1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ôn thi việt bắc tố hữu

15 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 44,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đoạn trích có tới ba mươi lăm từ “nhớ”, thể hiện niềm hoài niệm tha thiết và đã làm sống dậy nghĩa tình sâu nặng với thiên nhiên và con người VB, với kháng chiến và cuộc sống gian

Trang 1

VIỆT BẮC

(Tố Hữu)

Phần một : Giới thiệu chung

1.Tác giả :

- Tố Hữu là một nhà thơ cách mạng,là một trong những lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam TH là một nhà thơ chính trị, song chính trị đã đạt đến mức độ trữ tình một cách sâu sắc Cái tài của TH là biến những điều khô khan nhất như lý tưởng, nghị quyết, chính sách thành những điều rất gần gũi, ngọt ngào và dễ nhớ, dễ thuộc

2.Xuất sứ, hoàn cảnh sáng tác :

a)Hoàn cảnh sáng tác :

- Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ - ne - vơ về Đông Dương được

kí kết vào tháng 7 năm 1954, miền Bắc được giải phóng Một trang sử mới, một giai đoạn mới của đất nước, của cách mạng được mở ra Tháng 10 -1954, cơ quan trung ương của Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở

về Hà Nội Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc

b)Xuất xứ:

Bài thơ được rút ra từ tập thơ cùng tên của tác giả, là tập thơ đỉnh cao của

TH, là tác phẩm xuất sắc của văn học VN thời kỳ kháng chiến chống Pháp

3 Kết cấu bài thơ:

Gồm 2 phần:

- Phần 1: tái hiện giai đoạn gian khổ, vẻ vang của CM và kháng chiến ở chiến khu Việt Bắc

- Phần 2: nói đến sự gắn bó đoàn kết giữa miền xuôi và miền ngược trong một viễn cảnh hòa bình tươi sáng của đất nước Kết thúc bằng lời ca ngợi công ơn của Chủ tịch HCM đối với Đảng và dân tộc

4 Chủ đề:

Việt Bắc là tiếng hát ân tình, sâu nặng, thiết tha, là tấm lòng thủy chung, son sắc giữa nhân dân VB và cán bộ miền xuôi kháng chiến, giữa miền xuôi và miền ngược

5.Bố cục của phần I:

Gồm 3 phần:

- Phần 1: (2 khổ đầu): cảnh chia tay

- Phần 2: (12 câu tiếp theo): lời người ở lại nói với người ra đi

- Phần 3: (còn lại): nỗi lòng người ra đi

II.Phân tích:

1 Nhận xét khái quát:

a) Hình thức đối đáp:

- Nội dung của bài thơ đề cập đến vấn đề rất cách mạng có thời sự chính trị lúc bấy giờ, đó là cuộc chia tay giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ kháng

1

Trang 2

chiến về xuôi Nhưng lại được thể hiện một cách rất trữ tình, lãng mạn Bởi bài thơ có kết cấu theo lối đáp giao duyên quen thuộc của ca dao, dân ca Lời thơ như lời của đôi lứa yêu nhau hát trong những ngày lễ hội đầu xuân Nếu cắt ngang phần đầu của bài thơ đặt bất cứ vào tuyển tập thơ nào thì chắc chắn độc giả sẽ lầm tưởng đây là một bài thơ tình

- Ở đây không chỉ là lời hỏi – đáp mà còn là sự hô ứng, đồng vọng Lời đáp không chỉ nhằm giải đáp cho những điều đặt ra mà còn là sự tán đồng, mở rộng làm phong phú thêm nhiều ý tính của lời hỏi Sâu sắc hơn, qua những đối thoại ấy chính là độc thoại tâm trạng Nhân vật đang đắm chìm mình trong hoài niệm ngọt ngào trong quá khứ đẹp đẽ Bởi vậy cho nên kẻ ở -người đi, lời hỏi - lời đáp có thể xem là một cách phân thân, hóa thân của nhân vật trữ tình để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng ngân vang

b) Cách xưng hô:

Nhà thơ sử dụng sáng tạo các đại từ xưng hô quen thuộc “Ta- mình”, trong đời sống bình dị của người lao động, đặc biệt là từ “mình”, thường chỉ dùng để gọi người bạn đời yêu thương vì vậy nó gợi lên sự gắn bó, thân thiết Trong Tiếng Việt, “mình’’vừa để chỉ ngôi thứ nhất nhưng cũng dùng để chỉ ngôi thứ hai Trong bài thơ được dùng kết hợp cả hai chuyển hóa đa nghĩa vừa là chủ thể này, vừa là đối tượng hòa nhập lại làm một “mình đi mình có nhớ mình”

c) Cảm hứng chủ đạo:

- Cảm hứng chủ đạo bao trùm cả bài thơ, bao trùm lên tâm trạng kẻ ở - người

đi là một nỗi nhớ da diết, mênh mang và mang nhiều sắc thái khác nhau Trong đoạn trích có tới ba mươi lăm từ “nhớ”, thể hiện niềm hoài niệm tha thiết và đã làm sống dậy nghĩa tình sâu nặng với thiên nhiên và con người

VB, với kháng chiến và cuộc sống gian khổ mà hào hùng, qua hoài niệm, đã từng bước trỗi dậy, nỗi nhớ đầy ắp cả không gian Với người ở lại: núi rừng nhớ, đất nhớ, cây cối nhớ, sông suối nhớ, người nhớ Với người ra đi: nhớ mẹ, nhớ rừng xanh hoa chuối, nhớ cô em gái, nhớ lớp học i tờ, nhớ tiếng mõ rừng chiều, nhớ những nhà hắt hiu lau xám, nhớ bản khói cùng sương… Nỗi nhớ

đã hòa nhập kẻ ở - người đi làm một

1 Cảnh chia tay cảm động giữa người Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến:

a Không gian đưa tiễn:

+Thời điểm tiễn đưa: ta hình dung đây là đoạn cuối của cuộc tiễn đưa.

Người ở lại đến lúc phải quay về, người đi phải bước tiếp con đường của cuộc hành trình

+ Không gian tiễn đưa: ở chiến khu VB với cảnh đồi núi trập trùng, mênh

mông gió núi

b Lời người ở lại: (Giống như những khúc hát giã bạn “Người ơi người ở

đừng về” trong đêm hội, người cất tiếng nói đầu tiên trong cuộc chia tay là người Việt Bắc)

+Tâm trạng băn khoăn: điều người ở lại băn khoăn nhất là sợ người ra đi

quên mình Trong bốn câu thơ có tới hai câu hỏi tu từ được láy đi láy lại “mình

có nhớ ta, mình có nhớ không?” Sự băn khoăn đó không phải là không có lí

2

Trang 3

Bởi vì người ra đi là về với thủ đô Hà Nội, về với phố cao, điện sáng, những cám dỗ chốn thị thành, liệu người đi có còn nhớ bản làng, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng nữa hay không? Sự lãng quên đó, không phải là đã không xảy ra “Ánh trăng’’ của Nguyễn Duy một thời gắn bó đã bị bỏ quên một cách

vô tình, lẻ loi, cô đơn lạc lõng giữa chốn thị thành sáng trưng ánh điện Người tri kỉ một thời bị trở thành người qua đường xót xa:

“Từ ngày về thành phố Quen ánh điện của gương Vầng trăng đi qua ngõ Như người dưng qua đường’’

(Nguyễn Duy) Chính vì vậy mà người ở lại đã viện dẫn cả mười lăm năm ân tình tha thiết sâu nặng để nhắc nhở người ra đi: một ngày còn nên nghĩa huống hồ là

“mười lăm năm là năm mươi lăm ngàn ngày, chứ đâu phải ngày một ngày hai cho nên không có lí do gì mình quên ta đâu nhé…’’

+ Nỗi lòng thiết tha: 15 năm có biết bao kỉ niệm ngọt ngào “thiết tha”,

“mặn nồng” mà không dễ gì lúc nào cũng có được trong cuộc đời Chữ “ấy”

đã khiến thời gian 15 năm lùi dần vào miền kí ức, hoài niệm Thời gian 15 năm được đánh dấu từ mốc khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940 cho đến khi kháng chiến chống Pháp kết thúc thắng lợi Những dòng thơ phía sau sẽ lí giải với chúng ta vì sao nhà thơ gọi 15 năm bằng cụm từ thiết tha, mặn nồng đầy tình nghĩa Bởi đó là thời gian được dệt nên từ tình yêu thương, từ gian khổ thiếu thốn, từ sự chung sức chung lòng

Mình về mình có nhớ không

Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

Cách dùng hình ảnh gợi nhớ về không gian cây – núi, sông – nguồn làm cho nỗi nhớ trở nên sâu thẳm, da diết hơn Các cặp hình ảnh trên vừa mang ý nghĩa tả thực vừa có ý nghĩa tượng trưng: gợi tới không gian núi rừng Việt Bắc với những nét riêng, đặc thù Ngoài ra, nó còn gợi lên tình cảm chung thủy trong mối quan hệ với cội nguồn: Việt Bắc là cái nôi của cuộc kháng chiến, nhân dân là hậu phương vững chắc của cách mạng Người Việt Bắc hỏi

mà như nhắc nhở, nhắn gửi người về đừng quên Việt Bắc, đừng quên cội nguồn cách mạng

Câu hỏi trên nhấn vào thời gian, câu hỏi dưới nhấn vào không gian Hai câu hỏi đã gợi lên được một thời cách mạng, một vùng cách mạng

c)Lời người ra đi:

+ Nhớ tiếng: trước tâm trạng lo lắng, thấp thỏm của người ở lại, người ra đi

cũng đã cất lên những lời nghẹn ngào, xúc động làm nao cả lòng người:

“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi”

- Hình ảnh có tính chất ẩn dụ rất lớn Tiếng người đưa tiễn có sức mạnh níu giữ bước chân, làm cho người ra đi không nỡ cất bước Mà có bước đi chăng nữa thì ở trong cảnh ngộ “bước đi một bước giây giây lại dừng” Nếu người ở lại với một tâm trạng “thiết tha mặn nồng” thì người ra đi lại mang tâm trạng

“bồn chồn, bâng khuâng”

3

Trang 4

- Từ “ai” vì thế vừa là tiếng lòng người ở lại, vừa là tiếng vọng từ tâm tưởng của người ra đi Sự tri âm tri kỉ đồng thanh tương ứng đã khiến họ thấu hiểu lòng nhau hơn

+ Nhớ hình: “Áo chàm đưa buổi phân li

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…’’

- Câu thơ sử dụng phương thức hoán dụ quen thuộc “Áo chàm” – trang phục của đồng bào miền núi Đó cũng là màu của sự sắt son, bền chặt thủy chung Màu áo gợi lên biết bao thương mến

- “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”, cơn sóng cảm xúc đang cuồn cuộn dâng trào, không biết bắt đầu từ đâu, không biết làm sao để nói hết nỗi lòng của mình với người ở lại Câu hỏi tu từ cùng dấu chấm lửng cuối dòng thơ kết hợp nhịp thơ độc đáo 3/3/2 diễn tả một nỗi niềm vô tận Những nỗi niềm lưu luyến trong cảnh chia tay được thể hiện rõ nét trong cử chỉ cầm tay nhau chan chứa ân tình, trong sự im lặng

 Như vậy người ra đi kết đọng lại trong trái tim mình tiếng nói và dáng hình thân thương của người ở lại “nhớ ảnh nhớ hình nhớ tiếng”

*Tiểu kết:

- Chỉ với hai khổ thơ, tác giả đã dựng lên một khung cảnh chia tay đầy bịn rịn, lưu luyến, nhớ thương giữa người ra đi và người ở lại, cán bộ kháng chiến rời chiến khu về xuôi và nhân dân Việt Bắc nghĩa tình sâu nặng

- Cảnh chia tay ở thời hiện đại, của những người cách mạng mà ta cứ ngỡ như là ở thời xa xưa đẹp như một bức tranh cổ điển, mang đậm sắc thái trữ tình giống như cuộc chia tay của những lứa đôi yêu nhau từ vạn thủa

- Tình nghĩa thủy chung, gắn bó giữa đồng bào Việt Bắc với người cán bộ kháng chiến phản ánh truyền thống đạo lí từ ngàn đời của dân tộc Hiện thực cách mạng được Tố Hữu phản ánh một cách chân thực, gợi cảm phù hợp với tình cảm của dân tộc Đó là một biểu hiện của tính dân tộc trong thơ Tố Hữu

2 Lời người ở lại:

*Nhận xét:

+ Hàng loạt câu hỏi người ở lại đặt ra cho người ra đi dồn dập, liên tục Nguyên cả mười hai câu thơ là những câu hỏi nặng tình, nặng nghĩa, nặng suy nghĩ và bộc lộ tình yêu thương, đòi hỏi được yêu thương Từng cặp câu hỏi sánh đôi rất đa dạng Có những câu hỏi thẳng ‘’Mình về có nhớ chiến khu’’ Có những câu hỏi bóng, hỏi về sự trống vắng nay mai của lòng người

‘’Mình về rừng núi nhớ ai’’ Và cũng có nhiều câu hỏi xoáy ‘’Mình đi mình có nhớ mình’’

+ Kèm theo với những câu hỏi là những hình ảnh có tính chất gợi nhớ đồng thời đó chính là sự tái hiện lại những năm tháng kháng chiến, gian khổ hào hùng là những kỉ niệm suốt 15 năm ân tình sâu nặng

a Hỏi thẳng: (nhớ về những ngày kháng chiến gian khổ)

‘’Mình đi có nhớ những ngày’’

Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù’’

4

Trang 5

+ Hình ảnh thiên nhiên: những hình ảnh nói về thiên nhiên dữ dội, khắc

nghiệt của núi rừng Việt Bắc Chốn rừng thiêng nước độc biết bao nguy hiểm Hàng loạt những danh từ xuất hiện nhưng được sử dụng như những tính từ: mưa, suối lũ, mây mù… Thiên nhiên cũng là kẻ thù nguy hiểm, đáng sợ của con người Đồng thời những hình ảnh thiên nhiên cũng gợi lên những khó khăn, gian khổ khốc liệt của Cách mạng trong những ngày đầu kháng chiến, khi ngọn lửa Cách Mạng chỉ mới nhóm lên ở chốn rừng thiêng

“Mình về có nhớ chiến khu

Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”

+ Nhớ về những tháng mà những người cách mạng phải vượt lên chính mình sống bằng ý chí, nghị lực, quyết trả cho được mối thù dân tộc, quyết rửa cho sạch vết nhơ nô lệ Câu thơ thể hiện sự tương phản đối lập giữa một bên là thực tế cuộc sống hết sức khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ và một bên trọng trách lớn lao “thù nhà, nợ nước”

+ Một dòng thơ có năm phụ âm “m” đi liền nhau “Miếng cơm chấm muối,

mối thù nặng vai” làm cho câu thơ như được đúc lại, diễn tả sự bền gan,

vững chí và mọi quyết tâm sắt đá, không gì lay chuyển phải trả được mối thù bằng mọi giá

b.Hỏi bóng:

“Mình về rừng núi nhớ ai

Trám bùi để rụng măng mai để già”

+ “Mình về rừng núi nhớ ai”: cách nói bóng gió đầy ngụ ý Phép nhân hóa kết hợp nghệ thuật hoán dụ đã khiến câu thơ diễn tả được các cung bậc của nỗi nhớ Nỗi nhớ không chỉ thổn thức trong lòng người mà còn chảy tràn lên cả cảnh vật Làm cho cả núi rừng cũng “ngẩn ngơ’’ Trám bùi trên cây không ai hái, rụng đầy đất không ai nhặt, măng mai để hoang phí giữa rừng sâu Người về đã để lại sự trống vắng trong lòng người không dễ gì khỏa lấp

+ Âm điệu của câu thơ trở nên dìu dặt, tha thiết Vần ai “ai-mai” phát huy thế mạnh tối đa, khác với âm điệu mạnh mẽ, rắn rỏi ở những câu thơ trước đấy Người dân với những tấm lòng thơm thảo đã dành cho cán bộ kháng chiến những gì ngon nhất, tốt nhất trong điều kiện mà mình có thể Chưa phải là cao lương mĩ vị nhưng trám bùi, măng mai là những sản vật tươi ngon của núi rừng Người dân Việt Bắc đã ưu ái dành riêng cho cán bộ kháng chiến trong những ngày đói khổ, quí giá biết bao

+ “Mình đi có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son”

Phong cảnh hoang sơ, hắt hiu, buồn vắng làm nao cả lòng người Câu thơ mở

ra không gian rất đặc trưng của rừng núi với hình ảnh cây lau quen thuộc đã

đi vào trong thơ ca như là biểu tượng cho cảnh vật miền núi:“Có thấy hồn lau

nẻo bến bờ” (Tây Tiến - Quang Dũng) “Nhà” là hình ảnh hoán dụ cho con

người, “hắt hiu lau xám” vừa có nghĩa tả thực vừa mang nét tượng trưng, ẩn

dụ cho cuộc sống nghèo khổ, “đậm đà lòng son” ẩn dụ cho tình cảm trung hậu, nghĩa tình của người Việt Bắc Nét cao quý của người dân Việt Bắc là ở chỗ nghèo nàn mà chân tình, rộng mở, cực khổ, son sắt, thủy chung với cách

5

Trang 6

mạng Dù chỉ có khoai, sắn thay cơm nhưng tấm lòng son thì mãi mãi chói ngời cũng năm tháng

c.Hỏi xoáy:

Mình về có nhớ núi non

Nhớ khi kháng Nhật, thủơ còn Việt Minh

+ “Nhớ núi non” ở đây được đặt trong thế đối lập với phố cao điện sáng, cửa gương “Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh” là giai đoạn mà phong trào cách mạng đang còn trong trứng nước, còn bây giờ là lúc cất cao ca khúc khải hoàn chiến thắng Ngọt bùi phải nhớ lúc đắng cay, trong ánh hào quang rực rỡ của chiến thắng hôm nay không được quên những ngày nếm mật nằm gai trong quá khứ

Mình đi mình có nhớ mình

+Ba chữ mình trong câu thơ này khiến câu thơ có nhiều cách hiểu Đây chính

là một sự phân thân hàm ẩn, một lời nhắc nhở đối với chủ thể trữ tình Nhớ người ở lại đã đành rồi nhưng còn phải nhớ chính cả người ra đi nữa Biết đâu ngay cả chính mình cũng có thể quên mình đấy Mà quên mình tức là đã tự đánh mất mình, là đã phản bội lại chính mình, phản bội lại quá khứ Câu hỏi rất sâu nặng, nghe mà giật mình Theo đánh giá của Nguyễn Đức Quyền:

“Câu thơ đã cõng cả bài thơ”.

*Tiểu kết: Đoạn thơ thể hiện tính dân tộc đậm đà.

+ 12 dòng lục bát tạo thành sáu câu hỏi như khơi sâu vào kỉ niệm Mỗi câu hỏi đều gợi lại một cái gì đó rất tiêu biểu của Việt Bắc, của cảnh vật, và lòng người Nhưng nếu chỉ gợi nhiều kỉ niệm như vậy thôi thì chưa thể tạo thành cái ma lực quyến luyến, tha thiết, tạo thành chất thơ diệu kì ở những câu thơ Đó chính là nhạc điệu đã làm cho các câu thơ trầm bỗng, réo rắt dội vào tâm tư.

+ Sự lặp lại cấu trúc đều đặn ở những câu sáu đã tạo ra nhịp ru rất riêng của đoạn thơ Trong các câu thơ này lại có sự luân phiên, xen kẽ giữa “mình đi”

và “mình về” Các từ “đi”, “về” vốn ngược chiều nhau trong văn cảnh này lại đồng nghĩa với nhau, cùng chỉ về hướng xuôi Một câu “mình đi” và một câu

“mình về” vừa thể hiện sự quyến luyến bịn rịn giữa người đi kẻ ở vừa tạo thành từng cặp chao qua liệng lại vỗ vào thương nhớ không nguôi của lòng người trong cuộc chia li.

+ Đoạn thơ vừa thể hiện những tình cảm sâu sắc thương nhớ, vừa có những hình ảnh dân dã, cổ điển, cân đối nhịp nhàng (vì có phép tiểu đối ở câu bát) những câu thơ ngân vang, dìu dặt như thắt, như buộc, thân thương và mới

mẻ lạ lùng Chính vì thế mà có một âm điệu rất riêng cuốn hút lòng người Đấy là thành công của nhà thơ

3.Nỗi lòng của người ra đi (70 câu tiếp theo)

*Nhận xét:

- Sau 12 dòng câu hỏi của người ở lại, người về đã trả lời một mạch tới bảy mươi dòng Người đi như đón lấy từng lời, từng ý của người ở lại để đáp lại một cách rất cặn kẽ, chi tiết, đầy đủ tất cả những băn khoăn, lo lắng của người ở lại bằng nỗi lòng tha thiết yêu thương Câu hỏi của người ở lại như đã chạm đúng mạch nguồn cho cơn lũ yêu thương tuôn trào

A.Lời khẳng định:

6

Trang 7

+ Sự gắn kết: trước hết người ra đi khẳng định một cách mạnh mẽ, chắc

chắn tình cảm của mình đối với người ở lại trước sau như một, không bao giờ thay đổi:

Ta với mình, mình với ta

Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

Ta - mình, mình - ta sao mà quấn quýt, hòa quyện đến thế Hai chữ ta - mình

đi suốt chiều dài của câu thơ sánh với nhau từng cặp một giống như từng cặp liền anh, liền chị đang hát đối với nhau trong những ngày lễ hội đầu xuân

+Lòng thủy chung : ý nghĩa về sự chung thủy, gắn bó không chỉ được thể

hiện bằng sự có mặt của hai từ chỉ thời gian « sau - trước » mà hàng loạt vần

‘’inh’’ được sử dụng trong câu thơ : đó là ‘’mình’’, « đinh ninh », « tình » làm cho âm điệu của câu thơ trở nên rắn rỏi, mạnh mẽ chứ không chùng xuống

và trải dài như những câu thơ trước đó

 Nếu ở câu thơ trước đấy là lời hỏi xoáy « mình đi mình có nhớ mình » thì ở

câu thơ này là lời đồng vọng tương xứng Cái hay của câu thơ là vừa đáp lại một cách đầy đủ tình ý của câu thơ trước : ta sẽ không bao giờ quên chính bản thân ta, đồng thời lại vừa thể hiện sự hòa nhập làm một giữa người đi và

kẻ ở Mình cũng chính là một phần đời của ta Ý nghĩa câu thơ vì vậy mà được nâng cao hơn rất nhiều

B.Nhớ về những kỉ niệm của cuộc sống kháng chiến :

a Đặc điểm của nỗi nhớ : Người ra đi tiếp tục bày tỏ nỗi nhớ của mình Nỗi

nhớ Việt Bắc được so sánh với nhớ người yêu Mà nhớ người yêu thì thật da diết, cồn cào, thường trực Ca dao đã miêu tả nỗi nhớ người yêu « Nhớ ai bổi hổi bồi hồi/ Như đứng đống lửa, như ngồi đống than » Điều đó chứng tỏ Việt Bắc gần gũi, thân thương biết bao Mỗi người, mỗi cảnh, mỗi thời khắc của Việt Bắc đã trở thành tâm hồn của người ra đi :

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương

+ Phải nói rằng câu thơ đẹp như một khúc đồng quê êm đềm Nỗi nhớ rất

ngọt ngào, thi vị như ánh trăng, như sợi nắng chiều tà -đây cũng là thời điểm quyến rũ nhất của mỗi ngày Nỗi nhớ quấn lấy lòng người, cảnh vật Nỗi nhớ

có mặt ở khắp không gian từ đầu núi trải dài đến lưng nương

b Những sự vật hiện lên trong nỗi nhớ :

Nhớ từng bản khói cùng sương, Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

Trong câu thơ này ta như thấp thoáng hình ảnh câu thơ « Nhớ bản

sương giăng, nhớ đèo mây phủ’’ của Chế Lan Viên trong bài thơ ‘’Tiếng hát con tàu’’ Nhưng sương ở đây mang một ý nghĩa khác, nó không còn thể hiện

sự khắc nghiệt, dữ dội của thiên nhiên mà thể hiện sự mờ ảo, thơ mộng của bản làng ở VB Bởi vì ở trong làn sương ấy còn có những sợi khói lam chiều

được tỏa ra từ những mái nhà sàn ấm cúng, từ bếp lửa của ‘’người thương

sớm khuya đi về’’ Bếp lửa là linh hồn của cuộc sống của đồng bào miền núi,

7

Trang 8

là nơi quây quần đoàn tụ của mỗi gia đình thường được đặt ở nơi trang trọng nhất Câu thơ gợi lên nét sinh hoạt rất đặc trưng của đồng bào vùng cao

- Người thương gợi lên bao hoài niệm nhung nhớ Câu thơ không chỉ thể hiện

tình thương mà còn tái hiện cả tảo tần sớm – khuya của người miền núi hay làm, cần cù, chất phác

- Nhớ từng : điệp ngữ « nhớ từng » được lặp đi lặp lại, nỗi nhớ rất cụ thể, rất

đầy đủ, không bỏ sót bất cứ một sự vật nào, hình ảnh nào Điều đó thể hiện người ra đi gắn bó, thương nhớ VB tha thiết biết bao Người ra đi không chỉ nhớ người mà còn nhớ bản, nhớ đèo tha thiết, nhớ từng dòng sông, từng con suối đầy vơi, nhớ rừng nứa bờ tre nghĩa là đất cũng đã « hóa tâm hồn », cảnh

vô tri cũng đất trở thành lòng người níu giữ

Ta đi ta nhớ những ngày

Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi

+ Sự sát cánh bên nhau : « mình đây » và « ta đó » nghĩa là ta và mình luôn

sát cánh bên nhau, cùng vượt qua những gian nan khắc nghiệt, những đắng cay ngọt bùi của cuộc sống kháng chiến Đồng thời đó còn là sự bền chặt trong tình cảm giữa ta và mình đã được thời gian thử thách và điều đó càng làm cho ta nhớ mình hơn

+Sự nhường cơm sẻ áo : nhịp thơ đang là những từ « nhớ » liên hoàn bỗng dưng có sự thay đổi :

Thương nhau chia củ sắn lùi

Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

« Nhớ » và « thương » vốn cùng chung một trường nghĩa nhưng vẫn có những sắc điệu riêng Đây cũng là chỗ duy nhất trong bài thơ tác giả dùng chữ « thương » để thay cho chữ « nhớ » Phải chăng vì sự hi sinh của nhân dân VB dành cho cán bộ kháng chiến thiêng liêng sâu nặng quá, sự sẻ chia

thầm lặng và cao cả « Một miếng khi đói bằng một gói khi no » Nhân dân

VB đã san sẻ sự sống của mình cho cán bộ kháng chiến Tình thương ở đây không dừng lại ở những người chung một nước mà đã trở thành tình thương của những người ở chung một nhà, ruột rà máu mủ Nhà thơ hiểu và thấm thía hi sinh lớn lao và thầm lặng ấy của nhân dân VB « chia, sẻ, cùng’’ là những từ ngữ rất chân thực nói về sự chịu đựng, về sự san sẻ cái đói, cái no, cái ấm, cái lạnh, nỗi khổ của nhân dân VB với cán bộ kháng chiến trong những ngày tháng gian lao

+ Nhớ người mẹ lam lũ : Và đây nữa là hình ảnh không dễ gì quên :

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô

Câu thơ không chỉ gợi lên sự cần cù, lam lũ của người mẹ phải « cháy lưng », vất vả dưới cái nắng thiêu đốt mà còn thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng và một tuổi thơ nghèo khổ, đáng thương thiệt thòi của những trẻ em vùng cao thời kháng chiến Tuổi thơ trên nương, tuổi thơ trên lưng, tuổi thơ đầy nắng gió và mưa gào

+Nhớ những ngày tháng cơ quan :

Nhớ sao ngày tháng cơ quan

Gian nan đời vẫn cang núi đèo

8

Trang 9

Cuộc kháng chiến của dân tộc đã làm cho đời sống của miền núi có nhiều thay đổi Bản làng có nhiều lớp học “i tờ’’ Đây là phong trào bình dân học vụ nổi tiếng một thời không dễ gì lăp lại Với phong trào này chúng ta đã nhanh chóng xóa nạn giặc dốt Rồi những buổi sinh hoạt của cán bộ, các cơ quan kháng chiến tuy thiếu thốn nhưng rất nhiều nhưng vẫn rất lạc quan, yêu đời

đó là sức mạnh của tinh thần, của nghị lực gian nan mà tiếng hát át tiếng bom

+ Nhớ âm thanh đặc trưng của Việt Bắc

Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

Chày đêm nện cối đều đều suối xa

Ở hai câu thơ này có những âm thanh rất đặc trưng riêng của Việt Bắc: tiếng mõ gọi trâu, và tiếng cối nước vọng suốt những đêm dài trên những suối xa Những âm thanh đó đã hiện lên cách sinh hoạt, cách sống rất riêng của đồng bào miền núi Đó là những âm thanh rất đỗi thân thương đã hằn sâu trong kí ức người ra đi Dấu chấm lửng ở cuối câu thể hiện một sự vang

xa của âm thanh tiếng suối và âm thanh tiếng cối trong không gian của núi rừng

Tiểu kết: đoạn thơ không dài nhưng đã để lại những rung động sâu xa trong

lòng người đọc về một thời gian khó mà hào hùng, oanh liệt Giọng thơ nhẹ nhàng lắng vào sâu tư, những hình ảnh chân thực giàu sức gợi

B Bức tranh tứ bình:

* Nhận xét chung:

+ Cảnh thiên nhiên núi rừng VB ở trong mười câu thơ trên thuộc đoạn thứ

năm của bài thơ Tự nó đã có tính hoàn chỉnh rất cao Đây là một trong những đoạn thơ đặc sắc nhất của bài thơ Là một bức tranh toàn cảnh, tiêu biểu của VB qua bốn mùa trong năm Bức tranh đó hiện lên thật sinh động và

ấm áp trong âm điệu nhịp nhàng êm ả đẹp và thơ mộng đến lạ thường, tha thiết của tình yêu thương Cảnh vật rất tươi tắn, rực rỡ nhưng cũng không kém phần man mác, bâng khuâng Bởi vì nó được lọc qua nỗi nhớ của người

về xuôi, một nỗi nhớ da diết, bồn chồn trong buổi chia tay

+ Nhà phê bình Hoài Thanh nhận định những câu thơ TH viết về thiên nhiên

VB có thể sánh với bất kỳ đoạn thơ nào trong văn học cổ điển

+ Hai câu đầu giới thiệu khái quát, tám câu còn lại là bức tranh bốn mùa trong năm Mỗi mùa lại có một nét riêng biệt để nhớ giống như bức tranh tứ bình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du Nhưng khác ở chỗ cảnh trong thơ Nguyễn Du là cảnh chung cho tất cả mọi nơi mang tính khái quát, còn cảnh trong thơ Tố Hữu là cảnh riêng của rừng núi VB mang tính cụ thể, không lẫn

đi đâu được Và mùa nào cũng gắn với cánh rừng dù màu sắc có sự thay đổi: rừng xanh, trắng rừng, rừng phách, rừng thu

a)Hai câu thơ đầu:

Ta về mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

9

Trang 10

+ Hai câu thơ mang tính khái quát Nó nói về ‘’hoa cùng người’’ ở VB.

« Hoa » là vẻ đẹp cảnh vật thiên nhiên trong bốn mùa, còn người ở đây chính

là những con người VB thân thương, những con người đã đùm bọc, cưu mang cán bộ kháng chiến

+ Hai chữ ‘’ta về’’ được láy lại hai lần cùng trong thời điểm chia tay Nhưng ở câu đầu là hỏi người, câu dưới là bày tỏ lòng mình « Hoa » và « người » ở đây hòa quyện trong nỗi nhớ Nhớ hoa là nhớ tới cái đẹp của thiên nhiên VB

Mà cái đẹp của thiên nhiên VB thì không thể tách rời với cái đẹp của con người Không gì riêng ở hai câu đầu mà toàn bộ tám câu thơ còn lại câu nào cũng có hoa và người hài hòa, gắn bó

b) Cảnh mùa đông :

+ Nhớ thiên nhiên: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Mở đầu là bức tranh tứ bình không phải là cảnh mùa xuân như ta vẫn thường thấy theo quy luật của tự nhiên mà là cảnh mùa đông Mùa đông thường gắn với những màu lạnh lẽo của sương giá, băng tuyết ở đây chúng

ta lại thấy những gam màu ấm nóng bởi màu đỏ của hoa chuối và màu vàng của nắng trên nền xanh của núi rừng đại ngàn Đây là màu đỏ của hoa chuối, còn là màu đỏ của lí tưởng cách mạng, của niềm tin vào tương lai tất thắng, mà chúng ta đã từng gặp trong bài thơ « Cuộc chia ly màu đỏ » của nhà thơ quá cố Nguyễn Mĩ :

Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy

Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy

Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi

Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người.

+ Nhớ người :

Nhà thơ đã đưa vào bức tranh con người thật bình dị, đáng yêu Đó là con người lao động cần cù, chăm chỉ Con người được xuất hiện trong bức tranh mùa đông này rất phù hợp với thiên nhiên, mang nét rất đặc trưng của người dân VB « dao gài thắt lưng » Đối với những người miền núi, chiếc dao vừa là vũ khí tự vệ, vừa là dụng cụ để mở đường, vừa là công cụ để lao động Đây là một chi tiết nghệ thuật đắt giá thể hiện đúng người, đúng cảnh Cách nói đảo ngữ « nắng ánh » (động từ) khác so với « ánh nắng » (danh từ) nhắm nhấn mạnh các luồng sáng của nắng bỗng chói lên bởi sự phản quang của lưỡi dao trên thắt lưng người Việt Bắc đi rừng khai thác lâm thổ sản Con người xuất hiện ở tầm cao, vị thế của con người không bị thiên nhiên lấn át

mà dường như lồng lộng giữa đèo cao với ánh nắng rực rỡ

c)Cảnh mùa xuân :

+ Nhớ thiên nhiên :

« Ngày xuân mơ nở trắng rừng »

Sang xuân, màu sắc đã có sự thay đổi Khắp cả núi rừng là một màu trắng tinh khôi, thanh khiết của hoa mơ, thể hiện một sức sống mãnh liệt bừng dậy làm thay đổi cảnh quan Tính từ ‘’trắng’’ được đảo lên đứng trước danh từ cùng với cách nói quá cho ta thấy một màu trắng mãnh liệt, bao phủ

10

Ngày đăng: 09/10/2021, 18:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w