1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

41 4,1K 36
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thị Trường Trái Phiếu
Tác giả Hồ Hoàng Thùy Dương, Triệu Anh Tuấn, Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Nguyễn Thị Thành, Trịnh Nguyễn Ngọc Thương, Hồ Miến Nguyệt, Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Duy Tiến, Nguyễn Thị Hồng Chánh, Nguyễn Thị Kim Cúc, Bùi Hoàng Việt, Trần Thị Thu Hà, Lê Hồng Tâm, Ngô Thị Tuyết Minh, Võ Đông Phong, Nguyễn Thị Kim Dung
Người hướng dẫn TS. Thân Thị Thu Thủy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2013
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 775 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Trái phiếu chính quyền địa phương: Là loại trái phiếu đầu tư có kỳ hạn một năm trở lên, do chính quyền địa phương ủy quyền cho Kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địaphương lập r

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA NGÂN HÀNG

TIỂU LUẬN NHÓM

Tên đề tài:

THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

GVHD: TS Thân Thị Thu Thủy

Tp Hồ Chí Minh Năm 2013

Danh sách nhóm:

1 Hồ Hoàng Thùy Dương

2 Triệu Anh Tuấn

Trang 2

MỤC LỤC

I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU 2

1 Tổng quan về trái phiếu 2

1.1 Khái niệm trái phiếu 2

1.2 Đặc điểm của trái phiếu 2

1.3 Các đặc trưng cơ bản của trái phiếu 2

1.4 Phân loại trái phiếu 3

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu 4

1.6 Lợi ích và rủi ro trong đầu tư trái phiếu 5

1.7 Định giá trái phiếu 6

2 Thị trường trái phiếu 9

2.1 Thị trường trái phiếu: 9

2.2 Mục tiêu của thị trường trái phiếu: 9

II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM 14

1 Thị trường trái phiếu chính phủ: 15

2 Thị trường trái phiếu chính quyền địa phương 26

3 Thị trường trái phiếu doanh nghiệp 30

III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU NĂM 2013 VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU TRONG DÀI HẠN 38

1 Định hướng phát triển thị trường trái phiếu năm 2013 38

2 Giải pháp thúc đẩy thị trường phát triển trong dài hạn 39

Trang 3

I TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU

1 Tổng quan về trái phiếu

1.1 Khái niệm trái phiếu

Trái phiếu là một hợp đồng nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể phát hành (Chính phủ hay

doanh nghiệp) và người cho vay,đảm bảo một sự chi trả cổ tức định kỳ và hoàn lại vốn gốccho người cấm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn Trên giấy chứng nhận nợ này có ghi mệnhgiá của trái phiếu và tỷ suất trái phiếu

Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết

quả sử dụng vốn vay của người vay Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo cáccam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay

1.2 Đặc điểm của trái phiếu

 Chủ thể phát hành trái phiếu không chỉ có Công ty, mà còn có Chính phủ Trung ương vàChính phủ địa phương

 Người mua trái phiếu chỉ là người cho chủ thể phát hành vay tiền và là chủ nợ của chủ thể

phát hành trái phiếu Khác với người mua cổ phiếu là người Chủ sở hữu Công ty

 Thu nhập của trái phiếu là tiền lãi, là khoản thu cố định không phụ thuộc vào kết quả sảnxuất kinh doanh của công ty

 Trái phiếu là chứng khoán nợ, vì vậy khi Công ty bị giải thể hoặc phá sản thì trước hếtCông ty phải có nghĩa vụ thanh toán cho các Chủ trái phiếu trước, sau đó mới chia cho các

Cổ đông

=> Với những đặc điểm trên, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu

Vì vậy, trái phiếu là loại chứng khoán được các nhà đầu tư ưa chuộng

1.3 Các đặc trưng cơ bản của trái phiếu

Mệnh giá trái phiếu: hay còn gọi là giá trị danh nghĩa của trái phiếu là giá trị ghi trên trái

phiếu Giá trị này được coi là số vốn gốc Mệnh giá trái phiếu là căn cứ để xác định số lợitức tiền vay mà người phát hành phải trả Mệnh giá cũng thể hiện số tiền người phát hànhphải hoàn trả khi trái phiếu đến hạn Ở Việt Nam mệnh giá của trái phiếu được ấn định là100.000đ và các mệnh giá khác là bội số của 100.000đ Mệnh giá của trái phiếu được xácđịnh phụ thuộc vào số tiền huy động trong kỳ và số trái phiếu phát hành

Lãi suất danh nghĩa: Lãi suất trái phiếu thường được ghi trên trái phiếu hoặc người phát

hành công bố được gọi là lãi suất danh nghĩa Lãi suất này được xác định theo tỷ lệ phần

trăm so với mệnh giá trái phiếu và cũng là căn cứ để xác định lợi tức trái phiếu

Thời hạn của trái phiếu: là khoảng thời gian từ ngày phát hành đến ngày người phát hành

hoàn trả vốn lần cuối Trái phiếu có thời hạn khác nhau, trái phiếu ngắn hạn có thời gian từ

1 năm đến 5 năm Trái phiếu trung hạn, có thời gian từ 5 năm đến 10 năm và từ 10 năm trởlên là trái phiếu dài hạn Ngày đáo hạn trái phiếu là ngày mà tổ chức phát hành thanh toán

số vốn gốc và lãi cho chủ sở hữu trái phiếu

Kỳ trả lãi: Là khoảng thời gian người phát hành trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu Lãi

suất trái phiếu được xác định theo năm, nhưng việc trả lợi tức trái phiếu thường được thựchiện mỗi năm một hoặc hai lần

Trang 4

Giá phát hành: Là giá bán ra của trái phiếu vào thời điểm phát hành Thông thường giá

phát hành được xác định theo tỷ lệ phần trăm (%) của mệnh giá Tùy theo tình hình của thịtrường và của người phát hành để xác định giá phát hành một cách thích hợp Có thể phânbiệt 3 trường hợp:

+ Giá phát hành bằng mệnh giá (ngang giá);

+ Giá phát hành dưới mệnh giá (giá chiết khấu);

+ Giá phát hành trên mệnh giá (giá gia tăng)

=> Dù trái phiếu được bán với giá nào (ngang giá, giá chiết khấu hay giá gia tăng), thì lợi

tức luôn được xác định theo mệnh giá của trái phiếu và khi đáo hạn, người có trái phiếu sẽđược thanh toán theo mệnh giá của trái phiếu

Quyền mua lại: Đối với loại trái phiếu có điều khoản chuộc lại cho phép tổ chức phát hành

trái phiếu thu hồi trái phiếu và hoàn lại vốn gốc mức giá dự kiến trước thời hạn thanh toán

Tổ chức phát hành sử dụng quyền này để bảo vệ họ không phải trả lãi suất cao hơn đối với

số tiền mà họ vay Tổ chức phát hành thu hồi trái phiếu khi tỷ lệ lãi suất trên thị trường thấphơn lãi suất trái phiếu mà tổ chức phát hành trước đó

1.4 Phân loại trái phiếu

1.4.1 Phân loại theo chủ thể phát hành:

đích bù đắp nhu cầu chi đầu tư,quản lý lạm phát, hoặc tài trợ cho các công trình, các dự áncủa Nhà nước Chính phủ phát hành trái phiếu để huy động tiền nhàn rỗi trong dân và các tổchức kinh tế, xã hội Chính phủ luôn được coi là Nhà phát hành có uy tín nhất trên thịtrường; Vì vậy, Trái phiếu Chính phủ được coi là loại chứng khoán có ít rủi ro nhất

Trái phiếu chính quyền địa phương: Là loại trái phiếu đầu tư có kỳ hạn một năm trở lên, do

chính quyền địa phương ủy quyền cho Kho bạc hoặc các pháp nhân do chính quyền địaphương lập ra, phát hành với mục đích huy động vốn để đầu tư xây dựng các công trìnhmang tính công cộng như đường xá, bệnh viện, bến cảng, trường học

Trái phiếu của doanh nghiệp: Là những trái phiếu do doanh nghiệp phát hành để tăng vốn

hoạt động nhằm đầu tư dài hạn cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều loại và rất đa dạng

1.4.2 Phân loại dựa vào lợi tức trái phiếu

Trái phiếu có lãi suất cố định: Là loại trái phiếu mà lợi tức được xác định theo một tỷ lệ

phần trăm (%) cố định tính theo mệnh giá

Trái phiếu có lãi suất biến đổi (lãi suất thả nổi): Là loại trái phiếu mà lợi tức được trả trong

các kỳ có sự khác nhau và được tính theo một lãi suất có sự biến đổi theo một lãi suất thamchiếu Thông thường cứ 6 tháng một lần, căn cứ vào lãi suất tiền gửi ngắn hạn của ngânhàng để điều chỉnh lãi suất cho phù hợp

Trái phiếu chiết khấu : Là loại trái phiếu mà người mua không nhận được lãi, nhưng được

mua với giá thấp hơn mệnh giá (mua chiết khấu) và được hoàn trả bằng mệnh giá khi tráiphiếu đó đáo hạn

1.4.3 Phân loại theo mức độ đảm bảo thanh toán của người phát hành

Trái phiếu bảo đảm: Là loại trái phiếu mà người phát hành dùng một tài sản có giá trị làm

vật đảm bảo cho việc phát hành Khi nhà phát hành mất khả năng thanh toán, thì trái chủ có

Trang 5

quyền thu và bán tài sản đó để thu hồi lại số tiền người phát hành còn nợ Trái phiếu bảođảm thường bao gồm một số loại chủ yếu sau:

+ Trái phiếu có tài sản cầm cố: Là loại trái phiếu bảo đảm bằng việc người phát hành cầm

cố một bất động sản để bảo đảm thanh toán cho trái chủ Thường giá trị tài sản cầm cố lớnhơn tổng mệnh giá của các trái phiếu phát hành để đảm bảo quyền lợi cho trái chủ

+ Trái phiếu bảo đảm bằng chứng khoán ký quỹ: Là loại trái phiếu được bảo đảm bằng việc

người phát hành thường là đem ký quỹ số chứng khoán dễ chuyển nhượng mà mình sở hữu

để làm tài sản bảo đảm

Trái phiếu không bảo đảm: Là loại trái phiếu phát hành không có tài sản làm vật bảo đảm

mà chỉ bảo đảm bằng uy tín của người phát hành

1.4.4 Phân loại dựa vào hình thức trái phiếu

Trái phiếu vô danh: Là loại trái phiếu không ghi tên của người mua và trong sổ sách của

người phát hành Trái chủ là người được hưởng quyền lợi

Trái phiếu ghi danh: Là loại trái phiếu có ghi tên của người mua và trong sổ sách của người

phát hành

1.4.5 Phân loại dựa vào tính chất trái phiếu

Trái phiếu có thể chuyển đổi: Là loại trái phiếu của công ty cổ phần mà trái chủ được quyền

chuyển sang cổ phiếu của công ty đó Việc này được quy định cụ thể về thời gian và tỷ lệkhi mua trái phiếu

Trái phiếu có quyền mua cổ phiếu: Là loại trái phiếu có kèm theo phiếu cho phép trái chủ

được quyền mua một số lượng nhất định cổ phiếu của công ty

Trái phiếu có thể mua lại: Là loại trái phiếu cho phép nhà phát hành được quyền mua lại

một phần hay toàn bộ trước khi trái phiếu đến hạn thanh toán

1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trái phiếu

Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu: Nhà đầu tư rất quan tâm khả năng thanh

toán lãi và vốn gốc của người cung cấp trái phiếu Nếu có những biến động bất lợi về khảnăng tài chính của chủ thể phát hành thì lập tức giá trái phiếu đó sẽ giảm trên TTCK

Thời gian đáo hạn: Một trái phiếu có thời hạn đáo hạn càng gần thì giá của nó càng tăng

trên thị trường bởi vì độ rủi ro càng thấp

Dự kiến về lạm phát: Nếu lạm phát dự kiến tăng thì các chứng khoán có lãi suất cố định trả

theo lãi trái phiếu chì được thanh toán theo danh nghĩa, và như vậy sẽ kém hấp dẫn hơn cáctài sản khác có khả năng loại trừ yếu tố lạm phát Vì vậy giá thị trường của các chứng khoán

có lãi suất cố định bị giảm và điều này cũng buộc phải tăng lãi cho các chứng khoán đó,phần lãi tăng này sẽ đền bù thiệt hại của những người giữ trái phiếu trong tương lai bị ảnhhưởng bởi lạm phát

Biến động lãi suất thị trường: Lãi suất thị trường là một yếu tố quan trọng trong việc định

giá của các chứng khoán có lãi suất cố định Nếu lãi suất bắt đầu tăng thì lợi tức đối với cáctrái phiếu đang tồn tại chắc chắn sẽ thay đổi Trong trường hợp này, vốn sẽ chảy vào thịtrường hứa hẹn lợi nhuận cao hơn Như vậy giá trái phiếu có lợi tức cố định sẽ giảm Nhìn ởkhía cạnh khác, nếu giá trái phiếu giảm do người ta dự đoán lạm phát tăng, thì việc tăng lãisuất có thể được coi là dấu hiệu của Chính phủ quyết đẩy lùi lạm phát Ảnh hưởng tiêu cựccủa việc tăng lãi suất được đền bù bởi tác động tích cực của triển vọng lạm phát được cải

Trang 6

Thay đổi tỷ giá hối đoái: Yếu tố này ảnh hưởng đến các loại trái phiếu được thanh toán

bằng đồng nội tệ hay đồng ngoại tệ Ví dụ đồng doolar Mỹ có giá trị tăng cao hơn so vớiđồng bảng Anh thì sẽ làm tăng giá trị của loại trái phiếu được thanh toán bằng dollar Mỹ

1.6 Lợi ích và rủi ro trong đầu tư trái phiếu

1.6.1 Lợi ích

 Trái phiếu là công cụ nợ có độ tin cậy cao nhất, đặc biệt là trái phiếu chính phủ

 Trong môi trường lạm phát thấp, đầu tư trái phiếu là một cách an toàn để duy trì nguồn thunhập thường xuyên

 Khi TTCK biến động, đầu tư trái phiếu là một cách giúp đảm bảo an toàn vốn đầu tư vàphân tán rủi ro

 Dù làm ăn kém hiệu quả, công ty vẫn phải trả đủ tiền lãi, không cắt giảm hoặc bỏ như cổphiếu Nếu công ty ngừng hoạt động, thanh lý tài sản, trái chủ được trả tiền trước người có

cổ phần ưu đãi và cổ phần thông thường

1.6.2 Rủi ro

Rủi ro tín nhiệm: mức độ rủi ro tín nhiệm của trái phiếu được đánh giá dựa trên các yếu tố

kinh tế và khả năng hoàn trả lãi và gốc trái phiếu của nhà phát hành Trái phiếu chính phủthường được coi là có mức độ rủi ro thấp nhất, vì Chính phủ có khả năng thu thuế hoặcphát hành tiền để trả nợ Các công ty không có những quyền đó, do vậy trái phiếu công ty

có mức độ rủi ro cao hơn và phải trả lãi suất cao hơn cho nhà đầu tư Rủi ro tín nhiệm đượcthể hiện qua hệ số tín nhiệm Hệ số tín nhiệm càng cao thì trái phiếu được coi là càng antoàn

Rủi ro lãi suất: lãi suất thị trường càng tăng, giá trái phiếu càng giảm và ngược lại Khi lãi

suất thị trường giảm, giá trái phiếu nhà đầu tư đang nắm giữ sẽ tăng Bởi lãi suất định kỳcủa trái phiếu đã được ấn định từ trước, lãi suất thị trường giảm làm cho các trái phiếu cũvới mức lãi suất cao hơn trở nên hấp dẫn hơn Trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thìmức độ tăng giá càng cao Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng, giá trái phiếu sẽ giảm.Trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thì mức giảm giá càng lớn

Rủi ro lạm phát: lạm phát là kẻ thù của nhà đầu tư trái phiếu, bởi nó ăn mòn giá trị đồng

tiền Lạm phát càng cao, lãi suất thực của trái phiếu (bằng lãi suất danh nghĩa của trái phiếutrừ lạm phát) càng giảm, do vậy làm mất giá trị của trái phiếu Ví dụ: nếu một trái phiếu trảlãi 8%/năm, lạm phát bình quân 5% thì lãi suất thực của trái phiếu là 3%; nếu lạm phát tănglên 7%, lãi suất thực chỉ còn 1%

Rủi ro thanh khoản: khi nhà đầu tư trái phiếu cần tiền mặt mà thị trường lại thiếu tính thanh

khoản, sẽ khó lòng tìm được người sẵn sàng mua lại trái phiếu, hoặc nếu tìm được thì phảibán lại với giá rẻ hơn so với giá trị thực của trái phiếu

Rủi ro khi TTCK sụt giá mạnh: thông thường, giá trái phiếu không biến động nhiều như giá

cổ phiếu, do vậy khi TTCK sụt giá mạnh, các nhà đầu tư có xu hướng chuyển đầu tư từ cổphiếu sang trái phiếu, qua đó đẩy giá trái phiếu tăng lên Tuy nhiên, khi TTCK đã xuốngđến mức đáy, nhà đầu tư lại có xu hướng chuyển sang cổ phiếu đang ở mức giá thấp, điều

đó làm giá trái phiếu giảm trở lại

Trang 7

1.7 Định giá trái phiếu

1.7.1 Định giá trái phiếu thông thường

Ở dạng thông thường, trái phiếu có mệnh giá, thời hạn và lãi suất coupon xác định, không kèmtheo các điều kiện có thể chuyển đổi, có thể mua lại hay bán lại hay tái định lãi suất Khi đó,giá của trái phiếu bằng giá trị hiện tại của các dòng tiền dự kiến sẽ đuợc từ công cụ tài chính

đó Vì vậy, để xác định mức giá đó, cần phải:

 Ước tính các dòng tiền sẽ nhận đuợc trong tuơng lai

 Ước tính lợi suất đòi hỏi phù hợp

Buớc đầu tiên trong việc xác định giá của một trái phiếu là xác định các dòng tiền của nó Đốivới trái phiếu thông thường, các dòng tiền bao gồm:

 Các khoản thanh toán lãi coupon định kỳ cho tới khi đáo hạn

 Mệnh giá nhận được tại lúc đáo hạn

Để đơn giản ta giả định rằng:

 Các khoản thanh toán lãi coupon đuợc thực hiện 6 tháng một lần

 Khoản lãi tiếp theo của trái phiếu sẽ đuợc nhận sau đây đúng 6 tháng

Do đó, dòng tiền của một trái phiếu thông thường bao gồm một khoản dòng tiền trong năm

là lãi coupon cố định trả nửa năm một lần và mệnh giá trả khi đáo hạn

Lợi suất đòi hỏi đuợc xác định bằng cách xem xét lợi suất của trái phiếu tuơng đuơng trênthị trường Tuơng đuơng ở đây có nghĩa là các trái phiếu có cùng chất luợng tín nhiệm vàcùng thời hạn Lợi suất đòi hỏi thường đuợc thể hiện thành một mức lãi suất năm Khi cácdòng tiền đuợc thực hiện theo nửa năm một, thị trường sẽ sử dụng một nửa các mức lãi suấtnăm này làm lãi suất định kỳ để chiết khấu các dòng tiền

Khi đã có đuợc các dòng tiền của một trái phiếu và lợi suất đòi hỏi, ta có đủ các công cụphân tích để định giá một trái phiếu Giá của trái phiếu là khoản tiền đầu tư ban đầu (muatrái phiếu) để đuợc nhận các khoản tiền trong tuơng lai, như vậy nó sẽ là tổng các giá trịsau:

 Giá trị hiện tại của các khoản thanh toán lãi nửa năm

 Giá trị hiện tại của giá trị mệnh giá tại thời điểm đáo hạn của trái phiếu

Công thức tổng quát để tính giá của một trái phiếu là:

Trong đó:

· P = giá

Trang 8

· n = số kỳ (số năm nhân 2)

· C = lãi coupon nửa năm (M x 1/2 lãi suất coupon)

· r = lãi suất định kỳ (lợi suất yêu cầu tính theo năm chia 2)

· M = giá trị mệnh giá

· t = số kỳ cho tới khi nhận lãi

 Đối với trái phiếu không trả lãi định kỳ (Zero Coupon Bonds)

 Đối với trái phiếu trả lãi định kỳ 1 năm 1 lần

 Đối với trái phiếu trả lãi định kỳ 6 tháng 1 lần

2 Thị trường trái phiếu

2.1 Thị trường trái phiếu:

Thị trường trái phiếu là thị trường phát hành và lưu hành các loại trái phiếu do Chính phủhoặc doanh nghiệp cùng các tổ chức kinh tế phát

2.2 Mục tiêu của thị trường trái phiếu:

Mục tiêu của thị trường trái phiếu là huy động vốn trung và dài hạn với phương thức có trảlãi và hoàn vốn trong một kỳ hạn nhất định cho chủ đầu tư

2.3 Phân loại thị trường trái phiếu:

Thị trường trái phiếu được chia thành thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

2.3.1 Thị trường sơ cấp:

2.3.1.1 Khái niệm:

Thị trường sơ cấp là thi trường thực hiện giao dịch, mua bán các loại trái phiếu mới pháthành Trên thị trường này vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việcnhà đầu tư mua các trái phiếu mới phát hành

Trang 9

 Thị trường sơ cấp là nơi duy nhất mà các trái phiếu đem lại vốn cho người phát hành Làtrhị trường tạo vốn cho đơn vị phát hành và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trườnggiao dịch Trên bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường sơ cấp làm tăng vốn đầu tư.

 Những người bán trái phiếu trên thị trường sơ cấp được xác định thường là Kho bạc, Ngânhàng Nhà nước, công ty phát hành, tập đoàn bảo lãnh phát hành,

 Thị trường sơ cấp chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán nhất định, trong thờigian hạn định

2.3.1.4 Các phương thức phát hành trái phiếu VN:

 Phát hành thông qua hình thức bảo lãnh phát hành: bao gồm các hình thức bảo lãnh từngphần, đồng bảo lãnh, tổ hợp bảo lãnh và bảo lãnh toàn bộ

+ Bảo lãnh phát hành là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tụctrước khi phát hành trái phiếu ra thị trường chứng khoán, phân phối trái phiếu cho các nhàđầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số trái phiếu còn lại chưa phân phối hết.+ Tổ hợp bảo lãnh phát hành là nhóm các tổ chức bảo lãnh phát hành có từ hai tổ chức trởlên cùng tham gia bảo lãnh phát hành trái phiếu trên cơ sở hợp đồng giữa các tổ chức bảolãnh phát hành

+ Tổ chức bảo lãnh phát hành chính là tổ chức đại diện về quyền lợi và nghĩa vụ cho tổ hợpbảo lãnh trong hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu với tổ chức phát hành

+ Đồng bảo lãnh phát hành chính là các tổ chức bảo lãnh phát hành chính đồng đại diện vềquyền lợi và nghĩa vụ cho tổ hợp bảo lãnh trong hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu với

tổ chức phát hành

+ Đồng bảo lãnh là các tổ chức bảo lãnh phát hành trong tổ hợp bảo lãnh phát hành cóquyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong hoạt động bảo lãnh phát hành trái phiếu với tổ chứcphát hành

 Phát hành thông qua Đại lý phát hành

+ Đại lý phát hành là việc tổ chức phát hành uỷ thác cho các tổ chức khác thực hiện bán tráiphiếu cho các nhà đầu tư Trường hợp không bán hết, tổ chức đại lý phát hành được trả lại

số trái phiếu còn lại cho tổ chức phát hành

 Phát hành thông qua phương thức đấu thầu: Đấu thầu cạnh tranh lãi suất và không cạnhtranh lãi suất

2.3.1.5 Điều kiện phát hành trái phiếu doanh nghiệp:

 Đối với trái phiếu không chuyển đổi:

+ Doanh nghiệp có thời gian hoạt động tối thiểu là một (01) năm kể từ ngày doanh nghiệpchính thức đi vào hoạt động;

+ Kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của năm liền kề trước năm phát hành phải có lãitheo báo cáo tài chính được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc tổ chức kiểm toán độclập được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam Báo cáo tài chính được kiểm toán củadoanh nghiệp phát hành phải là báo cáo kiểm toán nêu ý kiến chấp nhận toàn phần Trườnghợp doanh nghiệp phát hành trái phiếu trước ngày 01 tháng 4 hàng năm chưa có báo cáo tàichính năm của năm liền kề được kiểm toán thì phải có:

++ Báo cáo tài chính được kiểm toán của năm trước năm liền kề với kết quả hoạt độngsản xuất kinh doanh có lãi;

++ Báo cáo tài chính quý gần nhất với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi

Trang 10

được kiểm toán (nếu có);

++ Báo cáo tài chính của năm liền kề với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh có lãiđược Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty phê duyệt theo Điều lệhoạt động của công ty

++ Đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ an toàn vốn và các hạn chế khác về đảm bảo an toàn tronghoạt động đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện quy định tại pháp luật chuyênngành;

++ Có phương án phát hành trái phiếu được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và chấpthuận quy định tại Điều 14, Điều 15 Nghị định này

 Đối với phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm chứng quyền, doanh nghiệpphát hành ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này còn phải đáp ứngcác điều kiện sau:

+ Thuộc đối tượng được phát hành trái phiếu chuyển đổi hoặc trái phiếu kèm theo chứngquyền;

+ Đảm bảo tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam theo quyđịnh của pháp luật hiện hành;

+ Các đợt phát hành trái phiếu chuyển đổi phải cách nhau ít nhất sáu (06) tháng

2.3.2 Thị trường thứ cấp

2.3.2.1 Khái niệm thị trường thứ cấp

Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu đã được phát hành trên thị trường thị sơ cấp.Thị trường đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành Đây là nơi trao đổi, muabán các trái phiếu đã được phát hành Nhà đầu tư mua đi bán lại trái phiếu nhằm vào một trongcác mục đích: cất giữ tài sản tài chính, nhận một khoản thu nhập cố định hàng năm, hưởngchênh lệch giá

2.3.2.2 Vai trò của thị trường thứ cấp

 Thị trường thứ cấp tạo ra khả năng chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện

 Sự tồn tại của thị trường thứ cấp cũng cho phép định giá những trái phiếu mới căn cứ vàomức lãi có được từ những đợt phát hành lớn

2.3.2.3 Đặc điểm của thị trường thứ cấp:

 Thị trường có tính chất cạnh tranh hoàn hảo

 Thị trường có tính liên tục

 Khối lượng và nhịp độ giao dịch lớn gấp nhiều lần so với thị trường trái phiếu sơ cấp

 Hoạt động chủ yếu của thị trường trái phiếu thứ cấp là các nhà đầu tư thực hiện chuyển giaoquyền sở hữu trái phiếu và tiền cho nhau

 Tiền thu được ở đây không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về nhà đầu tư bán trái phiếu,nhượng lại quyền sở hữu trái phiếu cho nhà đầu tư khác

2.3.2.4 Mối liên hệ giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

 Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp có mối quan hệ nội tại, thị trường sơ cấp là cơ sở,

là tiền đề; Thị trường thứ cấp là động lực

 Không có thị trường sơ cấp thì không có chứng khoán để lưu thông trên thị trường thứ cấp

 Nếu không có thị trường thứ cấp thì các trái phiếu đã phát hành ra trên thị trường sơ cấp sẽ

Trang 11

không được tiếp tục lưu chuyển.

 Thị trường thứ cấp tạo điều kiện dễ dàng để chuyển các trái phiếu thành tiền mặt, làm tăngtính lỏng của trái phiếu khiến chúng được ưa chuộng hơn và dễ dàng hơn cho các công tybán chúng ở thị trường sơ cấp

 Việc thị trường thứ cấp làm tăng tính lỏng của trái phiếu đã phát hành giúp làm giảm rủi rocho các nhà đầu tư Các nhà đầu tư sẽ dễ dàng hơn trong việc sàng lọc, lựa chọn, thay đổikết cấu danh mục đầu tư trên cơ sở đó làm giảm chi phí cho các nhà phát hành trong việchuy động và sử dụng vốn

 Tăng tính lỏng của trái phiếu tạo điều kiện cho việc chuyển đổi thời hạn của vốn đồng thờitạo điều kiện cho việc phân phối vốn một cách hiệu quả, tạo điều kiện tách biệt giữa quyền

sở hữu và quyền quản lý, làm cơ sở cho việc tăng hiệu quả quản lý doanh nghiệp

 Thị trường thứ cấp xác định giá của trái phiếu đã được phát hành trên thị trường sơ cấp Thịtrường thứ cấp được xem là thị trường định giá các công ty Những người mua trái phiếu ởthị trường sơ cấp chỉ chấp nhận thanh toán với giá mà họ cho rằng nhà đầu tư trên thịtrường thứ cấp sẽ tăng hơn nữa Giá trái phiếu ở thị trường thứ cấp càng cao thì giá tráiphiếu trên thị trường sơ cấp càng cao

 Thông qua việc xác định giá, thị trường thứ cấp cung cấp một danh mục chi phí vốn tươngứng với các mức độ rủi ro khác nhau của từng phương án đầu tư, tạo cơ sở tham chiếu chocác nhà phát hành cũng như những nhà đầu tư trên thị trường sơ cấp

=> Việc phân biệt Thị trường sơ cấp và Thị trường thứ cấp có tính chất tương đối

2.3.2.5 Điều kiện niêm yết trái phiếu doanh nghiệp:

 Là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn có vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng

ký niêm yết từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán;

 Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký niêm yết phải có lãi;

 Các trái phiếu của một đợt phát hành có cùng ngày đáo hạn;

 Có hồ sơ đăng ký niêm yết trái phiếu hợp lệ theo quy định

 Trái phiếu sau khi được niêm yết sẽ được giao dịch chậm nhất vào ngày làm việc thứ ba saungày thanh toán tiền mua trái phiếu

 Việc hủy niêm yết các trái phiếu không thực hiện thanh toán được Sở Giao dịch Chứngkhoán Hà nội thực hiện căn cứ vào văn bản thông báo hủy kết quả phát hành trái phiếu củaKho Bạc Nhà nước và văn bản thông báo hủy niêm yết các trái phiếu không thực hiện thanhtoán của Trung tâm lưu ký chứng khoán

(Quy trình niêm yết đối với trái phiếu Chính phủ được thực hiện theo khoản 2 Điều 33 Thông tư số 17/2012/TT-BTC ngày 08/02/2012 của Bộ Tài chính về hướng dẫn phát hành trái phiếu Chính phủ tại thị trường trong nước.)

2.3.2.6 Phương thức giao dịch trái phiếu trên thị trường thứ cấp

Đối với trái phiếu: Mọi giao dịch trái phiếu được thực hiện theo phương thức thỏa thuận

Trang 12

(không giao dịch theo phương thức khớp lệnh).

 Ngoài phương thức khớp lệnh, hệ thống giao dịch tại SGDCK TP HCM còn cho phép cáccông ty chứng khoán thành viên thực hiện các giao dịch theo phương thức thỏa thuận

 Theo phương thức giao dịch thỏa thuận, các bên mua bán (hoặc công ty chứng khoán đạidiện bên mua và bán thay mặt khách hàng) thỏa thuận với nhau về các điều kiện giao dịch.Sau đó, giao dịch sẽ được công ty chứng khoán thành viên bên mua và bán nhập vào hệthống giao dịch để ghi nhận kết quả

 Các giao dịch thỏa thuận phải tuân thủ quy định về biên độ dao động giá trong ngày

 Trong thời gian giao dịch thỏa thuận, các công ty chứng khoán có thể đăng nhập quảng cáogiao dịch thỏa thuận trên hệ thống giao dịch của Sở để tìm kiếm đối tác

Trang 13

II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM

Thị trường trái phiếu Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, quy mô còn nhỏ so với tỷ trọngtrên GDP và quy mô còn nhỏ so với các nước trong khu vực

Dư nợ trái phiếu năm 2011 (khoảng 17% GDP) so với các thị trường trong khu vực (Trung

Quốc 53%, Thái Lan 58%, Malaysia 82%,Singapore 74%) Tuy nhiên, quy mô thị trường trái

phiếu đã có sự phát triển tích cực: theo ông Đỗ Việt Dũng, Phó trưởng phòng Vụ Tài chính

Ngân hàng, Bộ Tài Chính, quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam đã tăng khoảng 10 lần Năm

2012, ước tính tổng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam là 21,6% GDP Tuy nhiên, tráiphiếu chính phủ và trái phiếu được chính phủ bảo lãnh vẫn chiếm tỷ trọng lớn, năm 2012 ướctính chiếm 15,7% GDP Trái phiếu chính quyền địa phương chiếm 0,25% GDP, trái phiếudoanh nghiệp chiếm 5,56% GDP

Trang 14

1 Thị trường trái phiếu chính phủ:

Các mốc đánh dấu sự phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ

Mốc thời gian Các sự kiên

Tháng 01/2000 quy chế phát hành trái phiếu CP theo nghị định 72/CP ngày

26/07/1994 được thay thế bằng nghị định 01/2000/NĐ-CP ngày13/01/2000 ban hành quy chế phát hành trái phiếu chính phủ

Tháng 8 năm 2000

Trái phiếu chính phủ chính thức được đưa vào giao địch tập trungtrên Trung tâm Giao địch Chứng khoán Tp HCM

Tháng 11 năm 2003 Chính phủ ban hành Nghị định 141/2003/NĐ-CP về việc phát hành

TPCP, trái phiếu được Chính phũ bảo lãnh và trái phiếu chínhquyền địa phương

Tháng 8 năm 2005 Trái phiếu chính phủ dược niêm yết và giao dịch tại Trung tâm

Giao dịch Chứng khoán Hà nội

Trang 15

Tháng 5 năm 2008

Úy Ban Chứng khoán Nhà nước ban hành Quyết định UBCKNN về việc chuyển trái phiếu chính phủ niêm yết tại sở Giaodịch Chứng khoán Tp HCM ra niêm yết và giao dịch trên Trungtâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

352/QĐ-Tháng 7 năm 2008 Bộ Tài chính ban hành quyết định 46/2008/QĐ-BTC về Quy chế

Quản lý Giao dịch Trái phiếu Chính phủ tại Trung tâm Giao dịchchứng khoán Hà nội

Tháng 6 năm 2009 Hệ thống Giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức

khai trương hoạt động Giao dịch repos được đưa ra giao dịch trên

hệ thống

Quy mô trị trường TPCP phát hành bằng VND có sự tăng trưởng qua các năm đặc biệt có sựtăng trưởng mạnh trong năm 2012:

Trang 16

QUY MÔ TPCP PHÁT HÀNH BẰNG VND

0.09 0.19 0.28 0.85 1.59 2.64

5.02 9.6512.8210.95

Thành viên tham gia trên thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ trên thị trường thứ cấpchủ yếu là công ty chứng khoán và ngân hàng thương mại Các công ty chứng khoán được thựchiện giao dịch tự doanh và giao dịch môi giới) và thành viên đặc biệt (các ngân hàng thương

Trang 17

mại được thực hiện giao dịch tự doanh)

Trong thời gian năm qua, thị trường trái phiếu chính phủ đã hình thành và phát triển vớicác mốc lịch sử sau:

Đến năm 2000, quy chế phát hành trái phiếu CP theo nghị định 72/CP ngày 26/07/1994

được thay thế bằng nghị định 01/2000/NĐ-CP ngày 13/01/2000 ban hành quy chế pháthành trái phiếu chính phủ Quy chế phát hành TPCP đã đổi mới thể hiện qua việc ápdụng phương thức phát hành trái phiếu thông qua đấu thầu qua thị trường giao dịchchứng khoán tập trung và bảo lãnh phát hành Bên cạnh đó còn quy định việc TPCPniêm yết, giao dịch trên TTCK và phân rõ trách nhiệm của các cơ quan có liên quan.Tháng 8/2000: TPCP lần đầu tiên được đưa vào giao dịch trên Trung tâm giao dịch CK

Tp HCM (HOSE)

Tháng 11/2003: Chính phủ ban hành Nghị định 141/2003/NĐ-CP về việc phát hành trái

phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phươngbằng đồng Việt Nam và ngoại tệ trong phạm vi cả nước

TPCP do Chính phủ phát hành bao gồm: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc, trái phiếucông trình Trung ương, trái phiếu đầu tư, trái phiếu ngoại tệ và công trái xây dựng Tổ quốc

Tháng 8/2005: TPCP được đưa vào giao dịch trên Trung tâm GDCK Hà Nội

Tháng 6/2006: Quyết định số 2276/QĐ-BTC về tập trung đấu thầu TPCP tại Trung tâm

GDCK Hà Nội và Quyết định 46/2006/QĐ-BTC ban hành Quy chế về việc phát hànhtrái phiếu Chính phủ theo lô lớn

Trang 18

Quyết định này quy định sẽ chỉ tập trung hoạt động đấu thầu trái phiếu Chính phủ, bao gồmtrái phiếu kho bạc và trái phiếu đầu tư tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội kể từ ngày01/07/2006.

Tính đến 30-9-2007, đã có hơn 114.809 tỉ đồng trái phiếu được niêm yết giao dịch trên

Sở GDCK TPHCM (HOSE) và Trung tâm GDCK Hà Nội (HASTC), tăng gấp hơn 104lần sovới giá trị niêm yết năm 2000

Tháng 1/2008: Quyết định 86/2008/QĐ-BTC phê duyệt đề án xây dựng thị trường

TPCP chuyên biệt

Đây được xem là mốc sự kiện quan trọng nhất vì đã đặt ra mục tiêu, lộ trình và xác định môhình phát triển của Thị trường TPCP Đề án được xây dựng nhằm tạo ra một thị trường giaodịch trái phiếu chuyên biệt, tách hẳn khỏi thị trường giao dịch cổ phiếu

Hàng hóa giao dịch bao gồm các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địaphương, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh Tất cả các loại trái phiếu giao dịch trong hệ thống đềuđược lưu ký tập trung tại Trung tâm Lưu ký chứng khoán

Trái phiếu Chính phủ giao dịch sẽ được gán mã giao dịch và mã định danh riêng biệt để tạothuận lợi cho hoạt động giao dịch và quản lý Phương thức giao dịch được áp dụng là thỏathuận Thành viên có thể thực hiện giao dịch thỏa thuận từ xa thông qua hệ thống mạng máytính nội bộ mở rộng

Tháng 5/2008: Ủy ban Chứng khoán Nhà nước quyết định chuyển trái phiếu chính phủ

từ sàn Tp.HCM sang niêm yết tại sàn Hà Nội

Tháng 7/2008: Quyết định Số 46/2008/QĐ-BTC ban hành Quy chế quản lý giao dịch

TPCP tại Trung tâm GDCK Hà Nội

Quy chế này quy định về hoạt động đăng ký niêm yết, công bố thông tin, thành viên giaodịch TPCP, giao dịch và quản lý giao dịch TPCP niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứngkhoán Hà Nội (TTGDCKHN)

Từ khoảng đầu năm 2008, liên tục diễn ra các cuộc đấu giá TPCP không thành công, sốlượng tham gia rất èo uột, thậm chí không có ai tham dự Một thống kê cho thấy: trong 10 cuộcđấu giá từ tháng 3/2008 đến 11/7/2008 thì chỉ có 11 đơn vị tham gia với tổng cộng 875 tỷ đồng

Trang 19

được đăng ký đấu so với trên 8.000 tỷ đồng gọi thầu 6 cuộc đấu giá chỉ có một đơn vị tham giađấu giá và 9 cuộc đấu giá không có một trái phiếu nào được đấu thành công Từ đầu năm 2009đến tháng 7/2009, các cuộc đấu thầu TPCP cũng chịu chung số phận Thậm chí, từ đầu tháng 4đến tháng 7, lãi suất trần huy động TPCP tăng thêm đến 1,2 điểm phần trăm (từ 7,6% đến8,8%), nhưng các cuộc đấu giá TPCP vẫn chưa thể tạo được sức hút đối với các NĐT trong vàngoài nước, như sự thất bại của phiến đấu thầu lô 500 tỷ đồng ngày 29/5/2009 của Công ty CPĐầu tư phát triển đường cao tốc VN (VEC) …

Tháng 9/2009: Hệ thống giao dịch Trái phiếu Chính phủ chuyên biệt chính thức được

Sở GDCK Hà Nội (HNX) đưa vào vận hành và ra mắt vào ngày 24/09/2009 tới với mụctiêu phát huy tối đa tầm quan trọng của kênh huy động vốn này đối với nền kinh tế.Mục tiêu xây dựng và phát triển Thị trường TPCP là mở rộng thị trường, tăng cường tínhthanh khoản trên thị trường TPCP, liên kết thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp, và tăngcường công tác giám sát thị trường

Sự ra đời của thị trường này được kỳ vọng không chỉ là một kênh dẫn vốn hữu hiệu của nềnkinh tế mà còn làm đa dạng hóa các công cụ đầu tư trên thị trường vốn Đồng thời, thị trườngTPCP còn giúp tăng cường sự độc lập trong điều hành chính sách tiền tệ của các ngân hàngtrung ương thông qua mua bán TPCP, tác động trực tiếp đến lượng cung tiền và các biến sốkinh tế vĩ mô

Sau một năm chính thức đi vào hoạt động, thị trường trái phiếu chuyên biệt đã có nhữngbước tiến mới, đó là thực hiện lưu ký tập trung tại HNX chứ không thực hiện một cách rải ráctrên nhiều thị trường Hơn nữa, nhờ yêu cầu khắt khe đối với các thành viên tham gia thị trường

về các yếu tố trang thiết bị, chất lượng nhân sự, các bên tham gia thị trường có thể yên tâm vềtính an toàn khi giao dịch Các cơ chế dành cho giao dịch REPO rất hạn chế Trong giai đoạn

2010 – 2015 thị trường sẽ có thêm giao dịch option, future và giao dịch corporation để đưa cáctrái phiếu doanh nghiệp vào giao dịch

Năm 2010

Trên thị trường sơ cấp, trong năm 2010, hoạt động đấu thầu trái phiếu huy động được 28nghìn tỷ đồng (tăng 11 lần so với năm 2009 và chiếm 50% tổng nguồn thu ngân sách từ pháthành TPCP năm 2010)

Trang 20

giữa năm làm gia tăng áp lực dư thừa vốn; Thông tư 13 và Thông tư 19 buộc các TCTD phải

tăng cường đầu tư vào TPCP; các NHTM tích cực tham gia mua TPCP do chênh lệch lãi suất

khá hấp dẫn giữa thị trường mở (OMO) và huy động từ thị trường 1; một lượng khá lớn TPCPđáo hạn trong năm 2010, phần lớn là tại các NHTM, nên các NHTM tiếp tục mua lại và nắmgiữ TPCP

Năm 2011:

+ Trên thị trường sơ cấp, Năm 2011 có thể coi là năm thành công trong huy động vốn chongân sách nhà nước thông qua đấu thầu trái phiếu chính phủ tại HNX Tổng khối lượngtrái phiếu chính phủ phát hành thành công đạt 65.903,8 tỷ đồng, đạt 77,5% kế hoạchnăm Khối lượng trái phiếu phát hành thành công nhiều nhất thuộc kỳ hạn 3 năm(30.117,1 tỷ đồng) và 5 năm (22.678,5 tỷ đồng) Khối lượng trái phiếu chính phủ bảolãnh phát hành thành công đạt 14.957 tỷ đồng, trong đó, khối lượng trúng thầu kỳ hạn 3năm và 5 năm đạt lần lượt 5.742 tỷ đồng và 4.770 tỷ đồng Lãi suất phát hành tuy ở mộtmặt bằng mới cao hơn năm trước, song vẫn thấp hơn khoảng 2% so với lãi suất huyđộng của hệ thống ngân hàng

Ngày đăng: 06/01/2014, 14:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4: Kết quả phát hành trái phiếu của các TCTD 2000 - 2004 - TIỂU LUẬN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU
Bảng 4 Kết quả phát hành trái phiếu của các TCTD 2000 - 2004 (Trang 30)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w