- Quản lý vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn,
Trang 2BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI TRƯỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
LAO ĐỘNG - XÃ HỘI
-
Chủ biên: TS Nguyễn Thị Vân
TÀI LIỆU ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG NGÀNH LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
Hà Nội, tháng12 năm 2015
Trang 3TÀI LIỆU
ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG
NGÀNH LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
(Ban hành kèm theo Quyết định số 1905 QĐ/LĐTBXH ngày 28 tháng 12 năm 2015
của Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội)
Chỉ đạo chung: TS Phạm Trường Giang
Nhóm tác giả tham gia biên soạn
TS Nguyễn Thị Vân (chủ biên)
TS Nguyễn Hải Hữu
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa VIII) về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã đặt ra nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ, trong đó nêu rõ: "Đặc biệt chú trọng phát hiện đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp từ trung ương tới cơ sở" Nghị quyết Đại hội XI tiếp tục khẳng định: “…đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ công tác cán bộ Thực hiện tốt Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”
Với mỗi tổ chức, tập thể, dù lớn hay nhỏ, người lãnh đạo là người giữ linh hồn, truyền cảm hứng và dẫn dắt tổ chức đi lên Tổng thống thứ 34 của nước Mỹ Dwight D.Eisenhower đã từng nói: "Lãnh đạo là nghệ thuật của cá nhân ảnh hưởng tới tính tự giác hoàn tất công việc của những người khác nhằm đạt mục tiêu chung"
Và như với nhiều môn nghệ thuật khác, chỉ một số ít người có tố chất bẩm sinh để làm lãnh đạo, còn phần lớn những người lãnh đạo, quản lý đều phải trải qua một quá trình học hỏi, rèn luyện và nỗ lực hết mình để tích lũy những kỹ năng và kiến thức vững chắc cho vai trò lãnh đạo của mình Với cái nhìn của khoa học quản lý hiện đại, lãnh đạo không đơn thuần chỉ là một chức vụ mà là một môn khoa học.
Nhằm trang bị cho các cán bộ lãnh đạo cấp phòng và quy hoạch lãnh đạo cấp phòng ngành Lao động - Thương binh và Xã hội các kiến thức, kỹ năng cần thiết để thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội xây dựng Tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Căn cứ vào Chương trình đào tạo, bồi dưỡng lãnh đạo cấp phòng ban hành kèm theo quyết định số 1245/Đ-BNV ngày 29/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, cuốn Tài liệu đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng lãnh đạo quản lý cấp phòng ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đã được xây dựng dựa trên cơ sở: i) Cập nhật các kiến thức, kỹ năng mới nhất dành cho lãnh đạo quản lý khu vực hành chính công; ii) Cập nhật các nội dung, văn bản, và tình hình thực tế của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội; iii) Các nội dung chuyên đề kiến thức và kỹ năng được biên soạn theo hướng thực học - thực nghiệp Theo đó, tài liệu bước đầu sẽ cung cấp kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm thực tế trong việc quản lý cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp phòng
và quy hoạch cấp phòng của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Tài liệu được biên soạn bởi tập thể các tác giả có am hiểu sâu về ngành Lao động - Thương binh và Xã hội, có nhiều kinh nghiệm thực tế về lĩnh vực đào tạo theo hướng thực học - thực nghiệp và tâm huyết với việc đào tạo một đội ngũ lãnh đạo, quản lý cấp phòng tinh nhuệ nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Ngành
Cụ thể, tài liệu do TS Nguyễn Thị Vân chủ biên và các tác giả chịu trách nhiệm chính trong việc biên soạn các chuyên đề gồm:
Chuyên đề 1, 3, 4, 5 và 6 do TS Nguyễn Khắc Hùng và Ths.Nguyễn Tiến Dũng biên soạn Chuyên đề 2 do TS Nguyễn Hữu Chí và TS.Bùi Xuân Phái biên soạn
Chuyên đề 7 và 10 do TS Nguyễn Thị Vân và Ths Nguyễn Thị Ngọc Thanh biên soạn Chuyên đề 8 và 9 do TS Nguyễn Hải Hữu biên soạn
Trang 5Đây là cuốn tài liệu đầu tiên về kỹ năng lãnh đạo quản lý cho cán bộ cấp phòng ngành Lao động - Thương binh và Xã hội Quá trình biên soạn tài liệu, vì vậy khó có thể tránh khỏi những thiếu sót Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội và tập thể ban biên soạn rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà khoa học, các chuyên gia, các nhà quản lý và quý độc giả để có thể hoàn thiện hơn cuốn tài liệu này, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực lãnh đạo cấp phòng cho các đơn vị thuộc ngành Lao động - Thương binh và
Xã hội từ trung ương tới địa phương
Mọi ý kiến góp ý xin gửi về:
Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội
Địa chỉ:Tầng 17, Nhà làm việc liên cơ quan Bộ Lao động - Thương binh
và Xã hội, lô D25, ngõ 8b, Tôn Thất Thuyết, phường Dịch Vọng Hậu, quận Cầu Giấy, Hà Nội
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Phần I: Kiến thức, kỹ năng quản lý và lãnh đạo chung của cấp phòng 1
Chuyên đề 1: Lãnh đạo cấp phòng và vận dụng kiến thức, kỹ năng của lãnh đạo cấp phòng 1
Chuyên đề 2: Kỹ năng cập nhật và áp dụng pháp luật trong công tác 15
Chuyên đề 3: Kiến thức, khả năng quản lý và lãnh đạo của cấp phòng 29
Chuyên đề 4: Kỹ năng lập và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác của lãnh đạo cấp phòng 61
Chuyên đề 5: Kỹ năng tham mưu của lãnh đạo cấp phòng 94
Chuyên đề 6: Kỹ năng quản lý và phát triển nhân sự của lãnh đạo cấp phòng 112
Chuyên đề 7: Chuyên đề báo cáo: thực tiễn tại đơn vị về quản lý, lãnh đạo của cấp phòng và kinh nghiệm quốc tế 143
Phần II: Kiến thức và kỹ năng quản lý trong lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội 145 Chuyên đề 8: Quản lý cung ứng dịch vụ công về lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội 145
Chuyên đề 9: Phân cấp quản lý cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực LĐTBXH 169
Chuyên đề 10: Chuyên đề báo cáo thực tiễn công tác xã hội hóa trong lĩnh vực lao động - thương binh và xã hội những năm qua và bài học kinh nghiệm 197
Phần III : Đi thực tế, tổng hợp, ôn tập và viết đề án/thu hoạch 198
Mục 1: Yêu cầu, hướng dẫn đi thực tế 199
Mục 2: Yêu cầu, hướng dẫn viết đề án/thu hoạch cuối khóa 200
Trang 7Phần I KIẾN THỨC, KỸ NĂNG QUẢN LÝ
VÀ LÃNH ĐẠO CHUNG CỦA CẤP PHÒNG
Chuyên đề 1 LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG VÀ VẬN DỤNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG CỦA LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG
I CẤP PHÒNG TRONG HỆ THỐNG BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HIỆN NAY
Cấp trên trực tiếp của phòng ở Trung ương là Cục, Vụ và các đơn vị tương đương tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi chung là cấp Bộ)
Cấp trên trực tiếp của phòng ở địa phương là Sở, Ban, UBND cấp huyện của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh)
Sơ đồ 1.1: Vị trí của cấp phòng trong hệ thống quản lý nhà nước về lao động,
thương binh và xã hội
Cấp phòng trong cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội bao gồm:
UBND CẤP HUYỆN
PHÒNG LAO ĐỘNG
- THƯƠNG BINH VÀ
XÃ HỘI
Trang 8- Cấp phòng trong cơ cấu tổ chức của các Vụ, Cục thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;
- Cấp phòng trong cơ cấu tổ chức của các Cục, Vụ, thuộc Tổng Cục dạy nghề
Ở địa phương, cấp phòng trong cơ cấu tổ chức Ngành Lao động - Thương binh
và Xã hội gồm: Các Phòng thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thuộc UBND cấp huyện
Sơ đồ 1.2: Cấp phòng trong Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Cần chú ý rằng, mặc dầu cùng là cấp phòng nhưng ở địa phương cấp phòng trên thực tế có vị thế khác với cấp phòng thuộc bộ máy quản lý trung ương Đó là vì trong hệ thống bộ máy quản lý nhà nước nói chung, về mặt chuyên môn, cấp trên trực tiếp của cấp phòng ở địa phương có vị thế thấp hơn cấp trên trực tiếp của phòng thuộc
cơ quan trung ương
2 Nhiệm vụ của cấp phòng trong lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhìn chung, cấp phòng thường có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
2.1 Dự thảo các dự án, đề án và các văn bản: Theo nhiệm vụ chuyên môn của mình và theo sự phân công của cấp trên trực tiếp, phòng có trách nhiệm dự thảo các
dự án, đề án, các văn bản pháp luật liên quan đến phạm vi quản lý của cơ quan, đơn
vị để cấp trên xem xét, trình lên các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH và XÃ HỘI
CÁC CỤC, VỤ
Phòng
TỔNG CỤC DẠY NGHỀ
CÁC CỤC, VỤ
Phòng
Trang 9Sơ đồ 1.3: Nhiệm vụ của cấp phòng thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
Nhiệm vụ đầu tiên này có ý nghĩa rất quan trọng Nó thể hiện chức năng tham mưu chuyên môn của cấp phòng rất rõ rệt, dù đó là ở trung ương hay ở địa phương
2.2 Xây dựng, trình thủ trưởng cơ quan ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện công tác chuyên môn theo quy định của pháp luật
2.3 Xây dựng, trình thủ trưởng cơ quan ban hành các quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, hàng năm thuộc lĩnh vực quản lý của phòng
2.4 Tổ chức thực hiện công tác chuyên môn của phòng: Đôn đốc, hướng dẫn, kiểm tra tình hình thực hiện lĩnh vực công tác do phòng quản lý Nếu là phòng thuộc
cơ quan trung ương thì phạm vi tổ chức công tác chuyên môn có thể diễn ra trên địa bàn cả nước, nhiều khi mang tính liên ngành Nhiệm vụ tác nghiệp thường gặp nhiều
ở các phòng thuộc cục, trong khi đó, các phòng thuộc vụ thì nhiệm vụ tham mưu là chủ yếu
2.5 Trực tiếp quản lý con người, cơ sở vật chất, tài chính được giao của phòng 2.6 Thực hiện các nhiệm vụ khác được giao theo sự phân công của lãnh đạo
cơ quan, đơn vị
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thuộc UBND cấp huyện được quy định tại Thông tư 37/2015/TTLT-BNV-BLĐTBXH, bao gồm:
- Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định, chỉ thị; quy hoạch,
kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước được giao
- Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sau khi được phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội được giao; theo dõi thi hành pháp luật
- Giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xã hội
- Hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy định đối với các cơ sở bảo trợ xã hội, nhà xã hội, cơ sở dạy nghề, tổ chức dịch vụ việc làm, cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ
Trình lãnh đạo Bộ phê duyệt theo thẩm quyền hoặc tiếp tục trình Chính phủ
Trang 10sở cai nghiện tự nguyện, cơ sở quản lý sau cai nghiện, cơ sở hỗ trợ nạn nhân, cơ sở trợ giúp trẻ em trên địa bàn huyện theo phân cấp, ủy quyền
- Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quản lý các công trình ghi công liệt sĩ
- Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực lao động, người có công và
xã hội đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn
- Phối hợp với các ngành, đoàn thể xây dựng phong trào toàn dân chăm sóc, giúp đỡ người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách xã hội
- Theo dõi, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội; giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, lãng phí theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện
- Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trên địa bàn
- Thực hiện công tác thông tin, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội
- Quản lý vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức, thực hiện chế độ tiền lương, chính sách, chế độ đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo và bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với công chức và người lao động thuộc phạm vi quản lý của Phòng theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện
- Quản lý và chịu trách nhiệm về tài chính, tài sản của Phòng theo quy định của pháp luật và theo phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Ủy ban nhân dân cấp huyện giao hoặc theo quy định của pháp luật
Tóm lại, có thể nói phòng Lao động -Thương binh và Xã hộitheo hệ thống tổ chức của cơ quan nhà nước ta hiện nay là một đơn vị chuyên môn có quyền hạn xác định và là một chủ thể biến đổi Lãnh đạo một tổ chức có các tính chất như vậy muốn
có hiệu quả tất nhiên phải có những kỹ năng cần thiết
II VẬN DỤNG KIẾN THỨC, KỸ NĂNG TRONG QUÁ TRÌNH LÃNH ĐẠO PHÒNG
1 Lãnh đạo cấp phòng với việc điều hành hoạt động của phòng
Về bản chất, lãnh đạo cấp phòng là người dẫn đầu nhóm làm việc, với tính chất công việc là quản lý để thực hiện mục tiêu do cấp trên giao
1.1 Xác định rõ mục tiêu của phòng
Việc này thường ít được quan tâm, nhưng trên thực tế lại là điều quan trọng nhất Có nhiều người quản lý phòng, nhất là ở các cơ quan trung ương, nhưng không biết phải làm gì để định hướng cho các phòng hoạt động, thậm chí cũng không nắm được hướng hoạt động chính của các phòng trong phạm vi mình quản lý là gì Thông
Trang 11trường hợp lãnh đạo cấp phòng bế tắc, gặp khó khăn trong hoạt động do nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau, thì quản lý cấp cao hơn, tức là người lãnh đạo trực tiếp đối với phòng, như Cục trưởng, Vụ trưởng,… (ở Trung ương); Giám đốc Sở, Ban cấp tỉnh và Chủ tịch UBND huyện phải là người giúp các lãnh đạo cấp phòng xác định rõ mục tiêu hoạt động Chú ý rằng, hầu hết những trường hợp làm việc không hiệu quả của các lãnh đạo cấp phòng đều có nguyên nhân chính là do không có hướng đi cụ thể cho phòng mình Trong khi đó, lãnh đạo trực tiếp của họ cũng không
có sự giúp đỡ cần thiết nào để phòng tìm ra hướng hoạt động thiết thực
1.2 Xác định rõ tiêu chí hoạt động của phòng
Quản lý cấp trên trực tiếp cũng cần phải định nghĩa thế nào là phòng hoạt động
"thành công" khi đã có mục tiêu được xác định Tiêu chí nào có thể dựa vào đó mà xem xét hiệu quả hoạt động của một phòng? Chẳng hạn, có thể là đạt 80% kế hoạch hay hoàn thành xuất sắc một công việc quan trọng nào đó trong mục tiêu chính, còn các mục tiêu còn lại chỉ cần đạt kết quả như năm trước? Hay tất cả các mục tiêu đều phải hoàn thành 100%? Tất cả phải được nêu rõ và trao đổi giữa lãnh đạo cơ quan quản lý và lãnh đạo cấp phòng trực thuộc Xác định rõ tiêu chí hoạt động "thành công" không chỉ khích lệ lãnh đạo cấp phòng phấn đấu tổ chức công việc được giao của phòng mà còn là định hướng để công chức trong phòng phấn đấu
1.3 Xác định rõ quan điểm đánh giá của cấp trên đối với lãnh đạo cấp phòng
Người lãnh đạo cấp trên, muốn khích lệ các lãnh đạo cấp phòng làm việc tốt thì điều quan trọng là phải thống nhất quan điểm đánh giá của mình Có nhiều cách đánh giá đối với cấp dưới nói chung, đánh giá lãnh đạo cấp phòng nói riêng, nhưng vấn đề là quan điểm đánh giá đã rõ ràng và phù hợp chưa? Đánh giá theo chức năng tham mưu hay theo chức năng tác nghiệp? Đánh giá thông qua mục tiêu của phòng được hoàn thành đến đâu hay đánh giá dựa vào năng lực của lãnh đạo cấp phòng khi thực hiện các mục tiêu đặc biệt, hoặc kết hợp tất cả các tiêu chí, Tối kỵ là đánh giá theo cảm tính, theo cảm tình cá nhân vì như thế sẽ làm thui chột động lực của lãnh đạo cấp phòng khi điều hành công việc được giao
1.4 Xây dựng hệ thống khuyến khích thích hợp, tạo điều kiện cho sự thăng tiến của nhân viên trong phòng
Ở rất nhiều nước, hiện nay hình thức bổ nhiệm có thời hạn đang được áp dụng
và điều đó đã khích lệ các công chức cấp dưới như lãnh đạo cấp phòng phấn đấu để khẳng định mình Đó cũng là biện pháp mà chúng ta nên làm Việc này có tác dụng kích thích rất lớn và tạo động lực làm việc mạnh mẽ cho công chức Ngoài ra, hệ thống kỷ luật cũng như đánh giá công chức phải gắn chặt chế tài với các hoạt động không hiệu quả Như thế tình trạng làm việc “vật vờ” có thể sẽ được khắc phục
1.5 Khích lệ bằng tinh thần đối với chuyên viên của phòng
Bên cạnh khuyến khích bằng vật chất đối với các chuyên viên, việc khích lệ bằng tinh thần là trách nhiệm quan trọng của lãnh đạo cấp phòng trong quản lý nhân viên và hoạt động Khích lệ thành công là sự kết hợp giữa tính khoa học và nghệ thuật làm việc với con người
Một số hình thức khích lệ bằng tinh thần thường vận dụng ở cấp phòng bao gồm:
Trang 12a) Biết khen ngợi và động viên kịp thời khi chuyên viên làm việc tích cực và
có kết quả Trong hoạt động quản lý, lời khen ngợi đúng lúc, đúng chỗ là liều thuốc tinh thần đối với đội ngũ chuyên viên trong phòng
b) Đánh giá khách quan, chính xác và công bằng về tư cách, năng lực và thành tích công tác của chuyên viên trong phòng Mục đích của việc đánh giá chính xác này nhằm: (1) cho thấy những cải tiến cần có trong phân công, phân nhiệm hay quy trình làm việc trong phòng; (2) chỉ ra được những yêu cầu về tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng năng lực làm việc của chuyên viên trong phòng
c) Quan tâm tới đời sống và gia đình của các thành viên trong phòng, bao gồm thăm hỏi, động viên nhau khi gia đình có việc vui, buồn, chia sẻ tình cảm chân thành với nhau
Làm tốt các hình thức khích lệ tinh thần nêu trên sẽ tạo được môi trường làm việc đoàn kết, tin cậy và bầu không khí lành mạnh trong phòng Môi trường làm việc tốt chính là cơ sở để các chuyên viên làm việc tích cực hơn, và gắn trách nhiệm cá nhân với tập thể
2 Kiến thức chuyên môn và các kiến thức cơ bản cần có của lãnh đạo cấp phòng
2.1 Kiến thức chuyên môn - kỹ thuật
Như đã trình bày ở trên, phòng là một đơn vị chuyên môn Chính vì vậy, để lãnh đạo phòng tốt không thể không có kiến thức chuyên môn liên quan đến nhiệm vụ quản lý hay tác nghiệp của phòng Mặc dù vậy, mức độ hiểu biết chuyên môn của lãnh đạo cấp phòng cũng tùy thuộc vào từng loại phòng Ví dụ lãnh đạo phòng Tổ chức nhân sự ở các cơ quan, đơn vị cần có kiến thức chuyên sâu về quản trị nhân sự như: Tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, phát triển, đánh giá… Lãnh đạo phòng Tài vụ cần
có sự hiểu biết về tài chính - kế toán, lãnh đạo phòng Lao động - Thương binh và Xã hội một huyện thì phải am hiểu về công tác quản lý ngành này, v.v
2.2 Kiến thức về khoa học quản lý
Tuy nhiên, kiến thức của một lãnh đạo cấp phòng cần thiết phải có sẽ không chỉ là các chuyên môn nghiệp vụ hay kỹ năng nghề nghiệp mang tính kỹ thuật như vừa nêu trên Bởi lẽ lãnh đạo cấp phòng còn phải làm công tác quản lý nên nhóm kiến thức thứ hai hết sức quan trọng đối với họ, đó là các hiểu biết về khoa học quản lý mà trước hết là lý thuyết và kỹ năng quản lý Ví dụ, họ phải có kiến thức về xây dựng kế hoạch chuyên môn và các loại kế hoạch liên quan đến phát triển tổ chức; kiến thức về phương pháp thiết kế và phân công công việc; hiểu biết về lý thuyết và kỹ thuật triển khai các công việc trong thực tế; về công tác kiểm tra, kiểm soát trong hoạt động quản lý; đặc biệt là các phương pháp lãnh đạo thông thường trong quản lý như: Phương pháp tình huống, phương pháp chức năng, phương pháp tiếp cận hệ thống…
sẽ rất cần thiết cho các lãnh đạo cấp phòng khi xem xét các vấn đề mà phòng phải giải quyết theo các yêu cầu khác nhau Ngoài ra, các phương pháp quản lý khác như phương pháp tổ chức, phương pháp vận động thuyết phục, phương pháp hành chính… cũng rất cần thiết cho hoạt động quản lý phòng Chúng ta có thể xem trên đây là hai nhóm kiến thức cần thiết cho một lãnh đạo cấp phòng và chúng luôn luôn
có tác động qua lại với nhau
Trang 13Sơ đồ 1.4: Mối quan hệ giữa kiến thức chuyên môn nghiệp vụ
và khoa học quản lý
2.3 Các kiến thức cơ bản khác
- Loại kiến thức cơ bản trước hết mà lãnh đạo cấp phòng phải có đó là kiến thức về chính trị, pháp luật, tâm lý, xã hội, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công vụ,
bộ máy nhà nước và các thể chế trong hoạt động của nó
- Tiếp theo là các kiến thức về môi trường hoạt động, về hội nhập, về sự phát triển của khoa học công nghệ, nhất là lĩnh vực liên quan đến chuyên môn của phòng
Sẽ là một hạn chế rất khó có thể chấp nhận, nếu một lãnh đạo cấp phòng trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như hiện nay mà không có hiểu biết về khoa học thông tin và khả năng ứng dụng của công nghệ thông tin trong thực tế, dù chí ít cũng là để đề xuất các dự án ứng dụng cho ngành mình quản lý
2.4 Những kỹ năng cơ bản của lãnh đạo cấp phòng
- Các kỹ năng tư duy, nhận thức và phân tích bối cảnh;
- Các kỹ năng quan hệ, làm việc nhóm và phối hợp công tác;
- Các kỹ năng giải quyết vấn đề;
- Các kỹ năng gây ảnh hưởng
3.Phát triển năng lực tư duy và quan hệ con người
Vì là người đứng đầu một nhóm người làm việc trong một tổ chức, lãnh đạo cấp phòng phải có kỹ năng làm việc với con người Lãnh đạo cấp phòng phải là người
có đủ nhạy cảm đối với những nhu cầu và động cơ của những người khác trong tổ chức của mình Trong quá trình điều hành công việc, lãnh đạo cấp phòng phải luôn tính đến nhận thức và thái độ của những công chức thuộc phòng mình để dễ dàng đồng cảm với họ và tập hợp họ
3.1 Kỹ năng tư duy, nhận thức
Kỹ năng này thể hiện ở khả năng thấy được bức tranh khái quát, nhận ra được những nhân tố chính trong mỗi hoàn cảnh, bao gồm khả năng bao quát phòng mình như một tổng thể và thừa nhận các bộ phận khác nhau của tổ chức mình luôn phụ
LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG
Kiến thức
về khoa học quản lý
Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ
Trang 14thuộc lẫn nhau Những thay đổi trong một nhóm bất kỳ nào của phòng đều ảnh hưởng đến tất cả các nhóm khác
Kỹ năng tư duy, nhận thức được tạo bởi những yếu tố cơ bản sau:
- Quan sát: Nhận biết một cách khách quan những điều đang diễn ra, hoặc những sự việc diễn ra giữa các tình huống
- Trí tuệ, tư duy: Nhận dạng, khai thác và sử dụng nhiều ý tưởng, tập quán khác nhau, tư duy logic và sáng tạo mà không chịu ảnh hưởng thái quá của những thiên vị và định kiến cá nhân; Có khả năng tư duy độc lập trong thực thi nhiệm vụ một cách hiệu quả, đúng theo quy định và sáng tạo để phù hợp với thực tiễn
- Tầm nhìn: Dự đoán những xu thế và hình dung những tương lai có thể xảy ra
3.2 Kỹ năng quan hệ con người
Kỹ năng quan hệ với những người khác hay kỹ năng con người thể hiện ở khả năng làm việc với con người, khả năng hợp tác, động viên, tạo môi trường làm việc cho tập thể và là một thành viên tích cực của tập thể
Kỹ năng con người là khả năng của lãnh đạo phòng trong việc quản lý một cách có hiệu quả với tư cách là một thành viên của phòng Trong khi kỹ năng chuyên môn đề cập đến khả năng làm việc với "các đồ vật" (các chu trình hay các đối tượng vật chất) thì kỹ năng con người đề cập đến khả năng làm việc với mọi người Kỹ năng con người phát triển cao là khi lãnh đạo cấp phòng nhận thức được những thái
độ và niềm tin của chính mình đối với các cá nhân khác hay đối với các nhóm; anh ta
có khả năng thấy được tính hữu ích và những hạn chế của các cảm giác này
Bằng cách chấp nhận sự tồn tại của những quan điểm, những nhận thức và những niềm tin khác với những quan điểm, nhận thức và niềm tin của mình, kỹ năng con người cho phép lãnh đạo cấp phòng có đủ nhạy cảm đối với những nhu cầu và động cơ của những người khác trong tổ chức, hiểu được những cái mà cấp dưới mong muốn và những việc cấp dưới không muốn làm; tạo cho người dưới quyền cảm thấy
tự do trong việc biểu lộ bản thân mà không sợ bị khiển trách hoặc chế nhạo, khuyến khích họ tham gia vào việc lập kế hoạch và tiến hành những công việc có ảnh hưởng trực tiếp đến họ
Trang 15Khả năng làm việc với những người khác phải trở thành một hoạt động tự nhiên, liên tục, vì rằng nó đòi hỏi tính nhạy cảm không chỉ ở thời điểm ra quyết định
mà còn cả trong hành vi ứng xử hàng ngày của cá nhân Kỹ năng con người không thể là "một thứ đôi khi thỉnh thoảng" mà nó phải được phát triển một cách tự nhiên và
vô thức, cũng như phải phù hợp, phô diễn trong những hành vi cá nhân Nó phải trở thành một bộ phận cấu thành của toàn bộ bản chất (nhân cách) của lãnh đạo cấp phòng
Làm gì để phát triển kỹ năng làm việc với con người, kỹ năng quản lý? Đó chính là phát triển các yếu tố xúc cảm (EQ) trong mỗi lãnh đạo phòng
Các cấp chịu trách nhiệm điều hành thấp hơn, kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng con người là yêu cầu có tính nguyên tắc Lên những cấp cao hơn, kỹ năng kỹ thuật trở nên tương đối ít quan trọng hơn, trong khi cần thiết phải có kỹ năng nhận thức tăng lên nhanh chóng Chính vì vậy, lãnh đạo cấp thấp (cấp phòng) phải rèn chuyên môn thật vững và người có thẩm quyền không nên luân chuyển (nếu cần phải chuyển) họ tới những vị trí mà công việc không phù hợp với chuyên môn mà họ được đào tạo
4 Kỹ năng triển khai các hoạt động của lãnh đạo cấp phòng
4.1 Lập chương trình kế hoạch cho công việc
Để triển khai công việc của phòng, nhiệm vụ quan trọng đầu tiên của lãnh đạo cấp phòng là phải thiết lập các chương trình kế hoạch công tác cho phòng Kế hoạch
là công cụ quan trọng hướng dẫn người quản lý sử dụng đúng đắn các nguồn lực của phòng nhằm hoàn thành các mục tiêu đề ra Nó liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu phấn đấu chung của công chức, nhân viên trong phòng Kế hoạch cũng là cơ sở
để phòng thiết lập các mối quan hệ cần thiết khi triển khai công việc, làm cơ sở cho công tác kiểm tra về sau Lập kế hoạch là hướng tới tương lai và hạn chế sự bất định trong hoạt động của phòng Có nhiều loại kế hoạch mà phòng cần thiết lập và mỗi loại đều có những chức năng cụ thể như kế hoạch ngắn hạn, kế hoạch dài hạn, kế hoạch của lãnh đạo, của nhân viên, kế hoạch các hoạt động chuyên đề, kế hoạch về một công việc cụ thể Điều cần quan tâm khi thiết lập chương trình, kế hoạch, không
phân biệt loại nào, là phải xác định trọng tâm rõ ràng cho mỗi chương trình, kế hoạch
và phải giải thích được sự lựa chọn đó một cách có căn cứ Kế hoạch cần xây dựng theo định hướng kết quả Trong mỗi bản kế hoạch các mục tiêu đề ra đều phải được giải trình cụ thể; Đồng thời phải thiết lập được sự cân bằng trong quá trình thực hiện chương trình, kế hoạch công việc đã đề ra Xây dựng kế hoạch tốt thì hoạt động của lãnh đạo cấp phòng sẽ có nhiều thuận lợi trong các nhiệm vụ tiếp theo
4.2 Thiết kế và phân công công việc
Phải gắn với yêu cầu về vị trí việc làm theo tinh thần Nghị định
36/2013/NĐ-CP của Chính phủ Đây là quá trình dựa vào mục tiêu đã đề ra theo kế hoạch mà xây dựng các nhiệm vụ cụ thể nhằm thực hiện mục tiêu đó
Yêu cầu đặt ra cho nhiệm vụ thiết kế công việc:
- Công việc được thiết kế phù hợp với mục tiêu hoạt động của phòng và của cơ quan mà phòng trực thuộc;
- Nội dung công việc phải rõ ràng, cụ thể để xác định trách nhiệm và thuận lợi khi triển khai;
Trang 16- Dự báo được khả năng tác động của công việc đối với sự phát triển chung của tổ chức, và rộng lớn hơn, đối với đời sống xã hội;
- Tạo ra khả năng sáng tạo cho công chức khi giải quyết công việc;
- Tạo được khả năng hợp tác giữa các thành viên và với các đơn vị liên quan;
- Có khả năng kiểm tra việc thi hành công việc một cách thuận lợi
Như vậy, thiết kế công việc là nhiệm vụ không hề đơn giản đối với bất cứ nhà quản lý nào, trong đó có các lãnh đạo cấp phòng đang được nói đến ở đây Nhiệm vụ này nếu không làm tốt thì hiệu quả điều hành hoạt động của phòng chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng
Sau khi công việc được thiết kế một cách phù hợp, lãnh đạo phòng sẽ thực hiện việc phân công cho các công chức đảm nhiệm triển khai cụ thể Việc phân công
có thể căn cứ vào chuyên môn, vào vị trí pháp lý, vào yêu cầu thời gian hoàn thành nhiệm vụ để bố trí nguồn lực cho hợp lý
4.3 Triển khai công việc: Quá trình này thường bao gồm các bước sau:
a) Bước 1: Thực hiện việc phân tích công việc dự định triển khai
Mục tiêu hướng tới của bước này là:
- Xác định thuận lợi và khó khăn đối với quá trình hoàn thành công việc;
- Xác định cách đánh giá kết quả công việc hợp lý (sẽ đánh giá như thế nào? Tiêu chuẩn nào?);
- Lựa chọn công chức hợp lý và sắp xếp họ vào những vị trí cần thiết khi triển khai công việc;
- Xác định nguồn lực tài chính và các nguồn lực cần thiết khác
- Dự báo trước kết quả công việc để xác định yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng công chức theo yêu cầu công việc
b) Bước 2: Chọn và xây dựng quy trình, thủ tục triển khai
Các nội dung cụ thể ở đây là:
- Về chọn và xây dựng quy trình triển khai công việc:
+ Yêu cầu: Khoa học, hệ thống, có tính thực tế;
+ Nội dung:
* Mô tả các bước giải quyết công việc;
* Xác định phương án giải quyết;
* Xác định các bước thực hiện cụ thể;
* Đề xuất cách kiểm tra cho mỗi bước và cho toàn bộ công việc
- Về thủ tục:
+ Yêu cầu: Đơn giản, rõ ràng, khoa học, phù hợp với công việc;
+ Chỉ rõ các loại thủ tục phải thực hiện (quan hệ, giấy tờ, chuyên môn )
Trang 17Sơ đồ 1.5: Thiết kế và triển khai một công việc của lãnh đạo cấp phòng
Nguồn: Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính, 2013
c) Bước 3: Triển khai giải quyết công việc
Trong quá trình triển khai công việc, sự linh hoạt của lãnh đạo cấp phòng là rất quan trọng Tính cứng nhắc rất có thể làm hỏng công việc Tuy nhiên, việc triển khai công việc vẫn phải tuân thủ một số nguyên tắc nhất định Những nguyên tắc đó là:
- Mệnh lệnh triển khai phải thống nhất, thực tế, được truyền đạt kịp thời và chính xác cho những người thực hiện Nếu mệnh lệnh điều hành của lãnh đạo cấp phòng được cấp dưới hiểu một cách đầy đủ, chính xác thì chắc chắn chúng sẽ mất ít thời gian để hoàn thành hơn so với các mệnh lệnh chỉ được truyền đạt qua loa, sơ sài;
- Thực hiện sự phối hợp để huy động tiềm lực chung của đơn vị;
- Phải bảo đảm sự hài hòa về lợi ích trong khuôn khổ mục tiêu chung;
- Thực hiện chế độ uỷ quyền hợp lý;
- Tránh vi phạm thẩm quyền do luật định
Để triển khai hiệu quả công việc cần chú ý bảo đảm các điều kiện dưới đây:
- Mục tiêu công việc được nhận thức rõ ràng;
- Mọi người nhất trí với mục tiêu đề ra;
- Mỗi cá nhân tham gia công việc đều có sự nỗ lực cần thiết;
- Lãnh đạo cấp phòng chỉ ra được “đường đi nước bước” rõ ràng;
- Kiểm soát lộ trình chặt chẽ;
- Có sự phối hợp đồng bộ
Kế hoạch Thiết kế công việc
Phân công thực hiện
Lựa chọn quy trình, thủ tục
Triển khai cụ thể Điều chỉnh
Thuận lợi, khó khăn
Cách thức đánh giá
Yêu cầu thực hiện
Các nguồn lực
Dự báo kết quả
Trang 18d) Bước 4: Điều chỉnh mục tiêu công việc
Bước này chỉ diễn ra khi công việc triển khai gặp khó khăn và mục tiêu đặt ra không có khả năng thực tế để hoàn thành Sau khi mục tiêu công việc bắt buộc phải điều chỉnh, người lãnh đạo cấp phòng sẽ phải quay lại với nhiệm vụ phân tích công việc và chọn lại quy trình, phân công lại công chức khi cần thiết
4.4 Kiểm tra hoạt động của phòng
Kiểm tra là công việc đo lường và điều chỉnh các hoạt động của phòng để bảo đảm rằng những hoạt động đó là phù hợp với chương trình kế hoạch đã đề ra Khi so sánh việc thực hiện các nhiệm vụ với các mục tiêu, chương trình, kế hoạch của phòng, việc kiểm tra sẽ cho phép chỉ ra những tồn tại, những sai lệch cần chấn chỉnh
để thực hiệm mục tiêu chung của phòng V I Lê Nin từng nói rằng, không kiểm tra coi như không quản lý Đây là quá trình theo dõi việc triển khai công việc trong thực
tế được thực hiện song song với quá trình triển khai công việc Mục tiêu chính là làm cho quá trình tổ chức công việc được vận hành đúng hướng
a) Nguyên tắc của việc kiểm tra
- Khách quan;
- Kịp thời;
- Hướng về việc để kiểm tra;
- Hướng tới tương lai;
- Trách nhiệm cụ thể
b) Nội dung kiểm tra
- Kiểm tra việc sử dụng ngân sách được giao cho công việc;
- Kiểm tra việc sử dụng và bố trí nhân lực cho công việc;
- Kiểm tra các thiết bị và phương tiện phục vụ cho triển khai công việc;
- Kiểm tra quá trình giải quyết công việc theo kế hoạch đã thông qua
Dĩ nhiên là muốn làm tốt nhiệm vụ này lãnh đạo cấp phòng cần có người (bộ phận) giúp việc, thậm chí có thể thiết lập bộ máy khi cần thiết theo một cơ chế cho phép
Làm tốt nhiệm vụ kiểm tra là lãnh đạo cấp phòng đã thực hiện tốt một trong những chức năng quan trọng của người điều hành Đây cũng là thước đo kiểm chứng khả năng điều hành tốt hay không của người lãnh đạo trong thực tế
III LÃNH ĐẠO CẤP PHÒNG VỚI VIỆC XÂY DỰNG VĂN HÓA CÔNG SỞ
1 Khái niệm văn hóa công sở
Điều hành tốt sẽ từng bước tạo được văn hóa tốt cho đơn vị mình Trong hoạt
động của các công sở, các cơ quan và tổ chức nhà nước người ta gọi đây là văn hóa
công sở Có nhiều ý kiến về định nghĩa văn hóa công sở nhưng trong tài liệu này, văn
hóa công sở được định nghĩa là: “Văn hoá công sở là một hệ thống giá trị phản ảnh
Trang 19sự đúng đắn, tính nhân bản, nét đẹp được hình thành trong quá trình hoạt động của
công sở”.
2 Tầm quan trọng của văn hóa công sở
Văn hoá công sở tạo nên niềm tin, thái độ của công chức, công chức làm việc trong công sở Nó có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả điều hành công sở và sự phát triển bền vững của công sở Xây dựng văn hóa phòng tức là xây dựng văn hóa công
sở của đơn vị cơ quan nói chung và ở đây vai trò của người lãnh đạo cấp phòng là rất quan trọng
3 Vai trò của lãnh đạo phòng trong xây dựng và thực hiện văn hóa công sở
Muốn xây dựng được một đơn vị có văn hóa riêng của mình người điều hành phải thấu hiểu các biểu hiện của văn hóa trong đơn vị mình và rộng hơn là trong công
sở mà đơn vị mình là một thành viên Những biểu hiện rất đa dạng và nhiều khi rất cụ thể, gắn liền với các hành vi của từng thành viên trong công sở Có thể liệt kê một số biểu hiện cụ thể như sau:
- Mức độ tự giác và sự đoàn kết trong công việc;
- Năng lực hoàn thành nhiệm vụ của các thành viên và của cả đơn vị;
- Cách thức chỉ huy của lãnh đạo cấp phòng;
- Phương tiện làm việc;
- Hiệu quả công việc đạt được trong thực tế khi thực hiện các mục tiêu chung;
- Quy chế làm việc và mức độ tuân thủ quy chế của công chức, nhân viên;
- Lề lối làm việc;
- Truyền thống của đơn vị;
- Thái độ trách nhiệm trước công việc chung;
- Mức độ của bầu không khí trong đơn vị;
- Các chuẩn mực để đánh giá công việc;
- Cách sử dụng tiềm lực của cơ quan, đơn vị;
- Cách giải quyết các xung đột nội bộ;
- Thái độ, cách ứng xử trong quan hệ với công dân v.v
Như thế, có thể thấy rằng để xây dựng văn hóa cho đơn vị mình người quản lý như lãnh đạo cấp phòng cần xử lý nhiều yếu tố khác nhau Đó là một quá trình đòi hỏi phải kiên trì, có thời gian tương xứng và sự nỗ lực chung của toàn đơn vị Và tất nhiên, trong quá trình đó người lãnh đạo cấp phòng, hơn ai hết phải say mê với công việc chung và phải rất sáng tạo, gắn bó với tổ chức của mình Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã nói: “Nghề gì cũng vậy, nếu mình không ham thích thì đừng có gắng rán sành ra mỡ” Quản lý là một nghề, lại càng phải hiểu triết lý đó Nếu làm được, tức là xây dựng thành công văn hóa của đơn vị thì lợi ích của nó mang lại sẽ rất lớn với một tác dụng lâu bền
Trang 20CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Trình bày vị trí và vai trò của lãnh đạo cấp phòng nói chung và tại cơ quan/đơn vị nói riêng trong Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội?
2.Phân tích chức năng, nhiệm vụ của bản thân với tư cách là lãnh đạo cấp phòng thuộc Ngành Lao động - Thương binh và Xã hội?
3.Chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn về vận dụng kiến thức và kỹ năng quản lý và lãnh đạo tại cấp phòng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Business Egde (2007) Thiết lập và sử dụng quyền lực để quản lý hiệu quả
hơn Nhà xuất bản Trẻ (sách dịch)
2 Harold Koontz, Cyril O”Donnell, Heinz Weihrich (1993) Những vấn đề
cốt yếu của quản lý Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
3 Hội đồng Anh (1998) Pháp luật và sự quản lý của Nhà nước Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia
4 Luật Công chức, công chức năm 2008
5 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2001
6 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND năm 2003
7 Luật Viên chức năm 2010
8 Nghị định 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức
9 Nghị định 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập
10 Nguyễn Văn Thâm (2003) Tổ chức điều hành hoạt động của các công sở
Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia
11 Noriyuki Sasaki (2012) Nhà quản lý tài năng Nhà xuất bản Tổng hợp TP
Hồ Chí Minh
12 Peter F Drucker và Jim Collins (2010) Năm câu hỏi quan trọng nhất đối
với mọi tổ chức Nhà xuất bản Trẻ
13 Tracy B (2006) Để hiệu quả trong công việc Tp Hồ Chí Minh: Nhà xuất
bản Trẻ
14 Trường bồi dưỡng cán bộ tài chính (2013) Tài liệu đào tạo, bồi dưỡng lãnh
đạo cấp phòng Hà Nội
Trang 211 Mục đích cập nhật và áp dụng pháp luật trong công tác
Đời sống xã hội luôn có sự biến động, đặc biệt trong xã hội hiện đại Pháp luật
ra đời đề điều chỉnh các quan hệ xã hội nên nó cũng luôn phải có sự thích ứng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của sự thay đổi đó Việc cập nhật pháp luật vì vậy cũng phải được tiến hành thường xuyên với các mục đích:
- Thứ nhất, mục đích chung là để các chủ thể cũng như đối tượng điều chỉnh của pháp luật kịp thời nắm bắt các chính sách pháp luật để có sự thích ứng cần thiết, qua đó nhận thức các đồi hỏi của nhà nước, của đời sống xã hội nói chung, đồng thời nâng cao nhận thức về yêu cầu của công tác, làm chuyển biến nhận thức cũng như thái độ đối với việc thực hiện pháp luật;
- Thứ hai, mục đích cụ thể và trực tiếp là để các cán bộ, công chức của ngành
có thể áp dụng các quy định mới của pháp luật, đặc biệt những quy định của pháp luật trong lĩnh vực chuyên môn của ngành vào công việc chuyên môn trực tiếp, vừa để ra soát lại các quy định trước để có sự điều chỉnh kịp thời trong lĩnh vực mình Tùy theo từng chủ thể và đối tượng cần điều chỉnh cụ thể mà việc cập nhật các quy định mới của pháp luật sẽ có những mục tiêu riêng
2 Xác định một số luật và văn bản pháp luật mới liên quan tới công tác của lãnh đạo cấp phòng
Trong thời gian gần đây, hoạt động xây dựng và ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật diễn ra rất tích cực, trên rất nhiều phương diện, đặc biệt trong đó
có thể kể đến sự ra đời của Hiến pháp năm 2013 với rất nhiều thay đổi về tư duy pháp
lý, về vai trò của pháp luật, về đòi hỏi việc thực hiện pháp luật trên thực tế gắn với việc đề cao quyền con người và bảo đảm quyền con người Trong lĩnh vực lao động, chính sách với người có công với cách mạng và xã hội hiện nay, các văn bản pháp luật được ban hành rất phong phú, vừa để sửa đổi, vừa để bỏ sung vừa để hướng dẫn chi tiết các văn bản pháp luật quan trọng mà Quốc hội ban hành Ví dụ: Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã được Quốc hội khoá XIII thông qua ngày 18/6/2012, bắt đầu có hiệu lực từ 1/5/2013 Bộ luật Lao động (sửa đổi) gồm 17 chương, 242 điều, tặng 19 điều so với Bộ luật Lao động hiện hành (223 điều) Bộ luật Lao động (sửa đổi) đã đưa
ra những quy định cụ thể hơn và bảo vệ lợi ích cho người lao động nhiều hơn Ngoài
ra còn có các văn bản quan trọng cần được cập nhật để áp dụng chủ yếu (Xem phụ lục 2.1)
Các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu được cập nhật bao gồm các loại văn bản: Luật (hoặc nghị quyết) do Quốc hội ban hành, các nghị định do Chính phủ ban hành Các thông tư của Bộ Lao động, thương binh và xã hội và các Thông tư liên tịch
đi kèm với các văn bản trên để hướng dẫn hoặc quy định chi tiết được xác định theo các văn bản nói trên Hiện nay ở Việt Nam, trong các Luật hoặc Nghị định thường có
Trang 22các quy định chung chưa quy định chi tiết hoặc cách áp dung trưc tiếp, do vậy trong các điều khoản chung đó thường trao cho các chủ thể có thẩm quyền (như Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao… trong phạm vị thẩm quyền có trách nhiệm hướng dẫn hoặc quy định chi tiết…) để tổ chức thực hiện luật hoặc nghị định… Đây chính là gợi ý định hướng để cập nhật các văn bản hướng dẫn kèm theo Do vậy, trong chuyên đề này chủ yếu định hướng cập nhật văn bản do Quốc hội và Chính phủ ban hành
Đối với Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, các văn bản này tập trung ở 3 lĩnh vực là: Công ăn việc làm, chính sách đối với người có công và các vấn đề về an sinh xã hội Thông thường, các cơ quan quản lý thường tập hợp hóa văn bản theo từng nhóm nội dung này cho thuận lợi trong việc tra cứu hay viện dẫn khi áp dụng trong thực tế
II NGUYÊN TẮC, YÊU CẦU KHI CẬP NHẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT
Nguyên tắc là những tư tưởng hay quan điểm chỉ đạo, xuyên suốt trong tổ chức, hoạt động của quá trình nào đó nhằm đảm bảo cho quá trình đó diễn ra một cách đồng bộ, thống nhất, hiệu quả để thỏa mãn những yêu cầu nhất định Nguyên tắc cập nhật và áp dụng pháp luật là các quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đối với quá trình các chủ thể pháp luật tiếp cận, tìm hiểu và áp dụng pháp luật vào cuộc sống, đảm bảo cho việc nhận thức, thực hiện và áp dụng pháp luật đúng đắn, thống nhất và có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu của việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Giống như các hoạt động quản lý nhà nước nói chung ở các bộ hay ngành khác, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cũng phải sử dụng pháp luật để điều hành và quản lý các đối tượng của mình nhưng chỉ trong phạm vi ba lĩnh vực nêu trên Tùy theo yêu cầu công việc mà các trưởng phòng cấp vụ thuộc Bộ, phòng ở cấp sở và phòng ở cấp huyện lại
có những hướng cập nhật khác nhau, trong đó, cấp phòng thuộc vụ thường phải cập nhật văn bản theo một lĩnh vực chuyên môn sâu, trong khi phòng ở các huyên lại phải cập nhật đa lĩnh vực Tuy nhiên, dù ở oại hình cấp phòng nào thì việc cập nhật văn bản quy phạm pháp luật cũng vẫn phải thuân theo các nguyên tắc chung cơ bản sau:
1.Nguyên tắc cập nhật pháp luật
a Nguyên tắc thường xuyên
Cuộc sống không bao giờ dừng lại và điều đó cũng có nghĩa là các quan hệ xã hội cũng luôn vận động, phát triển Pháp luật là một yếu tố thuộc kiến trúc thượng tầng và nó chịu sự chi phối của các điều kiện kinh tế - xã hội Nói cách khác thì pháp luật chịu sự quy định của cơ sở hạ tầng Nếu pháp luật là công cụ chủ yếu và quan trọng nhất trong việc điều chỉnh quan hệ xã hội hiện đại thì khi các quan hệ xã hội thay đổi thì pháp luật cũng thay đổi theo Nguyên tắc thường xuyên khi cập nhật và
áp dụng pháp luật là quan điểm chỉ đạo đối với các hoạt động này với nội dung là các chủ thể sử dụng và các đối tượng thuộc sự điều chỉnh của pháp luật luôn phải tự đặt mình vào quá trình điều chỉnh của pháp luật, thường trực tiếp nhận pháp luật để thực hiện pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là các chủ thể và đối tượng này cũng luôn phải vận động cùng các quá trình xã hội và sự thay đổi của pháp luật và các chủ thể cũng như đối tượng này sẽ chuyển các quy định pháp luật vào đời sống, chứng tỏ sự hiện diện của pháp luật và sức mạnh của pháp luật trong đời sống xã hội cùng với nhà nước
Trang 23Đối với các lĩnh vực quản lý nhà nước thuộc Bộ Lao động, Thương binh và xã hội, do có phạm vi điều chỉnh rất rộng lại có nhiều biến động nên việc quán triệt nguyên tắc này cần đươc chú ý
b Nguyên tắc kịp thời
Nguyên tắc này cùng nguyên tắc thường xuyên giúp cho các chủ thể áp dụng
và đối tượng tiếp nhận và chịu sự điều chỉnh của pháp luật luôn vận động cùng sự vận động của pháp luật cũng như yêu cầu của cuộc sống Sự biến động của các quá trình kinh tế - xã hội cũng như yếu tố thời đại luôn đặt con người vào các quá trình đó như một yếu tố của chính nó Pháp luật càng hiện đại thì nó càng trở nên hoàn thiện trên tất cả các phương diện nội dung, hình thức, nguồn, kỹ thuật Các nguồn luật cung cấp các căn cứ để áp dụng pháp luật cũng luôn được bổ sung Xã hội càng hiện đại thì các nguồn luật càng trở nên phong phú, đa dạng trên nhiều lĩnh vực Việc tuân theo nguyên tắc này chính là hoạt động của các chủ thể áp dụng và các đối tượng tiếp nhận pháp luật phải linh hoạt, chủ động trong việc tìm tới các nguồn luật đó Bản thân pháp luật không tự nó đến với xã hội mà cần có người tiếp nhận và chuyển hóa nó thông qua các hoạt động cụ thể Nhà cầm quyền nào cũng muốn đưa pháp luật vào cuộc sống càng nhanh càng tốt để áp đặt ý chí của nhà nước, nhà cầm quyền Từ nhà nước cai trị chuyển dần sang nhà nước quản lý và nhà nước phục vụ, ngày nay nhà nước đã tạo ra cơ sở pháp lý để các chủ thể biết giới hạn hành vi trong các xử sự của mình và qua đó đảm bảo cho các chủ thể được tự do trong phạm vi mình có thể và nghĩa vụ mình phải đáp ứng tương ứng với các quyền đó Do vậy, những gì pháp luật quy định
sẽ làm cho các quyền của con người được thực hiện một cách hiệu quả nhất Việc nắm bắt kịp thời các quy định của pháp luật vừa là một đòi hỏi vừa là một bảo đảm cho pháp luật được thức hiện đúng, đồng thời cũng mang lại những lợi ích thiết thực cho các chủ thể pháp luật cũng như đối tượng tiếp nhận nó Sự kịp thời theo yêu cầu của nguyên tắc này không chỉ nằm ở chỗ tiếp nhận các quy định mới mà nó còn được thể hiện ở việc loại trừ những yếu tố đã lỗi thời, hết hiệu lực để tránh việc áp dụng pháp luật không còn phù hợp cả về thực tế và về mặt pháp lý
Đối tượng quản lý trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội rất phong phú và cũng rất phức tạp, có nhiều biến động nên pháp luật trong lĩnh vực này cũng có nhiều văn bản thường xuyên được ban hành để kịp thời điều chỉnh sự biến động đó Do vậy, cũng có nhiều văn bản sẽ bị sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế Việc cập nhật văn bản kịp thời có ý nghĩa quan trọng để đảm bảo các hoạt động quản lý, chỉ đạo và điều hành đáp ứng được đòi hỏi của cuộc sống, tránh được tình trạng bỏ sót các căn cứ pháp lý mới khi viện dẫn để áp dụng
c.Nguyên tắc đồng bộ
Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự chung nên nó là một tổng thể có
sự thống nhất Ưu thế của pháp luật nằm ở chỗ nó có phạm vi tác động rộng nhất, với mọi đối tượng với sự bảo đảm của nhà nước Điều đó làm cho pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội một cách trực tiếp và có hiệu quả Nhưng điều đó chỉ thực sự xảy
ra khi các chủ thể sử dụng và các đối tượng tiếp nhận nó ý thức điều này một cách toàn diện, thống nhất Nguyên tắc này đòi hỏi sự cập nhật pháp luật phải quan tâm đến tất cả các quy định của pháp luật hiện hành Trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có một quy định nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật là nếu xảy ra sự mâu thuẫn giữa các văn bản khi quy định về một vấn đề thì
Trang 24áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn và khi các văn bản do cùng một chủ thể ban hành mà có quy định khác nhau thì áp dụng văn bản có hiệu lực mới nhất Nguyên tắc đồng bộ khi cập nhật và áp dụng pháp luật là quan điểm cụ thể hóa nguyên tắc chung đó Đối với ĩnh vực quản lý nhà nước mà Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, khối lượng văn bản quy phạm pháp luật là rất lớn, nguy cơ chồng chéo, mâu thuẫn rất dễ xảy ra nên việc quán triệt nguyên tắc này càng trở nên cần thiết Tuân thủ nguyên tắc này là đòi hỏi bắt buộc đối với các chủ thể áp dụng cũng như đối tượng tiếp nhận, qua đó giúp cho việc thực hiện và áp dụng pháp luật trở nên thống nhất Nguyên tắc này cũng giúp cho việc rà soát để phát hiện sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa các quy định trong pháp luật để loại bỏ chúng và làm cho pháp luật (ít nhất là trong từng lĩnh vực) trở nên thống nhất
2.Nguyên tắc áp dụng pháp luật
a.Nguyên tắc pháp chế
Pháp chế là một đòi hỏi của xã hội dân chủ đối với mọi chủ thể pháp luật trong việc tôn trọng và thực hiện pháp luật hiện hành một cách chính xác, nghiêm chỉnh, đầy đủ và kịp thời, không có ngoại lệ hay biệt lệ vô nguyên tắc
Nguyên tắc pháp chế có các đòi hỏi của nó là tính tối cao của Hiến pháp phải được tôn trọng, pháp luật phải được nhận thức và thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn xã hội, pháp luật hiện hành phải được thực hiện trên thực tế và việc thực hiện, giám sát việc thực hiện pháp luật cũng như việc xử lý vi phạm pháp luật phải được thực hiện một cách thường xuyên, tích cực, công bằng Vì vậy, khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền phải dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật để thực hiện theo yêu cầu “khi thi hành công vụ, các công chức, viên chức nhà nước chỉ được làm và phải làm những gì pháp luật quy định” Đòi hỏi này giúp cho việc hạn chế và
đi đến loại bỏ trình trạng lạm quyên, lộng quyền cũng như thói vô trách nhiệm của các chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật và cũng là để đáp ứng yêu cầu của nhà nước pháp quyền khi nhà nước phải chịu sự ràng buộc của pháp luật
Trong các hoạt động quản lý nhà nước liên quan nhiều đến chính sách như chính sách lao động, việc làm, chính sách với người có công, chính sách an sinh xã hội rất dễ nảy sinh tình trạng “vận dụng linh hoạt” các quy định của pháp luật để tạo
ra những biệt lệ vô nguyên tắc như thực tế đã xảy ra Điều đó làm cho pháp luật không phát huy được vai trò của mình trong cuộc sống, làm giảm lòng tin của xã hội đối với ngành
b.Nguyên tắc khách quan
Nguyên tắc khách quan đòi hỏi các chủ thể áp dụng pháp luật phải xuất phát từ chính thực tế để tiến hành các hoạt động của mình, không được áp đặt ý chí chủ quan của mình và suy diễn các tình huống thực tế vào các quá trình áp dụng pháp luật Nguyên tắc này đòi hỏi các chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật phải xuất phát từ mục đích của chính các quy định của pháp luật và các đòi hỏi của chính đời sống xã hội trên cơ sở nhân danh nhà nước chứ không thể nhân danh cá nhân để hoạt động Các chủ thể áp dụng pháp luật phải là người lấy mục tiêu phục vụ xã hội, phục vụ công dân và phải “chí công, vô tư” và phải thực sự trung thực trong các hoạt động của mình
Trang 25c.Nguyên tắc công bằng
Xã hội ngày càng phát triển thì các giá trị tiến bộ càng có điều kiện được thực thi Một trong những giá trị đó chính là công bằng Pháp luật là một đại lượng để đánh giá và đảm bảo cho các giá trị đó Nguyên tắc này đòi hỏi mọi chủ thể đều được đối xử như nhau trong những điều kiện giống nhau Họ đều có quyền và nghĩa vụ giống nhau, có cơ hội như nhau Vì vậy, nguyên tắc công bằng đòi hỏi khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền không được phân biệt về bất cứ phương diện gì giữa các đối tượng được hoặc bị áp dụng pháp luật, bất cứ chủ thể nào cũng được tạo điều kiện tối đa để thực hiện các quyền cũng như có bảo đảm tốt nhất để họ thực hiện nghĩa vụ của mình Nguyên tắc này giúp cho xã hội nói chung và các đối tượng được hoặc bị áp dụng pháp luật có niềm tin vào nhà nước, vào chế độ và vào chính các chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật
Trong lĩnh vực quản lý nhà nước mà Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đảm trách có rất nhiều vấn đề “nhạy cảm” liên quan trực tiếp đến cuộc sống của rất nhiều đối tượng khác nhau, trong đó chế độ chính sách liên quan đến cơm, áo, gạo, tiền Do vậy, việc đề cao nguyên tắc công bằng đảm bảo cho các đối tượng được thụ hưởng chính sách một cách xứng đáng, không bỏ sót, không đươc để tình trạng bất công, sao cho phương châm “người có công thì được thưởng” để động viên, khuyến khích được người tích cực, người cần được giúp đỡ sẽ đươc hưởng thụ chính sách nhân đạo tốt đẹp của chế độ xã hội mới từ những quy định của pháp luật đem lại
3.Các yêu cầu khi cập nhật pháp luật
a.Nguồn thông tin pháp luật cập nhật phải tin cậy
Hiện nay, các phương tiện truyền thông phát triển đặc biệt nhanh với các nguồn thông tin rất đa dạng, nhiều chiều nhưng chất lượng thông tin cũng có sự chênh lệch giữa các nguồn cung cấp Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có quy định về việc bắt buộc các chủ thể phải công bố các văn bản quy phạm mà mình
đã ban hành trừ trường hợp phải bảo vệ bí mật nhà nước Quy định này giúp cho việc công khai ý chí của nhà nước, qua đó pháp luật được các chủ thể áp dụng cũng như đối tượng điều chỉnh của pháp luật biết đến một cách thống nhất, chính xác Do vậy, khi cập nhật thông tin về pháp luật, cần phải xác định các văn bản quy phạm nào thì
do ai có trách nhiệm công bố, công bố theo thể thức nào mà pháp luật đã quy định Hiện nay, các hình thức công bố văn bản quy phạm pháp luật chính thức được xác định theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật một cách cụ thể, trực tiếp Các văn bản quy phạm pháp luật không được công bố công khai - trừ trường hợp để bảo
vệ bí mật nhà nước - thì không có giá trị pháp lý Do vậy, khi cập nhật pháp luật, các chủ thể và đối tượng tiếp nhận phải dựa vào các quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật để xác định nguồn chính thức (xem Điều 78, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008)
b Bảo đảm tính hệ thống khi cập nhật pháp luật
Pháp luật là một thể thống nhất của các quy pham, các chế định pháp luật cũng như ngành luật và được thể hiện ở những hình thức hay nguồn nhất định Khi cập nhật pháp luật, cần phải xem xét chúng trong một tổng thể có mối liên hệ mật thiết với nhau Các bộ phận của pháp luật thường có sự gắn kết với nhau, không tách rời Thông thường, khi có một văn bản quy phạm pháp luật mới, nhất là khi chúng có hiệu
Trang 26lực pháp lý cao như luật hoặc pháp lệnh thì bao giờ cũng có các văn bản hướng dẫn hoặc quy định chi tiết được ban hành kèm theo Các văn bản này có thể được ban hành cùng với văn bản được hướng dẫn nhưng thường được ban hành sau một thời gian nhất định Không những vậy, trong các quy định của văn bản được hướng dẫn thường xác định các chủ thể có thẩm quyền quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành ngay sau các điều khoản Đó là những cơ sở để chủ thể áp dụng hoặc đối tượng cập nhật cần biết để định hướng khi cập nhật các quy định của pháp luật Ngoài ra cũng cần chú ý khi quy định đến một vấn đề nào đó, văn bản hoặc quy định này có thể dẫn chiếu đến văn bản hay quy định kia Hiện nay, Bộ Tư pháp đang chủ trì chương trình pháp điển văn bản quy phạm pháp luật, qua đó tập hợp tất cả các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiêu lực theo những nhóm và trật tự nhất định, qua đó để rà soát sự mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định hay giữa các văn bản quy phạm pháp luật với nhau để loại bỏ Khi chương trình pháp điển này được triển khai, điều kiện cập nhật hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các quy phạm sẽ trở nên thuận lợi hơn rất nhiều, đảm bảo được tính đồng bộ Tuy nhiên, đây là hoạt động cực
kỳ phức tạp cần sự cộng tác của rất nhiều cơ quan chuyên môn cũng như các chuyên gia để tập hợp, rà soát và xử lý trong thời gian tương đối dài Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tham gia với tư cách là một cơ quan chuyên môn vào quá trình pháp điển văn bản này nên cũng có điều kiện để thực hiện các yêu cầu của cập nhật thông tin một cách tốt nhất và cũng có điều kiện rà soát lại các văn bản mà mình ban hành
4 Các yêu cầu khi áp dụng pháp luật
- Khi áp dụng pháp luật, việc tuân theo nguyên tắc pháp chế
Đây là một đòi hỏi bắt buộc đối với tất cả các chủ thể tiến hành áp dụng cũng như các chủ thể thực hiện pháp luật nói chung Như đã phân tích ở nguyên tắc pháp chế nêu trên, việc áp dụng pháp luật phải đáp ứng được tất cả các yêu cầu của pháp chế, trong đó phải đảm bảo cho Hiến pháp có vị trí tối cao trong hệ thống pháp luật Các hoạt động áp dụng pháp luật phải coi Hiến pháp là nguồn pháp luật quan trong nhất Không được áp dụng văn bản nào trái Hiến pháp, các quyết định áp dung pháp luật được ban hành trái với đòi hỏi này đương nhiên là vô hiệu và phải hủy bỏ Điều này cũng được xác định tương tự khi áp dụng luật vì các văn bản luật là sự tiếp nối của Hiến pháp khi quy định cụ thể các nguyên tắc hiến định Nếu áp dụng pháp luật theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật thì chắc chắn sẽ tạo ra đươc tính thống nhất khi áp dụng pháp luật
- Trong quá trình viện dẫn các văn bản quy phạm pháp luật khi áp dụng pháp luật, cần xác định được tính hợp pháp và hợp lý của các quy định Điều này đảm bảo
cho các quyết định áp dụng vừa phù hợp với pháp luật lại vừa có tính khả thi cao, vừa khẳng đinh được tính nghiêm minh của pháp luật, vừa thể hiện tính phù hợp của pháp luật gắn với tinh thần nhân đạo, nhân văn, công bằng pháp luật Tuy nhiên, trên thực
tế có những trường hợp các quy định của pháp luật không hợp lý cho nên chủ thể áp dụng pháp luật không biết nên làm như thế nào, thậm chí còn chống lại pháp luật bằng cách đưa ra cách giải quyết trái với các nguyên tắc chung của pháp luật Khi đó, tính thống nhất của pháp luật bị phá vỡ vì mỗi người khi thực hiện pháp luật đều tự cho mình có quyền làm điều mình cho là hợp lý nên sẽ có sự rối loạn Chính vì vậy, việc thực hiện các quy định hiện hành của pháp luật là hoàn toàn cần thiết Nếu phát
Trang 27thể kiến nghị và đi đến sửa đổi cho phù hợp ở các hoạt động xây dựng pháp luật tiếp theo mà không được tự ý giải quyết theo cách riêng của chủ thể áp dụng
- Bảo đảm tính đúng đắn, chính xác khi áp dụng pháp luật cũng là một đòi hỏi bắt buộc khi áp dụng pháp luật
Trong các điều kiện khác nhau, không gian và đối đượng điều chỉnh khác nhau, pháp luật vẫn luôn được là tiêu chuẩn duy nhất đúng được coi làm căn cứ pháp
lý cho các hoạt động xã hội Áp dụng pháp luật là sự cá biệt hóa các quy định của pháp luật vào từng trường hợp cụ thể, có thể tạo ra các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các đối tượng được áp dụng nhưng cũng có thể tạo ra các biện pháp trách nhiệm pháp
lý trực tiếp xác định hậu quả pháp lý bất lợi cho đối tượng bị áp dụng Pháp luật sẽ không thể hiện được sự nghiêm minh, không thực hiện được lẽ công bằng nếu nó không được thực hiện đúng dắn, chính xác Nói cách khác thì pháp luật sẽ không thực hiện được cả ba chức năng điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục khi không đảm bảo được yêu cầu này Điều này cũng có nghĩa là khi áp dụng pháp luật thì không được bỏ sót, không được làm oan vì hậu quả của việc làm sai này là rất lớn Nó liên quan đến niềm tin của công dân, của xã hội đối với nhà nước, với pháp luật và những người thực thi pháp luật Do vậy, việc đối xử công bằng, không có ngoại lệ hay biệt lệ vô nguyên tắc trở nên đặc biệt có ý nghĩa, đặc biệt đối với việc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực quản lý nhà nước mà Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đảm nhiệm
- Bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức là một đòi hỏi bắt buộc trong xã hội hiện đại
Nhà nước pháp quyền là nhà nước chăm lo, bảo đảm cho quyền và tự do của con người một cách cao nhất dựa trên cơ sở của pháp luật Các công chức và nhân viên công lực được nhà nước trao quyền để thi hành công vụ Khuynh hướng lạm quyền, lộng quyền, tùy tiện của nhân viên nhà nước rất dễ xảy ra và ảnh hưởng đến quyền và các lợi ích hợp pháp của con người, của công dân, của các tổ chức… và có tính phổ biến ở hầu hết các nhà nước trong lịch sử khi được trao quyền như vậy Việc thừa nhận, đề cao vai trò của pháp luật gắn với yêu cầu của nhà nước pháp quyền vừa
để hạn chế tình trạng tiêu cực này, vừa để đảm bảo cho các quyền và lợi ích hợp pháp của con người, của công dân, tổ chức được tôn trọng và thực hiện Hiến pháp 2013 ra đời là một sự khẳng định đanh thép về quyền con người cũng như trách nhiệm của nhà nước đối việc bảo vệ, bảo đảm quyền con người
Xã hội hiện đại chỉ thực sự trở nên ổn định và được bảo đảm nếu như các vi phạm pháp luật được kiểm soát Tuy nhiên, vì nhiều lý do mà nó vẫn xảy ra Để hạn chế được hiện tượng tiêu cực này, việc phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm pháp luật là một đòi hỏi thường xuyên mà các chủ thể có trách nhiệm khi áp dụng pháp luật phải thực hiện một cách tích cực
III QUI TRÌNH ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG CÔNG TÁC
Bước 1: Phân tích tình huống công việc
Trong áp dụng pháp luật, đây là giai đoạn thứ nhất, xác định căn cứ thực tế để
áp dụng pháp luật Nó là bước rất quan trọng, xác định cơ sở đầu tiên cung cấp căn cứ thực tế cho việc cá biệt hóa các quy định chung vào từng trường hợp cụ thể Phân tích tình huống công việc là việc xem xét các căn cứ thực tế đã xảy ra làm cơ sở cho việc
ra các quyết định cần thiết khi áp dụng pháp luật Muốn vậy, chủ thể áp dụng pháp
Trang 28luật phải thu thập các tình tiết, chứng cứ một cách đầy đủ, nghiên cứu hoàn cảnh, điều kiện đã xảy ra, từ đó đánh giá về những gì đã xảy ra trên thực tế để xác định đặc trưng pháp lý của vụ việc cần áp dụng pháp luật Hoạt động này cần thái độ khách quan, sự vào cuộc tích cực, nhanh chóng và chính xác của chủ thể tiến hành với yêu cầu đảm bảo sự toàn diện, bao quát về các tình tiết cũng như nội dung của vụ việc cần
áp dụng và chúng được triển khai càng sớm, càng tốt Chúng cũng cần được tiến hành theo những trình tự, thủ tục cần thiết tương ứng với mỗi loại vụ việc cần áp dụng pháp luật Trong trường hợp cần thiết, có thể phải sử dụng các biện pháp chuyên sâu như giám định, thực nghiệm hiện trường… Chúng phải được lập biên bản ghi nhận các sự kiện, tình tiết hay bằng chứng cụ thể, kịp thời làm cơ sở để đánh giá và ra quyết định áp dụng pháp luật sau này Khi có được thông tin đầy đủ, chi tiết và khách quan, chủ thể tiến hành áp dụng pháp luật cần xác định được lĩnh vực cần áp dụng pháp luật được ngành luật nào điều chỉnh, qua đó định hướng tìm nguồn cho việc áp dụng pháp luật
Bước 2: Lựa chọn quy phạm pháp luật
Trong áp dụng pháp luật, đây là khâu rất phức tạp cần được thực hiện một cách công phu, cần sự chuyên nghiệp trong các hoạt động của chủ thể áp dụng pháp luật và được gọi là giai đoạn xác định căn cứ pháp lý để áp dụng pháp luật Như đã phân tích ở trên, việc xác định các nguồn chứa đựng căn cứ pháp lý để giải quyết một
vụ việc ngày càng trở nên phong phú, đa dạng và có thể nằm ở những loại nguồn khác nhau Việc xác định loại nguồn nào phải dựa trên cơ sở của đặc trưng pháp lý của vụ việc đã được xác định từ viêc xem xét, đánh giá của giai đoạn trước, từ đó xác định vụ việc cần áp dụng pháp luật thuộc lĩnh vực nào, đươcc ngành luật nào điều chỉnh Sau đó, cần phải xác định các nguồn chứa đựng căn cứ pháp lý Hiện nay có ba loại nguồn pháp luật chủ yếu là tập quán pháp, tiền lệ pháp (chủ yếu là án lệ) và văn bản quy phạm pháp luật, trong đó văn bản quy phạm pháp luật có nhiều ưu thế về số lượng, về tính chất, phạm vi tác động cũng như tính xác định cụ thể và tính công khai nên nó thường được ưu tiên viện dẫn khi áp dụng Tuy nhiên, pháp luật cũng lường trước các tình huống xảy ra mà pháp luật chưa dự liệu được hết nên nếu pháp luật không quy định thì áp dụng tập quán, nếu không có tập quán thì áp dụng tương tự pháp luật như quy định tại Bộ luật dân sự hiện hành Tuy nhiên, nếu theo quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015 mới được Quốc hội khóa 13 thông qua tháng 11 vừa rồi (sẽ có hiệu lực tư 01/01/2017), thì có thể áp dụng cả án lệ và các nguyên tắc pháp
lý để giải quyết Trường hợp pháp luật có quy định nhưng có mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật thì phải xem nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đã được quy định (xem lại phần các nguyên tắc cập nhật văn bản quy phạm pháp luật ở trên) Trường hợp áp dụng hiệu lực hồi tố (hiệu lực trở về trước) của văn bản quy phạm pháp luật thì cần xác định có đủ điều kiện hay không (phải được pháp luật quy định và không được gây ra tình trạng bất lợi cho đối tượng bị áp dụng) Khi đã thỏa mãn các yêu cầu này, chủ thể sẽ lựa chọn quy phạm tương ứng và phù hợp với
vụ việc làm căn cứ pháp lý và làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng, ý nghĩa của quy phạm được lựa chọn đó gắn với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở thời điểm
áp dụng
Trang 29Bước 3: Ra quyết định áp dụng pháp luật
Đây là bước đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong áp dụng pháp luật Việc áp dụng pháp luật đúng hay sai, có chất lượng hay không trực tiếp phụ thuộc vào khâu này vì nó vừa có thể khắc phục được những hạn chế của các bước trước nhưng cũng có thể làm sai lệch những kết quả của các công đoạn đó Hình thức của các quyết định áp dụng pháp luật thường được thể hiện dưới dạng là văn bản áp dụng pháp luật Các chủ thể ra văn bản quyết định áp dụng pháp luật phải đảm bảo các yêu cầu về tính hợp pháp như chủ thể ban hành phải có thẩm quyền, các căn cứ viện dẫn phải phù hợp với vụ việc, thể thức văn bản, trình tự, thủ tục ban hành phải theo quy định của pháp luật; nội dung của văn bản phải đày đủ, rõ ràng, chính xác; có tính khả thi, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế và việc ra văn bản phải có ý nghĩa thực tế… để khi triển khai bước tiếp theo sẽ thuận lợi hơn
Bước 4: Tổ chức thực hiện quyết định
Đây là khâu khép kín quá trình áp dụng pháp luật, khẳng định ý nghĩa của sự cần thiết phải áp dụng pháp luật trong trường cụ thể Việc tổ chức thực hiện trên thực
tế các quyết định áp dụng pháp luật vừa khẳng định sức mạnh của pháp luật trên thực
tế, vừa thể hiện tính nghiêm minh, công bằng của nhà nước và các chủ thể áp dụng pháp luật Giai đoạn này cần có những đảm bảo về nhân lực, vật lực, kỹ thuật được đầu tư tương ứng với yêu cầu của việc điều chỉnh pháp luật qua hoạt động áp dụng pháp luật Các quyết định áp dụng pháp luật cần phải được giao trực tiếp cho đối tượng được hoặc bị áp dụng cũng như chủ thể có thẩm quyền tổ chức việc thực hiện cưỡng chế đối với các đối tượng Trong trường hợp cần thiết, phải giao cho chủ thể giải thích pháp luật để làm rõ nội dung của các quyết định này đảm bảo cho việc thực thi chính xác
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Anh (chị) hiểu như thế nào về nguyên tắc “khi áp dụng pháp luật, các chủ thể có thẩm quyền chỉ được làm và phải làm những gì pháp luật quy định”? Vận dụng điều đó như thế nào vào việc điều hành hoat động của cơ quan (phòng) mình phụ trách?
2 Tại sao phải quán triệt nguyên tắc thường xuyên và kịp thời khi cập nhật văn bản quy phạm pháp luật? Vận dụng nguyên tắc này như thế nào trong việc cập nhật văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi mình quản lý?
3 Phân tích nguyên tắc lựa chọn quy phạm pháp luật khi áp dụng pháp luật? Anh (chị) đã có kinh nghiệm thực tế gì về việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật khi xảy ra trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề?
4 Vận dụng những hiểu biết của mình, anh (chị) hãy xác định căn cứ pháp lý
để giải quyết một số tình huống sau:
Tình huống 1
Trần B là kỹ sư điện, làm việc tại công ty M đóng trên địa bàn tỉnh Bình Dương Trước khi ký hợp đồng lao động, hai bên thỏa thuận thử việc trong thời gian
Trang 30là 90 ngày, từ ngày 1/9/2013 đến 30/11/2013 Hết thời gian thử việc, mặc dù công ty
M không ký hợp đồng lao động chính thức nhưng B vẫn đi làm và được giao công việc bình thường
Do những khó khăn trong hoạt động kinh doanh, tháng 5/2014 công ty M sáp nhập với công ty X Sau khi hoàn tất thủ tục sáp nhập, công ty X tiến hành sắp xếp lại nhân sự Khi rà soát các hợp đồng lao động, công ty X phát hiện B không ký hợp đồng lao động nên ngày 5/6/2014 công ty X triệu tập B đến và thông báo B nghỉ việc
từ ngày 6/6/2014
Hỏi:
1 Hợp đồng thử việc giữa Trần B và công ty M có hợp pháp không? Tại sao?
2 Việc chấm dứt của Công ty X đối với Trần B đúng hay sai? Tại sao?
3 Theo quy định hiện hành, quyền lợi của B được giải quyết như thế nào?
Tình huống 2
Công ty N có trụ sở chính đóng tại quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 5/2008 giám đốc công ty ký Hhợp đồng lao động không xác định thời hạn với
Lê A, công việc là cán bộ kỹ thuật dự án Trong thời gian thực hiện hợp đồng, ngày
15/8/2013 A xin tạm hoãn 6 tháng để đi chữa bệnh ở nước ngoài
Hết thời hạn tạm hoãn, A quay trở lại làm việc, giám đốc dự án không bố trí được công việc cho A bởi lý do trong thời gian A tạm hoãn công ty đã có thỏa thuận thay đổi về quy trình sản xuất sản phẩm với đối tác của dự án Giám đốc dự án đề xuất A
chủ động đi học nghề để tiếp tục làm việc nhưng A không đồng ý
Ngày 25/2/2014, giám đốc công ty N ra quyết định chuyển A làm công việc cũ tại chi nhánh của công ty ở tỉnh Bình Dương Sau 2 tuần làm việc tại Bình Dương, A nhận thấy những khó khăn tại chỗ làm mới nên tỏ thái độ không hợp tác, thường xuyên đi làm muộn Trong tháng 4/2014, A đã tự ý nghỉ việc không lý do 8 ngày
Ngày 15/5/2014 giám đốc công ty N ra quyết định sa thải A
3 Để bảo vệ quyền lợi của mình, A có thể gửi đơn đến cơ quan, tổ chức nào?
4 Giả sử khi sa thải K, công ty không thanh toán trợ cấp thôi việc cho K thì có hợp pháp không? Tại sao?
Tình huống 3
Anh Minh vào làm việc tại công ty Y (Công ty 100% vốn nước ngoài) có trụ
sở tại quận I, Thành phố Hồ Chí Minh với hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ tháng 1/2008
Trang 31Ngày 10/7/2014, công ty tiến hành họp xử lý kỷ luật anh Minh vì lý do anh đã tiết lộ bí mật kinh doanh của công ty Anh Minh có tham dự phiên họp nhưng giữa buổi họp anh đã bỏ về vì bất đồng quan điểm với giám đốc công ty Tuy nhiên, cuộc họp vẫn được tiến hành theo thủ tục pháp luật quy định
Ngày 12/7/2014, Giám đốc công ty Y đã ra Quyết định số 24/QĐ sa thải anh Minh nhưng không trao đổi với Ban chấp hành công đoàn cơ sở Quyết định có hiệu lực từ ngày 15/7/2014 Ngày 25/7/2014, anh Minh đã làm đơn gửi đến tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu giải quyết tranh chấp
Hỏi:
1 Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có thụ lý đơn khởi kiện của anh Minh không? Tại sao?
2 Thời điểm xác định thời hiệu khởi kiện của anh Minh là ngày nào?
3 Quyết định sa thải của công ty đối với anh Minh là đúng hay sai? Tại sao?
4 Giả sử trong quá trình làm việc tại công ty Y, anh Minh được công ty cử đi học ở nước ngoài với cam kết sau khi học xong sẽ về làm việc cho công ty 5 năm Nhưng mới làm được 2 năm thì anh Minh đã bị công ty kỷ luật sa thải Trong trường hợp đó anh Minh có phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty Y không? Tại sao?
Tình huống 4
Trần Anh B làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn tại công
ty X từ năm 2005 Ngày 15/4/2013, Trần Anh B gửi đơn xin thôi việc tới giám đốc công ty X với lý do: Công ty trả lương cho anh quá thấp, không bảo đảm đời sống cho bản thân anh Vì vậy anh xin chấm dứt hợp đồng lao động để đi làm việc ở nơi khác
Giám đốc công ty X cho rằng: lý do xin thôi việc của B không chính đáng nên
đã không chấp nhận và hứa sẽ tăng 15% lương cho anh kể từ ngày 1/5/2013
Ngày 10/6/2013, giám đốc công ty X lại nhận được thông báo của Trần Anh B với nội dung B sẽ chấm dứt hợp đồng lao động kể từ ngày 17/6/2013 cho dù giám đốc có đồng ý hay không
Sau đó, Trần Anh B chính thức nghỉ việc từ ngày 17/6/2013 Khi làm thủ tục thanh toán, Trần Anh B được công ty X trả lương đến hết 5/2013 Anh B cho rằng công ty X không bảo đảm đầy đủ các quyền lợi cho mình nên đã làm đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động
Hỏi:
1 Việc chấm dứt hợp đồng lao động của Trần Anh B đúng hay sai? Tại sao?
2 Hãy xác định các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp lao động nói trên?
3 Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, anh/chị hãy giải quyết quyền lợi cho anh B?
Trang 32TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Lê Minh Tâm và Nguyễn Minh Đoan (đồng chủ biên) (2013) Giáo trình lý
luận về nhà nước và pháp luật Đại học Luật Hà Nội Nhà xuất bản Công An
2 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, số 80/2015/QH13
Trang 33PHỤ LỤC 2.1
Danh mục các văn bản quy phạm pháp luật
1 Luật bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13, ngày 20/11/2014 của Quốc hội
2 Nghị định số 05/ 2015/NĐ-CP, ngày 12/01/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ Luật Lao động
3 Nghị định số 09/2015/NĐ-CP , ngày 22/1/2015 của Chính phủ Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và trợ cấp hang tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc
4 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, ngày 12/3/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành 1 số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp
5 Nghị định số 41/2013/NĐ-CP,ngày 8/5/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành điều 220của bộ Luật lao động về Danh mục đơn vị sử dụng lao động không được đình công và giải quyết yêu cầu của tập thể lao động ở đơn vị sử dụng lao động không được đình công
6 Nghị định số 44/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành 1 số điều của bộ Luật lao động về hợp đồng lao động
7 Nghị định số 46/2013/NĐ-CP, ngày 10/5/2015của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành 1 số điều của bộ Luật lao động về tranh chấp lao động
8 Nghị quyết số 93/2015/QH13, ngày 22/6/2015 của Quốc hội về việc thực hiện chính sách hưởng bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động
9 Nghị định số 05/2014/NĐ-CP, ngày 17/1/2014 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
10 Nghị định số 55/2013/NĐ-CP, ngày 22/5/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hànhkhoản 3 điều 54 của bộ Luật lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động
11 Nghị định số 49/2013/NĐ-CP, ngày 14/5/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành 1 số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương
12 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP, ngày 10/5/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành 1 số điều của bộ Luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn laođộng, vệ sinh lao động
13 Nghị định số 60/2013/NĐ-CP, ngày 19/6/2013 của Chính phủ Quy định chi tiết khoản 3 điều 63 của bộ Luật lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc
14 Nghị định số 73/2013/NĐ-CP , ngày 15/7/2013 của Chính phủ Điều chỉnh lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hàng tháng đối với cán bộ xã đã nghỉ việc
15 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP , ngày 22/8/2013 của Chính phủ Quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng
Trang 3416 Nghị định số 153/2013/NĐ-CP, ngày 08/11/2013 của Chính phủ Sửa đổi,
bổ sung 1 số điều của Nghị định 68/2007/NĐ-CP ngày 19/4/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành 1 số điều của Luật BHXH và BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân
Trang 35Chuyên đề 3 KIẾN THỨC, KỸ NĂNG QUẢN LÝ VÀ LÃNH ĐẠO CỦA CẤP PHÒNG
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ VÀ LÃNH ĐẠO
1 Khái niệm “quản lý”, “lãnh đạo”
1.1 Khái niệm “quản lý”
Quản lý là khái niệm rộng về diện và phức tạp về nội hàm Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý
Ví dụ: “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua những người khác” (Follett, 1930)
“Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức, sử dụng các nguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu của tổ chức” (Stoner, Freeman và Gillet, 1995)
Nhìn chung, quản lý có liên quan tới việc đạt được các mục tiêu của tổ chức Quản lý có nghĩa là lên kế hoạch, tổ chức, trao đổi, kiểm soát và đánh giá; là giải quyết các xung đột trong quá trình thực hiện nhằm đạt mục tiêu Về một phương diện nào đó, quy trình quản lý cũng tương tự như qui trình sản xuất ra dịch vụ, hàng hóa,
thể hiện trong sơ đồ dưới đây:
Sơ đồ 3.1: Qui trình sản xuất
Tác động (Impacts)
Quản lý còn là tác động tương hỗ của chủ thể và đối tượng quản lý Để duy trì được năng suất người lao động, các điều kiện làm việc tối ưu, tận dụng tối đa các nguồn lực; thông qua các qui trình, kỹ thuật, công đoạn quản lý nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu của tổ chức; đồng thời quản lý cũng bao gồm việc dự đoán các vấn
đề và giải quyết được các vấn đề đó
Như vậy, có thể sử dụng khái niệm quản lý sau đây: “Quản lý là ngành khoa
học, nghệ thuật và một nghề nhằm huy động tất cả các nguồn lực (nhất là nguồn nhân lực), thông qua các quy trình, kỹ thuật, tác động có chủ đích, hướng tới việc đạt được mục tiêu chung của tổ chức” (Lê Văn Tập, 2011; Nguyễn Khắc Hùng, 2015)
Qui trình, công nghệ, kỹ thuật, … (throughputs) Nguồn lực đầu vào
(con người, vật tư,
kinh phí,…) (Inputs)
Sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ đầu
ra (Outputs)
Trang 36Sơ đồ 3.2: Các thành tố trong quản lý
Các chức năng cơ bản của quản lý (theo Follett, 1930) là:
- Lập kế hoạch;
- Tổ chức;
- Lãnh đạo, chỉ đạo;
- Phối hợp và kiểm tra
Ngoài ra, còn có một cách quan niệm nữa khá phổ biến về các chức năng quản
lý là POSDCORB liên quan tới việc đạt mục tiêu của tổ chức
1.1 Khái niệm “lãnh đạo”
Có rất nhiều khái niệm về lãnh đạo, tuỳ thuộc vào mỗi tác giả nhìn chúng từ góc độ nào hoặc căn cứ vào đối tượng nào
Ví dụ: “Lãnh đạo là quá trình ảnh hưởng tới những hoạt động của nhóm có tổ chức để đạt tới mục tiêu” (Rauch, C.F.& Behling,O, 1984);
“Lãnh đạo là cư xử của một cá nhân khi anh ta chỉ đạo các hoạt động của nhóm để đạt tới những mục tiêu chung” (Hemphill, J K., and Coons, A.E, 1957)
Những khái niệm này về lãnh đạo luôn có điểm chung là nó bao hàm sự tương tác giữa hai hay nhiều người, nó bao gồm quá trình ảnh hưởng khi sự ảnh hưởng có mục đích được thực hiện bởi người lãnh đạo với người dưới quyền
Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, có thể cho rằng: “Lãnh đạo là quá trình gây
ảnh hưởng và tác động tới con người và tổ chức; là đưa ra những chủ trương, phương hướng phát triển tổ chức; nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội đặt ra
Chủ thể
Đối tượng
Phương pháp, quy trình
Công
cụ, kỹ
Trang 37trong một giai đoạn, phù hợp với yêu cầu và điều kiện trong các giai đoạn phát triển của tổ chức”
1.1 Phân biệt “quản lý” và “lãnh đạo”
Ở phương Tây có tác giả cho rằng “Người lãnh đạo là người ảnh hưởng tới sự
tích cực, nhiệt tình của người dưới quyền, còn người quản lý là người chủ yếu thực hiện trách nhiệm vị trí của anh ta”; tại Việt Nam, trong điều kiện cụ thể, có thể thấy:
“Người lãnh đạo là người vừa định hướng, đặt mục tiêu, vừa là người thực hiện,
không có việc nào là riêng của người lãnh đạo, việc nào là riêng của người quản lý,
có nghĩa là: Họ vừa là người lãnh đạo, vừa là người quản lý”
Bảng 3.1: Sự tương đồng giữa quản lý và lãnh đạo Tiêu chí
Nguồn gốc Nhu cầu phân công và phối hợp
Mục tiêu Cộng lực vì mục tiêu chung
Bản chất Đạt được mục tiêu thông qua người khác
Đối tượng Mức độ tham gia, cam kết và cống hiện của các đối tượng
Kết quả đầu ra Hiệu quả và đạo đức
Thách thức Nguy cơ chống đối sự thay đổi và lợi ích cá nhân
Nguy cơ Sử dụng quyền lực không đúng cách
Tuy nhiên, người ta phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý dựa trên một số cơ sở sau:
- Nếu xét về mặt đối tượng thì đối tượng của quản lý có thể là đồ vật, con vật
và con người Song đối tượng của lãnh đạo thì chỉ là con người;
- Nếu xét về mặt chức năng thì quản lý là sự gìn giữ và phát triển thông qua
quá trình: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều phối (định hướng) và kiểm soát; còn
lãnh đạo là sự điều khiển hoạt động chung và điều chỉnh các mối quan hệ trong
nhóm, liên quan đến sự thay đổi, truyền cảm hứng, tạo động cơ và gây ảnh hưởng;
- Xét về mặt phương pháp thì người quản lý chủ yếu dùng phương pháp hành chính để điều hành, tuy nhiên họ vẫn dùng cả phương pháp thuyết phục và giáo dục; còn người lãnh đạo chủ yếu bằng phương pháp thuyết phục và giáo dục
Quản lý:
- Giữ cho hệ thống tổ chức hoạt động trơn tru;
- Dự báo và ra lệnh;
- Đạt kết quả công việc theo mục tiêu;
- Các mục tiêu: Lập kế hoạch và dự trù ngân sách, kiểm soát và giải quyết vấn đề;
- Con người: Tổ chức và bố trí nhân sự;
- Văn hoá: Sống cùng (củng cố, phát triển nó)
Trang 38Lãnh đạo:
- Phát triển tổ chức và xác định tương lai cho tổ chức;
- Tạo ra sự thay đổi để phát triển tổ chức theo mục tiêu;
- Các mục tiêu: Thiết lập phương hướng, tạo động cơ và gây cảm hứng;
- Con người: Liên kết con người;
- Văn hoá: Tạo ra văn hoá
Như vậy, lãnh đạo là một năng lực, một nhiệm vụ, không phải là chức vụ
Bảng 3.2: Khác biệt giữa người quản lý và người lãnh đạo
1 Làm việc theo đúng cách Làm đúng công việc
2 Xác định được các mục tiêu Có tầm nhìn, xác định được viễn cảnh
3 Chỉ đạo và kiểm soát cấp dưới Gây cảm hứng và tạo cam kết
4 Thực hiện quyền lực (từ trên xuống dưới) Thực hiện ảnh hưởng (chiều dọc và chiều ngang)
6 Tập trung vào việc duy trì, phát triển Tập trung vào sự thay đổi
2 Tầm quan trọng của công tác quản lý, lãnh đạo
Người lãnh đạo là người đứng đầu, là người hướng dẫn, chỉ huy một cơ quan,
tổ chức, đơn vị Người lãnh đạo là người có khả năng dẫn dắt, chỉ huy và hướng dẫn những người khác trong phạm vi và trách nhiệm của mình Để làm được việc này, ngoài khả năng và kiến thức tốt, người lãnh đạo còn cần hội đủ những đức tính cần thiết và nghệ thuật lãnh đạo một cách khôn khéo để đem lại thành công và kết quả tốt đẹp cho cơ quan, tổ chức, đơn vị, tập thể mà mình chịu trách nhiệm lãnh đạo (Bộ Nội
vụ, Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, 2011)
3 Các phương pháp quản lý, lãnh đạo chủ yếu
3.1 Phương pháp giáo dục, vận động, tuyên truyền
Phương pháp giáo dục là cách tác động vào nhận thức và tình cảm của con người trong hệ thống nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình lao động của họ trong
việc thực hiện nhiệm vụ
Phương pháp giáo dục có ý nghĩa lớn trong quản lý vì đối tượng quản lý là con người Tác động vào con người không chỉ có hành chính, kinh tế, mà còn có tác động tinh thần, tâm lý - xã hội,…
Phương pháp giáo dục dựa trên cơ sở vận dụng các qui luật tâm lý, lấy thuyết
Trang 39Phương pháp giáo dục được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác một cách uyển chuyển, linh hoạt, nhẹ nhàng, sâu sát Đây là một trong những bí quyết thành công của nhiều nhà lãnh đạo
3.2 Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là tác động dựa vào các mối quan hệ tổ chức của hệ
thống quản lý Bất kỳ một hệ thống quản lý nào cũng hình thành mối quan hệ tổ chức trong hệ thống Phương pháp hành chính trong quản lý chính là cách thức tác động trực tiếp của người lãnh đạo đối với cấp dưới và nhân viên bằng các quyết định mang tính bắt buộc, đòi hỏi mọi người phải chấp hành một cách nghiêm ngặt, nếu vi phạm
sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng
Phương pháp hành chính đóng vai trò quan trọng và quyết định trong quản lý,
nó xác lập trật tự, kỷ cương làm việc trong hệ thống; khâu nối các phương pháp quản
lý khác lại thành một hệ thống; nhanh chóng giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý
Phương pháp hành chính tác động vào đối tượng quản lý theo hai hướng: tác động về mặt tổ chức và tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý
Theo hướng tác động về mặt tổ chức, người quản lý ban hành các văn bản qui định về quy mô, cơ cấu, điều lệ hoạt động, tiêu chuẩn nhằm thiết lậptổ chứcvà xác định những mối quan hệ hoạt động trong nội bộ Theo hướng tác động điều chỉnh hành động của đối tượng quản lý, người quản lý đưa ra các chỉ thị, mệnh lệnh hành chính bắt buộc cấp dưới thực hiện những nhiệm vụ, nhằm bảo đảm các bộ phận của
hệ thống hoạt động ăn khớp, nhịp nhàng và đúng hướng, uốn nắn và khắc phục những rủi ro, lệch lạc có thể xảy ra Đó là hai mặt tác động của phương pháp hành chính, chúng cùng được sử dụng và bổ sung cho nhau Sự phối hợp đúng đắn các hình thức
tổ chức và điều khiển trong quản lý là nhân tố quan trọng của việc sử dụng hợp lý phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính đòi hỏi các chủ thể quản lý phải có quyết định dứt khoát, rõ ràng, dễ hiểu, có địa chỉ người thực hiện, loại trừ các khả năng có nhiều cách giải thích khác nhau đối với nhiệm vụ được giao Tác động hành chính có hiệu lực ngay từ khi ban hành quyết định Vì vậy các phương pháp hành chính hết sức cần thiết trong trường hợp hệ thống quản lý rơi vào các tình huống khó khăn phức tạp
3.3 Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là các phương pháp tác động gián tiếp vào đối tượng bị quản lý, thông qua các lợi ích kinh tế và đòn bẩy kinh tế, để cho đối tượng bị quản lý
tự ý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ
mà không cần phải thường xuyên tác động về mặt hành chính
Tác động thông qua lợi ích kinh tế chính là tạo ra động lực thúc đẩy con người tích cực lao động Lợi ích vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quản lý Động lực đó càng lớn, nhận thức đầy đủ thì mục tiêu đạt được sẽ càng cao Mặt mạnh của phương pháp kinh tế là nó tác động vào lợi ích của người lao động thông qua việc kết hợp lợi ích của họ với lợi ích chung
Vì vậy, phương pháp kinh tế giữ vai trò trung tâm trong các phương pháp quản
lý và nó là phương pháp năng động, nhạy bén nhất, là phương pháp quản lý tốt nhất
để thực hành tiết kiệm và nâng cao hiệu quả kinh tế
Trang 40II PHONG CÁCH LÃNH ĐẠO
1 Khái niệm
Các phong cách lãnh đạo dựa trên yếu tố chủ quan và khách quan, nhưng yếu
tố chủ quan có ảnh hưởng lớn đến phong cách của người lãnh đạo, quản lý Một trong những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến phong cách lãnh đạo là tính cách, tính khí Do vậy, phong cách lãnh đạo được thể hiện ở người lãnh đạo một cách tương đối bền vững
Để lựa chọn phong cách lãnh đạo phù hợp cần căn cứ vào tình huống và đối tượng quản lý Lãnh đạo được coi là hiệu quả khi sử dụng các phương pháp thích hợp
để ra quyết định giải quyết vấn đề
Phong cách lãnh đạo là hệ thống các phương pháp, biện pháp làm việc tương đối ổn định được người lãnh đạo sử dụng để tác động đến những người dưới quyền nhằm đưa ra các quyết định quản lý phù hợp mục tiêu
2 Một số phong cách lãnh đạo thường dùng
Bài trắc nghiệm: Tìm hiểu phong cách lãnh đạo
Bản câu hỏi này gồm 30 ý kiến về phong cách lãnh đạo Hãy sử dụng thang điểm sau để cho điểm các ý kiến này thể hiện mức độ cảm nhận của anh/chị về mỗi ý kiến:
Luôn đúng - 5 Thường xuyên đúng - 4 Thỉnh thoảng đúng - 3 Đôi khi đúng - 2 Hầu như không bao giờ đúng - 1
Hãy trung thực khi lựa chọn cho điểm vì ở đây không có câu trả lời đúng hay sai - bản hỏi này chỉ dành cho anh/chị tự đánh giá
1 Tôi luôn giữ quyền ra quyết định cuối cùng trong phòng của tôi
2 Tôi luôn cố gắng kéo một hoặc nhiều nhân viên vào việc xác định phải làm
gì và làm như thế nào Tuy nhiên tôi giữ quyền quyết định cuối cùng
3 Tôi và các nhân viên của tôi luôn biểu quyết khi cần phải ra một quyết định quan trọng
4 Tôi không cân nhắc đến các đề xuất của nhân viên vì tôi không có thời gian làm việc đó
5 Tôi đề nghị các nhân viên đưa ra các ý tưởng và đưa các ý tưởng đó vào các kế hoạch và dự án sắp tới
6 Trong phòng tôi để một quyết định quan trọng được thông qua cần phải có
sự tán thành của từng cá nhân hoặc của đa số
7 Tôi bảo các nhân viên của tôi phải làm việc gì và làm như thế nào
8 Khi công việc lệch với kế hoạch và tôi cần phải đưa ra chiến lược để giữ cho dự án hoặc công việc chạy đúng kế hoạch, tôi tổ chức họp với nhân viên để lấy