tổng hợp bài giảng pháp luật đại cương bao gồm các chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về nhà nước và pháp luât chương 2: Quy phạm pháp luật và quan hệ pháp luật chương 3: Vi phạm pháp luật, trách nhiệm pháp lý Chương 4: Luật hiến pháp Chương 5: Luật lao động Chương 6: Luật hình sự Chương 7: Luật dân sự Chương 8: Luật phòng, chống tham nhũng
Trang 1PHẦN I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
VỀ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NHÀ NƯỚC
1.1.1 Nguồn gốc của Nhà nước
Theo học thuyết Mác – Lênin nhà nước không tồn tại trong xã hội cộng sảnnguyên thủy – hình thái kinh tế xã hội đầu tiên trong lịch sử nhân loại Song,nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của nhà nước và pháp luật lại nảy sinh trong xã hội
đó Vì vậy, muốn hiểu về nguồn gốc của nhà nước thì phải biết về chế độ cộng sảnnguyên thủy và tổ chức thị tộc, bộ lạc
Chế độ cộng sản nguyên thủy dựa trên cơ sở kinh tế là sở hữu chung về tư liệusản xuất và sản phẩm lao động Do trình độ phát triển thấp kém của lực lượng sảnxuất, công cụ lao động thô sơ, con người không thể sống riêng biệt, mà phải sốngdựa vào nhau cùng chung sống, cùng lao động và cùng hưởng thụ Xã hội chưaphân chia thành giai cấp và đấu tranh giai cấp
Lực lượng sản xuất ngày càng phát triển, công cụ lao động ngày càng cải tiến,con người từng bước phát triển về cả thể lực và trí lực, phân công lao động xã hộingày càng sâu sắc qua ba lần:
Lần thứ nhất: Nghề chăn nuôi dần trở thành một ngành kinh tế độc lập và tách
ra khỏi trồng trọt
Lần thứ hai: Thủ công nghiệp tách khỏi nông nghiệp, làm đẩy nhanh quá trìnhphân hóa xã hội, dẫn đến sự phân biệt giữa kẻ giàu người nghèo, giữa chủ nô và nô
lệ, xã hội bắt đầu có mâu thuẫn
Lần thứ ba: Sự ra đời của sản xuất hàng hóa làm cho thương nghiệp phát triển
đã dẫn đến sự phân công lao động xã hội, làm đảo lộn đời sống thị tộc, chế độ thịtộc tỏ ra bất lực và nhường chỗ cho sự ra đời của nhà nước
Trang 2Như vậy, nhà nước xuất hiện một cách khách quan, là sản phẩm của một xã
hội đã phát triển đến một giai đoạn nhất định Nhà nước “không phải là một quyền
lực từ bên ngoài áp đặt vào xã hội mà là một lực lượng nảy sinh từ xã hội”.
1.1.2 Bản chất và đặc trưng của Nhà nước
+ Nhà nước đó do giai cấp nào tổ chức thành;
+ Quyền lực nhà nước nằm trong tay giai cấp nào;
+ Nhà nước bảo vệ lợi ích cho giai cấp nào là chủ yếu
Tính giai cấp của nhà nước quy định nội dung hoạt động của nhà nước Tuy làđại biểu chính thức cho toàn xã hội, song nhà nước trước hết phục vụ bảo vệ quyềnlợi cho giai cấp thống trị
Xem xét nhà nước dưới phương diện bản chất giai cấp của nó thì: Nhà nước làmột bộ máy dung để duy trì sự thống trị của giai cấp này đối với giai cấp khác
Tính xã hội:
+ Bên cạnh việc bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị, nhà nước còn phải quantâm bảo đảm, bảo vệ, giải quyết các lợi ích cho các giai cấp, tầng lớp khác nhautrong xã hội và các vấn đề chung cho xã hội như: đắp đê điều, chống ô nhiễm, dịchbệnh, bảo vệ trật tự công cộng…
+ Nhà nước thực hiện những công việc chung nhằm duy trì và phát triển xã hội.Khi nhận thức về bản chất của nhà nước ta thấy, bản chất giai cấp và bản chất
xã hội luôn gắn liền với nhau Có thể tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử khác nhau
mà có những sự thay thế nhất định nhưng không có nghĩa là sự triệt tiêu của nhân
tố này hay nhân tố khác
Trang 31.1.2.2 Đặc trưng của Nhà nước
Với tư cách là một thiết chế quyền lực của giai cấp thống trị đối với xã hội,nhà nước có vị trí đặc biệt và có những cách thức đặc biệt để thực hiện quyền lựcnhà nước của mình Điều này thể hiện cụ thể qua các đặc trưng sau của nhà nước:
- Nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không còn hoà nhậpvới dân cư nữa; chủ thể của quyền lực này là giai cấp thống trị về kinh tế và chínhtrị Để thực hiện quyền lực này và để quản lý xã hội, nhà nước có một lớp ngườiđặc biệt chuyên làm nhiệm vụ quản lý; họ tham gia vào các cơ quan nhà nước vàhình thành nên một bộ máy cưỡng chế để duy trì địa vị của giai cấp thống trị, bắtcác giai cấp khác phải phục tùng theo ý chí của giai cấp thống trị
- Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ và quản lý dân cư theo các đơn vịhành chính không phụ thuộc huyết thống, tôn giáo, giới tính… Chính sự phân chianày đã tạo ra các đơn vị hành chính lãnh thổ với những cơ quan quản lý nhất định(tỉnh, huyện, xã của Việt Nam; bang, xã của các nhà nước liên bang…)
- Nhà nước là tổ chức duy nhất có chủ quyền quốc gia
Chủ quyền quốc gia thể hiện ở quyền quyết định của nhà nước về các vấn đềđối nội, đối ngoại và không phụ thuộc vào các quốc gia khác Chủ quyền quốc gia
là thuộc tính gắn liền với nhà nước Dấu hiệu chủ quyền quốc gia thể hiện thôngqua những mối ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các công dân vớinhà nước cũng như giữa nhà nước với các nhà nước khác trên nguyên tắc độc lập,bình đẳng
- Nhà nước là tổ chức duy nhất có quyền ban hành pháp luật và bảo đảm phápluật được thực hiện
Để quản lý xã hội nhà nước có quyền ban hành ra một loại quy tắc đặc biệtgọi là pháp luật để thông qua đó ghi nhận các yêu cầu, mệnh lệnh của nhà nước đốivới từng lĩnh vực hoạt động nhất định cũng như đảm bảo cho các quy tắc đó đượctôn trọng và nghiêm chỉnh thi hành theo ý chí của giai cấp thống trị
- Nhà nước có quyền định ra và thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc
Để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước với số lượng không nhỏ nhữngngười không tham gia trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất mà chỉ chuyên môn làmnhiệm vụ quản lý và đồng thời để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiệncác công việc chung của nhà nước thì nhà nước đã đề ra và thu các loại thuế bắtbuộc các đối tượng nhất định trong xã hội phải cung cấp nguồn tài chính cho nhànước Thuế là khoản thu quan trọng của nhà nước và chỉ thuộc về sự quy định của
Trang 4nhà nước, đồng thời nó cũng thể hiện mối quan hệ chặt chẽ giữa nhà nước và các
tổ chức, cá nhân công dân
Những đặc điểm trên đây nói lên sự khác nhau giữa nhà nước với các tổ chứcchính trị xã hội khác, đồng thời cũng phản ánh vị trí và vai trò của nhà nước trong
xã hội có giai cấp
1.1.3 Chức năng của Nhà nước
Chức năng của nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước, thể hiện bản chất giai cấp, ý nghĩa xã hội, mục đích và nhiệm vụ của nhà nước.
Chức năng của nhà nước xuất phát từ bản chất của nhà nước, do cơ sở kinh tế
và cơ cấu giai cấp xã hội quyết định Chức năng của nhà nước bao gồm hai phươngdiện: Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại
+ Chức năng đối nội: là những hoạt động chủ yếu của nhà nước trong nội bộ
đất nước Chức năng này bao gồm các vấn đề như tổ chức và quản lý kinh tế; giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, trấn áp sự phản kháng của giai cấpbóc lột đã bị lật đổ và âm mưu phản cách mạng khác; chức năng tổ chức và quản lývăn hoá, giáo dục và các vấn đề xã hội khác
+ Chức năng đối ngoại: thể hiện vai trò của nhà nước trong mối quan hệ với
các nhà nước và các dân tộc khác Chức năng này được thể hiện qua việc bảo vệnhà nước khỏi sự xâm lăng của nước ngoài và mở rộng quan hệ hợp tác với cácnước khác
Chức năng đối nội và chức năng đối ngoại có quan hệ mật thiết với nhau Việcxác định và thực hiện các chức năng đối ngoại luôn phải xuất phát từ tình hình thựchiện các chức năng đối nội Đồng thời, kết quả của việc thực hiện các chức năngđối ngoại sẽ tác động mạnh mẽ tới việc tiến hành các chức năng đối nội
Từ những nghiên cứu trên đây, dưới góc độ pháp lý, ta có thể đưa ra khái niệm
chung nhất về nhà nước, theo đó: Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực
chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT
1.2.1 Nguồn gốc của pháp luật
Khái niệm pháp luật : Pháp luật là một hệ thống các quy tắc xử sự do nhà
nước đặt ra (hoặc thừa nhận) có tính quy phạm phổ biến, tính xác định chặt
Trang 5chẽ về mặt hình thức và tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lực nhà nước và được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Nguồn gốc pháp luật
Mỗi dân tộc ở các khu vực địa lí khác nhau thì sẽ có những đặc điểm khácnhau trong sự hình thành pháp luật Tuy nhiên, sự hình thành pháp luật ở các khuvực khác nhau cũng có đặc điểm chung mang tính quy luật Về cơ bản, pháp luậthình thành qua những phương thức sau: tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quyphạm pháp luật
Tập quán pháp: là hình thức nhà nước thừa nhận một số tập quán đã lưu
truyền trong xã hội, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, nâng chúng thànhnhững quy tắc xử sự chung được nhà nước đảm bảo thực hiện Đây là hình thứcpháp luật xuất hiện sớm nhất và được sử dụng nhiều trong các nhà nước chủ nô vànhà nước phong kiến Trong nhà nước tư sản hình thức này vẫn được sử dụngnhiều, nhất là ở các nhà nước có chế độ quân chủ
Các hình thức thừa nhận tập quán pháp: tuyên bố thừa nhận một tập quán nhấtđịnh; thừa nhận dưới dạng những nguyên tắc chung; thừa nhận bằng cách im lặng
để tập quán điều chỉnh các QHXH nhất định
Tiền lệ pháp: là hình thức nhà nước thừa nhận các quyết định của các cơ quan
hành chính hoặc xét xử giải quyết những vụ việc cụ thể để áp dụng đối với các vụviệc tương tự nảy sinh về sau Hình thức này được sử dụng nhiều trong các nhànước chủ nô, được sử dụng rộng rãi trong các nhà nước phong kiến và hiện nayvẫn chiếm vị trí quan trọng trong pháp luật tư sản, nhất là ở Anh, Mỹ
Tiền lệ pháp hình thành không phải do hoạt động của cơ quan lập pháp màxuất hiện từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp Vì vậy, hình thức này dễtạo ra sự tùy tiện, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phải tôn trọngnguyên tắc tối cao của luật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạn của các cơquan trong bộ máy nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện pháp luật
Văn bản quy phạm pháp luật Đây là hình thức pháp luật tiến bộ nhất Văn
bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hànhtheo trình tự, thủ tục luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được nhà nướcđảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội
Trang 61.2.2 Bản chất và đặc trưng của pháp luật
• Tính xã hội :
Pháp luật là hiện tượng xã hội mang tính giai cấp nhưng bên cạnh đó phápluật còn mang tính xã hội Bởi vì pháp luật chính là bản thân của đời sống xã hộiđược nâng lên thành luật Pháp luật xuất hiện từ nhu cầu của xã hội, từ những đòihỏi tất yếu của xã hội, sau khi ra đời, pháp luật lại quay lại phục vụ xã hội Phápluật là công cụ để tổ chức giao lưu mối quan hệ giữa con người với con người Mặtkhác, với tính chất là những quy tắc xử sự trong xã hội, pháp luật và thực trạng của
hệ thống pháp luật còn là kết quả của quá trình « chọn lọc tự nhiên» là biểu hiệncủa nền văn hoá và văn minh của nhân loại
1.2.2.2 Đặc trưng của pháp luật
Pháp luật có các đặc trưng sau :
Tính quy phạm phổ biến (bắt buộc chung) : Tức là nói đến tính khuôn mẫu,
mực thước, mô hình xử sự có tính phổ biến chung
Đây là đặc trưng vốn có của pháp luật Bởi pháp luật là hệ thống các quy tắc
xử sự chung, là khuôn mẫu hành vi cho các chủ thể trong xã hội Thông qua khuônmẫu hành vi đó, các chủ thể trong xã hội sẽ đo được hành vi của mình, biết đượcmình có thể làm gì, không được làm gì, phải làm như thế nào, qua đó pháp luậtràng buộc mọi người vào những khuôn khổ nhất định
Trang 7Pháp luật được ban hành ra không phải cho một chủ thể xác định mà là chomọi chủ thể không xác định trong xã hội Bất cứ chủ thể nào khi gặp những hoàncảnh, tình huống mà pháp luật dự liệu trước thì đều phải tuân theo các quy tắc xử
sự mà pháp luật đã dự liệu và quy định cho họ
Thuộc tính quy phạm phổ biến của pháp luật thể hiện ở chỗ : nó là khuôn mẫuchung cho nhiều người, nó được áp dụng nhiều lần trong không gian và thời gianrộng lớn
Tính xác định chặt chẽ về hình thức
Thuộc tính này của pháp luật thể hiện ở chỗ :
- Nội dung của các qui tắc, khuôn mẫu pháp luật được quy định rõ ràng,chính xác và chặt chẽ trong các điều khoản
- Tính chính xác và chặt chẽ không chỉ về nội dung mà cả hình thức thể hiệncâu chữ ; văn phạm chính xác một nghĩa
- Nội dung của quy tắc, khuôn mẫu pháp luật được thể hiện trong các hìnhthức xác định, đó là các văn bản pháp luật có tên gọi quy định chặt chẽnhư : Hiến pháp, bộ luật, đạo luật, nghị định…
Nếu các quy phạm pháp luật quy định không đủ, không rõ, không chính xác sẽtạo ra những kẽ hở cho sự chuyên quyền, lạm dụng, những hành vi vi phạm phápluật như: tham ô, lãng phí, phá hoại tài sản, vi phạm nghiêm trọng pháp chế
Tính được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước
Tính được đảm bảo bằng nhà nước của pháp luật thể hiện ở hai khía cạnh cơbản Trước hết nhà nước đảm bảo cho các quy phạm pháp luật tính quyền lực bắtbuộc đối với mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội Điều này có nghĩa là khi pháp luật
đã được nhà nước ban hành thì tất cả mọi thành viên trong xã hội đều có nghĩa vụthực hiện pháp luật nghiêm chỉnh và triệt để không phân biệt giữa người này vớingười khác Chính điểm đó mà pháp luật mới trở thành quy tắc xử sự mang tính bắtbuộc chung
Mặt khác, tùy theo đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội và tùy mức độtác động khác nhau như biện pháp tư tưởng, khuyến khích, thuyết phục và cao nhất
là biện pháp cưỡng chế để đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm minh
Trang 81.2.3 Vai trò của pháp luật
Với những bản chất, đặc điểm đặc thù của mình, pháp luật có nhiều vai tròtrong đời sống nhà nước, đời sống xã hội, trong đó có các vai trò cơ bản như:
- Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố, tăng cường quyền lực nhà nước.
Pháp luật do nhà nước ban hành, nhưng pháp luật không chỉ là kết quả của tưduy chủ quan một cách đơn thuần, mà nó còn xuất phát từ những nhu cầu kháchquan của xã hội Pháp luật chỉ có thể đi vào cuộc sống nếu như nó phù hợp vớitrình độ phát triển kinh tế xã hội
Pháp luật cần có quyền lực nhà nước bảo đảm mới có thể phát huy tác dụngtrong thực tế đời sống Vì vậy nói pháp luật đứng trên nhà nước là không thực tiễn
Bộ máy nhà nước là một thiết chế phức tạp bao gồm nhiều bộ phận Để bộmáy đó hoạt động có hiệu quả thì đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, thẩmquyền và trách nhiệm của mỗi loại cơ quan Điều này chỉ có thể thực hiện được khidựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật
- Pháp luật là công cụ, phương tiện để nhà nước quản lí kinh tế, xã hội.
Để quản lý toàn xã hội, nhà nước dùng nhiều phương tiện, nhiều biện pháp,nhưng pháp luật là phương tiện quan trọng nhất Với những đặc điểm riêng củamình, pháp luật có khả năng triển khai những chủ trương, chính sách của nhà nướcmột cách nhanh nhất, đồng bộ và có hiệu quả nhất trên quy mô rộng lớn nhất.Cũng nhờ có pháp luật, nhà nước có cơ sở để phát huy quyền lực của mình và kiểmtra, kiểm soát các hoạt động của các tổ chức, các cơ quan, các nhân viên nhà nước
và mọi công dân Pháp luật là công cụ để nhà nước quản lý các lĩnh vực trong xãhội từ kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ…
- Pháp luật là công cụ để nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội khác, phát triển con người,góp phần tạo dựng những mối quan hệ xã hội mới, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, đảm bảo củng cố và tăng cường nền quốc phòng – an ninh, bảo vệ chế độ và những thành quả cách mạng ; là công cụ bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa nhà nước với công dân.
Trang 9Trên cơ sở xác định được thực trạng của xã hội với những tình huống cụ thể,điển hình, tồn tại và tái diễn thường xuyên ở thời điểm cụ thể trong xã hội Nhànước đề ra pháp luật để điều chỉnh kịp thời và phù hợp các quan hệ xã hội đó.Dựa trên cơ sở của những kết quả và dự báo khoa học, người ta có thể dự kiếnđược những thay đổi có thể diễn ra với những tình huống cụ thể, điển hình cần có
sự điều chỉnh bằng pháp luật Từ đó pháp luật được đặt ra để định hướng trước, xáclập những quy định và có thể thiết kế những mô hình tổ chức quy định chức năngnhiệm vụ và tổ chức thử nghiệm
- Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia.
Sự ổn định của mỗi quốc gia là điều kiện quan trọng để tạo ra niềm tin, là cơ
sở để mở rộng các mối bang giao với các nước khác Trong thời đại ngày nay,phạm vi của các mối quan hệ bang giao giữa các nước ngày càng lớn và nội dungtính chất của các quan hệ đó ngày càng đa diện Cơ sở của việc thiết lập, củng cốcác mối quan hệ bang giao đó là pháp luật (pháp luật quốc tế và pháp luật nộiquốc)
Xuất phát từ nhu cầu đó, hệ thống pháp luật của mỗi nước cũng có bước pháttriển mới: bên cạnh những văn bản pháp luật quy định và điều chỉnh các quan hệ
xã hội có liên quan đến các chủ thể pháp luật trong nước còn cần có đầy đủ các vănbản pháp luật quy định và điều chỉnh các quan hệ có liên quan đến các chủ thể làngười, tổ chức nước ngoài có quan hệ hợp tác với các chủ thể trong nước, ví dụ:luật đầu tư, luật về khoa học và công nghệ
Cũng cần nhấn mạnh rằng, muốn có môi trường xã hội ổn định để mở mang
các mối bang giao và hợp tác thì không thể chỉ chú ý tới một mảng của hệ thống
pháp luật của một quốc gia, mà phải chú ý tới sự đồng bộ của cả hệ thống pháp luậtcủa quốc gia đó Bởi vì, hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là một chỉnh thể, mỗi
bộ phận trong hệ thống pháp luật đó không thể tồn tại và phát triển biệt lập, cục bộđược mà luôn có quan hệ và tác động qua lại với các bộ phận khác
1.3 NHÀ NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
1.3.1 Bản chất và đặc trưng cơ bản của Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam
Trang 10* Bản chất của Nhà nước ta
Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân, là tổ chức quyền lực chính trị của giai cấp công nhân, nông dân vàtầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Tất cả các chínhsách, pháp luật của nhà nước đều được xây dựng và thực hiện xuất phát từ lợi íchcủa con người, cho con người và vì con người
Bản chất của nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam thể hiện ở tính giai cấpcông nhân và tính xã hội sâu sắc của nhà nước
+ Tính giai cấp công nhân thể hiện ở chỗ nhà nước do giai cấp công nhân thiếtlập, lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu của giai cấp công nhân Việt Nam,thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động
+ Tính xã hội được thể hiện ở các chính sách, hoạt động quản lý kinh tế, vănhoá, giáo dục, khoa học, giải quyết những vấn đề về chính sách xã hội nhằm khôngngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân
* Đặc trưng của Nhà nước ta
- Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước dân chủ thực sự và rộng
rãi.
Mặc dù nước ta bước vào xây dựng CNXH từ điểm xuất phát thấp, đến nayvẫn là một nước đang phát triển, nhưng một chế độ dân chủ XHCN đã được thiếtlập và đang từng bước hoàn thiện
Với quan điểm phát triển, Điều 3 Hiến pháp 1992 đã chỉ rõ: Nhà nước bảo
đảm và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của nhân dân, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân; xây dựng đất nước giàu mạnh, thực hiện công bằng xã hội, mọi người có cuộc sống ấm no, tự
do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện Quan điểm đó là kết quả của một
quá trình tìm tòi, kiểm nghiệm và sáng tạo được rút ra để định hướng cho sự pháttriển của toàn bộ hệ thống chính trị nước ta nói chung và nhà nước ta nói riêng.Bản chất dân chủ của nhà nước ta được thể hiện một cách toàn diện, trên cáclĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và xã hội
- Nhà nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Đây là biểu hiện tập trung của khối đại đoàn kết các dân tộc anh em cùng sinhsống trên đất nước Việt Nam Tính dân tộc của nhà nước Việt Nam là vấn đề cótính lịch sử, truyền thống lâu dài, chính là nguồn gốc sức mạnh của nhà nước.Ngày nay, đặc tính dân tộc ấy lại được tăng cường và nâng cao nhờ khả năng kết
Trang 11hợp thống nhất giữa tính giai cấp, tính nhân dân, tính dân tộc và tính thời đại Điều
5 Hiến pháp có ghi nhận: Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nhà
nước thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam.
Nhà nước thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc và phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hoá tốt đẹp của mình Nhà nước thực hiện chính sách phát triển về mọi mặt, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số
- Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thể hiện tính xã hội rộng rãi.
Với mục tiêu xây dựng một xã hội văn minh, nhân đạo, bảo đảm công bằng xãhội, Nhà nước Việt Nam đã quan tâm một cách đặc biệt và toàn diện tới việc giảiquyết các vấn đề của toàn xã hội như: Xây dựng các công trình phúc lợi xã hội, đầu
tư cho việc phòng chống thiên tai, giải quyết các vấn đề bức xúc như chăm sóc sứckhỏe nhân dân, giải quyết việc làm, an sinh xã hội
Nhà nước không chỉ đặt ra cơ sở pháp lý mà còn thực hiện việc đầu tư thỏađáng cho việc giải quyết các vấn đề xã hội Đồng thời coi việc giải quyết các vấn
đề này là nhiệm vụ của mọi cấp, mọi ngành và của Nhà nước nói chung
- Nhà nước thực hiện đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và hữu nghị.
Bản chất nhà nước ta không chỉ được phản ánh trong các chính sách, đườnglối đối nội, mà còn thể hiện trong chính sách đối ngoại Chính sách và hoạt độngđối ngoại của nhà nước ta thể hiện khát vọng hòa bình của nhân dân ta, thể hiệnmong muốn hợp tác trên tinh thần hòa bình, hữu nghị và cùng có lợi với tất cả cácquốc gia Phương châm Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên thế giớithể hiện một đường lối ngoại giao mở cửa của nhà nước ta (Điều 14 Hiến pháp)
1.3.2 Bộ máy nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Bộ máy nhà nước là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địaphương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung, thống nhấtnhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ nhà nước, vì lợi ích của giai cấp thốngtrị
Bộ máy nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam được tổ chức thành bốn phân hệcác cơ quan Nhà nước và một chức danh nguyên thủ quốc gia:
+ Phân hệ các cơ quan quyền lực nhà nước (còn gọi là hệ thống các cơ quanđại diện), gồm Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp Các cơ quan quyền lực nhànước do nhân dân trực tiếp bầu ra, nhân danh nhân dân để thể hiện và thực thi một
Trang 12cách thống nhất quyền lực, phải chịu trách nhiệm và phải báo cáo trước nhân dân
về mọi hoạt động của mình Với tính chất và chức năng như vậy, các cơ quan
quyền lực có vị trí rất quan trọng, chúng hợp thành hệ thống “xương sống” của bộ
máy nhà nước
+ Phân hệ các cơ quan hành chính Nhà nước: đứng đầu là Chính phủ, các cơquan hành chính Nhà nước khác ở trung ương, các cơ quan hành chính Nhà nước ởđịa phương: UBND các cấp, các cơ quan quản lí ngành, chuyên môn (sở, phòng,ban )
+ Phân hệ cơ quan xét xử gồm Toà án nhân dân, Toà án quân sự, Toà án khácđược thành lập theo luật định Trong tình hình đặc biệt Quốc hội có thể thành lậptoà án đặc biệt Các toà án được lập ra để nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam thực hiện chức năng xét xử (chỉ có toà án mới có chức năng này)
+ Phân hệ các cơ quan kiểm sát: gồm VKSND và VKSQS các cấp Hệ thống
Viện kiểm sát ở nước ta được tổ chức thống nhất theo ngành dọc và thực hiện chế
độ thủ trưởng Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễnnhiệm, bãi nhiệm Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lãnh đạo thống nhấttoàn bộ hệ thống viện kiểm sát, có quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức đối vớitất cả các thành viên của các Viện kiểm sát cấp dưới
+ Chủ tịch nước: là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước trong cáclĩnh vực đối nội, đối ngoại, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.Chủ tịch nước được bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội, có nhiệm kì 5 năm,được trao nhiều quyền hạn rộng lớn trong cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tưpháp, là người giữ chức vụ Chủ tịch hội đồng quốc phòng và an ninh Chủ tịchnước không phải là một cơ quan thuộc hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước hoặc
cơ quan quản lý nhà nước Chủ tịch nước xét trên nhiều phương diện là cơ quan
có vị trí đặc biệt và giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm sự phối hợp thốngnhất giữa các bộ phận của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa
Trang 13CHƯƠNG 2 QUY PHẠM PHÁP LUẬT
VÀ QUAN HỆ PHÁP LUẬT2.1 QUY PHẠM PHÁP LUẬT
2.1.1 Khái niệm quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận có tính bắt buộc chung, thể hiện ý chí nhà nước, được nhà nước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Các quy phạm pháp luật có thể là quy tắc xử sự của công dân, của nhữngngười có chức vụ, quyền hạn, là những quy định về cơ cấu tổ chức và hoạt độngcủa bộ máy nhà nước, là những quy định về địa vị pháp lý của các đoàn thể, tổchức quần chúng và các chủ thể pháp luật khác
Ví dụ : “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của hiến pháp và
pháp luật” (Điều 57 Hiến pháp 1992).
2.1.2 Đặc điểm của Quy phạm pháp luật
Thể hiện ý chí của nhà nước Quy phạm pháp luật thể hiện ý chí của lực lượng
cầm quyền trong xã hội Về nội dung, mỗi quy phạm pháp luật thường thể hiện sựcho phép hoặc bắt buộc đối với hành vi của các cá nhân, tổ chức trong xã hội Nóicách khác, quy phạm pháp luật xác định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các cá nhân
và tổ chức khi tham gia quan hệ xã hội được nó điều chỉnh
Tính phổ biến (bắt buộc chung) Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự có tính
bắt buộc đối với mọi cá nhân, tổ chức ở vào điều kiện, hoàn cảnh đã được dự kiếntrước Quy phạm pháp luật có thể được áp dụng nhiều lần trong cuộc sống cho đếnkhi bị thay đổi hoặc hủy bỏ
Chặt chẽ về hình thức Các quy phạm pháp luật được ban hành bởi các chủ hể
có thẩm quyền nhất định và theo những trình tự, thủ tục nhất định
Việc thực hiện các quy phạm pháp luật được nhà nước đảm bảo thực hiện.
Quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện Cácquy phạm pháp luật được ghi nhận dưới hình thức chủ yếu là văn bản quy phạmpháp luật, theo thể thức, trình tự mà pháp luật cho phép Đồng thời nhà nước cũngthiết lập một hệ thống cơ quan nhà nước có thẩm quyền đảm bảo cho các quyphạm pháp luật được thực hiện thống nhất, nghiêm chỉnh
Trang 142.1.3 Cơ cấu của quy phạm pháp luật
a Giả định
Giả định là bộ phận của quy phạm quy định địa điểm, thời gian, chủ thể, hoàncảnh và tình huống mà khi xảy ra trong thực tế cuộc sống thì cần phải thực hiệnquy phạm pháp luật tương ứng, nghĩa là xác định môi trường, phạm vi tác độngcủa quy phạm pháp luật
Giả định nêu lên trong trường hợp nào thì các chủ thể của quan hệ được điềuchỉnh sẽ xuất hiện những quyền và nghĩa vụ pháp lí do quy phạm pháp luật đó quyđịnh
Ví dụ 1:: “Công dân có nghĩa vụ đóng thuế và lao động công ích theo quy
định của pháp luật” (Điều 80 Hiến pháp)
Hoặc “Công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của hiến pháp và
pháp luật” (Điều 57 Hiến pháp)
Ví dụ 2: “Việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ phải phù
hợp với quy hoạch giao thông vận tải đường bộ đã được cấp có thẩm quyền phêduyệt” (Điều 46 Luật Giao thông đường bộ)
Ví dụ 3: “Người nào thấy người khác đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến
tính mạng, tuy có điều kiện mà không cứu giúp dẫn đến hậu quả người đó chết, thì
bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đếnhai năm” (Điều 102 Bộ luật hình sự - Tội không cứu giúp người khác đang ởtrong tình trạng nguy hiểm cho tính mạng)
Nhìn chung, giả định là bộ phận không thể thiếu được trong quy phạm phápluật Bởi vì, nếu thiếu giả định, chúng ta không thể biết được ai, tổ chức nào và khinào phải xử sự theo yêu cầu của quy phạm pháp luật Tuy nhiên, trên thực tế, giảđịnh được biểu hiện dưới nhiều cách thức khác nhau
Có nhiều cách thức để phân loại bộ phận quy định của quy phạm pháp luật.Cách phổ biến nhất là căn cứ vào tính chất, phương pháp tác động của các quy
Trang 15phạm pháp luật lên các quan hệ xã hội, có thể phân thành: các quy định cấm, quy
định bắt buộc, quy định tuỳ nghi.
- Quy định cấm, bắt buộc của quy phạm pháp luật là loại quy định nêu ra cách
xử sự dứt khoát buộc các chủ thể phải tuân theo mà không có sự lựa chọn khác
Ví dụ: “Cấm gửi trong thư, bưu phẩm, bưu kiện: ấn phẩm, vật phẩm, hàng
hoá cấm lưu thông, cấm nhập khẩu, xuất khẩu ấn phẩm, vật phẩm, hàng hoá nước cấm nhập khẩu…” (Điều 18 Pháp lệnh Bưu chính viễn thông).
- Quy định tuỳ nghi: Là loại quy định không nêu ra một cách xử sự dứt khoát
cụ thể mà nêu lên hai hay nhiều cách xử sự để cho các chủ thể có liên quan đượcquyền lựa chọn cách xử sự phù hợp
Ví dụ: “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai
bên kết hôn là cơ quan đăng kí kết hôn” (Điều 12 Luật Hôn nhân gia đình 2000)
c Chế tài
Chế tài là bộ phận quy phạm pháp luật nêu lên những biện pháp cưỡng chế ápdụng đối với chủ thể có hành vi vi phạm các yêu cầu của bộ phận quy định của quyphạm pháp luật Chế tài là bộ phận nêu lên những hậu quả pháp lí bất lợi đối vớichủ thể vi phạm pháp luật
Ví dụ: Khoản 2 Điều 120 Luật xây dựng có hiệu lực thi hành từ tháng 7/2004quy định: “Công trình xây dựng sai quy hoạch, công trình xây dựng không có giấy
phép hoặc sai với giấy phép xây dựng được cấp…thì phải bị dỡ bỏ toàn bộ hoặc
phần vi phạm theo quy định”
* Phân loại chế tài:
Theo tính chất của sự phản ứng pháp lí đối với vi phạm phần quy định, có thểphân chế tài thành: chế tài hình phạt, chế tài khôi phục và chế tài phủ nhận phápluật
+ Chế tài hình phạt: là sự phản ứng gay gắt nhất của nhà nước đối với hành vi
vi phạm pháp luật như chế tài hình sự, chế tài hành chính…
+ Chế tài khôi phục pháp luật Ví dụ: Biện pháp bắt buộc tháo dỡ công trìnhxây dựng trái phép…
+ Chế tài phủ nhận pháp luật Ví dụ: Sự không thừa nhận quan hệ hôn nhânthực tế nếu không đăng kí kết hôn theo đúng quy định của pháp luật
2.1.4 Phân loại quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật có thể được phân loại theo một số tiêu chí sau :
Trang 16* Căn cứ vào nội dung của quy phạm pháp luật, có các loại quy phạm phápluật sau:
- Quy phạm pháp luật định nghĩa: là quy phạm pháp luật có nội dung giảithích, xác định một số vấn đề nào đó, hoặc nêu một khái niệm pháp lý nhất định
- Quy phạm pháp luật nguyên tắc: là quy phạm pháp luật xác định nhữngnguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho việc quy định cách xử sự của các cá nhân, tổchức
- Quy phạm pháp luật điều chỉnh: là quy phạm pháp luật có nội dung trực tiếpđiều chỉnh hành vi của các cá nhân, tổ chức khi tham gia vào các quan hệ xã hộinhất định
* Căn cứ vào tính mệnh lệnh trong quy phạm pháp luật, có các loại quy phạmpháp luật sau:
- Quy phạm pháp luật bắt buộc: là loại quy phạm pháp luật trong đó xác định
rõ ràng, cụ thể cách xử sự của các cá nhân, tổ chức: buộc phải làm gì? Không đượcđược làm gì?
- Quy phạm pháp luật tùy nghi có nội dung cho phép các chủ thể lựa chọn mộtcách xử sự từ các cách đã nêu
- Quy phạm pháp luật hướng dẫn là quy phạm pháp luật có nội dung chủ yếu
là khuyên nhủ, hướng dẫn các chủ thể tự giải quyết các công việc nhất định
2.2 QUAN HỆ PHÁP LUẬT
2.2.1 Khái niệm về quan hệ pháp luật
Quan hệ xã hội là quan hệ giữa con người với con người trong đời sống hàngngày Quan hệ xã hội rất đa dạng và phong phú, đó có thể là quan hệ gia đình (quan
hệ giữa cha mẹ và con cái); quan hệ lao động; quan hệ tài sản; quan hệ tài chính…Các quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật, quy phạm đạođức, tôn giáo Trong xã hội có nhà nước, các quan hệ xã hội quan trọng đã đượcphát triển tới mức phổ biến được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật Khi đó,những quan hệ xã hội này sẽ trở thành quan hệ pháp luật
Quan hệ pháp luật: Là hình thức pháp lí của quan hệ xã hội xuất hiện dưới sự
tác động, điều chỉnh của QPPL, trong đó các bên tham gia quan hệ đó có các
Trang 17quyền và nghĩa vụ pháp lí được pháp luật ghi nhận và được nhà nước đảm bảo thực hiện.
Quan hệ pháp luật là hình thức đặc biệt của quan hệ xã hội Nó tồn tại tronghầu hết các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội và có liên hệ mật thiết với cácloại hình các quan hệ xã hội khác
2.2.2 Đặc điểm của quan hệ pháp luật
- Quan hệ pháp luật thuộc loại quan hệ tư tưởng
Quan hệ pháp luật thuộc kiến trúc thượng tầng và phụ thuộc vào cơ sở hạ tầngnhất định Trong xã hội có giai cấp, mỗi kiểu quan hệ sản xuất lại có một kiểu quan
hệ pháp luật phù hợp
Quan hệ pháp luật phát triển, biến đổi theo sự phát triển, biến đổi của quan hệsản xuất Mặc dù phụ thuộc vào các quan hệ sản xuất nhưng quan hệ pháp luậtcũng có những ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của cơ sở hạ tầng
- Quan hệ pháp luật là quan hệ xã hội có ý chí
Nói cách khác, quan hệ pháp luật xuất hiện do ý chí của con người Các quan
hệ này không ngẫu nhiên hình thành mà phải trải qua những hành vi có ý chí củamột hoặc cả hai chủ thể
- Quan hệ pháp luật xuất phát trên cơ sở quy phạm pháp luật
Vì vậy, quan hệ pháp luật mang tính giai cấp sâu sắc Việc lựa chọn quan hệ
xã hội nào để điều chỉnh bằng pháp luật là phụ thuộc vào ý chí của nhà nước.Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, những quan hệ xã hội nào liên quan đến việc ápbức, bóc lột đều bị pháp luật kìm hãm và tìm cách loại trừ dần, còn những quan hệ
xã hội nào liên quan tới lợi ích của nhân dân lao động, tới công cuộc xây dựng chủnghĩa xã hội thì được pháp luật bảo vệ và tạo điều kiện phát triển
- Quan hệ pháp luật có tính xác định Quan hệ pháp luật chỉ xuất hiện khi có
một hoàn cảnh, tình huống nhất định đã được pháp luật dự liệu trước và khi có mộtchủ thể tham gia quan hệ đó
- Quan hệ pháp luật là quan hệ mà các bên tham gia quan hệ đó có các quyền
và nghĩa vụ pháp lý nhất định Ví dụ: trong quan hệ pháp luật về hợp đồng dân sự
thì bên mua có quyền nhận hàng, có nghĩa vụ trả tiền, bên bán có quyền nhận tiền
và có nghĩa vụ giao hàng…
Trang 182.2.3 Thành phần của quan hệ pháp luật
a Chủ thể quan hệ pháp luật
Chủ thể Quan hệ pháp luật là các cá nhân, tổ chức có khả năng trở thành cácbên tham gia các quan hệ pháp luật đó và họ có các quyền và nghĩa vụ pháp lí trên
cơ sở pháp luật quy định
Chủ thể của quan hệ pháp luật có một thuộc tính cơ bản là năng lực chủ thể,tức là khả năng để trở thành chủ thể pháp luật Năng lực chủ thể bao gồm hai yếu
tố cấu thành: năng lực pháp luật và năng lực hành vi
* Năng lực pháp luật:
Là khả năng của chủ thể có được các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lí đượcnhà nước thừa nhận
Năng lực có thể được coi là phần tối thiểu trong năng lực chủ thể của cá nhân
và pháp nhân Với năng lực pháp luật, các chủ thể chỉ tham gia thụ động vào cácquan hệ pháp luật hoặc được pháp luật bảo vệ trong các quan hệ nhất định.Tính thụđộng của chủ thể thể hiện ở chỗ là không tự tạo ra được cho mình các quyền vànghĩa vụ pháp lý Các quyền và nghĩa vụ pháp lý mà họ có được trong mối quan hệpháp luật cụ thể là do ý chí của nhà nước, ý chí của người thứ ba
VD: Một đứa trẻ được thừa kế khi bố mẹ chết; một nam thanh niên khi đủ tuổithì phải đi đăng kí nghĩa vụ quân sự
Năng lực pháp luật của cá nhân do Nhà nước quy định Nó xuất hiện kể từ khi
cá nhân sinh ra và chỉ mất đi khi cá nhân chết Trong một số lĩnh vực, năng lựcpháp luật của cá nhân được mở rộng dần từng bước phụ thuộc vào sự phát triển củathể lực và trí lực
* Năng lực hành vi:
Là khả năng của chủ thể được nhà nước thừa nhận bằng hành vi của mình,thực hiện một cách độc lập các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lí tham gia vào cácquan hệ pháp luật
Khác với năng lực pháp luật, năng lực hành vi chỉ xuất hiện khi cá nhân đã đạtđược độ tuổi nhất định và đạt được những điều kiện nhất định
Tổ chức hoặc cá nhân có năng lực hành vi sẽ được tham gia với tư cách là chủthể quan hệ pháp luật, bằng hành vi của mình có thể độc lập xác lập và thực hiệncác quyền, nghĩa vụ pháp lý cũng như độc lập chịu trách nhiệm về những hành vicủa mình
VD: Ở nước ta, năng lực kết hôn được pháp luật quy định là 20 tuổi (nam); 18tuổi (nữ); năng lực bầu cử (18 tuổi); …
Trang 19Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là những thuộc tính pháp lí có mốiliên hệ mật thiết với nhau và không tách rời nhau của mỗi cá nhân Tuy nhiên,chúng không phải là những thuộc tính tự nhiên, không phải sẵn có khi người đósinh ra mà là những thuộc tính pháp lý Chúng đều do nhà nước thừa nhận cho mỗi
tổ chức hoặc cá nhân Chỉ thông qua quy phạm pháp luật ta mới biết được tổ chức,
cá nhân nào có năng lực chủ thể pháp luật để tham gia vào các quan hệ do phápluật quy định
* Các loại chủ thể của quan hệ pháp luật: Cá nhân; tổ chức.
- Cá nhân gồm: Công dân, người nước ngoài và người không có quốc tịch
- Tổ chức là các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội, tổ chức kinhdoanh dịch vụ Các tổ chức có thể là chủ thể của các quan hệ pháp luật khác nhau,song nhìn chung các tổ chức là chủ thể của quan hệ pháp luật phần lớn có tư cáchpháp nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, thương mại
Các điều kiện để một tổ chức có thể trở thành pháp nhân là: được cơ quan nhànước có thẩm quyền thành lập, cho phép thành lập, đăng ký hoặc công nhận; có cơcấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu tráchnhiệm bằng tài sản của mình và nhân danh mình khi tham gia các quan hệ phápluật một cách độc lập (Điều 84 BLDS) Các pháp nhân tham gia quan hệ pháp luậtnhư: cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội,
tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội…
b Nội dung của quan hệ pháp luật
Bao gồm các quyền và nghĩa vụ pháp lí của chủ thể:
* Quyền chủ thể: Là cách xử sự mà pháp luật cho phép chủ thể được tiến
hành Nói cách khác, quyền chủ thể là khả năng của chủ thể xử sự theo cách thứcnhất định được pháp luật cho phép Nói là khả năng có nghĩa là chủ thể có thể lựachọn giữa việc xử sự theo cách thức mà nó được phép tiến hành hoặc không xử sựnhư vậy
VD: Công dân có quyền khiếu nại, tố cáo Họ có thể thực hiện việc đó, cũng
có thể không thực hiện nếu thấy bất lợi
Quyền chủ thể được thực hiện dưới các hình thức:
- Khả năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép
- Khả năng yêu cầu các chủ thể khác chấm dứt hành động cản trở mình thựchiện các quyền và nghĩa vụ hoặc yêu cầu họ tôn trọng các nghĩa vụ của họ phátsinh từ quyền và nghĩa vụ này
Trang 20- Khả năng của chủ thể yêu cầu các cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp cho mình.
* Nghĩa vụ pháp lý của chủ thể:
Là cách xử sự mà nhà nước bắt buộc họ phải tuân theo nhằm thực hiện cácquyền của chủ thể khác Nghĩa vụ pháp lí tự nó không phải là hành vi mà chỉ là sựcần thiết phải xử sự như vậy
Nghĩa vụ của chủ thể bao gồm những sự cần thiết phải xử sự sau:
- Cần phải tiến hành một số hoạt động nhất định;
- Cần kiềm chế không thực hiện một số hành động nhất định
- Cần phải chịu trách nhiệm pháp lí khi xử sự không đúng với những quy địnhcủa pháp luật
Quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể là hai hiện tượng pháp lý không thểthiếu trong một quan hệ pháp luật cụ thể Không có quyền nằm ngoài mối liên hệvới nghĩa vụ đảm bảo cho quyền đó được thực hiện và ngược lại không có nghĩa
vụ pháp lý nằm ngoài với quyền của chủ thể Điều này biểu hiện mối liên hệ chặtchẽ giữa các bên tham gia một quan hệ pháp luật cụ thể
Trong quan hệ pháp luật, quyền và nghĩa vụ của chủ thể luôn thống nhất, phùhợp với nhau Nội dung, số lượng và các biện pháp bảo đảm thực hiện chúng đều
do nhà nước quy định hoặc do các bên xác lập trên cơ sở các quy định đó
c Khách thể của Quan hệ pháp luật
Khách thể của QHPL là những lợi ích vật chất, tinh thần và những lợi ích xãhội khác có thể thỏa mãn những nhu cầu, đòi hỏi của các tổ chức, cá nhân mà vìchúng, các chủ thể tham gia vào các QHPL
Khách thể là cái thúc đẩy tổ chức và cá nhân tham gia vào các QHPL, vìchúng mà các chủ thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
Ví dụ: trong hợp đồng mua bán hàng hóa thì khách thể của bên mua hàng làhàng hóa, của bên bán hàng là tiền hàng; trong quan hệ kết hôn, khách thể là nhằmxác lập quan hệ vợ chồng và chung sống với nhau xây dựng cuộc sống gia đìnhhạnh phúc, ấm no…
Khách thể của quan hệ pháp luật cần được phân biệt với đối tượng điều chỉnhcủa pháp luật là những quan hệ xã hội mà pháp luật tác động tới Khách thể củaquan hệ pháp luật là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa đối với việc phân tích sự vậnđộng của quan hệ pháp luật Khách thể của quan hệ pháp luật phản ánh lợi ích củachủ thể Vì vậy, sự quan tâm nhiều hay ít của chủ thể quan hệ pháp luật đối với
Trang 21khách thể là động lực thúc đẩy sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quan hệ phápluật.
2.2.4 Sự kiện pháp lí
a Khái niệm sự kiện pháp lí
Quan hệ pháp luật không phải là một hiện tượng bất biến mà chúng có sự xuấthiện, thay đổi hoặc chấm dứt Sự xuất hiện, thay đổi hoặc chấm dứt của quan hệpháp luật sẽ xảy ra khi có đủ các yếu tố: quy phạm pháp luật; năng lực chủ thể và
sự kiện pháp lý Trong đó, quy phạm pháp luật, năng lực chủ thể là điều kiện cần,còn sự kiện pháp lý là điều kiện đủ
Sự kiện pháp lí là những tình huống, hiện tượng, quá trình xảy ra trong đờisống có liên quan tới sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt các quan hệ pháp luật
Ví dụ: sự kiện pháp lý của quan hệ vợ chồng là việc hai bên nam nữ đi đăng
ký kết hôn và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trao giấy đăng ký kết hôn cho họ;
sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ mua bán trong hợp đồng mua bán hàng hóa
là hợp đồng…
Thực chất sự kiện pháp lý là những sự kiện trong số các sự kiện xảy ra trongthực tế Sự khác nhau giữa sự kiện pháp lý với sự kiện thực tế khác là ý nghĩa củachúng đối với pháp luật Điều này có nghĩa là có những sự kiện thực tế không có ýnghĩa gì lắm đối với pháp luật (như gió thổi, hát ca…) song cũng có những sự kiện
có ý nghĩa lớn đối với nó (bão tố, cái chết của công dân, việc mua bán…)
Sự kiện thực tế chỉ trở thành sự kiện pháp lý chỉ khi nào pháp luật quy định rõđiều đó Mỗi nhà nước có quy định khác nhau về sự kiện pháp lý Việc thừa nhậnhay không thừa nhận một thực tế nào đó là sự kiện pháp lý đều xuất phát từ lợi íchcủa xã hội và của giai cấp nắm chính quyền trong xã hội
b Phân loại sự kiện pháp lí
Sự kiện pháp lí được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, song phổ biếnnhất là tiêu chí ý chí Với tiêu chuẩn này, sự kiện pháp lí được phân thành sự biếnpháp lí và hành vi
+ Sự biến: là những hiện tượng tự nhiên mà trong những trường hợp nhấtđịnh, pháp luật gắn với sự xuất hiện của chúng với sự hình thành ở các chủ thểquyền và nghĩa vụ pháp lí
Ví dụ: “Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết
định tuyên bố một người là đã chết trong các trường hợp:
Trang 22…Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau một năm, kể từ ngày tai nạn
hoặc thảm họa, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống”
cố ý gây thương tích; trộm cắp tài sản…)
Cách phân loại sự kiện pháp lý chỉ mang tính chất tương đối Một sự kiệnpháp lý nhất định xét theo căn cứ này thì sự kiện pháp lý khẳng định hay phủ địnhsong xét theo căn cứ khác thì lại là sự biến hay hành vi
Trang 23Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lí thực hiện, xâm hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
Vi phạm pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính tiêu cực, một tệ nạntrong xã hội Vi phạm pháp luật chỉ là những hành vi phản ứng tiêu cực của một số
cá nhân hoặc tổ chức đi ngược lại với ý chí nhà nước được thể hiện trong các quyphạm pháp luật Những phản ứng có tính chất tiên cực đó luôn gây hại cho nhànước, xã hội và công dân, do vậy chúng luôn bị nhà nước, xã hội và công dân lên
án, đấu tranh đòi hỏi phải loại bỏ chúng ra khỏi đời sống xã hội
3.1.2 Dấu hiệu vi phạm pháp luật
VPPL là hành vi có đủ 4 dấu hiệu sau:
- VPPL luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động), xác định của con
người được biểu hiện ra bên ngoài, không phải là những suy nghĩ hay những đặc tính cá nhân của con người Vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi của con
người hoặc là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội…nguy hiểmhoặc có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội Hành vi vi phạm pháp luật có thểđược thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động của các chủ thể phápluật Pháp luật không điều chỉnh những suy nghĩ hoặc đặc tính cá nhân khác củacon người nếu như những đặc tính đó không biểu hiện thành các hành vi cụ thể của
họ Do vậy, suy nghĩ, tình cảm, những đặc tính cá nhân khác của con người cho dù
có nguy hiểm cho xã hội cũng không bị coi là vi phạm pháp luật
- Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội
được pháp luật xác lập và bảo vệ Vi phạm pháp luật không chỉ là các hành vi nguy
hiểm cho xã hội mà còn là hành vi trái pháp luật, xâm hại tới các quan hệ xã hội
Trang 24được pháp luật bảo vệ Do vậy, những hành vi hợp pháp hay trái với các quy địnhcủa các tổ chức xã hội, trái với các quy tắc tập quán, đạo đức…mà không trái phápluật thì không bị coi là vi phạm pháp luật
Một cách khái quát, những gì mà pháp luật không cấm, không xác lập và bảo
vệ thì dù có làm trái, có xâm hại cũng không bị coi là vi phạm pháp luật Như vậy,tính trái pháp luật là dấu hiệu không thể thiếu của hành vi bị coi là vi phạm phápluật
- Vi phạm pháp luật phải là hành vi có lỗi (cố ý hoặc vô ý) của chủ thể hành
vi đó: Dấu hiệu trái pháp luật là biểu hiện bên ngoài của hành vi vi phạm pháp luật;
để xác định vi phạm pháp luật cần phải căn cứ cả vào mặt chủ quan của hành vi,nghĩa là xác định lỗi của chủ thể khi thực hiện hành vi trái pháp luật đó
Lỗi là yếu tố chủ quan thể hiện thái độ của chủ thể đối với hành vi trái phápluật của mình Những vi phạm pháp luật được thực hiện một cách khách quan, chủthể không có lỗi thì hành vi đó không được coi là vi phạm pháp luật Từ đó có thểkhẳng định rằng mọi vi phạm pháp luật trước hết phải là hành vi trái pháp luật,nhưng ngược lại, không phải tất cả mọi hành vi trái pháp luật đều bị coi là vi phạmpháp luật
Chỉ những hành vi trái pháp luật nào có lỗi (được chủ thể thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý) mới có thể bị coi là vi phạm pháp luật
- Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải có năng lực trách nhiệm
pháp lý Năng lực trách nhiệm pháp lý là khả năng phải chịu trách nhiệm pháp lý
của chủ thể do nhà nước quy định Thông thường nhà nước chỉ quy định sự độc lậpphải chịu trách nhiệm về hành vi của mình đối với những người có khả năng tự lựachọn được cách xử sự có tự do ý chí, nói khác đi, người đó phải có khả năng nhậnthức, điều khiển được hành vi của mình, có điều kiện lựa chọn và quyết định cách
xử sự cho mình và chịu trách nhiệm độc lập về hành vi của mình Do đó, pháp luậtchỉ quy định năng lực trách nhiệm pháp lý cho những người đạt được một độ tuổinhất định, có khả năng lý trí và có tự do ý chí Độ tuổi phải chịu trách nhiệm pháp
lý của con người được pháp luật quy định khác nhau trong mỗi loại quan hệ xã hộikhác nhau hoặc phụ thuộc vào tầm quan trọng, tính chất của quan hệ xã hội đó Đốivới những người do mất khả năng nhận thức hoặc khả năng lựa chọn, điều khiểnhành vi của mình ở thời điểm thực hiện hành vi đó thì pháp luật cũng quy định họkhông có năng lực trách nhiệm pháp lý, do vậy họ không phải chịu trách nhiệmpháp lý đối với trường hợp đó
Trang 25Tất cả mọi vi phạm pháp luật đều là hành vi trái pháp luật, nhưng không phảitất cả mọi hành vi trái pháp luật đều là vi phạm pháp luật (nếu không đủ 4 dấu hiệu
cơ bản trên)
VD: Một em bé 6 tuổi hoặc một người điên đốt cháy nhà người khác thì đó làhành vi trái pháp luật, nhưng không phải vi phạm pháp luật vì thiếu yếu tố năng lựctrách nhiệm pháp lý
3.1.3 Cấu thành vi phạm pháp luật
Cấu thành VPPL là tổng hợp các dấu hiệu pháp lí (khách quan và chủ quan)
do từng ngành luật tương ứng quy định thể hiện một hành vi gây nguy hiểm cho xãhội cụ thể là hành VPPL
Như vậy, VPPL được cấu thành bởi: Mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể
và khách thể vi phạm pháp luật
a Mặt khách quan của vi phạm pháp luật
Đây là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của VPPL, gồm:hành vi trái pháp luật; hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra và mối quan hệnhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả (sự thiệt hại mà nó gây ra cho xãhội)
- Hành vi trái pháp luật: Bất kỳ một vi phạm pháp luật nào cũng được cấuthành bởi hành vi trái pháp luật, nghĩa là, nếu trong thực tế không tồn tại hành vitrái pháp luật của cá nhân hoặc hoạt động trái pháp luật của tổ chức cụ thể nào đóthì không có vi phạm pháp luật xảy ra
- Hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra Mức độ nguy hiểm của hành vi tráipháp luật được xác định phụ thuộc vào tính chất và mức độ thiệt hại thực tế hoặcnguy cơ gây hại cho xã hội mà hành vi trái pháp luật đó gây ra
- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà nó gây racho xã hội Điều này thể hiện ở chỗ sự thiệt hại của xã hội là do chính hành vi tráipháp luật đó trực tiếp gây ra Nếu giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xãhội không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại của xã hội không phải là dohành vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra mà có thể là do những nguyên nhân khác
b Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật
Đây là những biểu hiện tâm lí bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật, baogồm:
- Lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật: là trạng thái tâm lí của chủ thể đối vớihành vi vi phạm pháp luật của mình và hậu quả do hành vi của mình gây ra Lỗithể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với xã hội Phụ thuộc vào mức độ tiêu cực
Trang 26trong thái độ của chủ thể, khoa học pháp lý chia lỗi thành hai loại: lỗi cố ý (trựctiếp hoặc gián tiếp) và lỗi vô ý (cẩu thả hoặc quá tự tin).
+ Lỗi cố ý trực tiếp: Chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguyhiểm cho xã hội, thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi củamình gây ra và mong muốn điều đó xảy ra
+ Lỗi cố ý gián tiếp: Chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguyhiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mìnhgây ra, nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xẩy ra
+ Lỗi vô ý vì quá tự tin: Chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả nguy hiểmcho xã hội do hành vi của mình gây ra nhưng hy vọng, tin tưởng hậu quả đó khôngxảy ra hoặc có thể ngăn chặn được
+ Lỗi vô ý cẩu thả: Chủ thể vi phạm đã không nhận thấy trước được hậu quảnguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra, mặc dù có thể hoặc cần phảinhận thấy trước hậu quả đó
- Động cơ vi phạm: là động lực thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạmpháp luật Thông thường khi thực hiện vi phạm pháp luật chủ thể thường được thúcđẩy bởi một động cơ nhất định nào đó Động cơ đó có thể là vụ lợi, trả thù và đêhèn…
- Mục đích vi phạm: là cái đích cuối cùng trong suy nghĩ của mình, chủ thểmong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Mục đích vi phạmcủa chủ thể cũng thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi Tuy nhiên, không phảikhi nào kết quả mà chủ thể vi phạm đạt được trong thực tế cũng trùng hợp với mụcđích mà chủ thể vi phạm mong muốn đạt được
Ví dụ: A chỉ muốn là B bị đau đớn về thể xác (mục đích gây thương tích)nhưng kết quả thực tế là B chết (cái chết của B nằm ngoài mong muốn của A).Hoặc M muốn giết chết N (mục đích giết người), nhưng kết quả thực tế N khôngchết (việc N không chết là nằm ngoài mong muốn của M)
c Chủ thể của vi phạm pháp luật:
Có thể là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý, nghĩa là theo
quy định của pháp luật thì họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luậtcủa mình trong trường hợp đó Ở mỗi loại vi phạm pháp luật đều có cơ cấu chủ thểriêng, chúng sẽ được xem xét tỉ mỉ ở các các ngành khoa học pháp lý cụ thể
d Khách thể của vi phạm pháp luật:
Là những QHXH được pháp luật bảo vệ nhưng bị hành vi VPPL xâm hại.Những quan hệ xã hội khác nhau thì có tính chất và tầm quan trọng khác nhau, do
Trang 27vậy tính chất và tầm quan trọng của khách thể cũng là những yếu tố để xác địnhmức độ nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật.
3.1.4 Các loại vi phạm pháp luật
Thông thường, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi có thểphân loại VPPL thành các nhóm sau:
- Vi phạm hình sự (tội phạm): là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do người
có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm cácquan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ (xâm phạm độc lập, chủ quyền,thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợppháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tàisản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vựckhác nhau của trật tự pháp luật XHCN)
- Vi phạm hành chính: là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ýhay vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lí nhà nước mà không phải là tội phạm hình
sự và theo quy định của pháp luật, phải bị xử phạt vi phạm hành chính
- Vi phạm dân sự: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi và xâm hại tới nhữngquan hệ tài sản, quan hệ nhân than có liên quan đến tài sản và quan hệ phi tài sản…
- Vi phạm kỉ luật nhà nước: là những hành vi có lỗi, trái với những quy chế,quy tắc xác lập trật tự trong nội bộ một cơ quan, xí nghiệp, trường học…
Vi phạm pháp luật là sự kiện pháp lý và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm pháplý
Như vậy, trách nhệm pháp lí là một loại quan hệ pháp luật đặc biệt giữa nhà
nước (thông qua các cơ quan có thẩm quyền) với chủ thể vi phạm pháp luật, trong
đó bên vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế nhà nước được quy định ở “chế tài” của các quy phạm pháp luật do ngành luật tương ứng quy định.
VD: Nhà nước xử phạt A 15 năm tù về tội giết người; B bị tòa án phạt bồithường thiệt hại 10 triệu cho C vì đã có hành vi chậm giao hàng…
Trang 283.2.2 Đặc điểm của trách nhiệm pháp lí
- Trách nhiệm pháp lý là hậu quả của hành vi VPPL, do đó trách nhiệm pháp líchỉ phát sinh khi có sự VPPL
- Trách nhiệm pháp lý luôn được thực hiện trong phạm vi của quan hệ phápluật giữa hai bên với tính chất là hai chủ thể có các quyền và nghĩa vụ nhất định(một bên là Nhà nước, một bên là người đã thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho
3.3.3 Các loại trách nhiệm pháp lí
Trách nhiệm pháp lý có nhiều loại, thông thường chúng được chia thành: tráchnhiệm hình sự; trách nhiệm hành chính; trách nhiệm kỷ luật; trách nhiệm dân sự vàtrách nhiệm vật chất
- Trách nhiệm hình sự: là dạng trách nhiệm pháp lí nghiêm khắc nhất và là hậuquả của việc thực hiện tội phạm do Tòa án áp dụng đối với chủ thể có hành viphạm tội
- Trách nhiệm pháp lý dân sự (trách nhiệm dân sự): là hậu quả của hành viVPPL dân sự và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ápdụng đối với người có lỗi trong việc VPPL dân sự một hoặc nhiều biện pháp cưỡngchế của nhà nước do pháp luật dân sự quy định
- Trách nhiệm pháp lý hành chính (trách nhiệm hành chính): là hậu quả củahành vi VPPL hành chính và được thể hiện trong việc cơ quan nhà nước có thẩmquyền áp dụng đối với người có lỗi trong việc vi phạm pháp luật hành chính mộthoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của nhà nước do pháp luật hành chính quy định
- Trách nhiệm kỷ luật: là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, xí nghiệp,trường học…áp dụng đối với cán bộ, công chức, nhân viên, sinh viên…của cơquan, trường học…của mình khi họ vi phạm pháp luật
- Trách nhiệm vật chất là loại trách nhiệm pháp lý do các cơ quan, xí nghiệp…
áp dụng đối với cán bộ, công chức, công nhân…của cơ quan, xí nghiệp khi họ gâythiệt hại về tài sản cho cơ quan, xí nghiệp
Trang 29Tùy từng trường hợp vi phạm pháp luật mà áp dụng một loại trách nhiệmpháp lý tương ứng hoặc áp dụng đồng thời nhiều loại trách nhiệm pháp lý.
3.3 PHÁP CHẾ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
3.3.1 Khái niệm
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhân viên nhà nước, nhân viên các tổ chức xã hội và mọi công dân đều phải tôn trọng
và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác.
Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một khái niệm rộng bao gồm nhiều mặt:
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Bộ máynhà nước xã hội chủ nghĩa
Nó đòi hỏi tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước phải được tiếnhành theo đúng quy định của pháp luật, mọi cán bộ, nhân viên nhà nước đều phảinghiêm chỉnh thực hiện và tôn trọng pháp luật khi thực hiện các quyền và nghĩa vụcủa mình Mọi vi phạm pháp luật đều phải xử lý nghiêm minh Đây là cơ sở đảmbảo cho hoạt động của bộ máy nhà nước được nhịp nhàng, phát huy hiệu lực củanhà nước và đảm bảo công bằng xã hội
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc hoạt động của các tổ chức chính
trị-xã hội và các đoàn thể quần chúng
Các tổ chức đoàn thể có những hình thức, phương pháp và nguyên tắc hoạtđộng riêng, nhưng nó vẫn phải tôn trọng nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.Điều đó xuất phát từ chỗ mỗi thành viên của tổ chức, đoàn thể đều là một côngdân Đồng thời các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể được hình thành và hoạtđộng trong phạm vi lãnh thổ của nhà nước, tham gia các quan hệ xã hội, trong đómối quan hệ này cơ bản do nhà nước xác lập và bảo vệ
Các tổ chức đoàn thể phải có trách nhiệm giáo dục các hội viên tôn trọng vàthực hiện pháp luật của nhà nước
Khi đề ra nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tổ chức mình, các tổ chức phảiđảm bảo nguyên tắc này nằm trong phạm vi pháp luật cho phép
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc xử sự của công dân
Pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi mọi công dân phải tôn trọng pháp luật, phải
xử sự theo yêu cầu của pháp luật, đó là điều kiện đảm bảo công bằng xã hội, đảmbảo quyền bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo cho mỗi người tự do phát triển.Pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi mọi công dân phải có trách nhiệm tham giavào việc quản lý các công việc của nhà nước, thực hiện nguyên tắc kiểm tra, giám
Trang 30sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và đấu tranh chống viphạm pháp luật.
- Pháp chế xã hội chủ nghĩa có liên hệ mật thiết với dân chủ xã hội chủ nghĩa.Trong mối quan hệ này, dân chủ xã hội chủ nghĩa là cơ sở để củng cố nềnpháp chế xã hội chủ nghĩa Pháp chế xã hội chủ nghĩa là yếu tố cần thiết không thểthiếu được để củng cố và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyềnlàm chủ của nhân dân lao động, bởi vì pháp chế xã hội chủ nghĩa tạo ra tính tổchức kỉ luật, thiết lập kỷ cương xã hôi, bảo đảm công bằng xã hội
Mối liên hệ trực tiếp trên được thể hiện ở sự tham gia đông đảo của quầnchúng vào việc quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước
- Pháp chế và pháp luật có mối liên hệ mật thiết với nhau
Pháp chế xã hội chủ nghĩa và pháp luật có quan hệ mật thiết với nhau Phápchế không phải pháp luật mà là một phạm trù thể hiện những yêu cầu và sự đòi hỏiđối với các chủ thể pháp luật phải tôn trọng và triệt để thực hiện pháp luật Phápchế chỉ có thể được củng cố và tăng cường khi có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh,đồng bộ và phù hợp Pháp luật chỉ có thể phát huy hiệu lực của mình khi dựa trên
cơ sở vững chắc của nền pháp chế
3.3.2 Yêu cầu của pháp chế XHCN
Pháp chế xã hội chủ nghĩa có những yêu cầu sau đây:
- Tôn trọng tính tối cao của Hiến pháp và pháp luật.
Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm tính thống nhất của hệ thống phápluật xã hội chủ nghĩa
Hiến pháp và pháp luật là những văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp
lý cao nhất do Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ban hành Vì vậy,khi xây dựng pháp luật phải dựa trên cơ sở những quy định của Hiến pháp và luật,nếu không sẽ phá vỡ tính thống nhất của hệ thống pháp luật
Để thực hiện được yêu cầu này, một mặt phải chú trọng tới việc hoàn thiệnHiến pháp và xây dựng các văn bản luật để làm cơ sở cho sự phát triển và hoànthiện toàn bộ hệ thống pháp luật, mặt khác cần phải nhanh chóng cụ thể hóa nhữngquy định của hiến pháp và pháp luật
- Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế trên quy mô toàn quốc.
Xuất phát từ nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, phápchế XHCN đòi hỏi phải có tính thống nhất về nhận thức và tổ chức thực hiện luậttrên quy mô toàn quốc, không chấp nhận nguyên tắc đặc quyền và biệt lệ vônguyên tắc Thực hiện yêu cầu này nhằm thiết lập một trật tự kỷ cương, cơ quan
Trang 31cấp dưới phải phục tùng cơ quan cấp trên, lợi ích địa phương phải phù hợp với lợiích quốc gia, cá nhân có quyền tự do dân chủ nhưng phải tôn trọng quyền lợi củacác chủ thể khác, xóa bỏ tư tưởng cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tư tưởng vô chínhphủ, bảo đảm công tác xã hội.
- Các cơ quan xây dựng pháp luật, tổ chức thực hiện và bảo vệ pháp luật hoạt động một cách tích cực, chủ động và hiệu quả.
Xây dựng pháp luật với nội dung như thế nào là kết quả của quá trình hoạtđộng chủ quan của con người, do đó muốn củng cố nền pháp chế thì các cơ quan
có trách nhiệm phải có đầy đủ khả năng và điều kiện để hoàn thiện hệ thống phápluật
Tổ chức và thực hiện pháp luật là một mặt quan trọng của nền pháp chế Vìvậy, để tăng cường pháp chế phải đảm bảo cho các cơ quan tổ chức thực hiện phápluật hoạt động có hiệu quả
Một trong những yêu cầu của pháp chế xã hội chủ nghĩa là phải có những biệnpháp nhanh chóng, hữu hiệu để xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạmpháp luật Kết quả hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật (Tòa án, Viện kiểmsát, Thanh tra) có ảnh hưởng đến việc củng cố và tăng cường pháp chế
- Không tách rời công tác pháp chế với văn hóa.
Trình độ văn hóa của công chúng càng cao thì pháp chế càng được củng cốvững mạnh Văn hóa là cơ sở để củng cố nền pháp chế và ngược lại, nền pháp chếvững mạnh sẽ nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân Vì vậy, phải chú trọng nângcao trình độ văn hóa của nhân dân
3.3.3 Vấn đề tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Để củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa phải tiến hành đồng bộcác biện pháp sau:
- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với pháp chế.
Đây là biện pháp cơ bản, bao trùm xuyên suốt trong quá trình củng cố và tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chếđược thể hiện ở những mặt sau:
+ Đảng đề ra các chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đề ra chiến lược toàndiện về công tác pháp chế
+ Trong từng thời kỳ, Đảng đề ra những phương hướng về xây dựng phápluật, tổ chức xây dựng pháp luật, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật, chống viphạm pháp luật
Trang 32+ Đảng vạch ra những phương hướng chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt độngcủa nhà nước trong công tác pháp chế.
+ Sự gương mẫu của đảng viên và các tổ chức đảng ở cơ sở trong việc tôntrọng và thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của nhà nước
- Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Phải thường xuyên tiến hành hệ thống hóa pháp luật để phát hiện và loại bỏnhững quy định trùng lặp, mâu thuẫn, lạc hậu, bổ sung những thiếu sót trong hệthống pháp luật, kịp thời thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng thành phápluật Thực hiện được như vậy, pháp chế mới có thể được củng cố và tăng cường
- Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật.
Đây là biện pháp bao gồm nhiều mặt nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôntrọng và thực hiện nghiêm minh Cụ thể là:
Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học pháp lý, giải thích pháp luật, để làmsáng tỏ nội dung, ý nghĩa của các quy phạm pháp luật cho nhân dân
Chú trọng công tác đào tạo đội ngũ cán bộ pháp lý có đủ trình độ, phẩm chấtchính trị và khả năng công tác để bố trí vào các cơ quan làm công tác pháp chế,pháp luật
Trong từng thời kỳ cần có sự tổng kết, rút kinh nghiệm kịp thời để thấy rõnhững thiếu sót trong công tác tổ chức và thực hiện pháp luật, đề ra những phươnghướng và biện pháp tăng cường hiệu lực của công tác này
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh những hành vi viphạm pháp luật
Công tác này đòi hỏi phải thường xuyên tổ chức kiểm tra hoạt động của bộmáy nhà nước, đặc biệt là cơ quan làm công tác bảo vệ pháp luật Công tác kiểmtra, giám sát xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật chỉ có thểđược thực hiện tốt khi có sự chỉ đạo của Đảng, sự chủ động sáng tạo của các cơquan có thẩm quyền và sự tham gia của quần chúng Thực hiện tốt biện pháp nàynhằm đảm bảo cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh, mọi người đều bìnhđẳng trước pháp luật
Trang 33PHẦN II MỘT SỐ NGÀNH LUẬT TRONG HỆ THỐNG
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
CHƯƠNG 4 LUẬT HIẾN PHÁP
4.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT HIẾN PHÁP
4.1.1 Khái niệm luật hiến pháp
Luật hiến pháp là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tổ chức quyền lực nhà nước như: chế độ chính trị, chế độ kinh
tế, chính sách văn hóa- xã hội, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, các nguyên tắc, tổ chức và hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, bảo vệ tổ quốc.
4.1.2 Đối tượng điều chỉnh của Luật Hiến pháp
Luật Hiến pháp có phạm vi đối tượng điều chỉnh rất rộng, liên quan đến nhiềulĩnh vực của đời sống xã hội và Nhà nước Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa làluật hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội trong mọi lĩnh vực của đời sống nhànước và xã hội Ngược lại, luật hiến pháp chỉ điều chỉnh những quan hệ xã hội cơbản nhất, quan trọng nhất mà những quan hệ đó tạo thành nền tảng của chế độ nhànước và xã hội, có liên quan tới việc thực hiện quyền lực nhà nước
Hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản nhất, quan trọng nhất, có thểphân thành các nhóm như sau:
- Trong lĩnh vực chính trị, Luật hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội liênquan đến việc xác định nguồn gốc quyền lực nhà nước, các hình thức nhân dân sửdụng quyền lực nhà nước, các quan hệ xã hội xác mối quan hệ giữa Nhà nước,Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận tổ quốc và các tổ chức thành viên trong hệthống chính trị; các quan hệ về chính sách đối nội, đường lối đối ngoại v.v…những quan hệ xã hội này là cơ sở để xác định chế độ chính trị của nhà nước ta
Trang 34- Trong lĩnh vực kinh tế, Luật hiến pháp điều chỉnh các quan hệ xã hội liênquan đến việc xác định cơ sở kinh tế của nhà nước như: các hình thức sở hữu, cácthành phần kinh tế, chính sách của nhà nước đối với các thành phần kinh tế, vai tròcủa nhà nước đối với nền kinh tế.
- Trong mối quan hệ giữa nhà nước với công dân, Luật hiến pháp điều chỉnhcác quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định địa vị pháp lý cơ bản của công dân,các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, các biện pháp bảo đảm thực hiệnquyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
- Trong lĩnh vực tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, Luật hiến phápđiều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến việc xác định các nguyên tắc, cơ cấu
tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước
4.1.3 Phương pháp điều chỉnh
Quan hệ xã hội liên quan đến việc tổ chức quyền lực nhà nước là những quan
hệ xã hội rất quan trọng, có tính chất cơ sở cho các quan hệ khác Đây là nhữngquan hệ cội nguồn, đặt nền móng cho sự phát sinh cho các quan hệ xã hội khác Dovậy, luật Hiến pháp sử dụng một số phương pháp sau:
- Phương pháp cho phép
Phương pháp này thường được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội liênquan đến thẩm quyền của các cơ quan nhà nước, quyền hạn của những người cóchức trách trong bộ máy nhà nước Các quy định của Hiến pháp cho phép chủ thểthực hiện những hành vi nhất định
VD: Điều 80, hiến pháp 2013: “ Đại biểu quốc hội có quyền chất vấn chủ tịch
nước, chủ tịch quốc hội, thủ tướng chính phủ…”
- Phương pháp bắt buộc
Phương pháp này thường được sử dụng để điều chỉnh các quan hệ xã hội liênquan tới nghĩa vụ của công dân, tổ chức và hoạt động của quyền lực nhà nước, củacác cơ quan nhà nước Nội dung của phương pháp này là quy phạm luật hiến phápbắt buộc chủ thể phải thực hiện những hành vi nào đó
VD: Điều 47: “Mọi người có nghĩa vụ nộp thuế theo luật định”.
Trang 35- Phương pháp cấm:
Phương pháp này được sử dụng để điều chỉnh một số quan hệ xã hội liên quanđến hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc của công dân Theo phương pháp này,các quy phạm luật hiến pháp cấm chủ thể thực hiện những hành vi nhất định
VD: Điều 24, Hiến pháp 2013: “3 Không ai được xâm phạm tự do tín
ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”
4.2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT HIẾN PHÁP (HIẾN PHÁP2013)
Ngày 28/11/2013, QH nước CHXHCNVN đã thông qua HP 2013 với486/488 tán thành, chiếm 97,59%; sau hơn 21 năm đất nước ta đã có bản HP mới,
HP của thời kỳ hội nhập, đổi mới và phát triển Có hiệu lực từ 1/1/2014 Hiến pháp
2013 bao gồm 11 chương, 120 điều
4.2.1 Chế độ chính trị (chương 1)
Chế độ chính trị là tổng thể các nguyên tắc, quy phạm của luật hiến pháp (bao gồm các nguyên tắc, quy phạm thể hiện trong các nguồn khác của luật hiến pháp) để xác lập và điều chỉnh các vấn đề về chính thể và chủ quyền quốc gia, về bản chất và mục đích của nhà nước, về tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước
và quyền lực nhân dân, về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị và chính sách đối nội, đối ngoại của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Nội dung của chế độ chính trị:
- Khẳng định bản chất của nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì nhândân Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức (Điều 2)
- Khẳng định quyền dân tộc cơ bản: nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đấtliền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời (Điều 1) Đây là quyền đặc biệt vì nó là cơ
sở phát sinh các quyền khác
- Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản: Là đội tiên phong của giaicấp công nhân Việt Nam, là đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân,
Trang 36nhân dân lao động và của cả dân tộc theo Chủ nghĩa Mác lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội (Điều 4).
- Là Nhà nước thống nhất của nhiều dân tộc cùng sinh sống trên đất nước ViệtNam (Điều 5)
- Nhà nước đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt củanhân dân (Điều 3)
- Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồngnhân dân các cấp theo nguyên tắc: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.(Điều 7)
- Khẳng định đường lối đối ngoại của Nhà nước ta là hòa bình, hữu nghị, mởrộng giao lưu, hợp tác quốc tế với các nước trên thế giới
4.2.2 Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (chương 2)
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân không những được quy định tronghiến pháp- đạo luật cơ bản của nhà nước mà còn được cụ thể hóa trong các văn bảnpháp luật khác Tổng thể các quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ
cơ bản của công dân tạo nên quy chế pháp lý của công dân Tuy nhiên, chúng tacũng phải thấy rằng, trong việc hình thành quy chế pháp lý của công dân, nhữngquyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được quy định trong hiến pháp đóng vaitrò quan trọng nhất
Đặc điểm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân:
- Quyền cơ bản của công dân thường xuất phát từ các quyền tự nhiên thiêngliêng và bất khả xâm phạm của con người như quyền sống, quyền bình đẳng,quyền tự do mưu cầu hạnh phúc và là các quyền được hầu hết các quốc gia trên thếgiới thừa nhận
- Nghĩa vụ cơ bản của công dân là các nghĩa vụ tối thiểu mà công dân phảithực hiện đối với Nhà nước và là tiền đề đảm bảo cho các quyền cơ bản của côngdân được thực hiện
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong hiến pháp là cơ
sở chủ yếu để xác định địa vị pháp lý của công dân Các quyền và nghĩa vụ cơ bản
Trang 37của công dân là cơ sở đầu tiên cho mọi quyền và nghĩa vụ khác của công dân đượccác ngành luật trong hệ thống pháp luật nước ta ghi nhận.
- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là nguồn gốc phát sinh cácquyền và nghĩa vụ khác của công dân Cơ sở phát sinh duy nhất của các quyền vànghĩa vụ cơ bản của công dân là quyền công dân- nghĩa là người có quốc tịch ViệtNam, còn cơ sở phát sinh các quyền và nghĩa vụ khác của công dân là các quan hệpháp luật, là các sự kiện pháp lý…
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là những quyền và nghĩa vụ cơ bảnvì:
+ Nó xác định mối quan hệ cơ bản nhất giữa nhà nước và công dân
+ Nó được quy định trong đạo luật cơ bản nhất
+ Nó là cơ sở phát sinh các quyền và nghĩa vụ cơ bản khác của công dân
- Quyền và nghĩa vụ cơ bản của của công dân được phân thành ba nhóm chínhsau:
+ Các quyền về chính trị: Quyền bầu cử, quyền ứng cử và các cơ quan quyền
lực nhà nước; quyền tham gia quản lí nhà nước, thảo luận các vấn đề chung, biểuquyết khi nhà nước tổ chức lấy ý kiến của nhân dân
+ Các quyền kinh tế, văn hóa- xã hội: Quyền tự do kinh doanh, quyền được
học tập, quyền bảo vệ sức khỏe, quyền bình đẳng nam nữ
+ Các quyền tự do dân chủ và tự do cá nhân: Quyền tự do ngôn luận, tự do
báo chí, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được bảo
hộ về tài sản, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm…
- Các nghĩa vụ cơ bản của công dân: Bảo vệ tổ quốc; tôn trọng hiến pháp vàpháp luật, đóng thuế, lao động và học tập
4.2.3 Kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ và môi trường (chương 3)
- Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với
Trang 38phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.(điều 51)
- Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, điều tiết nền kinh tế trên cơ sở tôn trọng các quy luật thị trường
- Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu và thống nhất quản lý
- Ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, quỹ tài chính nhà nước và các nguồn tài chính công khác do Nhà nước thống nhất quản lý và phải được sử dụng hiệu quả, công bằng, công khai, minh bạch, đúng pháp luật.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng trong hoạt động kinh tế - xã hội và quản lý nhà nước.
- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động
- Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
- Nhà nước, xã hội chăm lo xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
- GIÁO DỤC LÀ QUỐC SÁCH HÀNG ĐẦU Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
- Phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Trang 39- Nhà nước có chính sách bảo vệ môi trường; quản lý, sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu
4.2.4 Bảo vệ tổ quốc
- Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân
- Nhà nước củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân mà nòng cốt là lực lượng vũ trang nhân dân; phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc Tổ quốc, góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới
- Cơ quan, tổ chức, công dân phải thực hiện đầy đủ nhiệm vụ quốc phòng và
an ninh
CHƯƠNG 6 LUẬT LAO ĐỘNG
6.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LUẬT LAO ĐỘNG
6.1.1 Khái niệm.
Luật lao động là tổng hợp những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp với quan hệ lao động.
6.1.2 Đối tượng điều chỉnh.
Đối tượng điều chỉnh của luật lao động là các quan hệ lao động hay còn gọi làquan hệ về sử dụng lao động và những quan hệ liên quan trực tiếp đến quan hệ laođộng
* Quan hệ lao động:
Quan hệ lao động là quan hệ giữa người lao động với người sử dụng lao độngtrong quá trình lao động Quan hệ này là một trong những bộ phận cấu thành củaquan hệ sản xuất, thuộc nhóm các quan hệ tổ chức, quản lý và phụ thuộc vào quan
hệ sở hữu
Trang 40Trong quan hệ lao động, một bên tham gia với tư cách là người lao động, cónghĩa vụ phải thực hiện công việc theo yêu cầu của bên kia và có quyền nhận thùlao từ công việc đó; bên thứ hai là người sử dụng lao động, có quyền sử dụng sứclao động của người lao động và có nghĩa vụ trả thù lao về việc sử dụng lao độngđó.
Nội dung quan hệ lao động còn bao gồm các vấn đề về thời gian lao động, sựchi phối của các bên đến điều kiện lao động và trình tự thực hiện công việc, phânphối sản phẩm…Yếu tố cơ bản nhất của quan hệ lao động là vấn đề sử dụng laođộng nên cũng có thể gọi đó là quan hệ sử dụng lao động
Quan hệ lao động với tư cách là đối tượng điều chỉnh của luật lao động làquan hệ lao động theo hợp đồng lao động giữa người lao động với:
- Các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hộinghề nghiệp, các hợp tác xã;
- Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài;
- Các cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức phi chính phủ hoặc tổ chức quốc tếtại Việt Nam;
- Các gia đình, cá nhân sử dụng lao động tại Việt Nam
* Các quan hệ có liên quan đến quan hệ lao động
- Quan hệ việc làm;
- Quan hệ học nghề;
- Quan hệ bồi thường thiệt hại trong quá trình lao động;
- Quan hệ giữa tập thể lao động hoặc người đại diện của họ với bên sử dụnglao động;
- Quan hệ bảo hiểm xã hội;
- Quan hệ giải quyết tranh chấp lao động;
- Quan hệ về giải quyết đình công;