1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

SKKN tap lam van lop 5

28 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 35,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

*Khó khăn: Sau những thuận lợi thì trong thực tế giảng dạy giáo viên và học sinh còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc dạy cũng như học phân môn Tập làm văn: - Giáo viên: + Do trình độ s[r]

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRUNG TÂM ĐÀO TẠO TỪ XA

Trang 2

2 Mục đích nghiên cứu ……….trang 4

3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… trang 4

4 Đối tượng nghiên cứu…….………trang 5

5 Phạm vi nghiên cứu ……… trang 5

6 Phương pháp thực hiện ……… trang 6

7 Giả thuyết khoa học ……… trang 8

8 Cấu trúc của đề tài ……….trang 9

B Nội dung

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài……….….trang 10

1 Cơ sở lý luận: ……… ….trang 10

2 Cơ sở thực tiễn……….trang 21Chương 2: Đề xuất và điều chỉnh nội dung ………trang 23I/ Một số biện pháp nhằm nâng cao ……….trang 23II/ Đề xuất và điều chỉnh nội dung ……….trang 24Chương 3: Thực nghiệm dạy học: ……… …….trang 25I/ Mô tả giờ dạy: ……….trang 25II/ Kết quả giờ dạy……… ….trang 26

C Phần kết luận……… trang 27

ĐỀ TÀI NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIỜ DẠY TẬP LÀM VĂN

“TẬP VIẾT ĐOẠN ĐỐI THOẠI CHO HỌC SINH LỚP 5”

Trang 3

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Dạy học là một nghệ thuật, dạy học còn là một quá trình hết sức quan trọng Đặc biệt, bậc tiểu học là một bậc nền tảng có vai trò quan trọng, tạo những cơ sở ban đầu rất cơ bản bền vững về trí thức, hình thành những đường nét phát triển nhân cách, giúp trẻ có thể tiếp tục học lên bậc học cao hơn

Tiếng Việt ở trường tiểu học được dạy và học thông qua tám phân môn (hay bảy loại bài học) khác nhau: Học vần, tập đọc, tập viết, chính tả, luyện từ và câu, kể chuyện, tập làm văn Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học tiếng Việt xét trên hai phương diện:

- Phân môn Tập làm văn tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện hoặc cung cấp đồng thời góp phần hoàn thiện chúng Để làm được một bài văn nói hoặc viết, học sinh phải hoàn thiện cả bốn kĩ năng nói, đọc, viết, nghe ; phải vận dụng các kiến thức về tiếng Việt Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần

- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết) Nhờ vậy tiếng việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh học sinh lĩnh hội các tri thức khoa học

Trên thực tế hiện nay việc dạy phân môn Tập làm văn trong trường tiểu học, giáo viên và học sinh có nhiều thuận lợi và gặp không ít khó khăn như:

Trang 4

- Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học cũng được áp dụng hầu hết các môn học, trong đó có phân môn Tập làm văn làm cho giờ học thêm sinh động và khắc sâu kiến thức cho học sinh nhiều hơn thông qua các hoạt động trong giờ học.

và nội dung bài viết và những lời văn nói viết chưa sinh động

+ Giáo viên chưa phối hợp linh hoạt, nhịp nhàng khi sử dụng các phương pháp làm cho học sinh thường bị động và chưa phát huy tính tích cực của học sinh

2 Mục đích:

Sản phẩm của phân môn Tập làm văn là các bài văn viết và nói theo các kiểu bài do chương trình quy định Để sản sinh các bài văn này, học sinh phải có thêm nhiều kĩ năng khác ngoài các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, kĩ năng dùng từ ,đặt câu Đó là các kĩ năng phân tích đề, tìm ý và lựa chọn ý, kĩ năng lập dàn ý, viết đoạn và kiên kết đoạn…các kĩ năng này không được phân môn vào trong môn tiếng Việt rèn luyện và phát triển ngoài phân môn Tập làm văn, cho nên có thể nói nhiệm vụ

cơ bản và chủ yếu của phân môn Tập làm văn là giúp học sinh sau một quá trình luyệntập lâu dài và có ý thức, dần dần nắm được cách viết bài văn theo nhiều loại phong cách khác nhau do chương trình quy định

3 Nhiệm vụ:

Ở tiểu học, phân môn Tập làm văn có nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng viết và nói các kiểu bài miêu tả, kể chuyện, tường thuật, viết thư, viết đơn từ Ba trong năm kiểu bài trên là những kiểu bài chiếm nhiều thời gian học tập nhất , thuộc phong cách nghệ

Trang 5

thuật Ngoài các kĩ năng chung của việc viết một văn bản, để viết được bài văn miêu

tả, kể chuyện, tường thuật, giáo viên cần rèn kuyện cho học sinh các kĩ năng đặc thù như kĩ năng quan sát, kĩ năng xây dựng cốt truyện và nhân vật …Bên cạnh đó việc rèn luyện tâm hồn, cảm xúc, việc tăng vốn sống, vốn hiểu biết trực tiếp đời sống …cũng làyêu cầu cần phải quan tâm thích đáng nếu giáo viên muốn học sinh thực sự viết được các bài văn thuộc các kiểu bài trên có hồn

Thực hiện nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng sản sinh văn bản ở dưới dạng nói hay viết, phân môn Tập làm văn đồng thời góp phần cùng các môn học khác rèn luyện tư duy, phát triển ngôn ngữ và hình thành nhân cách cho học sinh Ở tiểu học phân môn Tập làm văn góp phần rèn luyện tư duy hình tượng; từ óc quan sát đến trí tưởng tượng,

từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được tới khả năng nhào nặn các vật liệu có thực trong đời sống để xây dựng nên nhân vật, xây dựng cốt truyện Khả năng tư duy lôgic của học sinh cũng được phát triển trong quá trình học các kiểu bài có phong cáchnghệ thuật, việc phân tích đề, lập dàn ý … giúp cho khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại, lựa chọn …của học sinh được rèn luyện để trở nên sắc bén hơn Các kiểu bài miêu tả, kể chuyện, tường thuật, viết thư, viết đơn…giúp cho học sinh phát triển vốn động từ, tính từ, tập vận dụng các biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, hoán dụ…và làm cho tình cảm yêu mến và gắn bó với thiên nhiên, với những người và việc chung quanh nảy nở Các em thấy vẻ đẹp của một buổi bình minh, một cây phượng ra hoa, một con mèo mướp, thấy dáng vẻ đáng yêu của một em bé tập đi, của một cụ già thương con quý cháu…Từ đây tâm hồn và nhân cách của các em hình thành và phát triển

Để đạt được mục đích trên, để giải quyết 3 nhiệm vụ sau:

Chương I: Cơ sở lý luận thực tiễn

Chương II: Đề xuất và điều chỉnh nội dung và phương pháp dạy học

Chương III: Thực nghiệm dạy học

4 Đối tượng nghiên cứu:

- Phân môn Tập làm văn- Phần “ Tập viết đoạn đối thoại cho học sinh lớp 5”

5 Phạm vi nghiên cứu:

- Trong chương trình Tiếng Việt-Phân môn Tập làm văn

- “Tập viết đoạn đối thoại cho học sinh lớp 5”

- Lớp 5B Trường TH Minh Diệu A

Trang 6

6 Phương pháp nghiên cứu:

Để đạt được mục đích nói trên, cần sử dụng một số phương pháp

6.1 Nghiên cứu lý thuyết:

a.Nghiên cứu các cơ sở phương pháp luận và các khoa học liên ngành cũng nhưnhững văn kiện của Đảng và Nhà nước để vận dụng và phương pháp dạy học tiếng Việt

b.Nghiên cứu “lịch sử vấn đề”, nghĩa là những kết quả của bản thân phương pháp dạy học tiếng Việt để kế thừa những thành tựu đã đạt được trong quá khứ để làm

rõ những gì đã được giải quyết và chưa được giải quyết, đối chiếu những kinh nghiệm của quá khứ và những quan điểm hiện đại về vấn đề được xem xét Đặc biệt phương pháp dạy học tiếng Việt là một khoa học còn non trẻ, để phát triển nó cần nghiên cứ những kinh nghiệm của nước ngoài trong lĩnh vực dạy tiếng

Khi nghiên cứu lý thuyết cần phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát để tìm ra cái mới Từ mới ở đây có thể là một lý thuyết hoàn toàn mới , cũng có thể là sự tổng hợp những nét riêng lẻ đã chứa trong cái cũ, sàng lọc ra những cái mới trong những cái

cũ, nêu bật cái bản chất từ những cái đã có

6.2.Phương pháp quan sát:

Là một phương pháp được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu giáo dục Nó giúp

ta theo dõi hiện tượng nghiên cứu theo trình tự thời gian, phát hiện những biến đổi số lượng, chất lượng gây ra do tác động giáo dục Nó giúp ta thấy được những vấn đề thời

sự cấp bách đòi hỏi phải nghiên cứu, hoặc góp phần giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu

Ví dụ quan sát có mục đích quá trình dạy học, có biên bản giờ học và các trích đoạn của chúng, các câu trả lời của học sinh theo câu hỏi, các chuyện kể của các em (có thể ghi chép, ghi âm, chụp ảnh…) nghiên cứu các bài tập viết, bài chính tả, bài Tập làm văn của học sinh, phỏng vấn giáo viên và học sinh…

Theo mối quan hệ giữa đối đối tượng quan sát và người nghiên cứu thì có các dạng quan sát trực tiếp, gián tiếp, công khai, kín đáo Theo dấu hiệu về thời gian thì cóquan sát liên tục, gián đoạn

Quan sát gồm có mục đích, nội dung và tiêu chuẩn đánh giá cụ thể

6.3.Phương pháp tổng kết kinh nghiệm:

Việc nghiên cứu phảo bám sát thực tiễn dạy và học tiếng Việt Nó phải biết đánh giá một cách có lý luận tình hình dạy học tiếng Việt ở nhà trường, biết lý giải

Trang 7

những sáng kiến, kinh nghiệm dạy học một cách khoa học Mục đích của việc nghiên cứu những kinh nghiệm của giáo viên là để tìm kiếm, khái quát hóa, đánh giá và phổ biến những cái mới và có giá trị này, những kinh nghiệm được sinh ra trong lao động sáng tạo hàng ngày của tầng lớp giáo viên tiên tiến Đồng thời việc nghiên cứu này còn

có mục đích xác định trình độ của giáo viên và học sinh mà khoa học phương pháp cầnphải lấy làm chỗ dựa

Nghiên cứu kinh ngiệm cần được lý luận soi sáng thì mới gạt bỏ được những yếu tố ngẫu nhiên, đi sâu vào bản chất sự vật, hiện tượng, đạt được tới những kinh nghiệm có giá trị khoa học Chỉ khi đó tổng kết kinh nghiệm mới thật sự là một

phương pháp nghiên cứu khoa học

6.4.Phương pháp thực nghiệm:

Thực nghiệm là phương pháp nghiên cứu phổ biến nhất hiện nay trong phương pháp dạy học tiếng Việt Đó là việc tạo nên những tác động sư phạm, từ đó xác định vàđánh giá kết quả của những tác động đó Đặc trưng của thực nghiệm là quá trình dạy học sẽ diễn ra dưới sự điều khiển của người nghiên cứu Người nghiên cứu tổ chức một cách có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, tự giác thiết lập và thay đổi những điều kiện thực nghiệm khác cho phù hợp với ý đồ nghiên cứu của mình Đặc trưng thứ hai làm cho thực nghiệm khác với phương pháp kinh nghiện và quan sát là thực nghiệm tìm kiếm chân lý bằng con đường diễn dịch: đưa giả thuyết khoa học (dầu chỉ mới ở những điểm chung nhất và giả thuyết này sẽ được phát triển và chính xác hơn trong quá trình thực nghiệm), sau đó tạo ra những điều kiện nhân tạo cho việc học tập của học sinh, những em này khác với những em khác ở chỗ là chúng là đối tượng của việc tiến hành thực nghiệm Thực hiện được tiến hành trong một số lớp song song Để so sánh, người ta lấy các lớp kiểm tra (hay còn gọi các lớp đối chứng), ở đó công việc phải được tiến hành một cách bình thường Những tổ hợp khác nhau của cáclớp thực nghiệm và kiểm tra sẽ được tiến hành như sau: thủ pháp cần kiểm chứng được vận dụng lần lượt theo thứ tự lúc thì ở trong lớp thực nghiệm, lúc thì ở lớp đối chứng Nếu kết quả ứng dụng biện pháp cần kiểm chứng trên cả hai lần đều cao như nhau thì đó sẽ

là sự bảo đảm cho tính hiệu quả của nó

Những nghiên cứu thực nghiệm được phân tích theo phạm vi, mục đích của nó :bắt đầu từ những thực nghiệm kiểm tra các thủ pháp giảng dạy đơn lẻ, cuối cùng là thực nghiệm kiểm tra cả một chương trình mới, bắt đầu có thể chỉ một trường rồi một

Trang 8

huyện, một tỉnh và cuối cùng là những đo nghệm đại diện trên phạm vi toàn quốc Theo nhiệm vụ của mình, thực nghiệm được phân ra thành thực nghiệm để làm rõ tính vừa sức của phương pháp, nội dung dạy học nào đó và thực nghiệm để làm rõ tính vừasức của nội dung,phương pháp, được đề xuất.

Để đánh giá kết quả thực nghiệm, cần đề ra tiêu chí đánh giá Những tiêu chí này cần phải chính xác, thống nhất đối với tất cả các trường hợp Đây chính là việc xâydựng phép đo trong nghiên cứu giáo dục

Trong phương pháp dạy học tiếng Việt thường có các dạng thực nghiệm sau:

- Thực nghiệm điều tra (còn gọi là thực nghiệm khởi điểm, thực nghiệm xác nhận) nhằm đo thực trạng vấn đề, chưa có tác động gì

- Thực nghiệm tìm kiếm, định hướng nhằm tìm tòi các quan niệm xuất phát, kiểm tra sơ bộ giả thuyết

- Thực nghiệm giảng dạy hay còn gọi là Thực nghiệm hình thành nhằm kiểm tra giảthuyết bằng thực tế dạy học Thực nghiệm

- Thực nghiệm kiểm tra (Thực nghiệm đối chứng) làm rõ tính hiệu quả của phương pháp được đề xuất bằng những phép đo kết quả ở những lớp Thực nghiệm và lớp đối chứng

Thực nghiệm có thể cho kết quả tích cực hoặc tiêu cực Mặt khác những kết quả tiêu cực cũng đóng vai trò tích cực trong khoa học: nó phòng ngừa các lỗi, dẫn đến hoàn thiện các kết luận thực tiễn và các chỉ dẫn phương pháp

Trong một công trình phương pháp dạy học tiếng Việt, các phương pháp nghiên cứuthường được sử dụng kết hợp với nhau Chẳng hạn qua nghiên cứu lý luận, quan sát, tổng kết kinh nghiệm, người ta đề xuất một giả thuyết khoa học rồi tiến hành thực nghiệm giáo dục để kiểm nghiệm Sau đó lại dùng lý luận để phân tích kết quả, xác định nguyên nhân và khái quát hóa những điều đã đạt được

7 Giả thuyết khoa học

- Sau khi thực hiện đề tài tỉ lệ học sinh tăng lên từ 10% trở lên thì kết quả đề tài mang tính khả thi và có kết quả tốt

- Sau khi thực hiện đề tài tỉ lệ học sinh tăng lên dưới 5% thì kết quả đề tài không khả thi và kết quả thấp

8 Cấu trúc của đề tài

A Phần mở đầu

Trang 9

1 Lý do chọn đề tài

2 Mục đích nghiên cứu

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng nghiên cứu

5 Phạm vi nghiên cứu

6 Phương pháp thực hiện

7 Giả thuyết khoa học

8 Cấu trúc của đề tài

Chương 3: Thực nghiệm dạy học:

I/ Mô tả giờ dạy:

II/ Kết quả giờ dạy

C Phần kết luận

Trang 10

1.1.Lí thuyết hoạt động lời nói và sự ứng dụng vào việc dạy Tập làm văn.

a Các hiểu biết về hoạt động lời nói Trường phái tâm lí học Xô viết giải thíchquá trình tâm lí dựa trên tiền đề vật chất khác đã phát triển lý thuyết hoạt động trongtâm lý học và nhận thức của trẻ em được phát triển thông qua hoạt động thực tiễn L.XVư-gôt-xki, A.N Lê-ôn-chép, P.Ia Gan-pê-rin cùng nhiều nhà bác học và tạo ra bướcngoặt cho sự phát triển của tâm lý kiểu mới – tâm lí học khách quan khoa học

Theo A.N Lê-ôn-chép “Hoạt động là bản thể của tâm lý ý thức Tâm lý ý thức được nảy sinh bởi hoạt động Trong tâm lý họ, hoạt động được coi là sự vận động của chủ thể, của con người, hoạt động quy định nguồn gốc, nội dung và sự vận hành của tâm lý Với ý nghĩa đó ta nói rằng: hoạt động là quy luật chung nhất của cuộc sống con người, của tâm lý con người, và do đó, hoạt động cũng là quy luật chung của tâm

Trang 11

Lý thuyết hoạt động lời nói vận dạng thành tựu của tâm lí học hoạt động đi sâunghiên cứu các mối quan hệ qua lại, các giai đoạn của quá trình hoạt động lời nói.

Về mối quan hệ giữa hoạt động giao tiếp, hoạt động nói năng với động ơ nàysinh lời nói, lý thuyết hoạt động lời nói cho rằng: “các kích thích hành vi nói năng ởđây – tất nhiên là chúng ta xem xét lời nói trong trạng thái tự nhiên của nói – thường làmột cái gì đó nằm ngoài phạm vi ngôn ngữ Chúng ta nói không phải để mà nói mà đểbáo một cái gì đấy, bằng cách gì đó tác động đến một người nào đó, hướng sự chú ýđến một người nào đó Nói cách khác, động cơ nói năng không phải là hoạt động lờinói mà của hoạt động thuộc bậc cao hơn – hoạt động giao tiếp và từ đó chúng ta có thểnói về hoạt động nói năng nếu như chúng ta xem xét lời nói trong khuôn khổ hoạtđộng giao tiếp

Về mối quan hệ giữa lời nói và mục đích cụ thể, lý thuyết hoạt động lời nói chorằng: “Bất kì một hoạt động nào cũng bao gồm một hệ thống (hành động) hành vi.Giống như sự tương quan giữa khái niệm hoạt động và khái niệm động cơ, khái niệm(hành động) hành vi cũng tương quan với khái niệm mục đích, không phải là một hành

vi (hành động) khép kín của hoạt động (không có động cơ tự thân), lời nói thường là

“toàn bộ các hành vi nói năng có mục đích trung gian của mình mục đích đó phụ thuộcvào động cơ của hoạt động giao tiếp mà lời nói được xem xét”

(A.N Lê-ôn-chép – Trích “Những cơ sở lí thuyết hoạt động lời nói” M.1057)

Từ sự phân tích trên chúng ta thấy: để thực hiện hoạt động giao tiếp chúng ta cóthể dùng lời nói hoặc viết thư tức thực hiện một hành vi nói năng Đến lúc này hành

vi nói năng nhằm vào một mục đích cụ thể, mục đích đó phụ thuộc vào động cơ giao tiếp Để dễ hiểu ta nêu một ví dụ: chúng ta có một người thân gặp cảnh ngộ khó khăn

Ta muốn chia sẻ nỗi buồn với họ Đó là động cơ hoạt động Động cơ này sinh do tính chất của mối quan hệ giữa ta và người thân đòi hỏi, tức là động cơ thuộc lĩnh vực hoạt động giao tiếp Ta có thể thực hiện động cơ bằng nhiều hoạt động: dùng lời nói, dùng hành động (gửi đồ dùng, vật dụng, tiền nong ) Như thế một động cơ giao tiếp có thể được thực hiện bằng nhiều loại hành động trong đó hành vi nói năng chỉ là một

Khi dùng hoạt động nói năng để an ủi, động viên hoặc góp ý cách giải quyết vớingười thân, ta có thể: viết thư thăm hỏi và góp ý kiến, gặp gỡ, trò chuyện, an ủi, động viên Mỗi hành động nói năng đa dạng này nhằm thực hiện một mục đích cụ thể nhưng đều có chung một động cơ giao tiếp (chia sẻ khó khăn với người thân)

Trang 12

Để thực hiện các hành động, con người phải sử dụng các thao tác “Những phương thức thực hiện hành vi chúng tôi gọi là thao tác” “Mỗi một hành động ngoài mục đích ra còn có thành phần thao tác của mình tức là nó (hoạt động) được tạo thành bởi các thao tác Nếu hành vi phù hợp với mục đích thì thao tác phù hợp với những điều kiện hành vi Điều kiện mà hành vi diễn ra thay đổi thì có những phương thức thực hiện hành vi (tức là các thao tác) cũng có thay đổi”

Trở lại ví dụ đầu Nếu ta sử dụng hành động viết thư thăm hỏi thì ta phải thựchiện một loạt thao tác khác thao tác khi sử dụng lời nói trực tiếp với người thân tronglần gặp gỡ Trong hai trường hợp ta phải huy động hai cơ sở sinh lý khác nhau (Cơ sởsinh lí của việc viết chữ và của việc nói), cách lựa chọn các phương tiện ngôn ngữcũng khác nhau (Một bên là lời nói có chuẩn bị trước, một bên là lời nói đối thoại cótính tự phát, một bên ngoài chữ viết không còn yếu tố gì phụ trợ, một bên còn có thể

sử dụng thêm các phương tiện phi ngôn ngữ phụ trợ (nét mặt, cử chỉ, cái nhìn ) Từ

đó ta dễ dàng nhận thấy phương thức thực hiện hành động hoặc thành phần thao táccủa nó hoàn toàn khác nhau và phụ thuộc vào điều kiện phương tiện

Hành vi nói năng rất đa dạng nhưng lại có chung một cấu trúc Cấu trúc này baogồm 4 giai đoạn : định hướng, lập trình, hiện thực hóa và kiểm tra Chúng được thựchiện kế tiếp nhau một cách liên tục Mọi cấu trúc diễn ra phụ thuộc vào thời gian củaquá trình gọi là cấu trúc động Cấu trúc sản sinh hoạt động nói năng là một cấu trúcđộng Giải thích cấu trúc động này, A.N.lê-ôn-chiep viết: “Để giao tiếp được trọn vẹn,

về mặt nguyên tắc, con người cần nắm được hàng loạt những kĩ năng Một là anh tacần phải biết định hướng nhanh chóng và đúng đắn những điều kiện giao tiếp Hai làanh ta cần biết lập đúng chương trình lời nói của mình , lựa chọn nội dung hoạt độnggiao tiếp một cách đúng đắn Ba là anh ta cần phải tìm được những phương tiện hợp lítruyền đạt nội dung đó Bốn là anh ta cần phải bảo đảm mối liên hệ qua lại Nếu nhưmột mắt xích nào đó của hoạt động giao tiếp bị phá hủy thì người ta không thể đạtđược kết quả giao tiếp giao tiếp mong đợi Kết quả đó sẽ không có hiệu quả”

Để hiểu rõ hơn, chúng ta cần phân biệt hành động nói với hoạt động nói “Hànhđộng nói tuy có cấu trúc giống với hoạt động nhưng nó được phân biệt về căn bản vớihoạt động Nó không gắn với giao tiếp tự nhiên và như đã nói ở trên, nó có mục đíchriêng, thông thường là mục đích tập dượt Sự phân tích tình huống giao tiếp (động cơ,điều kiện giao tiếp: nói để làm gì? ở đâu? Với ai?) vắng mặt ở giai đoạn định hướng

Trang 13

hành động nói: định hướng chỉ gắn liền với tình huống miêu tả (chủ đề tư tưởng cơbản của phát ngôn: nói về cái gì? Và nói cái gì”

Phát ngôn không có mục đích giao tiếp là phát ngôn giả tạo ở mức độ nào đó

b Sự ứng dụng lí thuyết hoạt động lời nói vào việc dạy Tập làm văn:

Giữa hệ thống kĩ năng làm văn với cấu trúc của hành vi nói năng có mối liênquan Xem xét mối liên quan này giúp chúng ta giải quyết được nhiều vấn đề đang đặt

ra cho việc dạy Tập làm văn Sau đây là bảng hệ thống hóa mối liên quan trên (chú ý:đây là kĩ năng làm bài văn thường được nói tới hiện nay)

Cấu trúc hoạt động lời nói Hệ thống kĩ năng làm văn

1.Định hướng 1.Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu và giới hạn

đề bài bài viết (kĩ năng tìm hiểu đề)

2.Kĩ năng xác định tư tưởng ơ bản của bài viết.2.Lập chương trình nội dung

biểu đạt

3.Kĩ năng tìm ý (thu thập tài liệu cho bài viết).4.Kĩ năng lập dàn ý (hệ thống hóa, lựa chọn tàiliệu)

3.Hiện thực hóa chương trình 5.Kĩ năng diễn đạt (dùng từ đặt câu) thể hiện

chính xác, đúng đắn, hợp với phong cách bàivăn, tư tưởng bài văn

6.Kĩ năng viết đoạn, viết bài theo các phongcách khác nhau (miêu tả, kể chuyện, viết thư )4.Kiểm tra 7.Kĩ năng hoàn thiện bài viết (phát hiện và sửa

chữa lỗi)Bảng hệ thống hóa cho ta kết luận: Hệ thống kĩ năng làm bài tập làm văn hiệnnay, cơ bản là phù hợp với các phát hiện của lí thuyết hoạt động lời nói Song một sốngười cho rằng nếu đi sâu phân tích giai đoạn định hướng, hiện nay chúng ta thiếu các

kĩ năng tương ứng với một khâu quan trọng trong giai đoạn này Khâu liên kết hànhđộng nói năng với hoạt động giao tiếp của người nói Hành động nói năng không đượcđưa vào hoạt động giao tiếp là tự cô lập mình, là thủ tiêu ý nghĩa sinh động của mình

và trở thành giả tạo Lúc đó giờ học tách rời tình huống giao tiếp tự nhiên của ngônngữ Biện pháp giải quyết là “phải tạo nhu cầu giao tiếp cho học sinh” Muốn vậy phảitạo ra tình huống nói năng cho học sinh và dạy các em cách định hướng trong tìnhhuống giao tiếp đó, tức là phân tích điều kiện nói năng và nhiệm vụ giao tiếp Do đómột hệ thống đề bài tập làm văn trong đó có đề cập đến tình huống nói năng, làm nảy

Trang 14

sinh nhu cầu nói năng của học sinh còn là niềm mong ước của những người dạy tậplàm văn.

Trên cơ sở những hiểu biết về lí thuyết hoạt động lời nói chúng ta cần đi sâunghiên cứu hơn nữa các kĩ năng làm văn, xác định các thao tác, xây dựng các đề bàigắn với tình huống nói năng, tổ chức các tiết tập làm văn trong đó học sinh tự cảmthấy có nhu cầu nói năng, nhu cầu giao tiếp Đây còn là khoảng đất trống cho những aiham mê nghiên cứu phương pháp dạy tập làm văn

1.2.Các dạng lời nói và sự ứng dụng vào dạy Tập làm văn ở tiểu học.

Tuỳ theo nhiệm vụ, phương thức và tình huống sử dụng người ta chia lời nóithành nhiều dạng khác nhau

Lời nói trước tiên được chia thành lời nói bên trong và lời nói bên ngoài Lờinói bên ngoài được biểu hiện bằng âm thanh hoặc các dấu hiệu đồ họa (các loại chữviết), thường hướng tới một người khác nhưng cũng có khi chỉ là sự bộc lộ ý nghĩ củangười nói: lời nói bên trong không được phát âm hoặc viết ra Đó là lời nói ý nghĩ Nóthường hướng tới chính bản thân người nói Về mặt kết cấu ngữ pháp, cách diễn đạt,lời nói bên trong có nhiều điểm khác lời nói bên ngoài Lời nói bên trong có ý nghĩaquan trọng trong đời sống, sinh hoạt, trong học tập, nghiên cứu Nhà trường có tráchnhiệm phát triển ở học sinh cả lời nói bên ngoài và lời nói bên trong

Người ta còn chia lời thành khẩu ngữ (lời nói miệng) và bút ngữ (bài viết) lờiđộc thoại và đối thoại

a Lời đối thoại và độc thoại:

a.1)Lời đối thoại:

Cuộc đối thợi là cuộc trò chuyện, trao đổi, thảo luận, tranh luận của hai haynhiều người Lời nói trong cuộc hội thoại là lời đối thoại

Các cuộc hội thoại có thể diễn ra trực tiếp, có thể diễn ra gián tiếp (qua điệnthoại, qua cầu truyền hình )

Xét về mặt gia tiếp, lời đối thoại bao giờ cũng nằm trong một mạch của nhiềulời nói thuộc nhiều người nối tiếp nhau hoặc đối đáp nhau Vì vậy nội dung lời đốithoại phải nhập vào mạch câu chuyện hoặc chủ đề hội thoại thì nó mới có ý nghĩa.Muốn vậy người tham gia hội thoại cần hăm chú lắng nghe để nắm được diễn biến nộidung Ở các cuộc hội thoại theo đề tài, chủ đề việc này đã cần song ở các cuộc hội

Ngày đăng: 08/10/2021, 06:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w