1.Hóa tệHóa tệ là hình thái đầu tiên trong quá trình phát triển của đồng tiền. Hóa tệ tức là hình thái tiền tệ xuất phát từ hàng hóa. Hay một hàng hóa nào đó giữ vai trò trung gian trao đổi một cách phổ biến và rộng rãi được gọi là hóa tệ. Trong các loại hàng hóa được dùng làm tiền được chia thành hai loại: hóa tệ phi kim lọại và kim tệ.Hóa tệ tệ phi kim loại:Sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển. Sự trao đổi không còn ngẫu nhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn. Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏ hẹp một vài hàng hóa, giới hạn trong một vài địa phương. Sự trao đổi ngày càng nhiều hơn đòi hỏi phải có một hàng hóa có tính đồng nhất, tiện dụng trong vai trò của vật ngang giá, có thể tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi, và bảo tồn giá trị. Những hình thái tiền tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng, nhưng nói chung là những vật trang sức hay những vật có thể ăn. Thổ dân ở các bờ biển Châu Á, Châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền. Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảo Philippines. Trước Công nguyên, ở Trung Quốc lụa được sử dụng làm tiền,…
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA – VŨNG TÀU
TIỂU LUẬN CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ VÀ LỊCH SỬ RA ĐỜI CỦA TIỀN
TỆ VIỆT NAM
Môn: Tài chính tiền tệ GVHD: Th.S Hồ Thị Yến Ly Sinh viên thực hiện:
Vũng Tàu, ngày 21 tháng 08 ăm 2020
LỜI CẢM ƠN
Trang 2Trong quá thực hiện bài tiểu luận này, ngoài sự phấn đấu của bản thân em cònnhận được nhiều sự giúp đỡ quý báu.
-II-Trước hết, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo đã dạy bảo và cũngchính là người hướng dẫn em, giảng viên Th.S Hồ Thị Yến Ly, người đã nhiệt tình hướngdẫn và chỉ bảo để em hoàn thiện bài tiểu luận này
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của người thân, của bạn bè, đã có nhữngđóng góp ý kiến và thông tin quý báu tạo điều kiện thuận lợi nhất trong thời gian thựchiện bài tiểu luận
Với điều kiện thời gian có hạn, cũng như kinh nghiệm còn hạn chế của bản thân,
vì thế việc xảy ra sai sót là không thể tránh khỏi, em mong nhận được sự chỉ dẫn, đónggóp ý kiến, chỉ bảo của cô,… Tạo điều kiện cho em bổ sung, nâng cao kiến thức khi thựchiện bài tiểu luận này
Em xin chân thành cảm ơn !
Vũng Tàu, Ngày 21 tháng 08 năm 2020 Nguyễn Thị Hương
Trang 3PHỤ LỤC
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ 3
1.Hóa tệ 3
2.Tín tệ 6
3 Các hình thức tiền tệ khác 8
3.1 Bút tệ 8
3.2 Tiền điện tử 8
II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ VIỆT NAM 11
1.Tiền cổ các triều đại Việt Nam 11
1.1 Tiền nhà Tiền Lê 11
1.2 Tiền nhà Lý 12
1.3 Tiền nhà Trần 13
1.4 Tiền nhà Hồ 14
1.5 Tiền nhà Hậu Lê 15
1.6 Tiền nhà Mạc .19
1.7 Tiền nhà Tây Sơn .20
1.8 Tiền nhà Nguyễn 21
Tiền tệ Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa 27
1.1 Lịch sử ra đời 27
1.2 Tiền in riêng 27
1.3 Đổi tiền 28
2.Tiền tệ Việt Nam Cộng Hòa 29
2.1 Lịch sử ra đời 30
2.2 Tiền kim loại 30
3.Tiền tệ Dân tộc Giải phòng miền Nam Việt Nam 30
4.Tiền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 31
4.1 Thời kỳ Việt Nam là một phần của Đông Dương thuộc Pháp .31
4.2 Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám 31
Trang 4CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ
1.Hóa tệ
Hóa tệ là hình thái đầu tiên trong quá trình phát triển của đồng tiền Hóa tệ tức làhình thái tiền tệ xuất phát từ hàng hóa Hay một hàng hóa nào đó giữ vai trò trung giantrao đổi một cách phổ biến và rộng rãi được gọi là hóa tệ Trong các loại hàng hóa đượcdùng làm tiền được chia thành hai loại: hóa tệ phi kim lọại và kim tệ
Hóa tệ tệ phi kim loại:
Sản xuất và trao đổi hàng hóa ngày càng phát triển Sự trao đổi không còn ngẫunhiên, không còn trên cơ sở của định giá giản đơn Trao đổi đã vượt khỏi cái khung nhỏhẹp một vài hàng hóa, giới hạn trong một vài địa phương Sự trao đổi ngày càng nhiềuhơn đòi hỏi phải có một hàng hóa có tính đồng nhất, tiện dụng trong vai trò của vật nganggiá, có thể tạo điều kiện thuận lợi trong trao đổi, và bảo tồn giá trị Những hình thái tiền
tệ đầu tiên có vẻ lạ lùng, nhưng nói chung là những vật trang sức hay những vật có thể
ăn Thổ dân ở các bờ biển Châu Á, Châu Phi, trước đây đã dùng vỏ sò, vỏ ốc làm tiền.Lúa mì và đại mạch được sử dụng ở vùng Lưỡng Hà, gạo được dùng ở quần đảoPhilippines Trước Công nguyên, ở Trung Quốc lụa được sử dụng làm tiền,…
Trang 5- Tiền tệ bằng hàng hóa có những bất tiện nhất định của nó:
Trong quá trình phục vụ trao đổi như không được nhiều người mọinơi chấp nhận
Không đồng nhất
Khó khăn trong việc chia nhỏ để trả lại tiền lẻ
Bị ảnh hưởng mạnh bỡi điều kiện tự nhiên
Không thuận tiện trong di chuyển giữa các vùng khác nhau
Đa dạng: quý hiếm, gọn nhẹ, phù hợp với tập quán trao đổi của địaphương… Do đó dẫn đến việc sử dụng hóa tệ bằng kim loại
Kim tệ:
Khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển kèm theo sự mở rộng phân công laođộng xã hội đồng thời với sự xuất thiện của Nhà nước và giao dịch quốc tế thường xuyên.Kim loại ngày càng có những ưu điểm nổi bật trong vai trò của vật ngang giá bởi nhữngthuộc tính bền, gọn, có giá trị phổ biến,… Những đồng tiền bằng kim loại: đồng, chì,kẽm, thiếc, bạc, vàng xuất hiện thay thế cho các hóa tệ không kim loại Tiền bằng chì chỉxuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc dưới dạng một thỏi dài có lỗ ở một đầu để có thể xâuthành chuỗi Tiền bằng hợp kim vàng và bạc xuất hiện đầu tiên vào những năm 685 – 652trước Công nguyên ở vùng Tiểu Á và Hy Lạp có đóng dấu in hình nổi để đảm bảo giá trị.Các đồng tiền bằng kim loại đã sớm xuất hiện ở vùng Địa Trung Hải Tiền kim loại đầutiên ở Anh làm bằng thiếc, ở Thụy Sĩ và Nga bằng đồng Khi bạch kim mới được pháthiện, trong thời kỳ 1828 – 1844, người Nga cho đó là kim loại không sử dụng được nênđem đúc tiền Nếu so với các loại tiền tệ trước đó, tiền bằng kim loại, bên cạnh những ưuđiểm nhất định cũng đưa đến những bất tiện trong quá trình phát triển trao đổi như: cồngkềnh, khó cất giữ, khó chuyên chở,… Cuối cùng, trong các kim loại quý như vàng, bạc,những thứ tiền thật sự chúng có giá trị nội tại trở nên thông dụng trong một thời gian khálâu cho đến cuối thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX Khoảng thế kỷ thứ XVI ở Châu
Âu nhiều nước sử dụng vàng làm tiền, có nước vừa sử dụng vàng vừa sử dụng bạc Cácnước Châu Á sử dụng bạc là phổ biến Việc đúc quý kim thành tiền ngay từ đầu được coi
là vương quyền, đánh dấu kỷ nguyên ngự trị của lãnh chúa vua chúa
Trang 6Tiền xu Trung Quốc
Lịch sử phát triển của tiền kim loại quý đã trải qua ba biến cố chủ yếu, quyết địnhđến việc sử dụng phổ biến tiền bằng kim loại quý
- Sự gia tăng dân số và phát triển đô thị ở các nước Châu Âu từ thế kỷXIII đưa đến sự gia tăng nhu cầu trao đổi Các mỏ vàng ở Châu Âu không đủ cungứng
- Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX bạch kim loại bị mất giá, trongthời gian dài vàng, bạc song song được sử dụng làm tiền; các nước Châu Âu sửdụng cả vàng lẫn bạc Chỉ các nước Châu Á mới sử dụng bạc (do không đủ vàng)đến cuối thế kỷ XIX bạc ngày càng mất giá do vậy các nước Châu Âu và cả Hoa
Kỳ quyết định và sử dụng vàng, các nước Chấu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, TrungHoa do lệ thuộc sự nhập cảng nguyên liệu máy móc… từ Phương Tây nên cũngbãi bỏ bạc sử dụng vàng
Ở Đông Dương, bạc được sử dụng làm tiền từ 1885 đến 1931 Đến năm 1931 đồngbạc Đông Dương từ bản vị bạc sang bản vị vàng, có thể cho rằng, khoảng từ 1935 chỉ cònmột kim loại quý được tất cả các nước chấp nhận làm tiền trên thế giới là vàng
- Một số đặc điểm của vàng:
Tính đồng nhất => thuận lợi cho việc đo lường biểu hiện giá cả củahàng hóa trong quá trình trao đổi
Trang 7 Dễ phân chia không làm ảnh hưởng đến giá trị của vàng.
Dễ mang theo,bỡi một thể tích nhỏ và trọng lượng nhỏ của vàng cóthể đại diện cho giá trị khối lượng lớn hàng hóa
Thuận tiện trong việc thực hiện chức năng dự trữ giá trị
- Nguyên nhân các nước chuyển sang dùng tiền giấy:
Hóa tệ kim loại trong quá trình lưu thông thì bị hao mòn không cònđúng với giá trị thực mà nó đại diện nữa
Do số lượng hàng hóa và dịch vụ ngày càng nhiều trong khi sốlượng kim loại quý thì chỉ có hạn
2 Tín tệ
Tín tệ được hiểu là thứ tiền tự nó không có giá trị nhưng do sự tín nhiệm của mọingười mà nó được lưu dụng Tín tệ có thể bao gồm tiền bằng kim loại và tiền giấy
Tiền bằng kim loại: thuộc hình thái tín tệ khác với kim loại tiền tệ thuộc hình thái
hóa tệ Ở hình thái này giá trị nội tại của kim loại thường không phù hợp với giátrị danh nghĩa
Tiền giấy: bao gồm tiền giấy khả hoán và tiền giấy bất khả hoán.
Tiền giấy khả hoán là thứ tiền được lưu hành thay cho tiền vàng hay tiền bạc ký
thác ở ngân hàng Bất cứ lúc nào mọi người cũng có thể đem tiền giấy khả hoán đó đổilấy vàng hay bạc có giá trị tương đương với giá trị được ghi trên tiền giấy khả hoán đó
- Ở Trung Hoa từ đời Tống đã xuất hiện tiền giấy Vì những nhu cầu mua bán, cácthương gia hình thành từng thương hội có nhiều chi nhánh ở khắp các thị trấn lớn Cácthương gia ký thác vàng hay bạc vào hội sở của thương hội rồi nhận giấy chứng nhận củahội sở thương hội, với giấy chứng nhận này các thương gia có thể mua hàng ở các thị trấnkhác nhau có chi nhánh của thương hội, ngoài loại giấy chứng nhận trên triều đình nhàTống còn phát hành tiền giấy và được dân chúng chấp nhận
- Ở Việt Nam vào cuối đời Trần, Hồ Quý Ly đã thí nghiệm cho phát hành tiền giấy.Nhân dân ai cũng phải nộp tiền đồng vào cho Nhà nước, cứ 1 quan tiền đồng đổi được 2quan tiền giấy, việc sử dụng tiền giấy của Hồ Quý Ly thất bại vì nhà Hồ sớm bị lật đổ,
Trang 8dân chưa quen sử dụng tiền giấy và sai lầm khi xác định quan hệ giữa tiền đồng và tiềngiấy (bao hàm ý nghĩa tiền giấy có giá trị thấp hơn).
Nguồn gốc của tiền giấy chỉ có thể được hiểu rõ khi xem xét lịch sử tiền tệ cácnước Châu Âu Từ đầu thế kỷ thứ XVII, ở Hà Lan ngân hàng Amsterdam đã cung cấpcho những thân chủ gởi vàng vào ngân hàng những giấy chứng nhận bao gồm nhiều tờnhỏ Khi cần, có thể đem những tờ nhỏ này đổi lấy vàng hay bạc tại ngân hàng Trongthanh toán cho người khác các giấy nhỏ này cũng được chấp nhận Sau đó một ngân hàngThụy Điển tên Palmstruch đã mạnh dạn phát hành tiền giấy để cho vay Từ đó ngân hàngPalmstruch có khả năng cho vay nhiều hơn vốn tự có Với nhiều loại tiền giấy được pháthành, lưu thông tiền tệ bị rối loại vì nhiều nhà ngân hàng lạm dụng gây nhiều thiệt hạicho dân chúng Do đó, vua chúa các nước phải can thiệp vì cho rằng việc đúc tiền từ xưa
là vương quyền và mặt khác việc phát hành tiền giấy là một nguồn lợi to lớn Vươngquyền các nước Châu Âu thừa nhận một ngân hàng tự có quyền phát hành tiền giấy vớinhững điều kiện nhất định:
Điều kiện khả hoán: có thể đổi lấy bất cứ lúc nào tại ngân hàng pháthành
Điều kiện dự trữ vàng làm đảm bảo: ban đầu là 100% sau còn 40%
Điều kiện phải cho Nhà nước vay không tính lãi khi cần thiết
Tiền giấy bất khả hoán là thứ tiền giấy bắt buộc lưu hành, mọi người không thể đem tiền
giấy này đến ngân hàng để đổi lấy vàng hay bạc
- Nguồn gốc của tiền bất khả hoán là bởi những nguyên nhân sau:
Thế chiến thứ nhất đã làm cho các quốc gia tham chiến không còn
đủ vàng để đổi cho dân chúng Nước Anh từ năm 1931 đã cưỡng bức lưu hành tiềngiấy bất khả hoán, nước Pháp năm 1936
Khủng hoảng kinh tế thế giới năm 1929 dẫn đến ở nước Đức mọingười đua nhau rút tiền, do đó Ngân hàng Trung ương Đức đã phải dùng vàng trả
nợ nước ngoài và do đó số trữ kim gần như không còn Tiến sĩ Schacht (1933 –1936) đã áp dụng chính sách tiền tài trợ bằng cách phát hành trái phiếu, để tài trợsản xuất và những chương trình kinh tế, xã hội lớn Biện pháp này làm giảm 50%thất nghiệp, sản xuất tăng 41% (1934) Từ đó, nhiều nhà kinh tế cho rằng giá trịtiền tệ không phải dựa vào dự trữ vàng như các quan điểm trước đây
- Một số thuận lợi khi sử dụng tiền giấy:
Nhẹ nhàng di chuyển với khối lượng lớn
Trang 9 Chi phí in ấn, khắc chạm và đảm bảo an toàn rẻ.
Dễ dàng hình thành một kết cấu tiền với các mệnh giá khác nhauthuận tiện cho quá trình trao đổi
- Khó khăn khi sử dụng tiền giấy:
Việc lưu thông tiền giấy dễ rơi vào trạng thái bất ổn vì việc giữ tiềngiấy khan hiếm trong lưu thông và điều chỉnh nó cho phù hợp với nhu cầu trao đổicủa hàng hóa là một nghệ thuật phức tạp
3.2 Tiền điện tử
Tiền điện tử là vô hình và chỉ có thể được sở hữu và giao dịch bằng cách sử dụng máy tính hoặc ví điện tử được kết nối với Internet hoặc các mạng được chỉ định
3.2.1 Các hình thức của tiền tệ điện tử
Tiền điện tử có 2 hình thức chính là tiền ảo (Virtual Currency) và tiền mãhóa (Cryptocurrency)
Tiền ảo
Tiền ảo là một loại tiền điện tử không được kiểm soát, được phát hành bởi Chính
phủ và thường có thể được phát hành, quản lý và kiểm soát bởi các nhà phát hành tưnhân, nhà phát triển hoặc tổ chức sáng lập Loại tiền này được sử dụng và chấp nhận giữacác thành viên của một cộng đồng ảo cụ thể
Vào năm 2014, Ngân hàng trung ương Châu Âu đã định nghĩa tiền ảo là "đại diện
kỹ thuật số của giá trị không phải do Ngân hàng trung ương hoặc cơ quan công quyền phát hành, cũng không nhất thiết phải gắn với tiền định danh (tiền tệ fiat), nhưng được các thể nhân hoặc pháp nhân chấp nhận như một phương tiện thanh toán và có thể được chuyển nhượng, lưu trữ hoặc giao dịch điện tử "
Trang 10Tiền ảo chỉ có sẵn ở dạng điện tử Nó chỉ được lưu trữ và giao dịch thông quaphần mềm được chỉ định, ứng dụng di động hoặc máy tính hoặc thông qua ví điện tửchuyên dụng và các giao dịch xảy ra qua internet thông qua các mạng chuyên dụng, antoàn
Tiền mã hóa
Tiền mã hóa là một tài sản kỹ thuật số được thiết kế để làm việc như là một trung
gian trao đổi, sử dụng mật mã để đảm bảo các giao dịch, để kiểm soát việc tạo ra các đơn
vị bổ sung và để xác minh việc chuyển giao tài sản
Tính năng đặc biệt và được cho là sức hấp dẫn chính của của tiền mã hoá là bảnchất hệ thống Tiền mã hoá không được ban hành bởi bất kỳ ngân hàng trung ương nào,điều này khiến về mặt lý thuyết nó miễn nhiễm với sự can thiệp hoặc thao túng của Chínhphủ
Bitcoin - ra đời năm 2008 là loại tiền mã hóa đầu tiên Cho đến nay, Bictoin cũngchính là loại tiền mã hóa phổ biến và có giá trị nhất
Ngày nay, có hàng ngàn loại tiền mã hóa thay thế với các chức năng hoặc thông số
- An toàn hơn cho người sử dụng: Các giao dịch tiền điện tử được xác minh là an
toàn, không thể đảo ngược và không chứa thông tin nhạy cảm của khách hàng.Các doanh nghiệp không cần phải lo ngại về tình trạng gian lận, không cần phảibiết quá nhiều thông tin về khách hàng và đặc biệt là không cần phải dựa vào bênthứ 3 để thực hiện giao dịch mua bán như thẻ tín dụng
- Thuận tiện trong giao dịch, tự do thanh toán: khi sử dụng tiền điện tử thì mọi
người có thể gửi và nhận tiền ngay lập tức và có thể gửi với số tiền không bị giớihạn
- Tính minh bạch cao: sử dụng công nghệ blockchain, vì vậy các thông tin liên quanđến nguồn cung tiền điện tử đều có sẵn trên chuỗi khối cho bất cứ ai muốn xácminh và sử dụng đều có thể theo dõi
- Có tiềm năng phát triển thương mại điện tử: trong các giao dịch điện tử người tađang có xu hướng thanh toán trực tuyến và việc sử dụng tiền điện tử sẽ được coi làtiềm năng để chúng ta có thể phát triển thương mại điện tử trong tương lai
Nhược điểm
Trang 11Mức độ chấp nhận còn thấp Một số lý do dẫn đến việc này là:
+ Nhiều người vẫn còn quen với việc sử dụng đồng tiền của quốc gia họ.+ Doanh nghiệp e dè và lo sợ về sự thay đổi giá trị của tiền điện tử saukhoảng thời gian dài xuất hiện của nó
+ Tại một số quốc gia, tiền điện tử còn ở trạng thái bất hợp pháp
- Lỗi giao dịch: Vì hệ thống hoạt động của tiền điện tử là các phương trình sốhóa nên không có gì đảm bảo rằng nó sẽ luôn chính xác 100%, một vài giao dịch
sẽ bị lỗi trong quá trình hoạt động khi hệ thống không ổn định, hoặc do sai sót từphía con người sẽ dẫn đến những lỗi giao dịch không mong muốn khi sử dụng tiềnđiện tử
- Thay đổi về giá trị: Những thay đổi về giá trị của tiền điện tử làm cho nó trở thành
một canh bạc - nghĩa là bạn sẽ không biết được nó sẽ thay đổi ra sao và rất khó để
dự báo giá trị của tiền điện tử tăng hay giảm trong tương lai Điều này dẫn đếnnhiều rủi ro cho con người khi đang nắm giữ tiền điện tử
- Có thể bị tác động bởi hệ thống an ninh mạng : Vì tiền điện tử chủ yếu hoạt động
trên các thiết bị điện tử, do đó người nắm giữ tiền điện tử có thể bị mất tiền nếu ổcứng bị lỗi, dữ liệu bị nhiễm virus, các tập tin bị mất,… không có cách nào khôiphục được
- Sự an toàn của hệ thống: Có thể trở thành công cụ của hacker, tội phạm rửatiền bởi các hệ thống giao dịch không được kiểm soát
Trang 12II LỊCH SỬ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TIỀN TỆ VIỆT NAM
1 Tiền cổ các triều đại Việt Nam
Khi lên làm vua, Đinh Tiên Hoàng đặt niên hiệu là Thái Bình và cho đúc tiền Thái Bìnhhưng bảo bằng đồng Đây là tiền duy nhất được phát hành trong thời nhà Đinh, vì cho dùsau này có sự thay đổi ngôi vua trong họ Đinh nhưng không có sự thay đổi niên hiệu.Hiện các nhà sử học và khảo cổ học chưa được xác định chính xác thời điểm xuất hiệntiền này
Khảo cổ học cho thấy Thái Bình hưng bảo có ba loạt khác nhau Cả ba loạt đều có
lỗ hình vuông ở giữa và có đường kính không đều nhưng bình quân khoảng 22 mm Cả
ba loạt đều có mặt trước ghi chữ Thái Bình hưng bảo bằng chữ Hán Có một loạt thay vìchữ Thái lại là chữ Đại Hiện chưa rõ: do lâu ngày đồng tiền đó bị hỏng nên mất mộtchấm, hay đó thực sự là chữ Đại nhưng được đọc là Thái Về mặt sau, thường có chữĐinh (họ của vua) đúc nổi; nhưng có một loạt không có chữ gì
Sử liệu cũ của Việt Nam không đề cập đến việc nhà Đinh có đúc tiền Tuy nhiên,
sử liệu cũ của Trung Quốc thì có nhắc đến và dựa vào đó Bành Tín Uy viết rằng năm
liệu cũ của Việt Nam không nhắc đến việc này có thể là do nền kinh tế tiền tệ thời nhàĐinh còn mới manh nha, tiền không thực sử được sử dụng nhiều, trao đổi hàng hóa làchính, lương bổng và thuế má đều bằng hiện vật
1.1 Tiền nhà Tiền Lê
Đồng Thiên Phúc trấn bảo,mặt trước (trái) và mặt sau ghi chữ Lê (phải)
chỉ đúc duy nhất tiền Thiên Phúc trấn bảo, lấy tên theo niên hiệu đầu tiên Các vua tiền
Lê sau không cho đúc tiền
Sử liệu cũ của Việt Nam là Đại Việt sử ký toàn thư và Việt sử thông giám cươngmục đều có nhắc đến việc tiền Thiên Phúc được đúc từ mùa xuân năm 984 Điều này cho
Trang 13thấy: thứ nhất, bốn năm đầu khi lên làm vua nhà Lê vẫn dùng tiền do nhà Đinh phát hành;thứ hai, tiền đã được sử dụng nhiều hơn.
Khảo cổ học cho thấy Thiên Phúc trấn bảo có ba loạt đều có hình thù giống tiềncủa nhà Đinh Một loạt mặt trước có bốn chữ Thiên Phúc trấn bảo và mặt sau có chữ Lê(họ của vua), một loạt mặt trước giống như loạt trên nhưng mặt sau lại không có chữ gì,
và một loạt nữa mặt sau có chữ Lê nhưng mặt trước lại không có chữ gì Theo Đỗ VănNinh, sở dĩ có sự khác nhau như vậy có thể là vì trong quá trình đúc tiền, xưởng đúc đãráp nhầm hai mặt của các khuôn đúc
1.2 Tiền nhà Lý
- Thuận Thiên đại bảo (1010-1028)
Thuận Thiên đại bảo
Đây là tiền kim loại được giới nghiên cứu tiền cổ ở Việt Nam cho là của Lý Thái
Tổ vì ông vua này có một niên hiệu là Thuận Thiên Bên Trung Quốc có Sử Tư Minh khilàm vua cũng có niên hiệu Thuận Thiên, nhưng ông này cho đúc tiền Thuận Thiênnguyên bảo đương bách Sau này, Lê Thái Tổ cũng lấy niên hiệu Thuận Thiên, nhưng tiềnđúc ra gọi là Thuận Thiên thông bảo hoặc Thuận Thiên nguyên bảo
thời Lý Thái Tổ Cả lương bổng lẫn tô thuế đều có thể trả bằng tiền
- Càn Phù nguyên bảo (1039-1041)
Càn Phù nguyên bảo
Trang 14Sử liệu cũ của Việt Nam và kết quả khảo cổ đều không cho thấy có loại tiền này.Song, Lacroix và các tác giả Lịch sử phong kiến Việt Nam (tập I) đều cho là có và cũng
Như vậy theo một số tài liệu, Việt Nam vào thời vua Lý Thái Tông đã đúc hailoại Minh Đạo thông bảo và Càn Phù nguyên bảo Song, khảo cổ học Việt Nam chưa chothấy cả hai loại tiền này
- Minh Đạo thông bảo (1042-1043)
Tương truyền là do Lý Thái Tông cho phát hành Sử liệu Lịch triều hiến chươngloại chí có ghi rằng vua Lý Thái Tông cho đúc tiền Minh Đạo, nhưng không ghi rõ cóphải là Minh Đạo thông bảo hay không
- Thiên Phù nguyên bảo (1120-1127)
Được cho là do Lý Nhân Tông phát hành vì ông có hai niên hiệu có chữ Thiên Phùtrong đó Sử liệu cũ của Việt Nam không nhắc đến tiền này Nhưng khảo cổ học cho thấy
có tiền Thiên Phù thông bảo với đường kính chừng 20 mm với mặt trước có bốn chữThiên Phù nguyên bảo đọc theo vòng tròn, mặt sau để trơn, có lỗ, không có gờ Đỗ VănNinh cho rằng kích thước đồng tiền này nhỏ hơn so với các đồng tiền thời trước là vìthời Lý Nhân Tông trị vì có nhiều chiến tranh, nên giành được ít đồng hơn cho việc đúctiền
- Thiên Thuận thông bảo (1128-1132)
- Đại Định thông bảo (1140-1162)
- Thiên Cảm thông bảo (1174-1175)
Lacroix có nhắc đến tiền này và còn công bố hình thù đồng tiền Ông cho rằng đây
là tiền do Lý Anh Tông phát hành vì vua này có một niên hiệu trong đó có chữ ThiênCảm Tiền có gờ và mép rõ ràng Khảo cổ học Việt Nam chưa tìm ra loại tiền này Cácvua Trung Quốc không có ai có niên hiệu có chữ Thiên Cảm
- Thiên Tư thông bảo (1186-1201)
Không thấy chính sử đề cập đến đồng tiền này Lacroix đã từng công bố một mẫutiền mà mặt trước có bốn chữ Thiên tư thông bảo, mặt sau để trơn Lý Cao Tông có mộtniên hiệu trong đó có chữ Thiên Tư Các vua Trung Quốc không ai có niên hiệu có chữnày
- Trị Bình thông bảo (1205-1210)
- Trị Bình nguyên bảo (1205-1210)
1.3 Tiền nhà Trần
- Nguyên Phong thông bảo (1251-1258)
Trung Quốc cũng có loại tiền này, nên hiện chưa kết luận được thứ tìm thấy ở Việt Nam
là do nước nào đúc Nguyên Phong là niên hiệu thứ ba của vua Trần Thái Tông Vào hai
Trang 15thời có niên hiệu trước, vua cũng cho phát hành tiền, nhưng sử liệu không nói và khảo cổhọc không cho biết đó là tiền tên gì.
- Khai Thái nguyên bảo (1324-1329)
Đỗ Văn Ninh có cho biết rằng Trần Huy Bá đã thấy tiền này ở Viện Bảo tàng Lịch
sử Việt Nam năm 1960 Khai Thái là một niên hiệu của Trần Minh Tông Các vua TrungQuốc không có niên hiệu nào như vậy
- Thiệu Phong bình bảo, Thiệu Phong nguyên bảo (1341-1357)
Sử liệu không ghi nhưng khảo cổ học Việt Nam lại phát hiện ra thứ tiền kim loạinày và cho là do Trần Dụ Tông phát hành Tiền có lỗ ở giữa và có gờ và mép không rõ.Mặt trước tiền ghi bốn chữ Thiệu Phong thông bảo Mặt sau để trơn Tiền nhỏ, mỏng,đường kính 21 mm
Khảo cổ học còn tìm ra tiền Thiệu Phong thông bảo, hình thù như Thiệu Phongbình bảo và mặt sau cũng để trơn
Đỗ Văn Ninh cho biết Trần Văn Bá đã thấy tiền Thiệu Phong nguyên bảo đườngkính tới 40 mm và mặt sau có chữ Thập tam ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam vào năm1960
- Đại Trị thông bảo (1358-1369)
Cũng là tiền do Trần Dụ Tông phát hành Đại Việt sử ký toàn thư có cho biết rằngvào năm 1360 đã đúc tiền này Khảo cổ học cho biết tiền này có kích thước lớn hơn tiềnThiệu Phong một chút
1.4 Tiền nhà Hồ
Tiền giấy Thông Bảo hội sao (會會)
Năm 1396, 4 năm trước khi nhà Hồ thay thế nhà Trần làm vua Việt Nam, tiền giấymang tên Thông Bảo hội sao được phát hành Lúc đó đang là niên hiệu Quang Thái của
nước lại do Hồ Quý Ly nắm Chủ trương phát hành tiền giấy này chính là của Hồ Quý Ly.Mục đích của ông là dùng tiền giấy để thay thế tiền kim loại, qua đó thu hồi kim loại vềkho triều đình Nhiều ý kiến thống nhất rằng, sự ra đời tiền giấy Thông Bảo hộisao không phản ánh trình độ phát triển của kinh tế tiền tệ ở Việt Nam đương thời
Khảo cổ học Việt Nam chưa phát hiện ra di vật tiền giấy Thông Bảo hội sao,nhưng Đại Việt sử ký toàn thư nhắc đến rõ ràng đến tên loại tiền này
Tiền Thông Bảo hội sao có bảy mệnh giá khác nhau, đó là: 10 văn ( thập văn),
30 văn ( tam thập văn), 1 bách ( nhất bách), 2 bách ( nhị bách), 3 bách ( tambách), 5 tiền ( ngũ bách), 1 mân ( nhất mân) Không thấy Đại Việt sử ký toàn thưghi lại tỷ lệ giữa các đơn vị văn, bách và mân của tiền Thông Bảo hội sao thế nào Tiềnkim loại đang lưu hành phải được đem đến đổi lấy tiền giấy theo tỷ lệ 1 cưỡng (, chưa
rõ là bao nhiêu văn) đổi lấy 1 mân 2 bách tiền giấy
Trang 16Về hình thức, không rõ kích thước, hình dáng, màu sắc ra sao Đại Việt sử ký toànthư chỉ ghi sơ lược rằng tiền mệnh giá 10 văn có vẽ hình rong, mệnh giá 30 văn có vẽhình sóng, mệnh giá 1 bách có vẽ mây, 2 bách có vẽ rùa, 3 bách có vẽ lân, 5 bách có vẽphượng, và 1 mân có vẽ rồng.
dân ưa dùng, chẳng qua vì luật quy định mà phải sử dụng
- Thánh Nguyên thông bảo (1400-1401)
Thời nhà Hồ, tuy phát hành tiền giấy Thông bảo hội sao và đổi thu hồi tiền kimloại về, song có thể Hồ Quý Ly cũng cho phát hành một lượng nhất định tiền kim loạimang niên hiệu Thánh Nguyên (1400-1401) của mình Khảo cổ học đã phát hiện được ởViệt Nam nhiều đồng tiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo Theo Đỗ Văn Ninh, trongcác vua Trung Quốc và Việt Nam, chỉ có Hồ Quý Ly có niên hiệu Thánh Nguyên
Tiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo có hình tròn, lỗ vuông, kích thước nhỏ(đường kính từ 19 đến 20 mm), mỏng Mặt trước có bốn chữ Thánh Nguyên thông bảođọc chéo từ trên xuống và từ phải qua trái, gờ viền mép và lỗ rõ ràng Nhưng mặt sau lại
để trơn và không có gờ và viền mép hay lỗ
Một trong các mục đích phát hành tiền kim loại Thánh Nguyên thông bảo là đểquảng bá niên hiệu Thánh Nguyên của vua mới
1.5 Tiền nhà Hậu Lê
Thuận Thiên thông bảo (1428-1433), Thuận Thiên nguyên bảo
Sau khi đánh bại hoàn toàn quân Minh xâm lược, chẳng cần đợi nhà Minh côngnhận, ngày 15 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi xưng vua và lấy niên hiệu là Thuận Thiên; mộttháng sau thì cho đúc tiền kim loại Thuận Thiên thông bảo bằng đồng mà không tiếp tụcchính sách sử dụng tiền giấy của nhà Hồ Đó là theo Đại Việt sử ký toàn thư Còn theophát hiện của khảo cổ học, thì tên tiền kim loại đó có lẽ là Thuận Thiên nguyên bảo Hiệncác nhà nghiên cứu còn chưa có kết luận được là sử chép sai "nguyên" thành "thông" hay
Lê Lợi cho đúc hai loại nhưng hiện mới chỉ phát hiện di chỉ loại Thuận Thiên nguyênbảo
Thuận Thiên nguyên bảo có kích thước to hơn, dày hơn và được đánh giá là đẹphơn các đồng tiền kim loại của các thời trước ở Việt Nam Đường kính tiền là 25 mm, dàydặn Mặt trước đúc nổi bốn chữ Hán là Thuận Thiên nguyên bảo với nét viết chânphương Mặt sau không có chữ hay hình gì, viền mép và gờ viền lỗ rõ ràng và đều đặn
Thuận Thiên thông bảo có ba đơn vị đếm là đồng, tiền và quan Đại Việt sử kýtoàn thư cho biết 1 tiền bằng 50 đồng
- Thiệu Bình thông bảo (1434-1439)
Đây là tiền kim loại do Lê Thái Tông cho đúc khi lên ngôi năm 1434 và đặt niênhiệu là Thiệu Bình (1434-1439) Về kiểu dáng, Thiệu Bình thông bảo căn bản giống
Trang 17Thuận Thiên nguyên bảo Ban đầu, 1 tiền bằng 50 đồng như theo quy định của đời vuatrước, nhưng từ năm 1439 thì định lại 1 tiền bằng 60 đồng.
- Đại Bình thông bảo
Sử không nhắc đến tiền này, nhưng Lacroix công bố mẫu của nó và do vua ViệtNam và vua Trung Quốc không còn ai đặt niên hiệu là Đại Bình nữa, nên Đỗ Văn Ninhcho rằng đó là tiền do Lê Thái Tông cho đúc và đặt tên theo niên hiệu thứ hai của ông,Đại Bình (1440-1442) Như vậy, dưới triều vua Lê Thái Tông của Việt Nam đã lần lượt
có hai tiền kim loại là Thiệu Bình thông bảo và Đại Bình thông bảo
- Thái Hòa thông bảo
Đây là tiền kim loại do Lê Nhân Tông cho đúc và đặt tên theo niên hiệu Thái Hòa(1443-1453) của mình Kiểu dáng và kích thước tiền này giống tiền của các vua Lê đờitrước Tuy nhiên, Lacroix đã công bố một mẫu tiền Thái Hòa thông bảo có kích thướcnhỏ và lưng tiền không có gờ viền Ngoài ra, ông này còn công bố một mẫu tiền ghi làĐại Hòa thông bảo Đỗ Văn Ninh cho rằng có thể viết là Đại song vẫn đọc là Thái
- Diên Ninh thông bảo
Tiền kim loại bằng đồng do Lê Nhân Tông cho đúc khi đổi niên hiệu thành DiênNinh Tiền này được khảo cổ học phát hiện nhiều Kiểu dáng và kích thước to đẹp giốngnhư tiền của các đời vua Lê trước
- Thiên Hưng thông bảo
Tiền kim loại do Lê Nghi Dân cho đúc và đặt tên theo niên hiệu Thiên Hưng củamình Sử không nhắc đến việc ông vua này cho đúc tiền, song Lacroix có phát hiện vàcông bố Lê Nghi Dân ở ngôi một năm, nên Thiên Hưng thông bảo có thể cũng chỉ đượclưu hành không quá một năm
- Quang Thuận thông bảo
Là tiền do Lê Thánh Tông cho đúc Di chỉ tiền này được phát hiện khá nhiều.Quang Thuận thông bảo được Phan Huy Chú trong Lịch triều hiến chương loại chí khen
là đẹp vào loại nhất trong các tiền kim loại Việt Nam mà ông biết Không rõ tiền được bắtđầu phát hành từ năm nào, song niên hiệu Quang Thuận của Lê Thánh Tông bắt đầu từnăm 1460, kết thúc vào năm 1469