Nội dung Giai đoạn 1 Giao lưu với châu Âu (thế kỉ 16)Giai đoạn 2 Thời kỳ Edo (1603–1868)Giai đoạn 3 Giữa 2 cuộc chiến tranh thế giớiGiai đoạn 4 Sau chiến tranh (từ 1945 tới 1985)Giai đoạn 5 Trì trệ (từ 1985 tới nay)
Trang 1Chào Thầy và các bạn đến với bài thuyết trình
của nhóm
Chào Thầy và các bạn đến với bài thuyết trình
của nhóm
Trang 2Thành viên
Nguyễn Thị Hương
Mooc Ka Vy
Bo Na
Hồ Thị Tâm
Thành viên
Trang 3CHỦ ĐỀ: TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN
Trang 4Nội dung
Giai đoạn 1 Giao lưu với châu Âu (thế kỉ 16) Giai đoạn 2 Thời kỳ Edo (1603–1868)
Giai đoạn 3 Giữa 2 cuộc chiến tranh thế giới Giai đoạn 4 Sau chiến tranh (từ 1945 tới 1985) Giai đoạn 5 Trì trệ (từ 1985 tới nay)
Trang 5Giai đoạn 1 Giao lưu với châu Âu (thế kỉ 16)
Chính trị nước Nhật
thời Phục Hưng cũng
được đánh giá là một
xã hội phong kiến
phức tạp với một nền
văn hóa đặc sắc
• Kinh Tế nền kỹ thuật tiền công
nghiệp mạnh mẽ chất lượng của hàng thủ công và dụng cụ rèn đúc Điều này xuất phát từ việc bản thân nước Nhật khá khan hiếm những tài nguyên thiên nhiên vốn dễ tìm thấy ở
Âu Châu, đặc biệt là sắt Do
đó, người Nhật nổi tiếng tiết kiệm đối với tài nguyên nghèo nàn của họ, càng ít tài nguyên
họ càng phát triển các kỹ năng
để bù đắp.
Xã hội Đất nước tập
trung đông dân số ở thành thị và thậm chí
có những trường Đại
học Phật giáo lớn hơn
cả các học viện ở phương Tây như
Salamanca hoặc
Coimbra
Trang 6Gia đoạn 2 Thời kỳ Edo (1603–1868)
• Thời kỳ cô lập gọi là sakoku với nền kinh tế ổn định và
tăng trưởng nhẹ Thời kỳ cô lập gọi là sakoku với nền
kinh tế ổn định và tăng trưởng nhẹ.
• Đô thị hóa, gia tăng vận tải hàng hóa bằng tàu, mở
rộng thương mại nội địa và bắt đầu mua bán với nước
ngoài, phổ biến thương nghiệp và thủ công nghiệp
• Xã hội : Khoảng giữa thế kỷ 18, dân số Edo đã đạt hơn
1 triệu người trong khi Osaka và Kyoto mỗi nơi cũng có
hơn 400,000 cư dân
• Osaka và Kyoto trở thành những trung tâm thương mại
và thủ công đông đúc nhất
Trang 7Giai đoạn
3 Giữa 2
cuộc chiến
tranh thế
giới
Quy mô kinh tế Nhật Bản đã đạt mức tương đương với các cường quốc châu Âu
Nhưng đến năm 1945, các thành phố của nước này đã ở trong tầm ném bom của đối phương Máy bay ném bom của quân Đồng minh đã tàn phá các thành phố lớn như Tokyo, Niigata, Osaka, Fukuoka, Hiroshima và Nagasaki
Sau năm 1945, sau khi Nhật Bản bại trận, các nhà công nghiệp của nước này bắt đầu quá trình tái tiết các nhà máy.
Trang 8Giai đoạn 4 Sau
chiến tranh (từ
1945 tới 1985)
Những cải cách Ổn định kinh tế:
Đường lối Dodge
Ảnh hưởng của cuộc chiến tranh Triều Tiên
Trang 9Kinh tế sản lượng công
nghiệp, đặc biệt trong
các lĩnh vực đóng tàu và
sản xuất sắt thép tăng
nhanh chóng Sau khi
cuộc chiến kết thúc,
Nhật bắt đầu xây dựng
các nhà máy và khu
công nghiệp mới.
Sau năm 1973 mặc dù
có những bước thăng trầm nhưng Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh
tế, KHKT, tài chính thứ 2 thế giới sau Hoa Kỳ.Hiện nay n ăm 2020, quy mô nền kinh tế Nhật Bản tính theo thước đo GDP danh nghĩa được xếp hạng 3 trên thế giới sau Mỹ và Trung Quốc
Giai đoạn 4 Sau chiến tranh (từ 1945 tới 1985)
Trang 10Giai đoạn 5 Trì
trệ (từ 1985 tới
nay)
• Thời kỳ bong bóng kinh tế của Nhật Bản kéo dài 4 năm 3 tháng, từ tháng
Kinh tế Nhật Bản thời kỳ này có những
thực tế cao, tỷ lệ lạm phát cao, tỷ lệ
Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt Bong bóng kinh