Năm 1998, được gia đình đồng ý nên ông Quang và bà Đại cưới nhau, nhưng trong tình huống trên không nhắc tới việc hai ông bà ra UBND có thẩm quyền để đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật. Cho nên nếu áp dụng Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (có hiệu lực từ ngày 311987 đến ngày 112001) và khoản b Điều 3 của NQ 352000NQQH10 thì hai người không có quan hệ hôn nhân và tài sản của ai thì sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó.
Trang 1BUỔI THỨ NHẤT VÀ THỨ HAI, VẤN ĐỀ: KẾT HÔN, HỦY KẾT HÔNTRÁI PHÁP LUẬT - GIẢI QUYẾT HẬU
QUẢ VIỆC CHUNG SỐNG NHƯ VỢ CHỒNG
I Lý thuyết
Câu 1: Tóm lược các điều kiện kết hôn theo pháp luật hiện hành và nêu một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng.
Điều kiện kết hôn: phải thỏa mãn các điều kiện về cho phép kết hôn và không thuộc
các trường hợp bị cấm kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng
a) Về điều kiện được đăng ký kết hôn:
Cơ sở pháp lý: Điều 8 Luật HNGĐ 2014.
Theo đó, Điều 8 Luật HNGĐ 2014 quy định về điều kiện kết hôn như sau:
“1 Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2 Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”
b) Về các trường hợp bị cấm kết hôn hoặc sống chung như vợ chồng:
Cơ sở pháp lý: điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014.
Điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014 quy định:
“2 Cấm các hành vi sau đây:
a) Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo;
b) Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
c) Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
Trang 2d) Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng;”
Tuy nhiên có thể nhận thấy rằng có một số vướng mắt trong thực tiễn áp dụng quy định của Luật HNGĐ 2014 Cụ thể tại điểm c khoản 1 Điều 8 luật quy định không mất năng lực hành vi dân sự là một trong những điều kiện được kết hôn, điều này dẫn tới việc một số người bị mắc bệnh tâm thần hay không làm chủ được hành vi vẫn được kết hôn như thường lệ Tuy nhiên thực tiễn xét xử cho thấy khi có tranh chấp phát sinh thì Tòa cho rằng đây là việc kết hôn trái pháp luật và không đảm bảo quyền lợi cho bên còn lại
Luật cũng quy định độ tuổi kết hôn đối với nam là phải từ đủ hai mươi tuổi trở lên, nữ
là từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng thực tế cho thấy tình trạng tảo hôn vẫn xảy ra khá thường xuyên ở đồng bào dân tộc thiểu số Hay việc không công nhận hôn nhân đồng giới cũng đã làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan…
Câu 2: Xác định người đang có vợ có chồng Cho ví dụ về các trường hợp người chưa đăng kí kết hôn cũng được xác định “ đang có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật.
Người đang có vợ, có chồng được quy định tại khoản 4 điều 2 TTLT số
01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP như sau:
“a) Người đã kết hôn với người khác theo đúng quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình nhưng chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
b) Người xác lập quan hệ vợ chồng với người khác trước ngày 03-01-1987 mà chưa đăng ký kết hôn và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết;
c) Người đã kết hôn với người khác vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nhưng đã được Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân bằng bản
án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và chưa ly hôn hoặc không có sự kiện vợ (chồng) của họ chết hoặc vợ (chồng) của họ không bị tuyên bố là đã chết.”
Trang 3* Ví dụ về các trường hợp người chưa đăng kí kết hôn cũng được xác định “ đang
có vợ, có chồng” theo quy định của pháp luật
Ngày 1/1/1980 A và B quen biết nhau và về sống chung như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn -> A và B xác lập quan hệ vợ chồng trước ngày 3/1/1987 nhưng không đăng kí kết hôn được coi là đang có vợ, có chồng theo quy định của pháp luật
Câu 3 Xác định cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn
- Không có yếu tố nước ngoài : Điều 17 Luật Hộ Tịch
Khoản 1 Điều 17 quy định “Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên
nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.”
- Có yếu tố nước ngoài: theo quy định tại Điều 18 Nghị định 123/2015, Điều 37, Điều 53 Luật Hộ Tịch thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn bao gồm: + Uỷ ban nhân dân cấp huyện
+ Uỷ bân nhân dân cấp xã khu vực biên giới
+ Cơ quan lãnh sự
Câu 4: Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật? Phân tích các trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật trên cơ sở pháp lý.
a Đường lối giải quyết yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật:
CSPL: khoản 1, khoản 4 Điều 4 TTLT 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP
“1 Khi xem xét, giải quyết yêu cầu có liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào yêu cầu của đương sự và điều kiện kết hôn, điều kiện công nhận quan hệ hôn nhân quy định tại Điều 8 và Điều 11 của Luật hôn nhân và gia đình để quyết định.”
“4 Khi xử lý yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án phải căn cứ vào quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình có hiệu lực tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân
để xác định việc kết hôn có trái pháp luật hay không Trình tự, thủ tục giải quyết yêu cầu xử lý việc kết hôn trái pháp luật được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân
và gia đình và pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực tại thời điểm giải quyết Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thuộc trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm 1954, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng
Trang 4ở miền Bắc thì vẫn xử lý theo Thông tư số 60/TATC ngày 22-02-1978 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết
ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác””
b Phân tích các trường hợp ngoại lệ thừa nhận kết hôn trái pháp luật:
CSPL: khoản 2 Điều 11 Luật HNGĐ 2014, khoản 5 Điều 2, Điều 3, Điều 4 TTLT 01/2016
TH1: Tại thời điểm kết hôn, hai bên kết hôn không có đủ điều kiện kết hôn nhưng
sau đó có đủ điều kiện kết hôn:
Nếu hai bên kết hôn cùng yêu cầu Tòa án công nhận quan hệ hôn nhân => QĐ công nhận Thời kỳ hôn nhân là thời điểm đủ điều kiện kết hôn
Ví dụ 1: Anh A sinh ngày 25-01-1996, chị B sinh ngày 10-01-1995 Ngày 08-01-2015,
anh A và chị B đăng ký kết hôn Ngày 25-9-2016, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật Tại phiên họp, anh A và chị B đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân, nếu xét thấy đã đủ các điều kiện kết hôn khác thì Tòa án xem xét công nhận quan hệ hôn nhân của anh A và chị B kể từ thời điểm cả anh A và chị B
đủ tuổi kết hôn, tức là kể từ ngày 25-01-2016
TH2: Tại thời điểm giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật vẫn vi phạm điều kiện kết
hôn:
Trường hợp cán bộ và bộ đội miền Nam tập kết ra miền Bắc từ năm 1954, đã có vợ, có chồng ở miền Nam mà lấy vợ, lấy chồng ở miền Bắc ( từ 20/7/1954 - 25/3/1977)
=> theo Thông tư số 60/TATC ngày 22-02-1978: Không nhất thiết hủy hôn nhân sau
Vi phạm HN 1 vợ 1 chồng trước 13/01/1960 ở miền Bắc và trước 25/3/1977 ở miền Nam => Công nhận
Tại thời điểm giải quyết yêu cầu hủy KH trái pháp luật:
- Vẫn còn vi phạm ĐKKH
- Không còn vi phạm ĐKKH và nhưng không yêu cầu công nhận hôn nhân hoặc không yêu cầu ly hôn
CSPL: K3 Đ11, Đ12 LHNGD
Trang 5Ví dụ 1: Trường hợp kết hôn khi một bên bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn
là vi phạm điều kiện kết hôn quy định tại điểm d khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, nếu sau khi bị cưỡng ép kết hôn hoặc bị lừa dối kết hôn mà bên bị cưỡng ép kết hôn, bị lừa dối kết hôn đã biết nhưng đã thông cảm, tiếp tục chung sống hòa thuận thì thời điểm đủ điều kiện kết hôn là thời điểm đương sự biết mình bị cưỡng
ép, bị lừa dối kết hôn nhưng vẫn tiếp tục sống chung như vợ chồng
Ví dụ 2: Ngày 15-01-2005, chị B kết hôn với anh A Đến ngày 15-01-2010, chị B lại
kết hôn với anh C Ngày 25-01-2012, Tòa án có quyết định tuyên bố anh A chết Ngày 12-6-2015, Tòa án mở phiên họp giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị B và anh C Tại phiên họp, chị B và anh C đều yêu cầu công nhận quan hệ hôn nhân thì chị B và anh C phải cung cấp Quyết định của Tòa án tuyên bố anh A đã chết
để xác định thời điểm chị B và anh C đủ điều kiện kết hôn Trong trường hợp này, thời điểm chị B và anh C có đủ điều kiện kết hôn là thời điểm mà Tòa án xác định anh A chết được ghi trong quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật
Câu 5: Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống như vợ chồng ? Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như
vợ chồng đồng thời vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chính có thể được xác định
a Quy định của pháp luật về các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và hậu quả pháp lý của hành vi chung sống như vợ chồng:
+ Trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987 ==> không có hậu quả pháp lý, được khuyến khích đăng kí kết hôn
CSPL: điểm a, khoản 3 Nghị quyết số 35/2000
+ Trường hợp nam nữ sống chung như vợ, chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001
mà có đủ đk kết hôn => có nghĩa vụ đkkh trong thời hạn 2 năm kể từ ngày luật 2000 có hiệu lực đến ngày 1/1/2003, sau 2 năm nếu chưa đkkh thì không được công nhận là vợ chồng
Trang 6+ Trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng từ ngày 1/1/2001 trở đi mà không đkkh => không được pháp luật công nhận là vợ chồng
CSPL: khoản 3 TTLT 01/2001
Phân tích các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng đồng thời
vi phạm điều kiện kết hôn và trách nhiệm dân sự, hình sự và hành chính có thể được xác định:
+ Trường hợp thứ nhất: chung sống như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên dưới
tuổi luật định => vi phạm về độ tuổi kết hôn
CSPL: khoản 8 Điều 3; điểm b, khoản 2 Điều 5 và điểm a, khoản 1 Điều 8 luật HNGĐ năm 2014
Điều này gây ra những hậu quả xấu:
- Theo khoa học, cần đạt một độ tuổi nhất định để tâm sinh lý và sức khỏe phát triển toàn diện thì nam và nữ mới có thể kết hôn hay thực hiện tốt chức năng sinh sản
- Chung sống chung như vợ chồng khi chưa đủ tuổi sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe cả nam và nữ
- Lúc này cả nam và nữ chưa trưởng thành toàn diện, khả năng xây tạo thu nhập thấp và chưa thể đảm bảo nhiều cho sự tồn tại của gia đình ( kinh tế, con cái )
- Chung sống như vợ chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi se làm cho chất lượng dân số thấp đi, tình trạng đói nghèo gia tăng…
=> Trách nhiệm hành chính: theo Điều 58 NĐ số 82/2020/NĐ-CP (trang 365)
=> Trách nhiệm hình sự: Điều 183 BLHS về tội tổ chức tảo hôn (trang 379)
+ Trường hợp thứ hai: Chung sống như vợ chồng giữa nam và nữ mà một bên hoặc cả
hai bên đang có vợ, chồng
CSPL: điểm c, khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 2014
Người đang có vợ, có chồng ==> quy định tại khoản 4 Điều 2 TTLT số 01/2016 (trang 110)
=> Trách nhiệm hình sự: Điều 182 BLHS về tội vi phạm chế độ một vợ một chồng (trang 379)
=> Trách nhiệm hành chính: Điều 59 NĐ số 82/2020 (trang 365)
Trang 7Mục đích pháp luật quy định cấm người đang có vợ, có chồng chung sống như vợ chồng với người khác nhằm bảo vệ chế độ hôn nhân tiến bộ của loài người và sự bền vững của hôn nhân Việc vi phạm điều cấm này làm ảnh hưởng đến quyền lợi của vợ hoặc chồng hợp pháp, ảnh hưởng tới lối sống lành mạnh trong gia đình và xã hội
+ Trường hợp thứ ba: chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về
trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con
rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng
CSPL: điểm d, khoản 2 Điều 5 Luật HNGĐ 14
Những người có dòng máu về trực hệ => khoản 17 Điều 3 Luật HNGĐ 2014
Pháp luật quy định như vậy nhằm bảo đảm bảo sự phát triển bình thường của thế hệ sau, đồng thời là sự phù hợp với đạo đức, truyền thống lễ nghĩa của người Việt Nam
Về mặt khoa học, khi hôn nhân cận huyết sẽ có nguy cơ mắc các bệnh cho trẻ sinh ra
và lớn lên
Những người có họ trong phạm vi ba đời ==> khoản 18 Điều 3 Luật HNGĐ 14
Họ đã từng có mối quan hệ thiêng liêng được nhà nước bảo vệ mà hiện giờ lại sống chung như vợ chồng thì sẽ trái với luân thường đạo lý, trái đạo đức xã hội
=> Trách nhiệm hình sự và hành chính của trường hợp này giống với trường hợp thứ hai, là vi phạm chế độ một vợ, một chồng
II Tình huống:
2.1 Anh Điệp cư trú tại xã K, chị Lan cư trú tại xã B Theo Khoản 1 điều 17 Luật hộ
tịch 2014 về thẩm quyền đăng kí kết hôn “Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của một
trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.”
=> Các cơ quan đăng kí hộ tịch mà các bên có thể nộp hồ sơ đăng kí kết hôn theo quy
định của pháp luật về hộ tịch là Ủy ban nhân dân xã K, Ủy ban nhân dân xã B
2.2 Theo tôi, Tòa án sẽ hủy việc kết hôn của anh Thuận và chị Nga với lí do việc kết
hôn này là trái pháp luật Vì:
Thứ nhất, khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có đề cập “Kết hôn là
việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn” nên ta có thể hiểu rằng anh Thuận và chị Nga đã đăng
Trang 8kí kết hôn tại cơ quan nhà có nước có thẩm quyền vào năm 2017 Tuy nhiên, cả hai đã
vi phạm về điều kiện được đăng kí kết hôn theo điểm a khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân
và gia đình 2014 về độ tuổi (cụ thể lúc đó chị Nga mới 17 tuổi) nên hoàn toàn có thể xem hôn nhân giữa anh Thuận và chị Nga là kết hôn trái pháp luật và sẽ áp dụng những quy định liên quan để giải quyết
Thứ hai, về chủ thể có quyền yêu cầu hủy hôn cần phải làm rõ rằng trong trường hợp này chỉ có con đẻ của anh Thuận mới là chủ thể có quyền theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật HNGĐ 2014, không bao gồm người vợ trước đã ly hôn của anh Thuận
Thứ ba, tại thời điểm giải quyết thì không còn vi phạm về điều kiện đăng kí kết hôn nữa Trong đó có một bên yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật (con trai anh Thuận
là chủ thể có quyền) nên Tòa án sẽ quyết định hủy việc kết hôn giữa anh Thuận và chị Nga theo điểm b khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016
2.3 Năm 1998, được gia đình đồng ý nên ông Quang và bà Đại cưới nhau, nhưng trong
tình huống trên không nhắc tới việc hai ông bà ra UBND có thẩm quyền để đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật Cho nên nếu áp dụng Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 (có hiệu lực từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001) và khoản b Điều 3 của NQ 35/2000/NQ-QH10 thì hai người không có quan hệ hôn nhân
và tài sản của ai thì sẽ thuộc quyền sở hữu của người đó
Căn cứ pháp lý: Điều 8, Điều 9 Luật HN&GĐ 1986 và khoản b Điều 3 của NQ 35/2000/NQ-QH10
“Điều 8
Việc kết hôn do UBND xã, phường, thị trấn nơi thường trú của một trong hai người kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do Nhà nước quy định.
Việc kết hôn giữa công dân với nhau ở ngoài nước do cơ quan đại diện ngoại giao của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam công nhận.
Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị pháp lý.”
“Điều 9
Việt kết hôn vi phạm một trong các điều 5,6,7 của Luật này là trái pháp luật.
Một hoặc hai bên đã kết hôn trái pháp luật, vợ, chồng hoặc con của người đang có
vợ, có chồng mà kết hôn với người khác, Viện kiểm sát nhân dân, Hội liên hiệp phụ nữa Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Công đoàn Việt Nam có quyền yêu cầu Toà án nhân dân huỷ việc kết hôn trái pháp luật.
Trang 9Tài sản của những người mà hôn nhân bị huỷ được giải quyết theo nguyên tắc : tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người ấy ; tài sản chung được chia căn cứ vào công sức đóng góp của mỗi bên ; quyền lợi chính đáng của bên bị lừa dối hoặc bị cưỡng ép kết hôn được bảo vệ.
Quyền lợi của con được giải quyết như trong trường hợp cha mẹ ly hôn.”
khoản b Điều 3 của NQ 35/2000 quy định:
“b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì
có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 để giải quyết.
Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng;”
Vào năm 2003, ông Quang đã mua một ngôi nhà và đứng tên mình Xét theo việc lý giải trên thì hai ông bà không có đăng ký kết hôn và không có quan hệ là vợ chồng nên ngôi nhà là tài sản riêng của ông Quang và thuộc quyền sở hữu của ông
Vào ngày 2/2/2017, ông Quang và bà Đại do có mâu thuẫn trong việc chung sống nên hai người giải quyết ly hôn và phân định tài sản Vì hai người chỉ cưới và sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn theo quy định của Luật HN&GĐ 1986 nên không thể có việc ly hôn Xét theo Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình
2014, pháp luật vẫn công nhận N là con chung của ông Quang và bà Đại, quyền lợi và nghĩa vụ chăm sóc con sau ly hôn được quy định tại các điều trên Và xét theo điều 84 Luật HN&GĐ 2014, N là con của hai người và sinh năm 2006, đến năm 2017 thì bé N
đã được 11 tuổi nên pháp luật sẽ xem xét nguyện vọng của N muốn theo ba hay mẹ và quyết định
Căn cứ pháp lý: Điều 81, 82, 83, 84 của Luật HN&GĐ 2014
2.4
Trước yêu cầu của Hội phụ nữ thành phố H, Toà án chấp nhận yêu cầu huỷ việc kết hôn của chị Trà và anh Tâm do hành vi kết hôn của chị Trà và anh Tâm là hành vi trái
Trang 10pháp luật vì việc kết hôn của anh chị đã vi phạm hình thức (đăng ký kết hôn không đúng cơ quan có thẩm quyền) theo khoản 3 Điều 3 Thông Tư Liên Tịch Số
06/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP “Trường hợp nam, nữ có đăng ký kết hôn
nhưng việc kết hôn đăng ký tại không đúng cơ quan có thẩm quyền (không phân biệt có
vi phạm điều kiện kết hôn hay không) mà có yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ đồng thời hủy Giấy chứng nhận kết hôn và thông báo cho cơ quan hộ tịch đã đăng ký kết hôn để xử lý theo quy định tại Điều 13 của Luật hôn nhân và gia đình Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ đối với con; tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình”
Theo giả thuyết anh Tâm và chị Trà tranh chấp nhà số 11/5 đường TH, phường T, quận
Y và chị Trà là người đứng tên chủ sở hữu nhà Dựa vào khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016 thì Tòa án sẽ giải quyết vấn đề tài sản theo quy định tại Điều 16 của Luật Hôn nhân gia đình
Điều 16 Luật HNGĐ 2014 quy định:
“1 Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2 Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”
Thực tế, dù chi Trà là chủ sở hữu của ngôi nhà tại thời điểm tranh chấp phát sinh, nhưng nguồn tiền mua nhà được anh Tâm nhờ thân nhân ở nước ngoài gửi về số ngoại
tệ của anh là 2 tỷ 6, còn 100 triệu đồng là tài sản chung của anh Tâm và chị Trà đóng góp với nhau Nên chị Trà chỉ được hưởng một phần tài sản tương ứng với đóng góp của mình
III Đọc bản án và trình bày quan điểm:
Yêu cầu: Đọc Bản án số 04/2019/HNGĐ-ST về “Hủy kết hôn trái pháp luật,
giải quyết việc nuôi con chung” ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Tòa án nhân dân thành phố C, tỉnh C” và bình luận đường lối giải quyết vụ việc của Tòa án