Giảm xuất khẩu bằng cách đánh thuế cao do nhà nước không khuyến khích các mặt hàng sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị can kiệt hay các mặt hàng mà tính chất quan trọng của nó đối
Trang 1PHẦN I : LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô của nền kinh tế, là nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nước Chính sách thuế gắn liền với chính sách phát triển của mọi quốc gia Đối với những quốc gia đang thực hiện nền kinh tế chuyển đổi, tiến xâu vào hội nhập quốc tế thì chính sách thuế năng động, phù hợp càng trở nên cực kỳ quan trọng
Các luật thuế mới góp phần tích cực nhằm bảo hộ sản xuất trong nước, thúc đẩy đầu tư, khuyến khích xuất khẩu và quản lý nhập khẩu Về cơ bản phù hợp với thực tiển sản xuất, kinh doanh, góp phần làm cho sản xuất kinh doanh ổn định, phát triển, tác động sâu sắc đến quá trình chuyển đổi nền kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội
Xây dựng một chính sách thuế tích cực, hợp lý kích thích sự năng động của hoạt động giao thương trong quá trình hội nhập là bước đột phá kích hoạt tăng trưởng kinh tế
Trong hoạt động thương mại, cán cân xuất nhập khẩu là mối quan tâm lớn Nhất là những nước đang phát triển như Việt Nam nhằm công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước thì phải đẩy mạnh xuất nhập khẩu Ở lĩnh vực này thuế là một giải pháp quan trọng
Trong các chính sách thuế thì chính sách thuế xuất nhập khẩu, giá trị gia tăng, tiêu thụ đặc biệt có tầm quan trọng hơn cả
Nhưng trong đề tài này chúng ta chỉ xem xét tác động của thuế xuất khẩu đối với
nền kinh tế như thế nào qua tiểu luận : “Phân tích tác động của thuế xuất khẩu”
Trang 2PHẦN II : NỘI DUNG
I Lý thuyết :
1 Khái niệm :
Cơ cấu hàng xuất khẩu của các nước rất khác nhau, nhất là các nước đang phát triển Ở các nước này nguồn thu từ thuế xuất khẩu thường chiếm 20% nguồn thu
từ thuế
Thuế xuất khẩu là loại thuế gián thu, thu vào các mặt hàng được phép xuất khẩu Hàng hóa xuất khầu là một vật cụ thể được xuất khẩu ra nước ngoài Thuế áp dụng với hàng hóa xuất khẩu qua cửa khẩu, biên giới các quốc gia hoặc một nhóm quốc gia
2 Mục đích đánh thuế xuất khẩu :
Thuế xuất khẩu là loại thuế đánh vào những mặt hàng mà nhà nước muốn hạn chế xuất khầu
Giảm xuất khẩu bằng cách đánh thuế cao do nhà nước không khuyến khích các mặt hàng sử dụng nguồn tài nguyên khan hiếm đang bị can kiệt hay các mặt hàng
mà tính chất quan trọng của nó đối với sự an toàn lương thực hay an ninh quốc gia đặt lên trên hết
Thuế xuất khẩu được ban hành và sửa đổi bổ sung phù hợp với đường lối chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới Là hàng rào thuế quan bảo hộ hàng trong nước nhằm hạn chế những mặt hàng thiết yếu và những loại vật tư, nguyên liệu quí hiếm, mặt khác cũng tạo điều kiện để hàng trong nước xuất khẩu ra nước ngoài
3 Vai trò của thuế xuất khẩu :
Thuế xuất khẩu là một trong những biện pháp tài chính mà các nước dùng để can thiệp vào hoạt động ngoại thương Thuế xuất khẩu thực chất là một khoản thu bắt
Trang 3buộc điều tiết vào giá của hàng hoá, dịch vụ được trao đổi buôn bán giữa các quốc gia mà chủ sở hữu chúng phải nộp thuế cho nhà nước
Thuế chính là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước
4 Đối tượng nộp thuế và chịu thuế :
Tất cả hàng hoá được phép xuất khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế xuất khẩu ngoại trừ các trường hợp sau:
1/ Hàng quá cảnh và mượn đường qua lãnh thổ Việt Nam
2/ Hàng kinh doanh theo phương thức chuyển khẩu
3/ Hàng hóa đưa từ khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan này sang khu chế xuất, doanh nghiệp chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoại quan khác trong lãnh thổ Việt Nam; Hàng hoá xuất khẩu ra vào các khu vực được phép miễn thuế theo quy định của Chính phủ
4/ Hàng viện trợ nhân đạo
5 Căn cứ tính thuế xuất khẩu :
5.1- Số lượng từng mặt hàng xuất khẩu ghi trong tờ khai hàng hoá xuất khẩu : Theo quy định tại điều 8 Luật thuế xuất khẩu số 45/2005/QH11 ngày 14 tháng 06 năm 2005 của Quốc Hội khóa 11 thì Căn cứ tính thuế, phương pháp tính thuế và đồng tiền nộp thuế được xác định như sau:
1 Căn cứ tính thuế xuất khẩu là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu ghi trong tờ khai hải quan, giá tính thuế, thuế suất theo tỷ lệ phần trăm (%); đối với mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối thì căn cứ tính thuế là số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu ghi trong tờ khai hải quan và mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hóa
2 Phương pháp tính thuế được quy định như sau:
a) Số thuế xuất khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với giá tính thuế và thuế suất của từng mặt hàng ghi trong Biểu thuế tại thời điểm tính thuế;
Trang 4b) Trong trường hợp mặt hàng áp dụng thuế tuyệt đối thì số thuế xuất khẩu phải nộp bằng số lượng đơn vị từng mặt hàng thực tế xuất khẩu ghi trong tờ khai hải quan nhân với mức thuế tuyệt đối quy định trên một đơn vị hàng hoá tại thời điểm tính thuế
3 Đồng tiền nộp thuế là đồng Việt Nam ; trong trường hợp được phép nộp thuế bằng ngoại tệ thì phải nộp bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi
5.2- Giá tính thuế:
5.2.1/ Đối với hàng hoá xuất khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hoá:
Giá bán cho khách hàng tại cửa khẩu xuất (giá FOB), không bao gồm phí bảo hiểm (I) và chi phí vận tải (F) Căn cứ để xác định giá bán cho khách hàng là hợp đồng mua bán hàng hoá với đầy đủ nội dung chủ yếu của một bản hợp đồng theo quy định tại Luật Thương mại phù hợp với các chứng từ hợp pháp, hợp lệ có liên quan đến việc mua bán hàng hoá;
Giá tính thuế là giá thực tế phải thanh toán cho người bán
5.2.2/ Đối với hàng hoá xuất khẩu không theo hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc hợp đồng không phù hợp theo quy định tại Luật Thương mại thì giá tính thuế xuất khẩu do Cục Hải quan địa phương qui định
5.3- Thuế suất của mặt hàng xuất khẩu
Thuế suất thuế xuất khẩu được quy định cụ thể cho từng mặt hàng tại Biểu thuế thuế xuất khẩu
6 Thời điểm tính thuế:
Thời điểm tính thuế xuất khẩu là ngày đối tượng nộp thuế đăng ký Tờ khai hàng hóa xuất khẩu với cơ quan Hải quan theo qui định của Luật Hải quan Trường hợp đối tượng nộp thuế khai báo điện tử thì thời điểm tính thuế là ngày cơ quan Hải quan cấp số Tờ khai tự động từ hệ thống
Trang 5Quá 15 ngày kể từ ngày đăng ký Tờ khai nhưng chưa có hàng hoá thực xuất khẩu thì Tờ khai đã đăng ký không có giá trị Khi có hàng hoá thực tế xuất khẩu phải làm lại thủ tục kê khai và đăng ký Tờ khai hàng hoá xuất khẩu
7 Thời hạn nộp thuế xuất khẩu:
1/ Đối với hàng hoá xuất khẩu là 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp
2/ Đối với hàng hoá là vật tư, nguyên liệu nhập khẩu để trực tiếp sản xuất hàng hoá xuất khẩu là 9 tháng (được tính tròn là 275 ngày) kể từ ngày nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp
3/ Trường hợp hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm xuất - tái nhập hoặc tạm nhập - tái xuất thì thời hạn nộp thuế là 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn của cơ quan có thẩm quyền cho phép tạm xuất - tái nhập hoặc tạm nhập - tái xuất (áp dụng cho cả trường hợp được phép gia hạn) theo quy định của Bộ Thương mại 4/ Đối với hàng hoá tiêu dùng phải nộp xong thuế trước khi nhận hàng hoá
5/ Đối với hàng hóa xuất khẩu phi mậu dịch; hàng hoá xuất khẩu của cư dân biên giới thì đối tượng nộp thuế phải nộp xong thuế trước khi xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài vào Việt Nam
6/ Đối với hàng hóa không thuộc diện thực hiện nộp thuế theo qui định tại điểm 2,
3, 4 và 5 nêu trên, thì thời hạn nộp thuế là 30 ngày kể từ ngày đối tượng nộp thuế nhận được thông báo thuế của cơ quan Hải quan về số thuế phải nộp
7/ Hàng hóa có thời hạn nộp thuế khác nhau thì phải mở Tờ khai hàng hóa riêng theo từng thời hạn nộp thuế
8/ Trường hợp hàng hoá còn trong sự giám sát của cơ quan Hải quan, nhưng bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tạm giữ để điều tra, chờ xử lý thì thời hạn nộp thuế đối với từng loại hàng hoá thực hiện theo quy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và tính từ ngày cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có văn bản cho phép giải toả hàng hoá đã tạm giữ
Trang 68 Tác động của thuế xuất khẩu :
a Lợi ích :
Nhằm bảo vệ nguồn cung trong nước của một số mặt hàng
Nhằm bình ổn giá của một số mặt hàng
Nhằm hạn chế xuất khẩu để giảm xung đột thương mại
Nhằm nâng giá mặt hàng nào đó trên thị trường quốc tế
Tăng thu ngân sách cho nước
b Tác hại;
Tăng giá hàng hóa trên thị trường quốc tế, giữ giá thấp hơn ở thị trường nội địa Điều này sẽ làm giảm lượng khách hàng nước ngoài do họ cố gắng tìm kiếm các sản phẩm thay thế
Không khuyến khích các nhà sản xuất trong nước áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, công nghệ để tăng năng xuất, chất lượng và giảm giá thành
Xuất hiện tình trạng buôn lậu hàng hóa để trốn thuế
II- Thực trạng-Đánh giá thực trạng thuế xuất khẩu ở Việt Nam
1 Thực trạng :
1.1 Tác động của chính sách thuế hàng xuất khẩu mặt hàng than đá.
Khi chưa có thuế xuất khẩu giá than trong nước rẻ hơn giá than thế giới Sau khi được phép xuất khẩu giá trong nước sẽ tăng lên bằng giá thế giới Không người bán nào chấp nhận giá bán thấp hơn giá thế giới Và không người mua nào trả giá cao hơn giá thế giới
Với giá trong nước bằng giá thế giới Lượng cung trong nước khác với lượng cầu trong nước Đường cung chỉ ra lượng cung than mà người bán ở VN sẵn sàng cung ứng Đường cầu chỉ ra lượng cầu than của người mua ở VN Vì lượng cung trong nước lớn hơn lượng cầu trong nước nên VN bán than sang các nước khác Mặt dù lượng cung và lượng cầu trong nước khác nhau Nhưng thị trường than vẫn cân bằng vì giờ đây còn có những người tham gia thị trường khác là phần
Trang 7còn lại của thế giới Người ta có thể xem đường nằm ngang tại mức giá thế giới là đường biểu thị về đường cầu than của phần còn lại của thế giới
Lúc này các nhà sản xuất than trong nước được lợi vì bán được giá cao hơn Còn người tiêu dùng phải trả một mức giá cao bằng giá thế giới
Lúc này khi nhà nước đánh thuế xuất khẩu giá của người mua phải trả bằng
giá thế giới trừ đi thuế ( Pw-t) Và người bán cũng chỉ bán được tại giá Pw-t Nhờ thuế của chính phủ sẽ làm cho tăng thặng dư của người tiêu dùng, giảm thặng dư người sản xuất, bản thân chính phủ thu được một lượng thuế Mặc dù có tổn thất
xã hội, chính phủ vẫn thực hiện để bảo vệ người tiêu dùng trong nước và đảm bảo tăng thu ngân sách
Trang 8I.2 Tác động của thuế xuất khẩu ở mặt hàng cao su.
Từ ngày 08/12/2011, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư 145/2011/TT-BTC quy định áp dụng thuế xuất khẩu một số mặt hàng cao su với thuế suất từ 3% đến 5% Trước đó, Hiệp hội Cao su Việt Nam cũng đã có văn bản kiến nghị chưa nên thu thuế xuất khẩu cao su vì việc áp dụng thuế cần phải có lộ trình, thời điểm thích hợp, nếu không sẽ không khuyến khích được sự phát triển diện tích trồng cao su, gia tăng sản lượng trong thời điểm giá cao su luôn biến động như hiện nay Sau 3 tháng áp dụng Thông tư 145, thực tế vẫn cho thấy, thuế xuất khẩu cao su được áp dụng trong thời kỳ giá cao su sụt giảm mạnh nên đã gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và người sản xuất cao su
Việc giá cao su sụt giảm mạnh là do tác động của tình hình khủng hoảng nợ công tại châu Âu và thị trường cao su bị thu hẹp tại những nước tiêu thụ lớn là Trung Quốc, Hoa Kỳ, Nhật do nhiều ngành công nghiệp phát triển chậm lại Riêng Thái Lan, trước tình hình giá cao su giảm quá nhanh, ảnh hưởng đến thu nhập của người sản xuất, vào đầu năm 2012, Chính phủ Thái Lan đã lập nguồn vốn tín dụng
17 tỷ baht (tương đương 490 triệu đô-la) với lãi suất 0% để hỗ trợ doanh nghiệp
Trang 9mua trữ khoảng 200.000 tấn cao su Nhờ vậy, đã có tác động giúp giá cao su không tiếp tục giảm sâu hơn nữa Mặt khác, nguồn cung cao su bị hạn chế do vào mùa khô, nên giá tăng nhẹ trong Quý I, tuy nhiên vẫn còn thấp hơn so cùng kỳ năm trước
Giá cao su thiên nhiên của Việt Nam xuất khẩu trong 2 tháng đầu năm 2012 chỉ đạt bình quân 2.800 USD/tấn, giảm 35% so cùng kỳ năm trước, trong khi giá thành bình quân là đến 2.700 USD/tấn Do giá giảm mạnh nên tuy lượng xuất khẩu tăng gần 50% nhưng kim ngạch xuất khẩu cao su lại giảm 7% so cùng kỳ năm trước
Trong lúc thị trường tiêu thụ cao su bị thu hẹp, giá giảm và khó tăng trở lại như mức năm 2011, thì việc áp thuế trên cao su xuất khẩu làm doanh nghiệp Việt Nam giảm sức cạnh tranh về giá trên thị trường thế giới Nếu để giữ khách hàng thì không thể tăng giá, doanh nghiệp phải chịu giảm lợi nhuận hoặc phải mua nguyên liệu từ người trồng với giá thấp, do đó ảnh hưởng đến thu nhập của người trồng cao su mà hiện nay trên 52% diện tích là nông hộ tiểu điền
Cũng như các mặt hàng nông sản xuất khẩu khác, cao su thiên nhiên là một trong những mặt hàng có giá cả biến động rất mạnh Với chi phí đầu tư lớn, thời gian đầu tư dài hơn 7 năm mới có thu hoạch và trên 15 năm mới hoàn vốn, trong suốt chu kỳ trồng đến khai thác hơn 30 năm, người sản xuất cao su gặp rất nhiều rủi ro
do giá tăng giảm khó lường vì nhiều yếu tố tác động, như ảnh hưởng của tình hình kinh tế – chính trị của thế giới, giá dầu thô tác động đến giá cao su tổng hợp (là mặt hàng thay thế cao su thiên nhiên trong nhiều lĩnh vực), thời tiết thất thường, đầu cơ vào nông sản ngày càng tăng, tỷ giá thay đổi, lạm phát và chi phí đầu vào tăng dần…
Nhiều tổ chức quốc tế dự báo trong năm 2012, kinh tế của thế giới còn nhiều khó khăn, ngành Cao su cũng không lạc quan vào sự tăng trưởng tiêu thụ cao su của ngành Ô tô và những ngành công nghiệp khác Indonesia đến nay chưa thu thuế xuất khẩu vì đang trong quá trình khuyến khích mở rộng diện tích và tái canh với
Trang 10kỹ thuật tiến bộ Malaysia hiện chỉ thu thuế cao su xuất khẩu ở mức 1% giá xuất khẩu và toàn bộ thuế được đầu tư cho nghiên cứu chuyển giao và tái canh Thái Lan trước đây thu thuế xuất khẩu cao su là gần 1,2% giá xuất khẩu Từ năm 2010, thuế xuất khẩu cao su tùy theo giá từ mức 2,5%, 3% đến 5% với mục đích tạo nguồn mua trữ cao su khi giá thấp dưới giá sàn và hỗ trợ tái canh, phát triển công nghiệp chế biến sâu
1.3 Các mặt hàng xuất khẩu khác :
Kim ngạch xuất khẩu năm 2011 đạt hơn 96 tỉ USD, tăng 33,3% và là năm có mức tăng trưởng cao nhất kể từ sau năm 1995 Tuy nhiên, nhiều chuyên gia dự báo năm
2012, nhiều mặt hàng xuất khẩu của VN tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn
Ảnh & dữ liệu: T.MẠNH - Đồ họa: V.Cường Năm nay, rất nhiều ngành đóng góp chủ lực cho kim ngạch xuất khẩu như dệt may, da giày, đồ gỗ, thủy sản dự báo tiếp tục có tốc độ tăng trưởng tốt
Dệt may: nâng tỉ lệ nội địa hóa lên 48%
Đạt 14,02 tỉ USD, ngành dệt may đã trở thành đầu tàu “chở” nhiều kim ngạch xuất khẩu nhất về cho VN trong năm 2011, bỏ xa hàng loạt mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực khác
Trang 11Theo ông Lê Tiến Trường - phó chủ tịch Hiệp hội dệt may VN (Vitas) kiêm phó tổng giám đốc Tập đoàn dệt may VN (Vinatex), điều đáng ghi nhận là năm 2011 ngành dệt may đã cải thiện được tình hình xuất siêu lên 6,5 tỉ USD, tăng hơn 1 tỉ USD so với năm 2010 Đồng thời, tỉ lệ nội địa hóa của ngành cũng nâng từ mức 46% lên 48% trong năm 2011 Vitas cho rằng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tăng trưởng cao là do các doanh nghiệp trong nước đã thực hiện tốt công tác dự báo thị trường, tổ chức hoạt động đầu tư và sản xuất hiệu quả, tạo dựng được niềm tin và mối quan hệ thân thiết với các đối tác, khách hàng
Mục tiêu xuất khẩu 15 tỉ USD của ngành dệt may trong năm 2012, theo ông Trường, là “hết sức khó khăn”, đặc biệt các thị trường nhập khẩu chính của VN như Mỹ, EU, Nhật Bản Chưa kể các doanh nghiệp xuất khẩu còn phải đối mặt với hàng loạt khó khăn khi chi phí đầu vào như điện, nước, xăng dầu, tiền lương, lãi suất cho vay tiếp tục tăng, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và tăng trưởng của ngành trong năm nay
Ông Trường cho rằng để dệt may tiếp tục là đầu tàu trong năm 2012, điều quan trọng là các doanh nghiệp phải kiên định trong việc lựa chọn thị trường ngách, sản phẩm đặc thù, cũng như có kế hoạch trở thành đối tác chiến lược dài hạn với các nhà cung cấp lớn