu đặc biệt
- Cung cấp thông tin cho khách hàng về môi trường xung quanh, văn hóa địa
phương và di sản văn hóa, đồng thời giải thích cho khách hàng về những hành vithích hợp khi tham quan các khu vực tự nhiên, các nền văn hóa và các địa điểm disản văn hóa
(2) Gia tăng lợi ích kinh tế xã hội và giảm thiểu tác động tiêu cực đến cộng đồng địa phương
- Công ty du lịch tích cực ủng hộ các sáng kiến phát triển cơ sở hạ tầng xã hội
và phát triển cộng đồng như xây dựng công trình giáo dục, y tế và hệ thống thoátnước
- Sử dụng lao động địa phương, có thể tổ chức đào tạo nếu cần thiết, kể cả đối
với vị trí quản lý
- Các dịch vụ và hàng hóa địa phương nên được doanh nghiệp bày bán rộng rãi
ở bất kỳ nơi nào có thể
- Công ty du lịch cung cấp phương tiện cho các doanh nghiệp nhỏ tại địa
phương để phát triển và kinh doanh các sản phẩm bền vững đựa trên đặc thù về thiênnhiên, lịch sử và văn hóa địa phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm thủcông, nghệ thuật biểu diễn và các mặt hàng nông sản)
- Thiết lập một hệ thống quy định cho các hoạt động tại cộng đồng bản địa hay
địa phương, với sự đồng ý và hợp tác của cộng đồng
- Công ty phải thi hành chính sách chống bóc lột thương mại, đặc biệt đối với
trẻ em và thanh thiếu niên, bao gồm cả hành vi bóc lột tình dục
- Đối xử công bằng trong việc tiếp nhận các lao động phụ nữ và người dân tộc
thiểu số, kể cả ở vị trí quản lý, đồng thời hạn chế lao động trẻ em
Trang 28- Tuân thủ luật pháp quốc tế và quốc gia về bảo vệ nhân công và chi trả lương
đầy đủ
- Các hoạt động của công ty không được gây nguy hiểm cho nguồn dự trữ cơ
bản như nước, năng lượng hay hệ thống thoát nước của cộng đồng lân cận
(3) Gia tăng lợi ích đối với các di sản văn hóa và giảm nhẹ các tác động tiêu cực
- Tuân thủ các hướng dẫn và quy định về hành vi ứng xử khi tham quan các
điểm văn hóa hay lịch sử, nhằm giảm nhẹ các tác động từ du khách
- Đồ tạo tác khảo cổ hay lịch sử không được phép mua bán hay trưng bày, trừ
khi được pháp luật cho phép
- Có trách nhiệm đóng góp cho công tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, khảo
cổ và các tài sản có ý nghĩa quan trọng về tinh thần, tuyệt đối không cản trở việc tiếpxúc của cư dân địa phương
- Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương khi sử dụng nghệ
thuật, kiến trúc hay các di sản văn hóa của địa phương trong hoạt động kinh doanh,thiết kế, trang trí, ẩm thực
(4) Gia tăng lợi ích môi trường và giảm nhẹ tác động tiêu cực
- Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên: (i) Ưu tiên buôn bán những sản phẩm thân
thiện môi trường như vật liệu xây dựng, thức ăn và hàng tiêu dùng; (ii) Cân nhắc khibuôn bán các sản phẩm tiêu dùng khó phân hủy và cần tìm cách hạn chế sử dụng cácsản phẩm này; (iii) Tính toán mức tiêu thụ năng lượng cũng như các tài nguyên khác,cần cân nhắc giảm thiểu mức tiêu dùng cũng như khuyến khích sử dụng năng lượngtái sinh; (iv) Kiểm soát mức tiêu dùng nước sạch, nguồn nước và có biện pháp hạn chếlượng nước sử dụng
- Giảm ô nhiễm: (i) Kiểm soát lượng khí thải nhà kính và thay mới các dây
chuyền sản xuất nhằm hạn chế hiệu ứng nhà kính, hướng đến cân bằng khí hậu; (ii)Nước thải, bao gồm nước thải sinh hoạt phải được xử lý triệt để và tái sử dụng; (iii)Thực thi kế hoạch xử lý chất thải rắn với mục tiêu hạn chế chất thải không thể tái sửdụng hay tái chế; (iv) Hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu, sơn,thuốc tẩy, thay thế bằng các sản phẩm không độc hại, quản lý chặt chẽ các hóa chấtđược sử dụng; (v) Áp dụng các quy định giảm thiểu ô nhiễm tiếng ồn, ánh sáng, nước
Trang 29thải, chất gây xói mòn, hợp chất gây suy giảm tầng ozon và chất làm ô nhiễm khôngkhí, đất.
- Bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái và cảnh quan tự nhiên: (i) Các loài sinh
vật hoang dã khai thác từ tự nhiên được tiêu dùng, trưng bày hay mua bán phải tuântheo quy định nhằm đảm bảo việc sử dụng là bền vững; (ii) Không được bắt giữ cácloài sinh vật hoang dã, trừ khi đó là hoạt động điều hòa sinh thái Tất cả những sinhvật sống chỉ được bắt giữ bởi những tổ chức có đủ thẩm quyền và điều kiện nuôidưỡng, chăm sóc chúng; (iii) Việc kinh doanh có sử dụng các loài sinh vật bản địa chotrang trí và tôn tạo cảnh quan cần áp dụng các biện pháp ngăn ngừa các loài sinh vậtngoại lai xâm lấn; (iv) Đóng góp ủng hộ cho hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, baogồm việc hỗ trợ cho các khu bảo tồn thiên nhiên và các khu vực có giá trị đa dạng sinhhọc cao; (v) Các hoạt động tương tác với môi trường không được có bất kỳ tác hại nàođối với khả năng tồn tại của quần xã sinh vật, cần hạn chế, phục hồi mọi tác động tiêucực lên hệ sinh thái cũng như có một khoản phí đóng góp cho hoạt động bảo tồn
1.5 Các nghiên cứu về phát triển bền vững du lịch lễ hội
Nhìn chung các nghiên cứu trước đây chủ yếu là nghiên cứu về phát triển du lịch
nói chung nhưng không đi kèm với yếu tố bền vững Nhưng những năm trở lại đâycụm từ “bền vững” được nhắc đến khá nhiều trong tất cả các lĩnh vực đặc biệt là dulịch Là lĩnh vực duy trì và phát triển được nhờ vào yếu tố tự nhiên những cái hữu hạn
Kể từ khi ra đời, thuật ngữ phát triển bền vững đã tạo nên một làn sóng mới trong
giới khoa học, áp lực kinh tế khiến việc bất chấp tăng trưởng ồ ạt đã khiến những biểuhiện thiếu bền vững xuất hiện ngay cả trong ngành công nghiệp không khói (du lịch).Các nghiên cứu về đánh giá phát triển du lịch bền vững đã nhận được sự quan tâmrộng rãi của các nhà khoa học, chính phủ và tổ chức phi chính phủ trên thế giới, nổibật trong đó phải kể đến Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiênnhiên (IUCN) với việc phát triển một thước đo sự bền vững (Barometer ofSustainability) được sử dụng làm chuẩn mực cho rất nhiều nghiên cứu Tuy nhiên, để
có thể đánh giá được mức độ bền vững của một hay nhiều điểm du lịch một cách bàibản là không dễ dàng, đặc biệt khi việc đánh giá sử dụng yếu tố định lượng Các nhàkhoa học khi thực hiện đánh giá tính bền vững của du lịch luôn phải cân nhắc về haivấn đề: Nội dung đánh giá và phương pháp đánh giá
Trang 30Một bảng hỏi đã được xây dựng để thu thập sự đánh giá của du khách về mức độ bềnvững của phát triển du lịch lễ hội Hoa dựa trên bộ tiêu chí đánh giá Các câu hỏi là cácbiến đo lường được biên tập lại dưới một số dạng khác nhau để người được hỏi dễdàng trả lời và đạt được mục đích thu thập dữ liệu, giúp thông tin thu nhận được chínhxác hơn tuy nhiên vẫn phục vụ cho một thang đo Likert 5 điểm với mức độ tích cựctăng dần từ 1 đến 5 Bảng hỏi được thiết kế với 35 câu hỏi/mệnh đề đánh giá, với 6câu hỏi về thông tin cá nhân và 29 câu hỏi/mệnh đề phục vụ nội dung đánh giá pháttriển du lịch bền vững Sau khi hoàn thành bảng hỏi được khảo sát thử nghiệm đồngthời tham khảo chuyên gia để chỉnh sửa lần cuối trước khi thực hiện điều tra chínhthức.
Việc tiến hành khảo sát được thực hiện trong khoảng thời gian từ 14/02/2019 31/03/2019 tại khu du lịch cáp treo Bà Nà hills thuộc Thôn An Sơn, xã Hòa Ninh,huyện Hòa Vang, TP Đà Nẵng Đối tượng khảo sát là các du khách đến thăm quan vàtrải nghiệm lễ hội Hoa Bà Nà Với mỗi đoàn khách đi theo gia đình hoặc khách lẻ, tácgiả lựa chọn 01 người để tham gia trả lời khảo sát, hình thức trả lời là tự điền dưới sựgiải thích và trình bày của người hỏi Kết quả thu thập cho thấy trong 100 phiếu đượcphát ra và thu về đầy đủ, có một phiếu không hợp lệ vì không trả lời đầy đủ thông tin,
-số phiếu còn lại đều được cung cấp đầy đủ -số câu trả lời cần thiết
Sau khi tiến hành khảo sát, tác giả nghiên cứu kiểm định độ tin cậy của thang
đo được sử dụng bằng phân tích hệ số Cronbach’s Alpha qua phần mềm IBM SPSSStatistic 20 Mục đích của kiểm định này là tìm hiểu xem các biến trong thang đo cócùng đo lường cho một khái niệm cần đo hay không Giá trị đóng góp nhiều hay ítđược phản ánh qua hệ số tương quan biến tổng Corrected Item – Total Correlation.Qua đó, cho phép loại bỏ những biến và tiêu chí không phù hợp trong bộ tiêu chí đánhgiá Quy tắc kiểm định như sau, đưa ra bởi Hair (2009):
α < 0,6: Thang đo không phù hợp
0,6 ≤ α < 0,7: Chấp nhận được với các nghiên cứu mới hoặc mới đối với ngườitrả lời trong bối cảnh nghiên cứu
0,7 ≤ α < 0,8: Chấp nhận được
0,8 ≤ α < 0,95: Tốt
Trang 31α ≥ 0,95: Chấp nhận được nhưng không tốt, có thể xảy ra hiện tượng trùngbiến.
Bên cạnh đó, hệ số tương quan biến tổng cho biết mức độ lien kết giữa mộtbiến quan sát trong nhân tố với các biến còn lại Nó phản ánh mức độ đóng góp vàogiá trị khái niệm của nhân tố của một biến quan sát cụ thể, tiêu chuẩn để đánh giá mộtbiến có thực sự đóng góp giá trị vào nhân tố hay không là hệ số này phải lớn hơn 0,3.Trong những năm gần đây thì rất nhiều các thành tố trong lĩnh vực du lịch được gắnmác “bền vững” như: phát triển bền vững du lịch cộng đồng, phát triển bền vững dulịch sinh thái, phát triển bền vững du lịch biển hay phát triển bền vững tỉnh ĐồngTháp, Nam Định…
Nhưng có rất ít các đề tài nói đến phát triển bền vững du lịch lễ hội nước ta có đếngần 8000 lễ hội nhưng để duy trì và phát huy con số đó không phải là một điều dễdàng và đây là một vấn đề quan trọng và cần thiết cần phải xử lý nhanh chóng và kịpthời
Có nhiều lý thuyết, mô hình mô tả nội dung của phát triển bền vững Theo Jacobs vàSedlera, thì phát triển bển vững là kết quả của các tương tác qua lại và phụ thuộc lẫnnhau của ba hệ thống chủ yếu của thế giới: Hệ thống kinh tế (hệ sản xuất và phân phốisản phẩm; hệ thống xã hội (quan hệ của con người trong xã hội); hệ thống tự nhiên(bao gồm các hệ sinh thái tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên, các thành phần môi trườngcủa Trái Đất) Trong mô hình này, sự phát triển bền vững không cho phép vì sự ưu tiêncủa hệ này dễ gây ra sự suy thoái và tàn phá đối với hệ khác, hay phát triển bển vững là
sự dung hoà các tương tác và thoả hiệp giữa ba hệ thống chủ yếu trên
Theo mô hình của ngân hàng thế giới phát triển bền vững được hiểu là sự phát triển
kinh tế xã hội để đạt được đồng thời các mục tiêu kinh tế (tăng trưởng kinh tế, côngbằng trong phân phối thu nhập, hiệu quả kinh tế của sản xuất cao), mục tiêu xã hội(công bằng dân chủ trong quyền lợi và nghĩa vụ xã hội), mục tiêu sinh thái (báo đảmcân bằng sinh thái và bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên nuôi dưỡng con người)
Hình 1.5.2: Mô hình phát triển bền vững của ngân hàng thế giới
Trang 32Mục tiêu kinh tế
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Trong mô hình của Hội đồng về Môi trường và phát triển bền vững thế giới (WCED)
1987, thì tập trung trình bày quan niệm phát triển bền vững theo các lĩnh vực như kinh
tế, chính trị, hành chính, công nghệ, quốc tế, sản xuất, xã hội
Còn trong mô hình của Villen 1990 thì trình bày các nội dung cụ thể để duy trì sựcân bằng của mối quan hệ kinh tế – sinh thái – xã hội trong quá trình phát triển kinh tế
xã hội của các quốc gia
Hình 1.5.3: Mô hình phát triển bền vững kiểu ba vòng tròn
Phát triểnbền vững
Kinh tế
Bền vững
Xã hội
Trang 33Nguồn: Villen 1990
Nội dung phát triển bền vững được xã định bao gồm ba trụ cột:
– Bền vững về kinh tế: Một hệ thống bến vững về kinh tế phải có thể tạo rahàng hoá và dịch vụ một cách liên tục, với mức độ có thể kiểm soát của chính phủ và
nợ nước ngoài, tránh sự mất cân đối giữa các khu vực làm tổn hại đến sản xuất nôngnghiệp, công nghiệp và dịch vụ
– Bền vững về xã hội: Một hệ thống bền vững về mặt xã hội phải đạt được sựcông bằng trong phân phối, cung cấp đầy đủ các dịch vụ xã hội bao gồm y tế, giáodục, bình đẳng giới, sự tham gia và trách nhiệm chính trị của mọi công dân
– Bền vững về môi trường: Một hệ thống bền vững về môi trường phải duy trìnền tảng nguồn lực ổn định, tránh khai thác quá mức các hệ thống nguồn lực tái sinhhay những vận động tiềm ẩn của môi trường và việc khai thác các nguồn lực không táitạo không vượt quá mức độ đầu tư cho sự thay thế một cách đầy đủ Điều này baogồm việc duy trì sự đa dạng sinh học, sự ổn định khí quyển và các hoạt động sinh tháikhác mà thường không được coi như các nguồn lực kinh tế
Ba trụ cột của phát triển kinh tế nêu trên là mục tiêu cần đạt được trong quátrình phát triển, đồng thời là ba nội dung hợp thành quá trình hát triển trong điều kiệnhiện đại Sự phát triển hiện đại không chỉ là sự phát triển với nền kinh tế thị trườnghiện đại, với sự tác động mạnh mẽ của tiến bộ khoa học và công nghệ, mở rộng hộinhập kinh tế quốc tế mà còn bao hàm một nội dung mới- phát triển bền vững cũng cónghĩa là không chỉ xác lập những cơ sở, điều kiện cần thiết đối với việc giải quyếtnhững mâu thuẫn vốn có của tiến trình kinh tế thị trường- công nghiệp trong sự pháttriển cổ điển, giải quyết mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế- xã hội và môi trường màcòn phải bao gồm nội dung bền vững
1.6 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng
Môitrường
Trang 34- Nghiên cứu tại bàn (Desk Study): Phương pháp này được sử dụng để thực hiện tổngquan các nghiên cứu liên quan đến đề tài, tìm kiếm thông tin về địa bàn nghiên cứu,tìm hiểu kỹ thuật phân tích, thảo luận vấn đề nghiên cứu và trình bày báo cáo nghiêncứu.
- Nghiên cứu định tính:
+ Tham vấn chuyên gia: Đây là phương pháp đóng vai trò quan trọng trongviệc thực hiện đề tài, được thực hiện trong nhiều công đoạn bao gồm tham vấn lựachọn phương pháp nghiên cứu, xây dựng bộ tiêu chí đánh giá và thực hiện thu thậpđánh giá của giảng viên hướng dẫn đối với mức độ quan trọng của các tiêu chí
+ Phỏng vấn sâu: Phương pháp này được thực hiện đối với người đứng đầuban lãnh đạo công ty và du khách nhằm phát hiện các yếu tố đặc trưng, tìm hiểu sâucác vấn đề trong phát triển bền vững du lịch lễ hội Hoa Từ đó, nhóm nghiên cứu tiếnhành xem xét, điều chỉnh bộ tiêu chí đánh giá và bản khảo sát
- Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng việc điều tra khảo sát một mẫu đạidiện trong phạm vi không gian nghiên cứu thông qua một bảng hỏi trên cơ sở bộ tiêuchí đa cấp đã được xây dựng, bao gồm các biến thang đo đo lường để thu thập kết quảđánh giá từ phía du khách Một phiếu khảo sát khác được thực hiện đối với cácchuyên gia có kinh nghiệm chuyên sâu trong lĩnh vực phát triển bền vững, phát triển
du lịch tại đại bàn nghiên cứu cũng dựa trên bộ tiêu chí ban đầu Trên cơ sở bộ tiêu chí
đó, kỹ thuật xử lý định lượng được sử dụng để xác định trọng số cho từng tiêu chí, xácđịnh mức độ quan trọng và đóng góp của chúng vào mục tiêu phát triển du lịch bềnvững Kết quả từ hai lần thu thập và phân tích dữ liệu rút ra mức độ bền vững của pháttriển du lịch Hoa tại Bà Nà được thể hiện ở một điểm số duy nhất (được gọi là điểmbền vững) dựa trên một thang đánh giá tiêu chuẩn
- Công cụ phân tích:
+ Phần mềm hỗ trợ: IBM SPSS Statistics 20
+ Kỹ thuật phân tích: Kiểm định độ tin cậy của các tiêu chí Cronbach’s Alpha
Trang 351.7 Xây dựng mô hình du lịch bền vững lễ hội Hoa tại Bà Nà hills-Đà Nẵng
Các tiêu chí đánh giá phát triển du lịch bền vững lễ hội Hoa tại Bà Nà hills-Đà Nẵng
- Đặc trưng chung của lễ hội
DT1: Các hoạt động tại lễ hội diễn ra hấp dẫn
DT2: Thông tin về lễ hội được cung cấp đầy đủ
DT3: Có đầy đủ các dịch vụ bổ sung tại lễ hội
DT4: Nghệ sĩ biểu diễn ở lễ hội chuyên nghiệp
- Tối đa hóa cho lợi ích văn hóa của lễ hội
VH 1: Tiếp thu nhiều luồng văn hóa khác nhau
Đặc trưng chung của lễ hội
Tối đa hóa lợi ích cho văn hóa
của lễ hộiNghiên cứu phát
Trang 36VH 2: Là cơ hội để quảng bá hình ảnh khu du lịch đến bạn bè trong nước và quốc tế
VH 3: Lễ hội tạo cơ hội cho du khách có cơ hội giao lưu và chụp hình với các nghệ
sĩ nước ngoài
- Tối đa hóa lợi ích kinh tế cho khu du lịch
KT 1: Sẵn sàng sử dụng các dịch vụ mua sắm tại khu du lịch
KT 2: Lễ hội làm tăng lượng cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho du khách
KT 3: Lễ hội làm gia tăng giá cả hàng hóa, dịch vụ
KT 4: Lễ hội góp phần thu hút các đối tác hợp tác với khu du lịch
- Tối đa hóa lợi ích môi trường, hệ sinh thái cảnh quan của lễ hội
MT 1: Lễ hội góp phần tuyên truyền ý thức bảo vệ môi trường, thiên nhiên tại khuvực tổ chức lễ hội
MT 2: Lễ hội góp phần tạo cảnh quan cho môi trường ở khu du lịch
MT3: Lễ hội giúp cho du khách có những trải nghiệm tốt hơn về điểm đến
- Tối đa hóa lợi ích xã hội
XH 1: Lễ hội được tổ chức an toàn, an ninh đảm bảo
XH 2: Nhân viên thân thiện, nhiệt tình chào đón khách
XH 3: Không diễn ra tình trạng chen lấn, xô đẩy
XH 4: Lễ hội góp phần tạo ra nhiều cơ hội giải trí
- Tổ chức, quản lý lễ hội
TC 1: Lễ hội diễn ra đúng lịch trình, kế hoạch
TC 2: Công tác tổ chức, quản lý lễ hội chu đáo
TC 3: Ban tổ chức đáp ứng tốt các nhu cầu của du khách
TC 4: Du khách luôn được hỗ trợ kịp thời từ ban tổ chức
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ CỦA DU KHÁCH VỀ LỄ HỘI HOA TẠI BÀ NÀ II.1 Tổng quan về lễ hội Hoa tại Bà Nà