1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN

24 2K 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái Quát Tình Hình Kinh Tế Nhật Bản
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài luận
Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 49,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1.1.1 Suy thoái và khủng hoảng kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ này là suy thoái, khủng hoảng về cơ cấu kinh tế: Khởi đầu của suy thoái những năm 90 là sự đổ vỡ của nền kinh tế “bong bó

Trang 1

Khái quát tình hình kinh tế Nhật Bản

1.1 Tình hình kinh tế xã hội Nhật Bản trong thập niên 90 thế kỷ XX trở lại đây:

1.1.1 Sự bất ổn định kinh tế Nhật Bản trong thập niên 90 của thế kỷ XX:

Nhật Bản là một cờng quốc kinh tế đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển thần kỳvào trớc thập niên 90 khiến cả thế giới phải khâm phục Sau giai đoạn phát triển cao

độ (1955-1973), trung bình mỗi năm kinh tế tăng trởng 10%, kinh tế Nhật Bản bớcvào giai đoạn phát triển trung bình (1974-1991), kinh tế tăng trởng bình quân 4%.Thế nhng, từ đầu thập niên 90 kinh tế Nhật Bản đã lún sâu vào giai đoạn suy thoáimặc dù kể từ năm 1999 đến nay đã có dấu hiệu phục hồi nhng còn rất mong manh

Sự phát triển không ổn định có thể coi là đặc trng của nền kinh tế Nhật Bản trongnhững năm 90

1.1.1.1 Suy thoái và khủng hoảng kinh tế Nhật Bản trong thời kỳ này là suy

thoái, khủng hoảng về cơ cấu kinh tế:

Khởi đầu của suy thoái những năm 90 là sự đổ vỡ của nền kinh tế “bong bóng”.Tăng trởng kinh tế (GDP) của Nhật trong những năm này đã liên tục suy giảm Từnăm 1990 đến năm 1993, động thái tăng trởng kinh tế suy giảm liên tục: 5,5%;2,9%; 0,4%; Dấu hiệu phục hồi trở lại vào những năm 1994 - 1996 với tốc độ tăngtrởng qua các năm là: 0,6%; 1,4%; 2,9% Nhng từ năm 1997 đến 1998, Nhật Bảnlại lâm vào khủng hoảng trầm trọng, kinh tế Nhật tăng trởng âm liên tục từ –0,7%

đến –0,9% Khủng hoảng kinh tế Nhật Bản gắn liền với ảnh hởng của cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ Đông Nam á 23,11 Năm 1999, nền kinh tế đã có dấu hiệuphục hồi với tốc độ tăng trởng là 0,5% Các chỉ số tăng trởng GDP hàng năm trên

đây đã phản ánh khái quát nhất suy thoái kinh tế Nhật Bản suốt những năm 90 củathế kỷ XX

Tuy nhiên, suy thoái dẫn đến khủng hoảng có tính chất cơ cấu của nền kinh tế NhậtBản trong những năm 90 khác với cuộc khủng hoảng kinh tế trớc đây Đó là nềnkinh tế vẫn chìm trong tình trạng suy thoái kéo dài, sự phục hồi của một số ít doanhnghiệp lớn đợc nhà nớc hỗ trợ vẫn không khắc phục đợc tình trạng này Sự pháttriển mất cân đối trong cơ cấu kinh tế thể hiện ở việc mở rộng sản xuất chủ yếutrong các lĩnh vực công nghệ cao nh sản xuất máy vi tính, điện thoại di động, tinhọc hoá mà không chú trọng tới các ngành công nghiệp truyền thống khác cũng nh

Trang 2

việc gia tăng hoạt động đầu t của Nhật Bản ở nớc ngoài Do đó, các ngành côngnghiệp trong nớc lâm vào tình trạng suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, đời sốngcủa ngời lao động trở nên bấp bênh vì hầu nh không còn tồn tại hình thức thuê mớncông nhân suốt đời nh trớc đây, các xí nghiệp vừa và nhỏ cũng chịu ảnh hởng trựctiếp của cuộc khủng hoảng cơ cấu kinh tế này

1.1.1.2 Đồng Yên lên giá ảnh hởng trực tiếp đến lĩnh vực xuất khẩu và đầu t:

Trong suốt những năm 90, đồng Yên lên xuống thất thờng, lên cao nhất là 70 Yên/USD (1995), và thấp nhất là 145 Yên/USD (1998) 23,14 Việc đồng Yên lên giálàm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Nhật Bản do giá thành tăng nhanh,hàng hoá trở nên ế ẩm, làm ảnh hởng xấu tới ngoại thơng Nhật Bản, đặc biệt lànhững công ty xuất khẩu Một điểm đáng nói thêm ở đây là trong thập niên 90, cácnớc Châu á, nhất là Trung Quốc, ngày càng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàngcông nghiệp vừa cạnh tranh với Nhật trên thị trờng thế giới vừa thâm nhập vào thịtrờng Nhật Đồng Yên lên giá quá nhanh làm cho các công ty Nhật Bản tranh nhau

đầu t ra nớc ngoài nhất là đầu t vào các nớc Châu á để tận dụng nguồn nguyên liệudồi dào và nhân công rẻ Tất nhiên, giá nhân công cao ở Nhật không phải là vấn đềduy nhất Các ngành công nghiệp Nhật Bản có khả năng khắc phục đợc chi phínhân công cao dựa vào hệ thống giáo dục có chất lợng cao và hệ thống sản xuất cóhiệu quả đợc các xí nghiệp vừa và nhỏ duy trì Việc đầu t ra nớc ngoài góp phầnkhắc phục hậu quả đổ vỡ kinh tế bong bóng, sản xuất tại nớc ngoài lại gần với thịtrờng tiêu thụ, không tốn kém chi phí vận chuyển Việc này không những có tácdụng tránh va chạm với các chính phủ Âu Mỹ vốn phản đối việc hàng hoá Nhật lantràn quá nhiều trên thị trờng mà còn phát huy hiệu quả lớn trong việc giảm chi phísản xuất Song mặt khác, nó cũng làm cho nền sản xuất trong nớc suy yếu đi, dẫn

đến sự phá sản của hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nạn thất nghiệp ngàycàng gia tăng

1.1.1.3 Vấn đề việc làm và thu nhập cho ngời lao động đã và đang là vấn đề nan giải:

Nớc Nhật vốn là quốc gia mà một vài thập kỷ gần đây có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhấttrong số các nớc t bản phát triển (dới 2%) Khi nền kinh tế “bong bóng” đổ vỡ kéotheo sự phá sản của một loạt các ngân hàng, công ty chứng khoán, các nhà máy, xínghiệp, từ đó dẫn đến tình trạng ngời lao động không có việc làm, hoặc còn việc

Trang 3

làm nhng thu nhập bị cắt giảm một phần vì các chủ doanh nghiệp làm ăn thua lỗ,một phần do giá cả hàng hoá tiêu dùng đều tăng vọt Tỷ lệ ngời thất nghiệp theothống kê công bố vào đầu thập niên 90 chỉ có 2%, nhng đến nay đã lên tới 4,9%trong tháng 6 và tháng 7 năm 1999 23,16 Những năm cuối thế kỷ XX, ngời dânNhật bắt đầu hoang mang khi con số thất nghiệp năm 2000 là 3.200.000 ngời, tăng30.000 ngời, chiếm tỷ lệ 4,7% trong tổng số ngời lao động và đây là con số caonhất kể từ năm 1953 đến nay Tỷ lệ này gần nh cân bằng cho cả nam và nữ (nam4,9%, nữ 4,7%) 9,19 Không chỉ có vậy, tỷ giá hối đoái giữa đồng Yên Nhật và

đồng đôla Mỹ lên xuống thất thờng, giá cổ phiếu trên thị trờng chứng khoán cũngdiễn biến rất phức tạp đã khiến cho các nhà kinh doanh gặp nhiều khó khăn, tỷ lệcác doanh nghiệp phá sản ngày càng gia tăng Tình trạng này càng làm gia tăng sốlợng ngời thất nghiệp, và thu nhập thực tế của ngời lao động cũng suy giảm do sảnxuất kinh doanh đình đốn, giá cả gia tăng

1.1.1.4 Nguyên nhân của sự phát triển không ổn định của nền kinh tế Nhật Bản:

Có nhiều cách xác định nguyên nhân của cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bảnnhững năm 90, theo tôi có 5 nguyên nhân chính giải thích sự suy thoái này

Một là, các nguyên nhân nảy sinh từ sự sụp đổ nền kinh tế “bong bóng” Nền kinh

tế “bong bóng” chính là nền kinh tế tăng trởng cực nhanh của Nhật Bản cuối thậpniên 80, song đó không phải là tăng trởng thực sự từ sự phát triển các hoạt động sảnxuất của cải vật chất mà chủ yếu tăng trởng giả tạo do đầu cơ vào mua bán bất độngsản, trái phiếu, các hàng hoá nghệ thuật có giá trị lớn Nhiều cá nhân, doanh nghiệp

đã dự trữ một khối lợng lớn các tài sản dới dạng bất động sản và cổ phiếu các công

ty Do đó, sản xuất và tiêu dùng bị kích thích mạnh bởi cơn sốt bất động sản và cổphiếu chứng khoán Điều này làm cho kinh tế Nhật Bản tăng trởng rất cao vàonhững năm của thập kỷ 80 Để hạn chế tốc độ tăng trởng quá nóng, Chính phủ phảinâng lãi suất cho vay, vì vậy, nền kinh tế bị xì hơi, giá cổ phiếu và bất động sản tụtxuống rất nhanh Hậu quả là tiền nợ không đòi đợc lên tới con số rất cao, ảnh hởngnghiêm trọng tới hệ thống tín dụng, ngân hàng Tính đến cuối năm 1995, đã cóhàng loạt công ty bị phá sản, không có tiền trả nợ ngân hàng, khiến cho tổng số nợkhó đòi của các ngân hàng đã lên tới 40.000 tỷ JPY (gần 400 tỷ USD) Nhiều ngânhàng và công ty tài chính lâm vào tình trạng hết sức khó khăn, trong đó có cả 11ngân hàng mạnh nhất của Nhật Bản và cũng là của thế giới đã phải giảm tới 10%khả năng hoạt động trong hai năm 1994-1995 23,19 Giới đầu t vốn trong nớc và

Trang 4

ngoài nớc mất lòng tin với thị trờng tài chính Nhật Bản Tình trạng này ảnh hởngtrực tiếp tới một bộ phận khác về mặt cầu là đầu t của các xí nghiệp Ngân hàng cha

xử lý đợc các món nợ khó đòi, không tích cực hoặc không có khả năng cho vay đốivới các dự án mới, ảnh hởng không nhỏ tới các xí nghiệp vừa và nhỏ Các ngânhàng lúc đó không có khả năng cho các doanh nghiệp vay tiền để mở rộng sản xuấtnữa Nhiều gia đình, cá nhân lo sợ trớc sự mất mát về tài sản nên đã hạn chế chitiêu Các yếu tố này là nguyên nhân dẫn đến cầu tiêu dùng giảm mạnh, thị trờngtrong nớc tiêu điều, nền kinh tế lâm vào tình trạng suy thoái Tính đến năm 1995,

đã có tới 15.000 công ty của Nhật bị phá sản, chỉ riêng 6 tháng đầu năm 1998, con

số này đã lên đến 10.262 Năm 1999, kinh tế Nhật Bản có dấu hiệu phục hồi trở lạisong chỉ với tốc độ hết sức chậm chạp, tốc độ tăng trởng khoảng 0,5% chứ cha thểtăng trở lại nh trớc thời kỳ khủng hoảng 23,21

Nguyên nhân thứ hai dẫn tới suy thoái kinh tế là sự yếu kém, lạc hậu của hệ thống ngân hàng, tài chính Nhật Bản Sự yếu kém, lạc hậu thể hiện ở một số khía cạnh

nh: hệ thống ngân hàng, tài chính Nhật Bản đã nhiều năm chịu sự kiểm soát chặtchẽ của Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhật Bản là các cơ quan đại diện cho Chínhphủ Nhật Bản đã không còn phù hợp trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế và tự docạnh tranh hiện nay Mặt khác, sự liên kết giữa các quan chức chính phủ với giớidoanh nghiệp đã ngày càng tỏ ra bị tha hóa, không có hiệu quả Vào những năm tr-

ớc thập niên 90, Nhật Bản có tới 7 trong số 10 ngân hàng đứng đầu thế giới, nhngvào cuối thập niên 90 thì 20 ngân hàng hàng đầu Nhật Bản nằm ở thứ hạng rất thấp

so với các ngân hàng nớc ngoài, tụt hậu khoảng 10 năm so với các ngân hàng Mỹ.Chính Phủ và Ngân hàng Trung Ương đã không thấy hết sự năng động, thích ứngcủa các xí nghiệp, phản ứng của thị trờng nên đã áp dụng các chính sách không phùhợp Thêm vào đó là những mối quan hệ mờ ám giữa các quan chức chính phủ vớicác ngân hàng đã dẫn đến nhiều vụ tham nhũng nghiêm trọng cha bị phanh phui.Theo đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, nền kinh tế Nhật Bản sẽ còn gặp nhiềukhó khăn nếu nh không giải quyết đợc các vấn đề của khu vực tài chính ngân hàng

Thứ ba là sự già hoá dân số là gánh nặng của các chính sách đảm bảo phúc lợi.

Nhật Bản hiện nay đang là nớc có chỉ số tuổi thọ dân c cao nhất thế giới Với dân

số 127,1 triệu ngời (2001), trong đó lực lợng lao động chiếm 67,76 triệu ngời(1998), tỷ lệ tăng dân số hàng năm rất thấp 0,18% (2000), thì gánh nặng đè lên vainhững ngời trong độ tuổi lao động là rất lớn Nhng sự già hoá dân số ở Nhật Bảnkhông phải do cuộc khủng hoảng kinh tế Nhật Bản những năm 90 mà là kết quả của

Trang 5

sự phát triển kinh tế Nhật Bản những năm trớc đây Khi nền kinh tế tăng trởng cao,thì chính sách đảm bảo phúc lợi cho ngời già đợc gia tăng, đây là một trong nhữngnguyên nhân chủ yếu khiến cho tuổi thọ của ngời dân Nhật Bản rất cao Tỷ lệ ngờigià trên 65 tuổi chiếm 15% dân số, dự báo đến năm 2005 số ngời trên 65 tuổi là19,3%, 2050 con số này sẽ lên tới 35% 23,24 Mặt khác, do làm việc quá căngthẳng, chịu nhiều sức ép nên xu thế hiện nay của những ngời trẻ tuổi là họ khôngmuốn sinh con, hoặc cùng lắm chỉ sinh 1 con, bình quân 1 phụ nữ Nhật Bản chỉsinh 1,42 con và thông thờng thì ngời phụ nữ trong gia đình thờng ở nhà làm côngviệc nội trợ, không tham gia vào lao động xã hội Ngoài ra, còn có những ngờikhông thích kết hôn mà chỉ sống độc thân nên tình trạng mất cân đối cơ cấu dân số

là tất nhiên Nhật Bản đang đứng trớc thách thức số ngời già tăng nhanh nhng số trẻ

em ngày càng ít

ảnh hởng của vấn đề dân số già và tỷ lệ sinh đẻ thấp trên đây đối với nền kinh tếNhật Bản đã gây nên tình trạng thiếu sức lao động, nhất là lao động trẻ trong lĩnhvực khoa học kỹ thuật, từ đó làm giảm năng suất lao động xã hội và tăng trởng kinh

tế Sự già hoá dân số còn kéo theo một loạt các hậu quả khác nh: làm giảm thu nhập

và sức mua, giảm tỷ lệ tích luỹ trong gia đình do đó làm giảm đầu t vào phát triểnkinh tế, giảm đóng thuế, giảm đóng góp tiền hu, tăng gánh nặng tài chính cho ngânsách Nhà nớc, Theo dự báo của các nhà nhân khẩu học từ năm 2007 trở đi, dân sốNhật sẽ suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn 67 triệu ngời năm 2100 Rõ ràng, sự giàhoá dân số ở Nhật Bản là một trong những nguyên nhân không nhỏ làm cho nềnkinh tế Nhật Bản lâm vào khủng hoảng trầm trọng

Một nguyên nhân nữa không thể không kể đến là sự yếu kém của bộ máy nhà nớc, tình hình chính trị không ổn định Trớc đây sự liên kết giữa tam giác quyền lực

(giới chính trị, quan chức nhà nớc và doanh nghiệp) ở Nhật đã có tác động rất tíchcực thì trong thời điểm những năm 90 lại trở nên hết sức tiêu cực: tình hình chínhtrị rối ren, bộ máy nhà nớc quản lý yếu kém, quan chức nhà nớc tham gia vào các

vụ bê bối, tham nhũng Trải qua gần 40 năm cầm quyền, Đảng Dân Chủ-Tự DoNhật đã mất quyền lãnh đạo, trở thành đảng đối lập suốt những năm 1993-1996 Từnăm 1997 đến nay, tuy đã trở lại cầm quyền, Đảng Dân chủ - Tự do đã nhiều lần đa

ra các biện pháp cải cách kinh tế song vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà nềnkinh tế vẫn cha phục hồi đợc Có thể nói, chính những yếu kém trong vai trò lãnh

đạo chính trị và quản lý phát triển nền kinh tế của Đảng Dân chủ- Tự do đã gópphần làm cho nền kinh tế của đất nớc này suy yếu

Trang 6

Nguyên nhân cuối cùng là sự bất cập của mô hình kinh tế Nhật Bản trớc những thử thách, yêu cầu của giai đoạn mới Kinh tế Nhật Bản hiện nay có thể hình dung là

một cơ cấu hai tầng, một bên là những ngành có năng suất cao nh: điện tử, xe hơi, một bên là các ngành có năng suất thấp nh dịch vụ, tiền tệ, ngân hàng, Trong

đó, Chính phủ và giới kinh doanh luôn có quan hệ mật thiết với nhau, Nhà nớc bảo

hộ chặt chẽ các ngành sản xuất phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng nội địa Mô hìnhkinh tế này đã trở nên không phù hợp nữa Thực tế cho thấy, vốn đầu t của các công

ty Nhật Bản thờng đợc cung cấp từ nguồn vốn tiết kiệm của cả nớc thông qua ngânhàng với lãi suất rất thấp, không phải cạnh tranh trong thị trờng mở về tài chính nhcác nớc phơng Tây Trong khi đó, các ngân hàng dới dự trợ giúp của Chính phủ đãcung cấp tài chính một cách thụ động cho các doanh nghiệp Điều này đã làm chohoạt động của các ngân hàng trì trệ, kém hiệu quả và đứng trớc nguy cơ bị các ngânhàng lớn của Mỹ và các nớc Tâu Âu nuốt chửng Đó là trờng hợp Công ty chứngkhoán Merrill của Mỹ đã tuyên bố rằng họ sẽ tuyển 2000 trong số 7500 nhân viêncủa Công ty chứng khoán Yamaichi cùng với giành quyền quản lý 50 chi nhánh n-

ớc ngoài của công ty này ngay sau khi Yamaichi phá sản 1 tháng

Ngoài những nguyên nhân trên, còn phải kể đến nguyên nhân gián tiếp làm cho nền kinh tế Nhật Bản sa sút, đó là ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính- tiền tệ

Đông Nam á năm 1997-1998 Hoạt động xuất nhập khẩu và đầu t của Nhật Bảnvào thị trờng này chịu thiệt hại nặng nề vì các nớc Đông Nam á vốn là những đốitác quan trọng của Nhật Tính đến nửa đầu năm 1998, xuất khẩu của Nhật sangChâu á giảm 21,1% Về lĩnh vực đầu t, hoạt động của các ngân hàng Nhật tại Châu

á bị thu hẹp do không có khả năng duy trì hoạt động và kém cạnh tranh so với cácngân hàng nớc ngoài khác kéo theo đầu t trực tiếp của Nhật vào khu vực giảmmạnh Năm 1998, các công ty Nhật dự định đầu t ra nớc ngoài là 1,2 nghìn tỷ JPY,giảm 56,5% so với năm trớc, trong đó 20% tổng số tiền đợc đầu t vào Châu á, giảm3,6% so với năm 1997 23,41 Đặc biệt là cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khuvực đã có tác động mạnh mẽ tới nền tài chính Nhật Bản Cuộc khủng hoảng đã làmrối loạn các quan hệ tài chính tiền tệ giữa các công ty trong nớc với các công ty nớcngoài làm không ít các tổ chức tài chính tiền tệ phá sản Chỉ tính đến đầu năm

1998, các khoản nợ khó trả lên tới 6700 tỷ JPY, chiếm khảng 15% GDP Cuộckhủng hoảng còn làm giảm chỉ số Nikkei và đồng Yên, đồng Yên đã đạt tới mức kỷlục 147,24 Yên/đôla 23,163

Trang 7

1.1.2 Triển vọng phục hồi nền kinh tế năm đầu thế kỷ XXI và những nỗ lực cải cách của Thủ tớng Koizumi:

Với tốc độ tăng trởng kinh tế khả quan năm 2000, nhiều ngời đã hy vọng rằng nềnkinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ nhanh chóng phục hồi Sau nhiều năm suy thoái,nền kinh tế lại có mức tăng trởng dơng song tốc độ tăng trởng còn ở con số hết sứckhiêm tốn Bớc vào năm 2001, sự suy giảm tốc độ tăng trởng kinh tế vẫn còn tiếpdiễn, có thể nhận thấy qua con số thống kê từng quý của năm 2001: Quý I: 0,1%;Quý II: -0,7%, Quý III: -0,5% 9,11 Những tháng đầu năm 2002, trong một sốlĩnh vực nhất là xuất khẩu, tình hình có vẻ sáng sủa hơn song vẫn cha ổn định vàthiếu chắc chắn Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) của nớc này trong 3 tháng

đầu năm tăng 1,4%, cao nhất trong 2 năm trở lại đây Mức tăng tơng đơng với tốc

độ tăng trởng 5,7%/ năm, cao hơn cả Mỹ Ông Kiichi Miyazawa, Bộ trởng Tàichính Nhật Bản khẳng định rằng: “Kể từ nay trở đi, nền kinh tế Nhật Bản sẽ hồiphục”, và cơ sở của sự hồi phục này là sự cải thiện về tình hình lợi nhuận của cácdoanh nghiệp trong thời gian qua, đặc biệt là các công ty công nghệ cao và khu vực

“kinh tế mới” Sự xuống giá của đồng Yên sẽ tác động tích cực tới xuất khẩu vàkhông hề gây trở ngại đối với việc các nhà đầu t nớc ngoài tiếp tục mua trái phiếuChính phủ Nhật Bản Chính sự phục hồi nhanh chóng của các hoạt động xuất khẩu

và sự gia tăng mạnh mẽ trong chi tiêu tiêu dùng đã làm cho tổng sản phẩm quốc nội(GDP) của Nhật tăng tới 1,4% trong thời gian nói trên Các con số thống kê chothấy, tốc độ tăng trởng kinh tế trong năm tài chính 2002 là 0%, khả quan hơn so với

dự báo của IMF là -1,3% nhờ sự phục hồi kinh tế của thị trờng Mỹ và các nớc Châu

á 6,158 Tuy nhiên, các quan chức chính quyền Nhật lại cảnh báo không nên lạcquan rằng các con số thống kê tích cực nói trên sẽ tiếp tục trong những tháng tới.Các nhà phân tích kinh tế cho rằng, phải mất nhiều tháng nữa, nền kinh tế Nhật Bảnmới có thể tăng trởng một cách vững chắc

Tình hình kinh tế đã Nhật Bản năm 2000 và 2001 cho thấy Chính phủ và các doanhnghiệp đã ra sức cố gắng đa nền kinh tế Nhật Bản đi lên, và họ đã thành công trongbớc đầu khẳng định rằng tốc độ suy thoái đã đợc kìm hãm và tiến trình cải cáchkhông bị chệch hớng Tháng 4 năm 2001, Koizumi Junichiro đợc bầu làm Thủ t-ớng, và chỉ sau 2 tháng kể từ khi nhậm chức, ông đã đa ra một chơng trình cải cáchnền kinh tế, đa nớc Nhật thoát khỏi khủng hoảng Mục tiêu của chơng trình cảicách lần này là tập trung chấn chỉnh cơ cấu kinh tế trong vòng từ hai đến ba năm,

Trang 8

chấp nhận mức tăng trởng âm, để sau đó có thể đạt đợc mức tăng trởng dơng Cácgiải pháp của Thủ tớng Koizumi tập trung chủ yếu vào các nội dung sau:

Thứ nhất, giải quyết dứt khoát các khoản nợ khó đòi để bình thờng hoá hệ thống tín

dụng Mặc dù nợ khó đòi là một vấn đề nan giải, song ngân sách không bố tríkhoản chi nào cho việc giải quyết nợ mà Chính phủ thực hiện bằng biện pháp xoá

nợ và mua lại nợ Cho đến tháng 3 năm 2003, tập trung giải quyết nợ khó đòi củacác ngân hàng lớn (14 ngân hàng hàng đầu Nhật Bản có thể xoá ít nhất 6,5 nghìn tỷJPY) 15, 8 Để cung cấp tài chính cho các hoạt động của mình do việc xoá nợ, cácngân hàng Nhật Bản đang tích cực giải quyết bằng việc bán bớt các tài sản ở nớcngoài Chính phủ sẽ xây dựng các quy định pháp lý mới để cố gắng loại bỏ cáckhoản nợ xấu trong vòng 2-3 năm tới Ngoài việc mua lại nợ và xoá nợ, các ngânhàng còn tiến hành thanh lý nợ theo pháp luật hiện hành (cho các xí nghiệp chịu nợphá sản) hoặc ngân hàng huỷ bỏ một phần nợ Trong trờng hợp ngân hàng không cókhả năng thanh lý theo 3 cách này thì cơ quan hồi thu và chỉnh lý nợ sẽ xử lý cáckhoản nợ đó

Thứ hai là cải cách hệ thống thuế để kích thích phát triển Cải cách thuế tập trung

vào thuế thu nhập, thuế tài sản thừa kế, thuế mua bán chứng khoán, để các cánhân tham gia nhiều hơn vào thị trờng chứng khoán Hiện nay, tiền để dành củangời Nhật lên tới 14.000.000 tỷ JPY (khoảng 12.000 tỷ USD, trung bình mỗi ngờidân khoảng 100.000 USD) và 70% do ngời già nắm giữ 13,9 Nếu cải cách thuế,một phần số tiền đó sẽ mua chứng khoán và làm cho giá chứng khoán tăng lên

Thứ ba là tiến hành cải cách cơ cấu Cải cách cơ cấu là mục tiêu luôn đợc Chính

phủ đa lên hàng đầu Thủ tớng Koizumi đã xúc tiến bảy chơng trình cải cách baogồm: t nhân hoá; thực hiện chơng trình hỗ trợ cá nhân nh là một hệ thống xã hộikhuyến khích khả năng của cá nhân; tăng cờng chức năng bảo hiểm và phúc lợi xãhội; thành lập quỹ hỗ trợ cho nghiên cứu và giáo dục đối với khu vực t nhân; cảithiện cơ sở hạ tầng để tạo một môi trờng cho phép mọi ngời sống và làm việc theo ýmuốn; tối đa hoá quyền lực của chính quyền địa phơng để tăng tính tự lập và năng

động; cải cách tài chính bằng cách thay đổi sự cứng nhắc đối với các hình thứcphân bổ nguồn vốn của chính quyền nhà nớc và địa phơng, điều chỉnh lại các nguồnthu nhập và phân bổ ngân sách giữa các khu vực sao cho hiệu quả và linh hoạt hơn.Cùng với việc cải cách cơ cấu kinh tế vĩ mô, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng cải

tổ, sắp xếp lại tổ chức và định hớng lại sản xuất cho phù hợp với điều kiện mới

Trang 9

Thứ t là, tập trung xây dựng hệ thống kinh tế có sức cạnh tranh trong môi trờng kinh tế hiện nay Nhật Bản xúc tiến đầu t vào các ngành công nghiệp mới trong đó

Chính phủ chú trọng tới các biện pháp về thuế để kích thích t nhân tham gia vào thịtrờng chứng khoán, thực hiện chơng trình trọng điểm “e-japan” để đạt tới mục tiêutrong 5 năm tới Nhật Bản trở thành nớc hàng đầu về công nghệ thông tin Ngoài ra,Nhật Bản rất nỗ lực trong hợp tác kinh tế với các nớc Asean + 3, Chính phủ đangxem xét tới việc thiết lập một khu vực tự do thơng mại Đông á trớc 2010 để tậndụng u thế của thị trờng rộng lớn này

Trên đây là những giải pháp chủ yếu của Thủ tớng Koizumi đề ra và tiến hành trongnăm 2001 Dù rằng tốc độ tăng trởng kinh tế Nhật Bản năm 2001 không đạt đợc nhmong đợi, và trong năm 2002, tình hình kinh tế vẫn khó khăn và tăng trởng yếu ớtsong có thể hy vọng về một tốc độ tăng trởng khá nếu Nhật Bản tiếp tục giữ vững đ-ờng lối cải cách của mình, đồng thời tiếp tục đa ra những chính sách mới một cáchnhanh chóng, kịp thời Hơn thế nữa, trong thời gian tới nền kinh tế thế giới và khuvực sẽ có thể tăng trởng với mức độ cao hơn năm 2001, đây sẽ là điều kiện thuậnlợi để nền kinh tế Nhật Bản đạt tốc độ tăng trởng dơng

1.2 Thơng mại của Nhật Bản với các khu vực và thế giới trong những năm gần đây:

1.2.1 Lợi ích của Nhật Bản trong quan hệ thơng mại với các khu vực và thế giới:

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là lĩnh vựccông nghệ cao nh thông tin, sinh học, trong những năm gần đây, là sự thay đổi cơcấu kinh tế thế giới cũng nh sự thay đổi của bản thân mỗi nền kinh tế Sự phát triểnmạnh mẽ của khoa học công nghệ đã góp phần làm cho các quốc gia Đông Nam átrớc đây còn lạc hậu nhiều so với Nhật nay đã nâng cao năng lực cạnh tranh củamình và trở thành đối thủ cạnh tranh quyết liệt với Nhật Bản Điển hình là HànQuốc, Singapore đã từng bớc xoá bỏ quan hệ một chiều phụ thuộc vào Nhật Bảncũng nh các quốc gia phát triển khác chuyển sang thành đối tác thực sự trong nhiềulĩnh vực Sự gia tăng mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế làm cho cácquốc gia ràng buộc với nhau một cách chặt chẽ và cạnh tranh cũng ngày càng quyếtliệt hơn Song, trong quan hệ thơng mại với các khu vực và thế giới, Nhật Bản cóthể tận dụng và phát huy đợc các thế mạnh của mình

Trang 10

Thứ nhất, quan hệ thơng mại với các nớc cho phép Nhật Bản xâm nhập vào thị

tr-ờng các nớc này vì cơ sở nguyên nhiên liệu cũng nh thị trtr-ờng tiêu thụ sản phẩm sẽrộng mở hơn Việc khai thông thị trờng quốc gia với quốc tế cho phép bổ sungnhững mặt yếu và phát huy lợi thế so sánh của mình Nhật Bản đã tận dụng lợi thếnày một cách có hiệu quả Thực tế đã chứng minh rằng, không một quốc gia nào cóthể phát triển đợc nếu chỉ xây dựng thị trờng nội địa mà không tính đến thị trờngbên ngoài với chủ trơng tạo lập một nền kinh tế độc lập, tự chủ Và thực tế đãchứng minh là nền kinh tế “bế quan toả cảng” là hoàn toàn không phù hợp, nhất làtrong xu thế toàn cầu hoá Chúng ta đều biết Nhật Bản là một quốc gia nghèo tàinguyên thiên nhiên, nhng lại là một nớc có nền kinh tế cờng thịnh thứ hai thế giới.Những thành công mà Nhật Bản gặt hái đợc có sự đóng góp không nhỏ của thơngmại quốc tế

Thứ hai là nhờ có thơng mại quốc tế mà việc giao lu văn hoá đã xâm nhập vào Nhật

Bản, làm cho cuộc sống ngời dân trở nên phong phú hơn, chất lợng cuộc sống đợcnâng cao hơn Đồng thời, quan hệ thơng mại với các nớc còn làm cho tự do dân chủ

ở Nhật phát triển mạnh, tạo lập cơ sở cho sự hiểu biết lẫn nhau, xoá tan những thùhằn trong quá khứ Đây là một trong những điều kiện quan trọng để bành trớng vaitrò của Nhật về phơng diện kinh tế và chính trị trên toàn cầu Có thể thấy rằng quanniệm của ngời Nhật về bên trong và bên ngoài rất đậm nét và có phần hạn chế sựxâm nhập bên ngoài vào trong nớc Chính vì vậy, việc mở rộng quan hệ buôn bánvới các nớc trên thế giới buộc Nhật Bản phải cải cách lại cơ chế bên trong cho phùhợp Trớc tiên là hệ thống ngân hàng, hiện đang là lĩnh vực cản trở sự phục hồi củaNhật Bản

Quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế làm cho sự cạnh tranh trở nên gay gắt hơn.

Nhiều doanh nghiệp nớc ngoài đã xâm nhập vào thị trờng Nhật, mang lại cho thị ờng Nhật những tác phong làm việc mới, cách thức kinh doanh mới, Vì vậy, ng -

tr-ời Nhật phải liên tục đổi mới, nghiên cứu tìm ra những phơng thức mới trong kinhdoanh để dành đợc u thế và khẳng định đợc vai trò của mình trên thế giới

Bên cạnh đó, tham gia vào thơng mại quốc tế còn tạo điều kiện cho Nhật Bản tham gia một cách tích cực hơn nữa vào việc giải quyết các vấn đề của toàn cầu có liên quan đến sự phát triển kinh tế, đến sự tồn vong của Nhật Bản Đặc biệt là vấn đề về

môi trờng, Nhật Bản không thể tự mình giải quyết hết đợc các vấn đề về môi trờng.Trong quá trình công nghiệp hoá ở Nhật Bản trớc đây, ngời ta cha chú trọng đúng

Trang 11

mức tới môi trờng, hậu quả là Nhật Bản ở trong tình trạng ô nhiễm môi trờng nặng.Nhật Bản là nớc có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên Nhật Bản phải đầu t rất lớnvào các biện pháp hạn chế những hậu quả do ô nhiễm môi trờng Tuy nhiên, NhậtBản khó có thể giải quyết vấn đề này một mình mà cần có sự hợp tác quốc tế đểcùng giải quyết

Tóm lại, không thể phủ định vai trò của quan hệ thơng mại với các khu vực và thế

giới trong sự ổn định và phát triển của Nhật Bản Tuy nhiên, thông qua thơng mại

quốc tế, các quốc gia khu vực Đông á đã nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo ra mộtmôi trờng kinh doanh thuận lợi cho Nhật, bên cạnh đó nó còn đe doạ tới một số lĩnhvực kinh tế của Nhật đợc Nhà nớc bảo hộ Mặt khác, sự phụ thuộc vào nhau giữacác quốc gia để đảm bảo an ninh kinh tế trở nên phức tạp hơn Khi một nền kinh tếnào đó suy yếu đi thì sẽ ảnh hởng rất lớn tới kinh tế thế giới và khu vực và ngợc lại

1.2.2 Đánh giá cán cân thơng mại của Nhật Bản trong thời gian qua:

Từ năm 1983, Nhật Bản đợc biết đến nh một quốc gia có thặng d thơng mại lớnnhất thế giới Xu hớng gia tăng mức d thừa cán cân thơng mại kéo dài suốt cho tớinăm 1994 và giảm nhẹ trong những năm 1995, 1996, sau đó tiếp tục tăng cao, đạtmức d thừa kỷ lục là 13.990 tỷ JPY năm 1998 Song, mức d thừa năm 1998 khôngphải do hoạt động xuất khẩu gia tăng mà do mức xuất và nhập thực tế đều giảm,nhng mức giảm của kim ngạch xuất khẩu thấp hơn nhập khẩu 4,5%

Bảng 1, Thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu của Nhật Bản từ năm 1995-2000:

(Đơn vị: triệu USD)

Xuất khẩu 443.116 410.901 420.957 387.927 419.367 479.333Nhập khẩu 335.882 349.152 338.754 280.484 311.262 379.511Cán cân th-

ơng mại

(Nguồn: Thống kê nớc ngoài, niên giám thống kê 2001).

Trong hai năm 1999 và 2000, mức thặng d thơng mại vẫn tiếp tục giảm sút, riêngnăm 2000 giảm 12,7% so với năm 1999 và đây là năm thứ hai giảm liên tục Sangnăm 2001, thặng d thơng mại giảm mạnh nhất là trong những tháng đầu năm, NhậtBản nằm trong tình trạng nhập siêu với mức 95,3 tỷ JPY Nguyên nhân chính củahiện tợng này bởi nhu cầu hàng hoá Nhật trên thị trờng Mỹ giảm do sự giảm sút củanền kinh tế Mỹ Kim ngạch xuất khẩu của Nhật Bản trong tháng 1 tăng 3,1% đạt

Trang 12

3623,4 tỷ JPY, trong khi đó nhập khẩu tăng 24,3%, tức 3718,6 tỷ JPY Trong lĩnhvực xuất khẩu, mặc dù đồng yên có xu hớng giảm mạnh so với đồng đôla Mỹ, nh-

ng do nhu cầu bên ngoài yếu đi khiến cho xuất khẩu liên tục giảm sút Kim ngạchxuất khẩu liên tục giảm sút, quý I, quý II lần lợt giảm là 3,6%, 4,8%, kim ngạchxuất khẩu quý III đạt 12.049,9 tỷ JPY, giảm 7,8 % so với cùng kỳ năm trớc Tínhriêng mức xuất khẩu giảm 7,8% đạt 4136 tỷ JPY, trong khi đó kim ngạch nhậpkhẩu tăng 2,4%, đạt 3375 tỷ JPY Theo thống kê của Bộ Tài chính, mức thặng dtrong 9 tháng đầu năm 2001 đạt 3305 tỷ JPY, giảm 43,1% so với cùng kỳ khoá tr-

ớc Đây là mức giảm lớn nhất kể từ năm 1978 đến nay Xuất khẩu giảm mạnh do sựsuy giảm nhu cầu trên thế giới, nhất là nhu cầu về các sản phẩm thuộc khu vựccông nghệ thông tin (IT) Bên cạch đó, cuộc khủng bố 11-9 cũng ảnh hởng khôngnhỏ tới thơng mại Nhật, làm gián đoạn hoạt động xuất khẩu sang thị trờng Mỹ

1.2.3 Thị trờng và cơ cấu hàng hoá và xuất nhập khẩu của Nhật Bản:

1.2.3.1 Thị trờng xuất nhập khẩu của Nhật:

Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu trong những năm gần đây của Nhật cho thấy

có xu hớng chuyển dịch sang Châu á

Bảng 2, Thị trờng xuất khẩu Nhật Bản:

1999

2000

34,7 37,3 41,1

3,6 2,6 2,3

18,4 17,8 16,3

30,5 30,7 29,7

5,4 4,7 4,4

1,5 1,3 1,1

2,5 2,5 2,1

(Nguồn: Japan almanac 2002).

1999

2000

37,1 39,6 41,7

9,2 9,9 13,0

13,9 13,8 12,3

23,9 21,6 19,0

3,3 3,1 2,9

1,4 1,3 2,9

5,6 5,0 4,7

(Nguồn: Japan almanac 2002).

Ngày đăng: 05/10/2013, 03:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4, Mức tăng trởng của kim ngạch xuất nhập khẩu Nhật Bản năm 2000 so - KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN
Bảng 4 Mức tăng trởng của kim ngạch xuất nhập khẩu Nhật Bản năm 2000 so (Trang 16)
Bảng 5, Thể hiện cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản năm 2000: - KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN
Bảng 5 Thể hiện cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản năm 2000: (Trang 17)
+ Thiết bị truyền hình 1.000 32.727 1.395 2,7 13,0 15,1 - KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN
hi ết bị truyền hình 1.000 32.727 1.395 2,7 13,0 15,1 (Trang 18)
Bảng 6, Kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản năm 2000 đợc phân theo nhóm sản phẩm trong bảng 6: - KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN
Bảng 6 Kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản năm 2000 đợc phân theo nhóm sản phẩm trong bảng 6: (Trang 19)
Bảng 7, Tỷ trọng buôn bán giữa Nhật Bản và các nớc Châu á: - KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN
Bảng 7 Tỷ trọng buôn bán giữa Nhật Bản và các nớc Châu á: (Trang 24)
Bảng 8, Đầu t của Nhật Bản vào các nớc Châu á: - KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH KINH TẾ NHẬT BẢN
Bảng 8 Đầu t của Nhật Bản vào các nớc Châu á: (Trang 27)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w