1.1 Nhóm nhân tố vĩ mô Đây là các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các dịch vụ logistics.. Các yế
Trang 1DANH SÁCH THÀNH VIÊN MÔN QUẢN TRỊ LOGICSTICS KINH
DOANH Nhóm 05
Mã lớp HP:
ST
ĐIỂM NHÓM ĐÁNH GIÁ
GHI CHÚ
Nhóm trưởng
Vũ Thị Hường
Thư ký
Nguyễn Thị Huyển
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trang 2Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(Lần 1 - Nhóm 9)
Thời gian họp: Ngày 5 tháng 12 năm 2012 Địa điểm: Phòng học Thành viên tham gia: 10/10
Nội dung họp nhóm:
Nhóm trưởng phân công công việc cho từng thành viên:
Kết thúc họp nhóm lúc: ngày 5 tháng 12 năm 2012
Thương Mại, ngày 5 tháng 12 năm 2012
Nhóm trưởng
Vũ Thị Hường
Thư ký
Nguyễn Thị Huyển
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc
Trang 3BIÊN BẢN HỌP NHÓM
(Lần 2 - Nhóm 9)
Thời gian họp: 15h Ngày 8 tháng 12 năm 2012 Địa điểm: Sân Thư Viện Thành viên tham gia: 10/10.
Nội dung họp nhóm:
Các thành viên trong nhóm nộp bài tập thảo luận đã được bản mềm word về công việc đã đảm nhận
Tổng hợp bài thảo luận và chỉnh sửa
Làm slide
Biên bản họp nhóm, hoàn tất và in bài
Kết thúc họp nhóm: 16h Ngày 8 tháng 12 năm 2012
Thương Mại, ngày 8 tháng 12 năm 2012
Nhóm trưởng
Vũ Thị Hường
Thư ký
Nguyễn Thị Huyển
Bài thảo luận Nhóm 5:
Trang 4Đề tài.
Những nhân tố tác động tới vận chuyển hàng hóa trong nền kinh
tế, điều kiện nào cần thiết cho phát triển nghành dịch vụ vận chuyển tại Việt Nam? Liên hệ hoạt động vận chuyển tại Công ty
TNHH tiếp vận VINAFCO
I Những nhân tố tới vận chuyển hàng hóa trong nền kinh tế và điều kiện cần thiết cho phát triển ngành dịch vụ vận chuyển tại Việt Nam.
1 Các nhân tố tác động tới vận chuyển hàng hóa trong nền kinh tế.
1.1 Nhóm nhân tố vĩ mô
Đây là các nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics và có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các dịch vụ logistics Các nhân tố này bao gồm: môi trường kinh tế, môi trường công nghệ, môi trường văn hóa – xă hội, môi trưởng tự nhiên, môi trường chính phủ - luật phỏp-chớnh trị, môi trường toàn cầu
a Môi trường kinh tế.
Các yếu tố kinh tế có ảnh hưởng vô cùng to lớn đến kết quả và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics nói riêng.Các yếu tố kinh tế bao gồm một phạm vi rất rộng từ các yếu tố tác động đến nhu cầu sử dụng dịch vụ logistics và các yếu tố liên quan đến việc huy động và sử dụng các nguồn lực của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics để cung ứng các dịch vụ logistics cho khách hàng Các yếu tố cơ bản nhất ảnh hưởng đến các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics và các dịch vụ logistics là: tốc độ tăng trưởng của GDP; lăi suất tiền vay, tiền gửi ngân hàng; tỷ lệ lạm phát; tỷ giá hối đoái; mức độ thất nghiệp; cán cân thanh toán; chính sách tài chính, tín dụng; kiểm soát về giá cả, tiền lương tối thiểu; tiềm năng phát triển và gia tăng đầu tư Các yếu tố này ảnh hưởng đến phương thức và cách thức kinh doanh của các doanh nghiệp Sự thay đổi của các yếu tố này và tốc độ thay đổi, chu kỳ thay đổi đều tạo ra cơ hội hoặc nguy
cơ đối với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Thậm chí c ̣òn có thể làm thay đổi cả mục tiêu, phương hướng và cả chiến lược của doanh nghiệp
Trong thời gian vừa qua, tốc độ tăng trưởng 2006 - 2010 của nước ta đều đạt trung b́nh trên 6,9%, thấp hơn khá nhiều so với mục tiêu 7,5-8% mà kế hoạch đề ra Chính v́ vậy càng kích thích việc đầu tư và mở rộng quy mô của các doanh nghiệp khiến cho nhu cầu sử dụng các dịch vụ logistics không ngừng tăng, đây là cơ hội cho
Trang 5vụ logistics cũng như thị trường của mình, cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp mới
có thể ra nhập thị trường
b Môi trường công nghệ.
Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển như vũ băo, Việc áp dụng các tiến bộ này vào sản xuất kinh doanh làm cho hiệu quả ngày càng cao hơn Các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics nghiên cứu và áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ không những cho chính doanh nghiệp mình mà c ̣òn nhằm thực hiện dịch vụ tư vấn cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh Sự phát triển của thương mại điện tử
đă đưa các doanh nghiệp tiên tiến đến việc ứng dụng thương mại điện tử vào hoạt động kinh doanh của mình Điều đó đă làm cho chất lượng dịch vụ logistics của các doanh nghiệp cung ứng tăng lên rõ rệt và sẽ mang lại sức cạnh tranh cao cho các
doanh nghiệp có ứng dụng dịch vụ mới vào kinh doanh
c Môi trường văn hóa – xă hội
Người Việt Nam luôn cần cù , chịu khó va luôn luôn muốn học hỏi những công nghệ mới của các nước phát triển Mặt khác, Việt Nam có 63% người trong độ tuổi lao động trên 86 triệu người và tiền công trả cho người lao động ở Việt Nam là tương đối thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới v́ thế đây là một trong những điểm mạnh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics Môi trường văn hóa xă hội lành mạnh, giàu bản sắc dân tộc…luụn thu hút doang nghiệp logistics nước ngoài đầu tư vào Việt Nam
d Môi trường tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên là yếu tố cần được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics đặc biệt quan tâm Bởi các yếu tố như nắng, mưa, hạn hán, lụt, dịch bệnh ảnh hưởng trực tiếp đến việc cung ứng dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ vận tải đường biển v́ nếu điều kiện không thuận th́ì sẽ không thực hiện được dịch vụ này, thậm chí còn gây thiệt hại lớn bởi rủi ro trong vận tải biển là rất cao Bên cạnh đó cũng phải kể đến ảnh hưởng của sự khan hiếm của các nguyên, nhiên vật liệu, sự gia tăng của chi phí năng lượng Việt Nam là một nước có khí hậu nóng ẩm, độ ẩm cao nên gây ra nhiều khó khăn cho công tác dự trữ, bảo quản
e Môi trường chính phủ - luật pháp-chính trị.
Trong kinh doanh hiện đại , các yếu tố chính trị, pháp luật ngày càng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước hiện nay là nền kinh tế phổ biến trên thế giới Khi tham gia vào kinh doanh, để thành công trên thương trường thì các doanh nghiệp không những phải nắm vững pháp luật trong nước mà c ̣òn phải hiểu và nắm vững pháp luật quốc tế tại thị trường mà mình kinh doanh Đồng thời với việc nắm vững luật pháp thì các doanh
Trang 6nghiệp cũng phải chú ý tới môi trường chính trị Chính trị có ổn định th́ì sẽ giú các doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh của mỡnh Các yếu tố cơ bản thuộc môi trường chính trị, pháp luật là:
- Sự ổn định về chính trị và đường lối ngoại giao
- Sự cân bằng của các chính sách của Nhà nước
- Quan điểm, mục tiêu, định hướng phát triển kinh tế xă hội
- Hệ thống pháp luật và mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Trước năm 2005, luật pháp Việt Nam chưa hề có quy định về việc kinh doanh dịch vụ logistics cũng như các h́nh thức dịch vụ logistics Đến tận khi luật Thương mại được Quốc hội thông qua ngày 14/6/2005 và Nghị định 140/2007/NĐ-CP của Chính phủ mới có quy định chi tiết về các dịch vụ logistics và điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics
Trước đây, các dịch vụ logistics mà chủ yếu là dịch vụ vận tải, giao nhận th́ì Nhà nước nắm quyền chi phối.Gần đây, việc kinh doanh dịch vụ logistics được Nhà nước cho phép mọi thành phần kinh tế đều có thể tham gia kinh doanh Điều này tạo nên sự cạnh tranh gay gắt trong ngành cung ứng dịch vụ logistics đồng thời cũng tạo nên sự đa dạng, phong phú của các dịch vụ logistics, chất lượng dịch vụ cũng tốt hơn
e Môi trường toàn cầu.
Trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp logicstics nước ngoài có thế t́m kiếm cơ hội kinh doanh ở Việt Nam, dẫn đến sự canh tranh nhằm giành lấy thị phần Cạnh tranh trong ngành dịch vụ logistics càng gay gắt làm cho loại h́nh dịch vụ logistics càng phong phú, chất lượng dịch vụ logistics càng được nâng cao Khi đề cập đến vấn đề cạnh tranh, các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics phải xem xét xem đối thủ của ḿnh là ai, số lượng bao nhiêu, mức độ cạnh tranh thế nào Trong thời gian qua cùng với sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế trong nước
là định hướng mở cửa kinh doanh dịch vụ logistics, số lượng các doanh nghiệp logistics được mở ngày càng nhiều và dẫn đến cạnh tranh trong ngành ngày một gay gắt hơn không chỉ các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics trong nước mà cũn
cú sự góp mặt của nhiều doanh nghiệp logistics nước ngoài Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, ngoài việc mang đến những thách thức to lớn th́ việc chớnh cỏc doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới về dịch vụ logistics đă và đang có mặt ngày càng nhiều tại Việt Nam cũng mang lại cho chúng ta cơ hội mở mang kiến thức, học hỏi và đúc rút kinh nghiệm, từ đó hoàn thiện chính ḿnh
1.2 Nhóm nhân tố thuộc môi trường ngành.
Trang 7Đây là những yếu tố chủ quan mà doanh nghiệp có thể kiểm soát được, bao gồm các nhân tố: tiềm lực doanh nghiệp, hệ thống thông tin, nghiên cứu và phát triển
a Tiềm lực doanh nghiệp.
Tiềm lực doanh nghiệp thể hiên ở nhiều mặt: qui mô của doanh nghiệp; cơ sở vật chất kĩ thuật; cơ cấu tổ chức bộ máy lănh đạo; tài năng, tŕnh độ chuyên môn và kinh nghiệm quản lư của các nhà lănh đạo; tŕnh độ tay nghề, sự thành thạo kỹ thuật, nghiệp vụ của lao động; tiềm lực tài chính, khả năng huy động vốn
Doanh nghiệp có qui mô lớn th́ có khả năng cung ứng các dịch vụ logistics với nhiều loại h́nh dịch vụ, đảm bảo chất lượng của dịch vụ, có thể hoạt động trên phạm vi thị trường lớn, cung ứng dịch vụ cho nhiều khách hàng khác nhau cựng lỳc
Cơ sở vật chất kĩ thuật của doanh nghiệp có đầy đủ, đảm bảo th́ mới có thể cung cấp cho khách hàng những dịch vụ mà khách hàng yêu cầu với chất lượng tốt Với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics thỡ cỏc cơ sở vật chất kĩ thuật phải
kể đến là: phương tiện vận tải, kho băi, máy móc thiết bị phục vụ cho đóng gói, bảo quản hàng hoá
Người lănh đạo doanh nghiệp có tài năng, tŕnh độ quản lư sẽ dẫn dắt doanh nghiệp đi lên, ngày càng phát triển Ngược lại, doanh nghiệp sẽ ngày càng đi xuống thậm chí dẫn đến phá sản
Đối với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, các nhân viên là những người trực tiếp cung ứng dịch vụ cho khách hàng V́ vậy, đây là yếu tố rất quan trọng đối với sự phát triển của doanh nghiệp cũng như sự phát triển của dịch vụ logistics
Tài chính có thể coi là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng đến sự phát triển của doanh nghiệp logistics cũng như sự phát triển của các dịch vụ logistics Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics cần một nguồn tài chính lớn để đầu tư vào cơ sở hạ tầng: phương tiện vận tải, kho bói Cú nguồn tài chính lớn doanh nghiệp mới có thể mở rộng quy mô, đa dạng các dịch vụ cung ứng cho khách hàng
b Hệ thống thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin của doanh nghiệp
Doanh nghiệp phải xây dựng hệ thống thu thập thông tin về các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, nguồn hàng Đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics th́ yếu tố thông tin là quan trọng.Thu thập được thông tin thiết thực, kịp thời giúp doanh nghiệp nắm bắt được nhiều cơ hội tốt trong kinh doanh Cũng từ đó cú cỏc quyết định, các chính sách và chiến lược kinh doanh thích hợp
Mạng thông tin toàn cầu đă, đang và sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế toàn cầu Quản trị hậu cần là một lĩnh vực phức tạp với chi phí lớn nhưng lại là yếu tố chủ
Trang 8đạo, quyết định lợi nhuận của doanh nghiệp trong thương mại điện tử Xử lý đơn đặt hàng, thực hiện đơn hàng, giao hàng, thanh toán và thu hồi hàng hóa mà khách hàng không ưng ý là những nội dung của lĩnh vực hậu cần trong môi trường thương mại điện tử Một hệ thống hậu cần hoàn chỉnh, tương thích vói cỏc qui tŕnh của thương mại điện tử, đáp ứng được những đ ̣i hỏi của khách hàng trong thời đại công nghệ thông tin là yếu tố quyết định thành công trong kinh doanh V́ vậy, ứng dụng công nghệ thông tin, thương mại điện tử như: hệ thống thông tin quản trị dây truyền cung ứng toàn cầu, công nghệ nhận dạng bằng tần số vô tuyến đang ngày càng được áp dụng rộng răi trong kinh doanh bởi v́ thông tin được truyền càng nhanh và chính xác thỡ cỏc quyết định trong hệ thống Logistics càng hiệu quả
c Nghiên cứu và phát triển
Việc đầu tư vào nghiên cứu và phát triển tuy chi phí tốn kém song hoạt động nay đem lại kết quả ngoạn mục nhất; nó giúp doanh nghiệp: đổi mới, đa dạng hoá và phát triển các loại h́ình dịch vụ logistics;hiện đại hoá dây chuyền công nghệ và phương thức cung ứng dịch vụ cho khách hàng; nâng cao tŕnh độ chuyên môn, nghiệp
vụ cho lao động Cỏc doanh nghiệp cần nắm vững được tầm quan trọng của yếu tố này để đầu tư thích đáng và thu được thành công trong hoạt động kinh doanh của mình
Như vậy , qua nghiên cứu tổng thể các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics, chúng ta cũng thấy được ảnh hưởng của các nhân tố này đến sự phát triển của các dịch vụ logistics Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ logistics càng phát triển thỡ cỏc dịch vụ logicstics cũng ngày càng phát triển
d Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực cho hoạt động Logistics đang rất thiếu và yếu, hầu hết người tham gia kinh doanh c ̣n thiếu kiến thức, nhất là chưa có những bí quyết và kĩ năng kinh doanh logistics…
e Yếu tố khách hàng
Khách hàng chiếm vị trí trung tâm trong mọi hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics, để hoạt động có hiệu quả thỡ cỏc doanh nghiệp phải bán được hàng tức là phải có khách hàng thuê dịch vụ logistics Các doanh nghiệp này có nhu cầu sử dụng dịch vụ logicstics lớn th́ ngành dịch vụ logicstics mới phát triển được Hiện nay không ít doanh nghiệp tự mình thực hiện các hoạt động logistics mà không thuê dịch vụ ngoài V́ì vậy, ngành dịch vụ logistics muốn phát triển th́ì phải cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thấy được lợi ích to lớn của việc sử dụng dịch vụ logistics
Trang 9Bảng xếp hạng các quốc gia và vùng lãnh thổ tốt nhất cho công việc kinh doanh
được tạp chí Forbes công bố hằng năm Trong danh sách công bốn , Việt Nam đứng
thứ 118 trong số 128 cái tên được nhắc đến, tụt 5 bậc so với năm ngoái (Việt Nam: Tăng trưởng GDP năm 2009: 5,3%; Thu nhập b́nh quân đầu người: 2.900 USD; Tỷ lệ
nợ cụng trờn GDP: 53,7% )
Kết quả này được Forbes tính toán dựa trên đánh giá một loạt các hạng mục,
trong đó có tự do thương mại, xếp hạng 105 trên 128 nước và vùng lănh thổ Một số hạng mục được chấm điểm thấp khác của Việt Nam bao gồm tự do tiền tệ và bảo vệ nhà đầu tư, cùng xếp hạng 125, gánh nặng thuế má, xếp hạng 103 và pḥng chống tham nhũng xếp hạng 95
Những khía cạnh được đánh giá cao hơn bao gồm cải cách, xếp hạng 52, kỹ
thuật đứng thứ 68 Theo tính toán của Forbes, Việt Nam có thu nhập b́ình quân đầu
người hàng năm 2.900 USD và tỷ lệ nợ cụng trờn GDP là 53,7%
Forbes nhận định tấm vé gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế WTO năm 2007 đă
đảm bảo cho Việt Nam tiếp cận sâu rộng hơn vào thị trường thế giới và củng cố quá tŕnh cải cách kinh tế trong nước Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm dần từ 25% năm
2000 xuống c ̣n 21% năm 2009 Tỷ lệ đói nghèo được cải thiện rơ rệt Tuy nhiên, suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2009 đă ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam vốn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu
Với thứ hạng 118, Việt Nam chỉ đứng trên 10 nước, trong đó chủ yếu là các quốc gia thuộc châu Phi như Chad, Zimbabwe, Bolivia, Cameroon hay Burundi
2 Điều kiện phát triển dịch vụ logicstics ở Việt Nam.
Trong chuỗi giá trị Logistics, giao thông vận tải chiếm trên 1/3 Tại Việt Nam, hệ thống đường giao thông cả nước hiện có 17.000 km đường nhựa, trên 3.200 km đường sắt, 42.000 km đường thủy, 226 cảng biển và hơn 20 sân bay So với các nước trong khu vực, đường bộ của ta được trải nhựa lại đạt tỉ lệ thấp nhất (25,1%); do chất lượng thấp nên lượng vận chuyển đường sắt chỉ bằng 15% tổng lượng hàng hóa lưu thông (Tổng cục Thống kê 2010) Mặc dù có nhiều cảng biển; song chỉ 10% có thể tham gia vào vận tải quốc tế với năng suất xếp dỡ chỉ bằng 1/3 năng suất bình quân của các nước trong khu vực Yếu kém về hạ tầng giao thông là nguyên nhân khiến năng lực cạnh tranh dịch vụ thấp, giá thành vận tải cao và ngành dịch vụ logistics trong nước đang chịu nhiều thách thức
Vì vậy, ngành dịch vụ logistic nói chung và dịch vụ vận chuyển nói riêng cần được chú ý và quan tâm hơn nữa Một số điều kiện cần thiết cho việc phát triển dịch vụ vận chuyển ở Việt Nam là :
1 Về phía nhà nước:
Quyết sách của Chính phủ về giao thông vận tải đến năm 2020 và tầm nhìn 2030
đã tập trung vào xây dựng cơ sở hạ tầng; hình thành chuỗi liên kết đồng bộ đường bộ,
Trang 10đường thủy, đường sắt và hàng không; đây là cơ sở để hình thành hệ thống giao thông vận tải đáp ứng tốt hơn nhu cầu dịch vụ logistics.Dựa vào thuận lợi đó, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ vận tải phải tận dụng để đưa ra được những chính sách hợp lý, phù hợp với yêu cầu của khách hàng
Một vấn đề nữa được đặt ra là xây dựng và hoàn thiện khung khổ pháp lý và thể chế chính sách đồng thời với chuẩn hóa quy trình dịch vụ, nâng cấp cơ sở hạ tầng và chất lượng nguồn nhân lực Hoạt động logistics mới được công nhận là hành vi trong luật Thương mại, Nghị định 140/2007/NĐ-CP và một số văn bản quản lý, chưa tạo được hành lang pháp lý đủ mạnh Nhà nước ta cần phải hoàn thiện khung khổ pháp lý, cần học hỏi và vận dụng những kinh nghiệm trong khu vực cũng như trên thế giới trong việc tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng và minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp pháp triển Song song với hành lang pháp lý, đảm bảo tính nhất quán, thông thoáng và hợp lý; việc cần làm là tiêu chuẩn hóa quy định về điều kiện kinh doanh, cấp phép; thay đổi thói quen bán FOB mua CIF; thống nhất và tiêu chuẩn hóa thủ tục hải quan, chứng từ xuất nhập khẩu cho phù hợp với thông lệ quốc tế
Gia tăng từ phía cầu cũng là một điều kiện thúc đẩy dịch vụ phát triển nhanh và mạnh hơn Trong chiến lược phát triển dịch vụ Việt Nam 10 năm tới, logistics được xác định là yếu tố then chốt thúc đẩy với tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển qua cảng biển từ 280 triệu tấn tăng lên 1 tỉ tấn (gấp 3,6 lần) Với lợi thế nằm trên trục giao lưu hàng hải, Việt Nam nhiều hy vọng trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa vận tải đường biển quốc tế, thông với nhiều hướng từ những thị trường nhiều nước đông dân Nhu cầu gia tăng đòi hỏi các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ phải quan tâm nhiều hơn đến an toàn hàng hóa, an toàn giao thông, tốc độ vận chuyển, hoàn thiện công nghệ của mình để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng và khả năng cạnh tranh cao hơn Đang nỗ lực điều chỉnh dần các chính sách để phù hợp với tiến tŕnh hội nhập và phát triển kinh tế; gia nhập WTO, khu vực mậu dịch tự do ASEAN và b́nh thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ tạo nhiều cơ hội cho phát triển kinh tế, trong đó có dịch vụ logistics Sự phát triển ồ ạt về số lượng các công ty giao nhận, logicstics trong thời gian qua là kết quả của Luật Doanh nghiệp sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1-1-2000 với việc dỡ bỏ rất nhiều rào cản trong việc thành lập và đăng kí doanh nghiệp
Hiện nay, đối với các doanh nghiệp làm dịch vụ giao nhận, logistics tại Việt Nam, vốn là trang thiết bị, cơ sở hạ tầng, ngay cả các điều kiện kinh doanh tiêu chuẩn của ngành cũng không c ̣n là rào cản và lợi nhuận cận biên, lợi nhuận trên vốn tương đối cao( theo các thống kê ở mức trung b́nh ngành vào khoảng 18-20%) Cứ theo đà này th́ trong vài năm nữa Việt Nam sẽ vượt qua cả Thái Lan( 1100 công ty), Singapore(800 công ty), Indonesia, Philipin(700-800 công ty) về số lượng các công ty logicstics đăng kí hoạt động trong nước