Thị trường trái phiếu là 1 bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chếchuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng củathị trường tài chính l
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Mặc dù đạt được những thành tích ấn tượng trong quá trình xây dựng và pháttriển kinh tế đất nước, mặc dù luôn nằm trong top những quốc gia có tốc độ tăng trưởngGDP cao nhất thế giới nhưng hiện tại Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển Vì vậy
để Việt Nam trở thành một nước phát triển, trở thành một cường quốc về kinh tế thì nhucầu về vốn để xây dựng và phát triển luôn là một vấn đề làm đau đầu không những chocác nguyên thủ quốc gia mà còn các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và tập đoàn kinh tế nhànước lẫn tư nhân
Để thực hiện mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một quốc gia giàu và mạnh chúng
ta cần phải chuẩn bị tốt các nguồn lực, một trong những nguồn lực đóng vai trò quantrọng đó là vốn Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang tăng trưởng mạnh, nhu cầuvốn cho đầu tư phát triển là rất lớn Việc huy động vốn trong và ngoài nước trong thờigian qua đã đạt những kết quả khả quan Tuy nhiên, việc huy động vốn trong nước vẫnchưa thật sự phát triển mạnh, đặc biệt là vốn dài hạn
Hơn lúc nào hết, nhu cầu vốn đặt ra cho Chính phủ một sự quan tâm đặc biệt đểphát triển Phát triển thị trường vốn Việt Nam, trong đó thị trường chứng khoán đóngvai trò chủ đạo, đây là kênh dẫn vốn nhanh để phát triển nền kinh tế đất nước
Tính đến nay, thị trường chứng khoán Việt Nam đã hoạt động được hơn mườinăm, đã có những bước phát triển cả về quy mô và chất lượng hàng hóa, tiến tới phùhợp với cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế Tuy nhiên, bên cạnh các hoạt động muabán giao dịch cổ phiếu sôi động thì thị trường trái phiếu vẫn chưa thật sự thu hút đượccác nhà đầu tư quan tâm So với thị trường cổ phiếu đã có những phát triển vượt bậc thìthị trường trái phiếu vẫn còn đang bỏ ngỏ
Phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam trở thành kênh huy động vốn nhanh vàhiệu quả, giải quyết các nhu cầu vốn cho các dự án đầu tư và bù đắp
T
thâm hụt ngân sách của Chính phủ, đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ cho quá trình sản xuất
và tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp cũng như tạo thêm hàng hoá cho thịtrường và nhà đầu tư Muốn vậy, cần phải phân tích tìm hiểu nguyên nhân kém pháttriển và đưa ra các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu – một thị trường hết sứctiềm năng hiện nay
Xuất phát từ những nguyên nhân trên, nhóm đã chọn nghiên cứu đề tài:
“PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY ”
Trong phạm vi một bài tiểu luận, với sự hạn chế về thời gian cũng như kiến thứccủa nhóm nghiên cứu chắc chắn đề tài nghiên cứu sẽ có những thiếu sót Vì vậy nhóm
Trang 2nghiên cứu rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu của thầy để đề tài đượchoàn thiện hơn.
Trang 3CHƯƠNG I
LÝ LUẬN TỔNG QUAN VỀ TRÁI PHIẾU VÀ THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU1.1 Thị trường trái phiếu
1.1.1 Khái niệm về trái phiếu
Trái phiếu là một giấy chứng nhận nợ dài hạn được ký kết giữa chủ thể pháthành (Chính phủ hay doanh nghiệp) và người cho vay, đảm bảo một sự chi trả lợi tứcđịnh kỳ và hoàn lại vốn gốc cho người cầm trái phiếu ở thời điểm đáo hạn Trên giấychứng nhận nợ này có ghi mệnh giá của trái phiếu và tỷ suất lãi trái phiếu
1.1.2 Phân loại trái phiếu
a Căn cứ vào chủ thể phát hành
Trái phiếu được chia thành hai loại chính: trái phiếu Chính phủ (TPCP), tráiphiếu Chính quyền địa phương (TPCQĐP) và trái phiếu doanh nghiệp (TPDN)
Trái phiếu chính phủ và trái phiếu chính quyền địa phương
Là chứng khoán nợ do Chính phủ hoặc Chính quyền địa phương phát hành nhằmmục đích bù đắp thiếu hụt ngân sách và tài trợ các dự án xây dựng các cơ sở hạ tầng,công trình phúc lợi công cộng trung ương và địa phương Khoản nợ này được Chính
phủ dùng ngân sách quốc gia để thanh toán Xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của Chính
phủ hay Chính quyền địa phương, có thể phát hành trái phiếu: ngắn hạn, trung hạn hay
dài hạn Có các loại trái phiếu tiêu biểu:
- Trái phiếu kho bạc: là trái phiếu nợ trung, dài hạn từ 5 đến 30 năm hay hơn
nữa, do kho bạc phát hành khi huy động vốn để bổ sung bù đắp ngân sách…
- Trái phiếu đô thị: là trái phiếu dài hạn từ 10 đến 30 năm do Chính phủ hay
Chính quyền địa phương phát hành nhằm huy động vốn tài trợ cho các dự án đầu tư hạtầng
Trái phiếu doanh nghiệp
Là chứng khoán nợ do các công ty phát hành với mục đích huy động vốn cho đầu
tư phát triển Các công ty phát hành trái phiếu khi muốn huy động một số vốn lớn và cótính chất dài hạn, khi đó công ty là người đi vay và cam kết trả cho người mua tráiphiếu doanh nghiệp cả gốc và lãi theo những quy định trong hợp đồng phát hành tráiphiếu Để quyết định việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp cần căn cứ vào các nhântố: tình hình của công ty, tình hình thị trường, tình hình lãi suất ngân hàng, tính chất của
dự án đầu tư Trái phiếu doanh nghiệp có rất nhiều loại, tùy thuộc vào điều kiện, sự tínhtoán của công ty có thể lựa chọn một trong những loại trái phiếu đặc trưng sau để pháthành:
- Trái phiếu thế chấp (mortagage bonds) còn gọi là trái phiếu bảo đảm: là loại
trái phiếu khi phát hành đòi hỏi phải có một lượng tài sản tương ứng ký thác tại cơ quan
ủy thác để đảm bảo chắc chắn khả năng hoàn trả của trái phiếu Tài sản thế chấp có thể
là nhà máy, thiết bị, chứng khoán (cổ phiếu của công ty mua của công ty khác, TPCP,TPCQĐP) do công ty nắm giữ Trái phiếu thế chấp là loại được xếp hạng bảo vệ cao, cóhai loại:
Trang 4+ Trái phiếu đóng: loại này không cho phép công ty phát hàng bất kỳ một loạichứng khoán bổ sung nào đối với những tài sản đã thế chấp.
+ Trái phiếu mở: loại này cho phép công ty phát hành chứng khoán bổ sung đốivới tài sản đã thế chấp theo tỷ lệ qui định Loại này thường có lãi suất cao hơn sovới trái phiếu thế chấp đóng
- Trái phiếu tín chấp hay còn gọi là trái phiếu không bảo đảm (unsecured
bonds): là loại trái phiếu chỉ dựa vào uy tín của công ty để phát hành, công ty khôngđưa một tài sản gì ra làm vật đảm bảo Loại này chỉ có các công ty lớn, có danh tiếng,
uy tín mới phát hành
- Trái phiếu chuyển đổi (convertible bonds): là loại trái phiếu mà khi phát hành
có kiềm điều khoản cho phép người sở hữu trái phiếu đặc quyền, được đổi sang một sốlượng nhất định cổ phiếu thường với chỉ số và thời gian chuyển đổi đã được xác định.Đây là loại trái phiếu rất hấp dẫn và dễ bán hơn, thường được nhiều công ty cổ phần ápdụng
- Trái phiếu thu nhập (income bonds): là loại trái phiếu mà lợi tức được trả tùy
thuộc vào lợi nhuận của công ty và không cao hơn lãi suất ghi trên trái phiếu Đây làloại chứng khoán lai tạp giữa trái phiếu và cổ phiếu thường, nó có phần ưu tiên về lợinhuận hơn cổ phiếu có nghĩa là trái chủ nhận được lãi trước khi cổ đông nhận cổ tức
- Trái phiếu lãi suất chiết khấu (coupon bonds): là loại trái phiếu được trả lãi
ngay khi phát hành, được khấu trừ vào vốn mua trái phiếu
- Trái phiếu lãi suất thả nổi (floating rate bonds): là loại trái phiếu có lãi suất
được điều chỉnh theo từng thời không kỳ cho phù hợp với lãi suất trên thị trường (lãisuất tín dụng) hoặc bị chi phối bởi giá, chẳng hạn như chỉ số bán lẻ Đây là loại tráiphiếu được bảo hiểm, chống lại được phần nào lạm phát và sự gia tăng của lãi suất tíndụng ngân hàng Như vậy, công ty phát hành và nhưng người đầu tư có thể được bảo vệphần nào trước rủi ro lãi suất
- Trái phiếu có thể thu hồi (callable bonds): là trái phiếu có quy định điều
khoản cho phép công ty mua lại trái phiếu trước khi đến hạn, thường theo giá “gia tăng
để giảm bớt nợ”
b Căn cứ theo tính chất chuyển nhượng
Trái phiếu vô danh
Trái phiếu vô danh là loại trái phiếu không ghi tên người chủ trái phiếu cả trên tráiphiếu và cả trên sổ người phát hành Người cầm giữ trái phiếu là người sở hữu tráiphiếu
Trái phiếu ghi danh
Trái phiếu ghi danh là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ người sở hữu cả trêntrái phiếu và sổ người phát hành
1.1.3 Thị trường trái phiếu
Trang 5Thị trường trái phiếu là 1 bộ phận của thị trường vốn dài hạn, thực hiện cơ chếchuyển vốn trực tiếp từ nhà đầu tư sang nhà phát hành, qua đó thực hiện chức năng củathị trường tài chính là nguồn cung cấp vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.
Thị trường trái phiếu là thị trường vốn dài hạn, tập trung các nguồn vốn đầu tư
và phát triển nền kinh tế do đó có tác động rất lớn đến môi trường đầu tư nói riêng vàtình hình kinh tế nói chung
a Phân loại thị trường trái phiếu
Thị trường sơ cấp: là thị trường mua bán các TP mới phát hành.Trên thị trường
này vốn từ nhà đầu tư chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua tráiphiếu mới phát hành
Thị trường thứ cấp: Thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các trái phiếu được
phát hành trên thị trường sơ cấp Là thị trường chuyển nhượng quyền mua sở hữu tráiphiếu Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các trái phiếu đã phát hành
b Vai trò của thị trường trái phiếu
Thị trường trái phiếu (TTTP) là nơi giao dịch mua bán các loại trái phiếu đã pháthành, các loại trái phiếu này do Chính phủ hoặc Chính quyền địa phương và các công typhát hành TTTP đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế, đối với các doanh nghiệpcũng như các nhà đầu tư
b1 Đối với nền kinh tế
Thị trường trái phiếu là kênh huy động vốn nhanh chóng và hiệu
và với các kỳ hạn khác nhau
Thị trường TPCP phát triển giúp Chính phủ thực hiện chính sách
tiền tệ.
Trên thị trường vốn, trái phiếu là một hàng hóa quan trọng, đặc biệt là TPCP với đặc
tính ít rủi ro nhất đã trở thành hàng hóa chủ đạo trên thị trường, góp phần hình thành lãisuất trên thị trường
Trang 6Trái phiếu do Chính phủ phát hành thu hút một khối lượng vốn tiền mặt tronglưu thông từ các tầng lớp dân cư, tổ chức kinh tế và định chế tài chính trung gian Vốnnày được đưa vào sử dụng cho nhu cầu đầu tư phát triển, tạo ra của cải hàng hóa cho xãhội Nhờ vậy, mà cân đối tiền hàng được điều chỉnh tích cực, tăng tốc độ vòng quayvốn, giảm áp lực cầu tiền mặt của nền kinh tế, ổn định môi trường tiền tệ, góp phầnnâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong nước.
Ngân hàng trung ương (NHTƯ) theo sự ủy quyền của Bộ Tài chính thường pháthành loại trái phiếu ngắn hạn để thực hiện nghiệp vụ thị trường mở Khi NHTƯ cần rútbớt khối lượng tiền tệ trong lưu thông về thì NHTƯ bán tín phiếu ra, ngược lại khi cầnthiết phải đưa tiền vào lưu thông thì NHTƯ mua tín phiếu về Mục đích góp phần thựchiện chính sách tài chính quốc gia khắc phục tình hình lạm phát, bảo đảm được khốilượng tiền tệ trong lưu thông một cách hợp lý
Thị trường trái phiếu phát triển làm cho thị trường vốn hoàn thiện và
đa dạng hơn.
Thị trường trái phiếu có quy mô và độ sâu để hỗ trợ tốt hơn nhu cầu vốn đầu tư
dài hạn trong nền kinh tế, góp phần tạo ra một cấu trúc thị trường vững chắc mà nó dựatrên cơ sở cân đối giữa thị trường vay nợ ngân hàng, thị trường trái phiếu và thị trường
cổ phiếu trong tương lai Thị trường trái phiếu thúc đẩy sự phát triển bền vững, ổn địnhcủa thị trường vốn
Huy động vốn qua loại hình trái phiếu sẽ làm giảm sự tập trung vào hệ thốngngân hàng Đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp vừa có thể huy động đượcnguồn vốn dồi dào từ xã hội vừa góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế xã hội Nếutrước đây doanh nghiệp chỉ có nguồn vay duy nhất từ ngân hàng, với sự tồn tại và pháttriển hoạt động của thị trường TPDN đã tạo thêm cho các doanh nghiệp nguồn cung tíndụng hữu hiệu Gánh nặng và rủi ro cho vay của các ngân hàng được san sẻ cho các nhàđầu tư trái phiếu trên thị trường Như vậy, thị trường TPDN có thể đa dạng hóa nhiềurủi ro hơn hình thức tài trợ qua ngân hàng, nhờ đó việc tài trợ dài hạn cho các dự án rủi
ro cao có thể thực hiện được Còn giúp làm giảm chi phí vốn cho nền kinh tế
Phát triển thị trường trái phiếu sẽ làm giảm sự sự huy động qua hệ thống ngânhàng, điều này tạo sự cân xứng trong kỳ hạn huy động vốn và cho vay vốn của ngânhàng, làm giảm nhẹ các “sai lệch kép” và do đó hạ thấp nguy cơ nền kinh tế đối mặt vớikhủng khoảng về cán cân vốn như tình hình ở các nước Châu Á trong cuộc khủnghoảng tài chính 1997-1998
Thị trường trái phiếu giúp Chính phủ thực thi có hiệu quả chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế-xã hội.
Đối với Chính phủ, một trong những chức năng nhiệm vụ quan trọng là quản lý
vĩ mô nền kinh tế đảm bảo vai trò của “người trọng tài” tạo môi trường bình đẳng,thuận lợi cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội phát triển bền vững Thông qua phát hành tráiphiếu và đầu tư bằng vốn TPCP góp phần nâng cao hiệu quả của việc phân phối và táiphân phối nguồn lực tài chính, định hướng hoạt động đầu tư trong nền kinh tế
b2 Đối với doanh nghiệp
Trang 7Mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển Đốivới doanh nghiệp, thường có ba cách để huy động vốn: vay ngân hàng, phát hành tráiphiếu và phát hành cổ phiếu Đối với từng phương thức huy động vốn đều có những thếmạnh riêng, tùy theo tình hình cụ thể của nền kinh tế và của doanh nghiệp, để từ đódoanh nghiệp đưa ra quyết định phương thức tài trợ tối ưu nhất Tuy nhiên, các doanhnghiệp ở Việt Nam thường huy động bằng cách vay ngân hàng hoặc phát hành cổ phiếuhơn là phát hành trái phiếu Phát hành trái phiếu với các ưu điểm:
- Thứ nhất, phát hành trái phiếu đảm bảo cho doanh nghiệp được sử dụng một
nguồn vốn ổn định và dài hạn, trong khi vay ngân hàng thường là ngắn hạn hơn Mặc
dù trong một số dự án đặc biệt, ngân hàng thương mại cũng có thể cho doanh nghiệpvay với thời hạn dài hơn, nhưng với các dự án lớn ngân hàng lại bị giới hạn đầu tư Cụthể, khi doanh nghiệp tài trợ vốn bằng phát hành trái phiếu không bị hạn chế về quy mômiễn là doanh nghiệp có phương án sử dụng số vốn huy động một cách hợp lý, có tínhkhả thi và có khả năng hoàn trả lãi và gốc cho những người đi vay Trái lại, phươngthức vay ngân hàng, số vốn tối đa doanh nghiệp được vay lại phụ thuộc vào vốn tự cócủa ngân hàng cho vay, nếu số vốn doanh nghiệp cần huy động quá lớn, việc cho vayphải được tiến hành qua phương thức đồng tài trợ phức tạp hơn nhiều Mặt khác, doanhnghiệp phát hành trái phiếu còn có ưu điểm về thời hạn vay hơn các khoản vay ngânhàng, các doanh nghiệp hoàn toàn tự do trong việc xác định thời hạn vay Nếu cácdoanh nghiệp chú tâm đến kênh huy động vốn này thì sẽ có lợi thế lớn cho các doanhnghiệp trong nước đủ sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài trong tương lai
- Thứ hai, trong trường hợp doanh nghiệp cần vốn nhưng ngại phát hành cổ
phiếu rộng rãi vì sợ phát hành thêm cổ phiếu sẽ làm pha loãng quyền sở hữu trongdoanh nghiệp, hoặc doanh nghiệp có dự án tốt, nhưng không muốn phát hành cổ phiếu,
vì không muốn lợi nhuận của mình bị chia đều cho các nhà đầu tư khi phải trả cổ tứccao theo hiệu quả kinh doanh… thì phát hành trái phiếu là một giải pháp tối ưu Vì thế,doanh nghiệp không sợ bị thao túng mà lợi tức chia sẻ cũng chỉ hạn chế trong phạm vilãi suất trái phiếu khi phát hành Ngoài ra, trái phiếu là công cụ huy động vốn có thờihạn nên trách nhiệm của doanh nghiệp đối với trái chủ sẽ kết thúc khi trái phiếu đáohạn, trong khi doanh nghiệp phải có trách nhiệm đối với cổ đổng nắm giữ cổ phiếutrong suốt thời gian nó tồn tại
- Thứ ba, chi phí sử dụng vốn khi phát hành trái phiếu thấp hơn phát hành cổ
phiếu, do đặc điểm của trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổ phiếu.Việc đầu tư vào cổ phiếu có mức độ rủi ro cao hơn so với đầu tư vào trái phiếu, do đómức bù rủi ro mà nhà đầu tư đòi hỏi đối với trái phiếu thấp hơn cổ phiếu Công ty pháthành trái phiếu trả lãi cho trái chủ không phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh doanhcủa công ty, trong khi đó công ty chỉ trả cổ tức cho cổ đông khi kinh doanh có lãi Hơnnữa, trong trường hợp công ty giải thể hoặc bị phá sản thì trái chủ được ưu tiên trả nợtrước rồi mới đến các cổ đông Chính vì thế, nhà đầu tư luôn đánh giá mức độ rủi ro củatrái phiếu thấp hơn cổ phiếu và tương ứng họ đưa ra mức bù rủi ro đối với trái phiếuthấp hơn đối với cổ phiếu
Để tham gia thị trường trái phiếu với tư cách là nhà phát hành, các doanh nghiệpphải đáp ứng các yêu cầu về độ tin cậy đối với nhà đầu tư như quy mô hoạt động, hệthống kế toán – kiểm toán, định mức tín nhiệm… Điều này đặc biệt quan trọng và
Trang 8không thể thiếu khi doanh nghiệp muốn phát hành trái phiếu ra công chúng một cáchrộng rãi và niêm yết trái phiếu của mình trên sở giao dịch chứng khoán Trái phiếu củadoanh nghiệp phát hành càng chất lượng thì càng thu hút được nhiều nhà đầu tư vàngược lại Chính những yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp đòi hỏi doanh nghiệpphải luôn củng cố bộ máy tổ chức và quản lý, nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả kinhdoanh, nâng cao mức độ tín nhiệm đối với những người đầu tư Đây cũng có thể coi làmột tác động mang tính gián tiếp của thị trường trái phiếu đối với sự phát triển của cácdoanh nghiệp nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung.
Thông qua chi đầu tư bằng vốn TPCP, khi Chính phủ đầu tư vào ngành, lĩnh vựcnào sẽ giúp thúc đẩy hoạt động đầu tư vào ngành, lĩnh vực đó của thành phần kinh tếphi nhà nước
b3 Đối với nhà đầu tư
Thị trường trái phiếu góp phần làm đa dạng hoá các sản phẩm tài chính, cungcấp cho các nhà đầu tư ngày càng nhiều lựa chọn để đa dạng hóa danh mục đầu tư phùhợp với những khẩu vị rủi ro khác nhau TPCP với độ an toàn cao nhưng lãi suất khônghấp dẫn bằng TPDN Bên cạnh đó, đầu tư vào cổ phiếu sẽ đem lại cho nhà đầu tư tỷsuất lợi nhuận cao hơn tương ứng với mức rủi ro cao hơn Thị trường trái phiếu với cácloại trái phiếu và kỳ hạn khác nhau tạo thêm cho nhà đầu tư lựa chọn phương án đầu tưphù hợp
Đối với nhà đầu tư, trái phiếu có tính ổn định và chứa đựng ít rủi ro hơn cổphiếu Trái phiếu luôn có một thời hạn nhất định và khi đáo hạn trái chủ được nhận lạivốn góp ban đầu của mình Thu nhập chủ yếu của trái phiếu là tiền lãi, đây là khoản thu
cố định Khi đầu tư vào TPDN, trái chủ nhận tiền lãi không phụ thuộc vào tình hình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp phát hành, đặc điểm này không giống với cổ đôngchỉ nhận được cổ tức khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi Thêm một đặc điểm nữa, nếucông ty bị giải thể hoặc phá sản thì trái chủ được ưu tiên trả nợ trước các cổ đông Vìvậy đây là dạng đầu tư phù hợp với các nhà đầu tư có khẩu vị đầu tư không thích mạohiểm
1.2 Rủi ro trong đầu tư trái phiếu
Tất cả các khoản đầu tư luôn tồn tại những rủi ro nhất định Đầu tư chứng khoánnói chung và đầu tư trái phiếu nói riêng, có thể gặp một số rủi ro như: rủi ro lãi suất, rủi
ro do lạm phát gây ra, rủi ro tài chính và rủi ro thanh khoản…Đối với nhà đầu tư đểgiảm thiểu rủi ro cũng như thiết lập danh mục đầu tư tối ưu Đối với nhà phát hành vànhà quản lý đưa ra các biện pháp hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư và tăng tính hấp dẫn củatrái phiếu Do đó, việc nhận diện các rủi ro trong đầu tư trái phiếu rất cần thiết
1.2.1 Rủi ro lãi suất
Lãi suất là yếu tố thường xuyên liên tục biến động, phản ánh những thay đổi vềtương quan cung cầu vốn tiền tệ, cung cấp vốn tiền tệ, cung cấp tín dụng trên thị trườngtài chính Cũng từ đó dẫn đến những thay đổi liên tục về tỷ suất sinh lời cần thiết củatrái phiếu Giá của một trái phiếu sẽ thay đổi theo hướng ngược lại với lãi suất thịtrường Khi lãi suất tăng làm cho trái phiếu cũ với mức lãi suất thấp hơn nên kém hấpdẫn hơn, giá trái phiếu sẽ giảm, trái phiếu có thời gian đáo hạn càng dài thì mức giảm
Trang 9giá càng lớn Ngược lại khi lãi suất giảm thì giá trái phiếu tăng Rủi ro lãi suất là rủi rochính mà nhà đầu tư phải gánh chịu khi đầu tư trái phiếu.
Các loại trái phiếu đều tiềm ẩn rủi ro lãi suất Ví dụ, khi Chính phủ thâm hụtngân sách sẽ huy động vốn bằng cách phát hành thêm trái phiếu, khi đó Chính phủmuốn huy động được vốn thì phải tăng lãi suất trái phiếu, còn đối với các nhà đầu tư chỉmua khi lãi suất trái phiếu mới phát hành cao hơn lãi suất các trái phiếu đang lưu hành,
do đó những người đang nắm giữ trái phiếu sẽ bị thiệt hại do giá trái phiếu giảm Lãisuất trái phiếu Chính phủ tăng sẽ dẫn đến hệ quả, các nhà đầu tư thay vì mua trái phiếudoanh nghiệp sẽ chuyển sang mua trái phiếu Chính phủ, do đó lãi suất trái phiếu doanhnghiệp cũng phải tăng lên
Diễn biến tăng lãi suất ở Việt Nam trong sáu tháng đầu năm 2008, không những
đã làm các nhà đầu tư gánh chịu rủi ro do giá trái phiếu giảm, mà còn làm ảnh hưởngđến khả năng huy động vốn của Chính phủ và càng làm khép lại cánh cửa huy động vốnbằng cách phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp
1.2.2 Rủi ro lạm phát
Lạm phát gây nên sự thay đổi giá trị, sức mua của tiền tệ Từ đó gây nên nhữngthiệt hại nhất định cho các nhà đầu tư trái phiếu Lạm phát càng cao, lãi suất thực củatrái phiếu càng giảm, do vậy làm mất giá trị của trái phiếu Trái phiếu Chính phủ đượccoi là an toàn nhất (theo nghĩa là không có khả năng không được thanh toán) nhưng vẫn
có rủi ro lạm phát Ngay cả trái phiếu có lãi suất thả nổi vẫn có thể phải gánh chịu rủi rolạm phát nếu lãi suất không phản ánh hết lạm phát Lạm phát càng cao thì rủi ro đầu tưtrái phiếu càng cao Trong bối cảnh lạm phát cao để đảm bảo lãi suất thực dương thì lợisuất trái phiếu phải tăng
1.2.3 Rủi ro thanh khoản
Rủi ro về khả năng chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt trên thị trường, bao gồm
cả yếu tố thời gian và giá cả chuyển đổi Để tăng tính thanh khoản cho trái phiếu, nhàđầu tư buộc phải tăng mức chiết khấu trái phiếu do đó giá trái phiếu bị đẩy xuống, lúcnày nhà đầu tư đã phải gánh chịu thiệt hại về giá trị Khoản thiệt hại này sẽ lớn, khi thịtrường thiếu tính thanh khoản và đặc biệt là trong điều kiện chưa có đội ngũ tạo lập thịtrường làm cho nhà đầu khó tìm được người mua trái phiếu và khó có thể bán được vớimức giá tốt nhất
1.2.4 Rủi ro tín dụng
Rủi ro về khả năng thanh toán, khi tổ chức phát hành trái phiếu không đủ khảnăng tài chính để hoàn trả đầy đủ, đúng hạn vốn gốc và lãi như đã cam kết với trái chủ
Trái phiếu Chính phủ thường được coi là không có rủi ro về khả năng thanh toán
vì Chính phủ có thể tăng thuế hay in thêm tiền để chi trả lãi và vốn gốc khi đến hạn.Một trường hợp hiếm thấy khi Chính phủ không thể thanh toán được nợ là cuộc khủnghoảng đồng Rúp của Chính phủ Nga năm 1998
Ngược lại với trái phiếu Chính phủ, đối với trái phiếu doanh nghiệp thì đây làloại rủi ro đáng ngại nhất, đặc biệt là trái phiếu tín chấp Đây là loại rủi ro trực tiếp vàđôi khi thảm hại do công ty phát hành bị phá sản đe dọa nhà tư bị thiệt hại một phầnhoặc toàn bộ số tiền đã mua trái phiếu Rủi ro tài chính của trái phiếu doanh nghiệp gắn
Trang 10liền với hệ số tín nhiệm của công ty, hệ số tín nhiệm càng cao thì trái phiếu càng đượcđánh giá an toàn.
1.3 Định mức tín nhiệm đối với thị trường trái phiếu
1.3.1 Khái niệm định mức tín nhiệm
Định mức tín nhiệm (ĐMTN) là đánh giá về khả năng thực hiện thanh toán đúnghạn một nghĩa vụ tài chính của một tổ chức phát hành các công cụ nợ ĐMTN là gồm
cả đánh giá định tính và định lượng về sức mạnh tín dụng của tổ chức phát hành Tổchức phát hành có thể là các doanh nghiệp, chính quyền địa phương và quốc gia trongtrường hợp phát hành nợ của chính phủ ĐMTN đối với các công cụ thị trường tráiphiếu và thị trường tiền tệ được thực hiện phổ biến ở các thị trường tài chính phát triển
Định mức tín nhiệm gồm cả đánh giá định tính và định lượng, đây là hai tiêu chí
cơ bản của việc đánh giá ĐMTN Bao gồm các yếu tố về: tình hình và triển vọng pháttriển kinh tế đất nước, các yếu tố rủi ro vĩ mô, chính sách của nhà nước có ảnh hưởngđến ngành và đến công ty; đặc điểm của (các) ngành kinh tế mà công ty đang tham gia,triển vọng phát triển của ngành trong nền kinh tế quốc dân, tác động, ảnh hưởng củanhững yếu tố vĩ mô, trong, ngoài nước tới ngành kinh tế, vị trí, thị phần của công tytrong ngành; chính sách quản lý trong sản xuất kinh doanh, chính sách tài chính, quản lývốn, marketing, bán hàng, đặc điểm công nghệ, quy trình sản xuất, khả năng, kinhnghiệm của bộ máy lãnh đạo…
Kết quả đánh giá ĐMTN được biển hiện dưới hình thức các ký hiệu từ A (nghĩa
là ít bị vỡ nợ nhất) cho đến D (nghĩa là đã bị vỡ nợ rồi) phụ thuộc vào khả năng củangười phát hành trả nợ gốc và lãi đúng hạn Trong những năm gần đây, ĐMTN tráiphiếu đã được sử dụng ngày càng thường xuyên hơn bởi các nhà quản lý ngân hàng vàchứng khoán để quản lý các tiêu chuẩn cẩn trọng hoặc xác định tính thích hợp đầu tưcho một số loại quỹ đầu tư
1.3.2 Nguyên tắc hoạt động của tổ chức ĐMTN
Để thành công và đáng tin cậy các tổ chức ĐMTN cần đảm bảo các nguyên tắc:
- Tính độc lập trong quá trình ĐMTN Tính độc lập của một tổ chức ĐMTN làtối quan trọng cho tính tin cậy và thành công cuối cùng của nhà cung cấp dịch vụ Các
tổ chức phát hành và các nhóm lợi ích thường có ảnh hưởng có chủ đích đến kết quảđịnh mức tín nhiệm Ví dụ, một tổ chức phát hành có thể sẵn sàng hối hộ tổ chứcĐMTN để có kết quả định mức tín nhiệm cao, hấp dẫn đối với các nhà đầu tư; trong khimột nước có thể tìm mọi cách vận động tổ chức ĐMTN để dấu đi những vấn đề khókhăn của họ đối với các nước cho vay Trong những trường hợp như vậy, kết quả địnhmức tín nhiệm sai lệch là rất nguy hiểm vì nó càng làm sâu sắc thêm sự bất cân xứngthông tin giữa tổ chức phát hành và nhà đầu tư Vì vậy, đảm bảo sự độc lập trong quátrình định mức tín nhiệm là điều kiện tối cần thiết Quyền sở hữu và cấu trúc quản lýđảm bảo tính độc lập, đây là yếu tố quan trọng đối với sự thành công của một tổ chứcĐMTN Một tổ chức ĐMTN phải tự do từ cả ảnh hưởng chính trị và áp lực lớn từ các
tổ chức phải chịu sự đánh giá tín nhiệm
- Để kết quả định mức tín nhiệm đáng tin cậy, tổ chức ĐMTN phải có kỹ thuậtchuyên nghiệp, đủ nguồn lực tài chính, tiếp cận các thông tin tài chính tin cậy về người
Trang 11phát hành, và các thủ tục hoạt động nội bộ đưa đến công tác định mức nhất quán và tincậy.
- Một nguyên tắc quan trọng khác đối với hoạt động của các tổ chức ĐMTN làđảm bảo tính bảo mật thông tin Để cung cấp một phương pháp định mức tín nhiệmchính xác đối với các rủi ro tín dụng, các tổ chức ĐMTN thường yêu cầu các thông tinchi tiết, đặc biệt là các thông tin về tình hình hoạt động và tài chính của tổ chức pháthành Thông thường, những thông tin đầu vào đòi hỏi đối với việc định mức tín nhiệm
là thông tin nội bộ, ở mức chi tiết và toàn diện hơn các thông tin công bố công khai; do
đó tính bảo mật là tối quan trọng
1.3.3 Sự cần thiết cho việc xây dựng hệ thống ĐMTN trong nước
Trên thế giới, hoạt động ĐMTN xuất hiện từ rất lâu với sự ra đời của công tyĐMTN đầu tiên là Moody’s và đến nay đã trở thành công ty ĐMTN lớn nhất thế giới,
có mặt ở trên 100 quốc gia Ngoài ra, còn phải kể đến những công ty như Standard &Poor, Moody’s, Fitch… đang là những cái tên quen thuộc trong ngành ĐMTN Ngàynay, hầu hết ở các quốc gia có thị trường tài chính phát triển đều tồn tại ít nhất một tổchức định mức tín nhiệm Việc ĐMTN đối với các chứng khoán nợ là một hoạt độngkhông thể thiếu được trên thị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng
Thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn còn non trẻ, trong đó thị trường tráiphiếu chủ yếu là TPCP Để tạo cơ chế khuyến khích cho TTCK nói chung và TTTP nóiriêng phát triển thì sự tồn tại và phát triển của các tổ chức ĐMTN là điều kiện cần thiết.Việc hình thành và phát triển các tổ chức ĐMTN trong nước mang lại những lợi ích chothị trường vốn nói chung và thị trường trái phiếu nói riêng:
- ĐMTN như một chứng chỉ ISO về tình trạng tài chính, sẽ giúp cho nhà pháthành tìm kiếm tài trợ từ nhiều nhà đầu tư hơn Tổ chức ĐMTN trong nước đóng gópmột cách tích cực và to lớn vào việc huy động nguồn lực một cách hiệu quả cho các tổchức phát hành Một kết quả xếp hạng tín nhiệm tốt sẽ chứng tỏ vị thế trên TTCK nóiriêng và trong nền kinh tế thị trường nói chung; ngược lại nếu kết quả xếp hạng chưa tốthoặc không tốt thì doanh nghiệp sẽ có những chiến lược cải tổ bộ máy quản lý, tìnhhình tài chính, chiến lược kinh doanh…để đạt được mức tín nhiệm cao hơn Khi doanhnghiệp đạt mức tín nhiệm càng cao, trái phiếu do doanh nghiệp phát hành có thể có lãisuất thấp nhưng vẫn có thể thu hút được nhiều nhà đầu tư do tính an toàn của trái phiếuđược đánh giá thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm cao, điều này sẽ làm cho chi phívay vốn của doanh nghiệp càng thấp
- Đối với nhà đầu tư, thông qua kết quả xếp hạng tín nhiệm nhà đầu tư có thểthẩm định được rủi ro, lựa chọn danh mục đầu tư, đưa ra quyết định đầu tư và mức lợinhuận kỳ vọng phù hợp Thị trường chứng khoán Việt Nam tuy vẫn còn sơ khai nhưngtrong thời gian gần đây cũng đã có sự phát triển khá nhanh, số lượng công ty niêm yếttrên TTCK và số lượng nhà đầu tư tham gia thị trường tăng lên đáng kể, đã gia tăng cơhội đầu tư cho những nhà đầu tư cả trong nước và quốc tế Các tổ chức ĐMTN cungcấp nguồn thông tin về rủi ro tín dụng, sẽ đem lại cho nhà đầu tư những thông tin cầnthiết về các trái phiếu trước khi quyết định đầu tư Với các thông tin này sẽ tạo đượclòng tin cho nhà đầu tư khi đầu tư vào các công cụ tài chính thay vì đầu tư vào các tàisản không có tính sinh lời cao
Trang 12- Hệ thống ĐMTN còn có vai trò đối với các tổ chức tín dụng ngân hàng và phingân hàng đánh giá làm căn cứ mở rộng quy mô cho vay một cách phù hợp cũng nhưchứng tỏ vị thế của mình trước trào lưu gia nhập của các NHTM nước ngoài Ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) là doanh nghiệp đầu tiên được xếp hạng tínnhiệm bởi một tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế và có uy tín như Moody’s và đâycũng là tổ chức xếp hạng cho Chính phủ Việt Nam
- Đối với nhà quản lý, ĐMTN được sử dụng như một công cụ độc lập để giámsát thị trường trên cơ sở xem xét tư cách và tình trạng tài chính của các đơn vị pháthành
Lợi ích của ĐMTN mang lại là rất lớn, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp khiphát hành trái phiếu Tuy nhiên, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay chủ yếu là doanhnghiệp vừa và nhỏ, việc thuê các tổ chức xếp hạng tín nhiệm từ nước ngoài sẽ rất tốnkém vì mức phí rất cao Trong khi Việt Nam hoàn toàn chưa có một tổ chức ĐMTNchuyên nghiệp, có uy tín Do vậy, phải có tổ chức ĐMTN tầm quốc gia là yêu cầu cấpthiết
Mặc dù các tổ chức ĐMTN quốc tế chuyên nghiệp hơn, các dịch vụ do tổ chứcĐMTN quốc tế cung cấp có chất lượng cao nhưng tổ chức ĐMTN trong nước cũng cónhững lợi thế nhất định Trên thực tế, các tổ chức ĐMTN trong nước có thể có kinhnghiệm hơn về các điều kiện trong nước, do vậy các tổ chức ĐMTN trong nước có thể
có những phương pháp xác định rủi ro tín dụng phù hợp hơn các tổ chức ĐMTN quốc
tế Bên cạnh đó, nếu được thành lập thì các tổ chức ĐMTN trong nước có sẽ có khảnăng cung cấp các dịch vụ với quy mô nhỏ, nhất là trong điều kiện các doanh nghiệp ởViệt Nam hầu hết với quy mô vừa và nhỏ, các doanh nghiệp này thường không đủ khảnăng thuê các tổ chức ĐMTN quốc tế Việc phát triển tổ chức ĐMTN trong nước sẽ tạođiều kiện cho thị trường trái phiếu doanh nghiệp phát triển
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU VIỆT NAM
2.1 Cơ sở chủ yếu cho quá trình phát triển thị trường trái phiếu Việt Nam
Lâu nay, nguồn vốn vay hoạt động kinh doanh của DN vẫn dựa vào kênh tíndụng ngân hàng là chính và một phần nhỏ từ phát hành cổ phiếu Song nguồn vốn củacác tổ chức tín dụng không phải vô hạn, thị trường cổ phiếu lại đang gặp khó khăn, huyđộng vốn bằng trái phiếu sẽ là một sự lựa chọn cần thiết
Với cơ chế lãi suất thả nổi từ đầu năm 2011, đến nay, lãi suất cho vay củaNHTM đã leo lên trên 20% Với mức này, khó doanh nghiệp nào có lãi bù đắp được chi
Trang 13phí vay Ngòai ra hệ thống nguồn vốn ngân hàng Việt Nam khó có khả năng cung ứngnguồn vốn có kỳ hạn dài Ước đoán thời điểm hiện nay, cơ cấu nguồn vốn trung và dài
ở khu vực ngân hàng chỉ chưa tới 15% tổng nguồn Các công cụ chuyển vốn ngắn thànhdài hạn ở các NHTM Việt Nam cũng hết sức hạn chế và thực tế từ năm 2008 đến nay,
hệ thống NHTM cũng luôn luôn trong tình trạng khó khăn về thanh khoản và thường
"lấy ngắn nuôi dài"
Trong khi đó, diễn biến theo chiều hướng không thuận lợi trên TTCK thời gianqua cũng chứng tỏ, doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc huy động vốn từkênh phát hành cổ phiếu Từ 2010 đến nay, nhiều doanh nghiệp đã hoãn lại kế hoạchtăng vốn cho thấy rõ điều này.Việc phát hành cổ phiếu để tăng vốn hiện nay, áp lực trả
cổ tức cũng là vấn đề rất lớn đối với các doanh nghiệp Hơn nữa, việc phát hành cổphiếu cũng cần đảm bảo trình tự và thủ tục rất phức tạp theo quy định của cơ quan chứcnăng và của bản thân công ty
Thông qua phát hành trái phiếu, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn vốn linhhoạt và dài hạn với kỳ hạn có thể lên tới 5 năm, 10 năm hoặc dài hơn Khoản tiền gốccủa trái phiếu thường được thanh toán một lần vào cuối kỳ nên doanh nghiệp khôngchịu áp lực trả nợ theo định kỳ như vay vốn ngân hàng
Lãi suất trái phiếu được hình thành trên cơ sở quan hệ cung - cầu giữa doanhnghiệp và các nhà đầu tư trên thị trường nên nhìn chung sẽ được xác định ở mức hợp lý.Hơn nữa, tiền trả lãi trái phiếu được tính vào chi phí hoạt động kinh doanh nên doanhnghiệp huy động vốn bằng trái phiếu sẽ có lợi hơn so với phát hành cổ phiếu Ngoài ra,phát hành trái phiếu không chỉ đơn thuần giúp doanh nghiệp huy động được vốn màcòn tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận với nhiều nhà đầu tư thị trường vốn, giảmbớt sự phụ thuộc vào kênh tín dụng ngân hàng hay phát hành cổ phiếu.Thị trường tráiphiếu là thị trường của những nhà đầu tư chuyên nghiệp là các định chế tài chính lớn
Do đó, doanh nghiệp phát hành trái phiếu thành công sẽ thu hút sự quan tâm của cácnhà đầu tư, giúp quảng bá tên tuổi và uy tín của doanh nghiệp rộng rãi trên thị trường
Từ đó, sẽ tạo nền tảng quan trọng cho các đợt huy động vốn sau này của doanh nghiệpcũng như góp phần nâng cao tính thanh khoản của trái phiếu trên thị trường thứ cấp
Hiện nay, doanh nghiệp có nhiều cơ hội thuận lợi tiếp cận vốn trên thị trườngtrái phiếu Bởi lẽ, hệ thống hành lang pháp lý đã được ban hành và đang dần hoàn thiện;
có nhiều các chính sách khuyến khích, hỗ trợ phát triển thị trường của chính phủ, nhucầu nắm giữ đa dạng các sản phẩm đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường vốn ngày càng
Trang 14cao; các NHTM và công ty chứng khoán cung cấp các dịch vụ trung gian tài chính giúpphân phối trái phiếu của DN đến tay nhà đầu tư một cách hiệu quả; sự tham gia tích cựccủa VBMA và các công ty tư vấn luật và công ty định hạng tín nhiệm đang góp phầntích cực vào sự phát triển đúng hướng giúp DN tiếp cận vốn hiệu quả thông qua pháthành trái phiếu.
Việc phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp lớn, hoạt động hiệu quả trên thịtrường thời gian qua như HUD, Vinaconex, Sông Đà, Vincom… đã thu hút sự quan tâmrất lớn của các nhà đầu tư trong và ngoài nước Điều này chứng tỏ nhu cầu nắm giữ cácloại trái phiếu có chất lượng của nhà đầu tư là rất lớn
Bên cạnh đó, các trung gian tài chính (ngân hàng thương mại và các công tychứng khoán) ngày càng phát triển về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ cung ứng,qua đó đã giúp doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí huy động vốn và tạo thêm kênh phânphối hiệu quả trái phiếu doanh nghiệp đến các nhà đầu tư
BIDV trong những năm vừa qua luôn là ngân hàng trong nước tiên phong trênthị trường trái phiếu, cung cấp đầy đủ các dịch vụ về phát hành trái phiếu chuyênnghiệp cho doanh nghiệp như: tư vấn thu xếp phát hành, bảo lãnh phát hành, bảo lãnhthanh toán, đại lý đăng ký lưu ký và thanh toán…
Ngoài ra, sự tham gia tích cực của Hiệp hội Thị trường Trái phiếu Việt Nam, cáccông ty tư vấn luật, kiểm toán và công ty định hạng tín nhiệm quốc tế… đang góp phầnvào sự phát triển đúng hướng của thị trường, tạo cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cậnthị trường trái phiếu một cách hiệu quả
Việc huy động vốn bằng phát hành trái phiếu được xem là phương thức mang lạinhiều lợi ích như huy động vốn từ các thành phần kinh tế, hạn chế sự phụ thuộc vàonguồn vốn cấp phát, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, xã hội hóa việc đầu
tư phát triển cơ sở hạ tầng Mặt khác, việc phát hành trái phiếu cũng cung cấp cho thịtrường và các nhà đầu tư một công cụ tài chính, giúp đa dạng hóa danh mục đầu tư vàgiảm thiểu rủi ro
2.2 Thực trạng về thị trường trái phiếu Việt Nam
2.2.1 Đánh giá chung về thị trường trái phiếu Việt Nam
Cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước cho tới năm 2000, các giao dịch phát hành tráiphiếu của doanh nghiệp chỉ được thực hiện một cách thưa thớt với quy mô nhỏ như tráiphiếu của BIDV, Xi măng Hoàng Thạch, Công ty Cơ Điện lạnh REE, Petrolimex…
Cho tới năm 2007, mới chỉ có 10 doanh nghiệp phát hành trái phiếu nhưVinashin, Vinaconex, EVN, Petro Việt Nam, Lilama, Tổng công ty thép Việt Nam Tất cả các công ty này đều là những đơn vị đầu ngành hoặc các doanh nghiệp nhà nước
đã cổ phần hóa Thực tế, nhu cầu của họ là nguồn vốn lớn, dài hạn và ổn định để pháthành trái phiếu cho phép doanh nghiệp huy động được lượng vốn lớn Nếu doanhnghiệp có nhu cầu trên 1.000 tỷ đồng thì họ có thể tiếp cận nguồn vốn từ phát hành TP
dễ dàng hơn so với việc đi vay hay phát hành cổ phiếu
Số liệu của VBMA cho thấy, trái phiếu DN đã có xu hướng chuyển dịch cơ cấu
tỷ lệ phát hành lớn từ khu vực DN nhà nước sang khu vực các công ty cổ phần, công tyTNHH…Năm 2009 thị trường trái phiếu doanh nghiệp tăng mạnh cả về giá trị và quy
Trang 15năm 2010 tăng 49% so với năm 2009 và đạt quy mô trên 50.000 tỷ đồng Về công typhát hành, nếu như những năm trước, các nhà phát hành chủ yếu là các doanh nghiệpnhà nước lớn thì những năm gần đây nhà phát hành đã là các công ty cổ phần như STB,SHB, Liên Việt Bank, HBB, SSI, VinCom, T&T Hà Nội Cụ thể : Năm 2010, khikinh tế bắt đầu hồi phục, để tài trợ cho các dự án và tăng quy mô vốn hoạt động trongbối cảnh hệ thống NH không có đủ vốn trung - dài hạn để đáp ứng, nhiều DN cóphương án phát hành trái phiếu và đã thành công.
Tập đoàn Sông Đà là DN phát hành TPDN bằng tiền VND đầu tiên trên thị trường vốn
nợ VN trong năm 2010, với tổng giá trị 1.500 tỷ đồng(tương đương 79 triệu USD); Tậpđoàn Điện lực Việt Nam phát hành 2.000 tỷ đồngtrái phiếu; TCty cổ phần XNK và Xâydựng VN (VCG) phát hành 2.000 tỉ đồng; CTCP Long Hậu (LHG) phát hành 200 tỷđồng trái phiếu (mệnh giá 1 tỷ đồng) để huy động vốn cho dự án khu dân cư Long Hậu;CTCP Vincom (VIC) phát hành 1.000 tỷ đồngtrái phiếu DN, với kỳ hạn trái phiếu là
Năm 2010, khi kinh tế bắt đầu hồi phục, để tài trợ cho các dự án và tăng quy môvốn hoạt động trong bối cảnh hệ thống NH không có đủ vốn trung - dài hạn để đáp ứng,nhiều DN có phương án phát hành trái phiếu và đã thành công
Tập đoàn Sông Đà là DN phát hành TPDN bằng tiền VND đầu tiên trên thịtrường vốn nợ VN trong năm 2010, với tổng giá trị 1.500 tỷ đồng (tương đương 79triệu USD); Tập đoàn Điện lực Việt Nam phát hành 2.000 tỷ đồng trái phiếu; TCty cổphần XNK và Xây dựng VN (VCG) phát hành 2.000 tỉ đồng; CTCP Long Hậu (LHG)phát hành 200 tỷ đồng trái phiếu (mệnh giá 1 tỉ đồng) để huy động vốn cho dự án khudân cư Long Hậu; CTCP Vincom (VIC) phát hành 1.000 tỷ đồngtrái phiếu DN, với kỳhạn trái phiếu là 5 năm
Nhằm tạo hành lang pháp lý cho thị trường trái phiếu, trong năm 2011, Chínhphủ đã ban hành Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 5/1/2011 về “Phát hành trái phiếuchính phủ, trái phiếu được chính phủ bảo lãnh, trái phiếu chính quyền địa phương”.Qua đó, hoạt động phát hành trái phiếu trong năm 2011 đã có sự tăng trưởng khá ấntượng so với các năm trước Có khá nhiều doanh nghiệp công bố phát hành trái phiếuthành công trong tháng 5/2011 đã thu hút sự quan tâm của nhiều giới doanh nghiệp như:Công ty CP Chứng khoán TP.Hồ Chí Minh (HCM) huy động được 50 tỷ đồng (mệnhgiá 1 tỷ đồng/trái phiếu ) cho một tổ chức nước ngoài, Công ty CP Chứng khoánSacombank (SBS) huy động được 185 tỷ đồng sau khi chào bán thành công 185.000 tráiphiếu chuyển đổi mệnh giá 1 triệu đồng/trái phiếu, Công ty CP Tasco (HUT) công bốbán được 175.005 trái phiếu trong đợt chào bán 250.000 trái phiếu chuyển đổi năm
2011, huy động được 140 tỷ đồng, và toàn bộ số tiền thu được sẽ dùng đầu tư vàonhững dự án tại khu đô thị mới Xuân Phương, khu đô thị Vân Canh… Mới đây nhất,Công ty CP Hoàng Anh Gia Lai (HAG) dự kiến niêm yết 90 triệu USD trái phiếu vừachào bán thành công trước đó vài ngày cho đối tác nước ngoài lên Sở GDCK