1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SO SÁNH HỆ THỐNG TÒA ÁN ANH MỸ

13 104 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 117,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu trên mang tính chất tham khảo, bài làm thể hiện đầy đủ tất cả các mặt để dễ dàng so sánh giữa hai hệ thống tòa án với nhau. Mục đích bài viết này giúp cho các bạn sinh viên nắm rõ kiến thức về hệ thống tòa án quốc tế, cụ thể là tòa Anh và Mỹ

Trang 1

SO SÁNH HỆ THỐNG TÒA ÁN ANH MỸ

I Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu

1 Một số điểm nổi bật về dòng họ Common Law

Common Law là một trong hai hệ thống lớn nhất của thế giới, có cội nguồn từ hệ thống pháp luật Anh- quốc gia Châu Âu nhưng dòng họ pháp luật này có một số đặc điểm khác biệt căn bản với dòng họ pháp luật của đại đa số các nước Châu Âu- dòng họ Civil Law

Thứ nhất, Common Law là dòng họ pháp luật trong đó các hệ thống

trực thuộc ít, nhiều chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Anh và thừa nhận án lệ như nguồn luật chính thống, tức là thừa nhận học thuyết tiền lệ pháp

Thứ hai, thẩm phán các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Common

Law đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo và phát triển các quy luật pháp luật

Thứ ba, nhìn chung các hệ thống pháp luật thuộc dòng họ Common

Law không có sự phân biệt giữa luật công và luật riêng như dòng họ Civil Law, trừ hệ thống pháp luật Anh

Thứ tư, chế định pháp luật tiêu biểu của hệ thống pháp luật thuộc

dòng họ Common Law là chế định ủy thác

2 Hệ thống tòa án- cơ quan tư pháp

Theo nghĩa truyền thống, thuật ngữ “quyền tư pháp” thường được giải thích một cách đơn giản là quyền xét xử Nói cách khác, đó là quyền tòa án xét xử một vụ việc thực tế nào đó trên cơ sở xem xét các tình tiết của vụ việc, áp dụng pháp luật để xác định hậu quả pháp lý và ra phán quyết Theo nghĩa đó, hệ thống cơ quan thực hiện quyền tư pháp là hệ thống các cơ quan thực hiện quyền xét xử, tức là hệ thống tòa án Khái niệm này được chính thức đề cập trong tác phẩm nổi tiếng nhất của thuyết tam quyền phân lập, cuốn “ tinh thần pháp luật” của Mông- téc-xki-ơ Khái niệm tòa án- cơ quan tư pháp sau đó được phản ánh đậm nét trong Bài luận liên bang số 78 của Alexander Hamilton- một trong bốn nhà sáng lập nên Hiến pháp Hoa Kỳ

II Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống tòa án Anh-Mỹ

1 Quá trình hình thành và phát triển hệ thống tòa án ở Anh

- Thời kỳ Anglob - Sacxon (trước khi người Narmande xâm lược)

Anh đã từng là thuộc địa của La Mã kéo dài khoảng 4 thế kỷ nhưng dường như không có dấu vết ảnh hưởng quan trọng của luật La Mã trong pháp luật Anh Sau khi đế quốc La Mã suy tàn, nước Anh chia

Trang 2

nhiều vương quốc nhỏ và mỗi vùng như thế có luật riêng của mình gọi

là luật địa phương, chủ yếu có nguồn gốc từ Đức

- Thời kỳ thứ 2 (từ năm 1066- 1485)

Bắt đầu hình thành thông luật thay cho luật địa phương (Common Law) Năm 1066 người Normande xâm lược nước Anh và đặt ách thống trị với chính sách xây dựng nhà nước phong kiến có tính tập quyền cao (quyền lập pháp, hành pháp và quyền tư pháp) đều tập trung vào trong tay vua

- Thời kỳ thứ 3 (từ năm 1485- 1832)

Luật công bằng (Equity law ) để giải quyết những vụ việc phát sinh

mà pháp luật không điều chỉnh được Sau khi các án lệ của thông luật

có thể có các tranh chấp phát sinh do nhà vua giải quyết nhưng nhà vua không giải quyết nổi lên, Tòa đại pháp hình thành thay mặt vua giải quyết các vụ việc phát sinh => dựa vào lý lẽ công bằng để giải quyết (ý chí chủ quan về lý lẽ công bằng) => luật công ra đời, án lệ ngày càng nhiều và nó trở thành những nguyên tắc pháp lý chung

- Thời kỳ thứ 4 (từ 1832- cuối thế kỷ 19)

Là thời kỳ tiến hành cải cách tư pháp ở Anh Năm 1832, sau khi ra đời tổ chức Tòa án thì người ta cho phép dù là tòa án đại pháp hay tòa

án hoàng gia khi giải quyết vụ việc có thể áp dụng án lệ của Tòa án hoàng gia hoặc án lệ của tòa án đại pháp => thống nhất hệ thống pháp luật của Anh

- Thời kỳ thứ 5( từ thế kỷ XX- nay)

Ra đời hình thức pháp luật mới là việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật hình thức này chính thức từ 1972 do những biến đổi của xã hội phát sinh về nhiều mối quan hệ mới

2 Quá trình hình thành và phát triển của hệ thống tòa án Mỹ

Trước khi thông qua Hiến pháp, Hoa Kỳ chịu sự điều chỉnh của Hiến chương liên minh (Charter of Confederation) Theo Hiến chương, hầu hết chức năng của chính quyền quốc gia đề cử nằm trong tay của một

cơ quan lập pháp duy nhất gọi là Quốc hội, chưa có sự phân chia quyền hành pháp và lập pháp

Việc thiếu vắng hệ thống tư pháp quốc gia được coi là nhược điểm chính của Hiến chương Do đó, các đại biểu họp nhóm họp trong Hội nghị lập hiến được tổ chức tại Philadelphia năm 1787 đã nhất trí là phải thành lập một hệ thống tư pháp quốc gia

III Sơ đồ hệ thống Anh- hệ thống tòa án Mỹ

* Hệ thống tòa án Anh (England và xứ Wales)

Trang 3

* Hệ thống tòa án Mỹ

Trang 4

IV Sự tương đồng cơ bản giữa hệ thống tòa án Anh và hệ thống tòa án Mỹ

1 Cùng dòng họ Common Law:

Hay còn được gọi là hệ thống luật Anglo- Saxong, hệ thống Thông Luật

Nguồn gốc pháp luật chủ yếu dựa trên nền tảng pháp luật Anh cổ ( Anglo- Saxong) với những tập quán được hình thành từ sự phát triển của cộng đồng Như đã đề cập ở trên, cho dù Anh quốc từng bị đế quốc La Mã cai trị nhưng dường như không có dấu vết ảnh hưởng quan trọng của luật La Mã trong pháp luật Anh Sau khi La Mã suy tàn, nước Anh chia ra thành nhiều vương quốc nhỏ có các hệ thống pháp luật bao gồm dù ít hay nhiều, các quy định mang tính địa phương

Sau khi một nhà nước chuyên chế thống nhất được hình thành vào giai đoạn đầu của thế kỷ XI, tại Anh sau đó xuất hiện 3 tòa, mà trong một chừng mực nào đó có thẩm quyền chéo: Tòa Tài Chính, Tòa Hoàng Gia và Tòa chuyên các vụ kiện chung Với ưu thế về sự hiện đại, tính hiệu quả và nhận được sự ưa chuộng, các thẩm phán Hoàng gia trở thành “thẩm phán lưu động”, họ đi khắp đất nước để xét xử các

vụ việc nhưng vẫn giữ chỗ ở thường xuyên về mùa đông tại Luân Đôn Khi đi xét xử lưu động khắp đất nước, các thẩm phán Hoàng gia làm quen với các tập quán pháp khác nhau và mỗi khi gặp nhau tại Luân Đôn họ thường thảo luận với nhau, so sánh các điểm mạnh, điểm yếu của chúng Dần dần, điều này đưa đến kết quả là các thẩm phán Hoàng gia ngày càng áp dụng thường xuyên hơn các quy định pháp luật giống nhau trên khắp đất nước và thế là “luật Common” ra đời Các thẩm phán trong quá trình giải quyết các vụ việc của mình chủ yếu dựa trên những tập quán này để giải quyết Chính họ là những người đã đã tạo ra Common Law trong quá trình xét xử lưu động ở các địa phương trên toàn Anh quốc bằng việc thỏa thuận áp dụng thống nhất một số tập quán địa phương được lựachọn và nâng cấp các tập quán đó lên thành tập quán quốc gia Tuy nhiên, sau khi Common Law đã được hình thành, thay vì áp dụng tập quán pháp, các thẩm phán hoàng gia đã áp dụng án lệ trong quá trình xét xử trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc tiền

lệ pháp ( Rule of Precedent)

Sau khi hình thành ở Anh quốc, dòng họ Common law đã lan sang khắp các châu lục từ Châu Phi, Châu Mỹ đến Châu Úc, Châu Á và hình

Trang 5

thành nên “ hệ thống Common Law” Hệ thống này chủ yếu được mở rộng bằng con đường thuộc địa hóa của Hoàng gia Anh

2 Có tiền lệ pháp (án lệ)

Các hệ thống pháp luật thuộc hệ thống Common Law ít nhiều chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật của Anh và thừa nhận án lệ như nguồn luật chính thống, tức là thừa nhận học thuyết tiền lệ pháp Học thuyết này chi phối hệ thống án lệ theo hướng: các phán quyết đã tuyên của tòa án cấp trên nói chung có giá trị ràng buộc tòa án cấp dưới trong quá trình xét xử các vụ việc hiện tại ( nguyên tắc Stare Decisis)

Ở Mỹ, khi xét xử các hành vi vi phạm pháp luật và các tranh chấp nảy sinh, các tòa án cần phải diễn giải luật bằng các bản án trước đó của Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp cao hơn Đây được gọi là nguyên tắc theo quyết định trước hay đơn giản gọi là án lệ Nếu phải đối mặt với các án lệ bất lợi, bị đơn sẽ tìm cách phân biệt sự khác nhau giữa vụ việc của mình với vụ việc trước đó Sau đó Tòa án cấp cao hơn sẽ tìm cách giải quyết mâu thuẩn này để bổ sung cho án lệ ngày một hoàn chỉnh hơn

Ở Anh Quốc, vai trò sáng tạo cảu án lệ rất quan trọng, được thể hiện theo quy tắc của tiền lệ pháp đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX được hiểu như một quy tắc đã được lập ra trong một phán quyết ban hành trước

đó chỉ có hiệu lực ràng buộc đối với các thẩm phán khi xét xử các vụ kiện tương tự.Việc xây dựng án lệ theo quan điểm xét xử của các tòa

án có thẩm quyền xem xét bản án của tòa án cấp dưới đã góp phần bổ sung tốt sự thiếu sót của các quy định luật pháp trong thực tiễn, nên việc vận dụng án lệ kể cả tục lệ pháp được thực hiện khá phổ biến

Hệ thống án lệ này sẽ được phát triển qua các vụ việc được tòa án xét

xử Hệ quả tích cực của nó là làm thành một hệ thống Common Law

mở, gần gũi với đời sống thực tế, tạo nên tính chủ động sáng tạo, mềm dẻo và linh hoạt trong tư duy pháp luật Tuy nhiên dù án lệ có thể đã tồn tại trong một khoản thời gian nhưng những quy phạm tìm ẩn trong

án lệ không còn phù hợp để điều chỉnh các quan hệ trog xã hội vì xã hội thì ngày càng thay đổi, phát triển Trong vài thập kỷ gần đây, trong các hệ thống pháp luật này, án lệ không còn là nguồn luật duy nhất mà luật thành văn đã ngày càng trở thành nguồn luật quan trọng, thậm chí là nguồn luật quan trong hàng đầu, đặc biệt đối với những lĩnh vực không có án lệ

3 Hệ thống tòa án đều được cấp xét xử

Trang 6

Hệ thống tòa án Anh và Mỹ đều phân cấp xét xử hệ thống tòa án liên bang tại Mỹ gồm có 3 cấp độ: tòa án địa phương ( tòa sơ thẩm), tòa án khu vực là cấp phúc thẩm đầu tiên, và tòa án Tối cao Hoa kỳ- cấp phúc thẩm cao nhất trong hệ thống liên bang Có tất cả 94 tòa án địa phương,

13 tòa án khu vực và 1 tòa án Tối cao trên cả nước Còn trong hệ thống tòa án Vương Quốc Anh, cấp cơ sở bao gồm tòa đại hạt, tòa án cấp cao bao gồm tòa Nữ hoàng, tòa gia đình, tòa đại pháp, tòa phúc thẩm, tòa

án hình sự trung ương và cấp xét xử cao nhất là tòa án Tối cao Vương Quốc Anh.(2)

4 Chế độ thẩm phán

Thẩm phán ở Anh và thẩm phán tòa án Liên Bang có nhiệm kỳ suốt đời Cụ thể, thẩm phán ở Hoa Kỳ được chỉ định cả đời, không có tuổi nghỉ hưu Còn ở Anh thì thẩm phán sẽ được yêu cầu “ hang up the gavel” ở độ tuổi hơn 70 tuổi Một số người khi được chỉ định làm việc trước ngày 31/03/1995 có thể tiếp tục làm việc trong văn phòng tư pháp cho tới gần 75 tuổi

5 Công tố viên và luật sư biện hộ đóng vai trò chủ yếu

a Vai trò của thẩm phán (Magistrates)

Thẩm phán chủ tọa ( the chair) sẽ là người quyết định nếu 2 thẩm phán còn lại không thể thống nhất quan điểm, họ sẽ nghe mọi lời cáo buộc và đưa ra phán quyết Nếu họ cho rằng phiên xử sơ thẩm ấy có tính

chất nghiêm trọng hoặc họ cho rằng họ không đủ thẩm quyền giải quyết thì vụ án sẽ được chuyển lên Tòa hình sự Trung ương ( Crown Court )

b Vai trò của công tố viên

- Phải chứng minh được 3 điều:

+ Đưa ra lời cáo buộc

+ Chỉ đích danh bị cáo

+ Và phải chứng minh là tất cả bằng chứng đều được thu thập theo đứng trình tự và một cách hợp pháp

=> Nếu họ không bảo đảm 1 trong 3 điều trên thì bị cáo sẽ được tha bổng

- Trong lúc diễn ra phiên xét xử, họ còn được quyền chất vấn nhân chứng để lấy bằng chứng Tuy nhiên họ không thể hỏi những câu hỏi mang tính dẫn dắt hay đưa ra câu trả lời mang tính gợi ý

- Và chỉ cơ thể trình diện bằng chứng được thu thập một cách hợp pháp và đúng trình tự

Trang 7

- Nếu trong phiên tòa, luật sư biện hộ cho gọi nhân chứng ra trình diện thì công tố viên có thể cùng chất vấn nhân chứng với luật sư biện hộ

c Vai trò của luật sư biện hộ

- Bảo vệ thân chủ ( bị cáo)

- Nếu họ cho rằng bằng chứng mà phía công tố đưa ra không hợp pháp và không đúng thủ tục thì họ có thể yêu cầu xem xét lại bằng chứng và loại bỏ chúng theo luật Police and Criminal Evidence Act năm 1984

- “ Its not for the denfence to win the case but for the prosecution to lose it” => Phải phản bác và tìm ra mọi sơ hở của phía công tố bằng mọi cách, nhất là tính hợp pháp cảu quá trình thu thập bằng chứng => Trong quá trình tranh tụng, cả công tố viên và luật sư biện hộ đều giữ vai trò chủ động

V Sự khác biệt giữa hệ thống tòa án Anh- hệ thống tòa án

1 Chức năng của tòa án

- Ở Anh, tòa án có chức năng xét xử, làm luật và làm chính sách

- Ở Mỹ, tòa án có chức năng xét xử và xét tính hợp hiến

2.Hệ thống tòa án

a Anh

- Hệ thống tòa án đơn nhất, phân chia thành Tòa án cấp trên, cấp dưới: + Tòa án cấp cơ sở:

• Tòa địa hạt: cấp thấp nhất trong hệ thống tòa dân sự, chỉ xét xử trong lĩnh vực dân sự, chỉ xét xử trong lĩnh vực dân sự

• Tòa pháp quan: cấp thấp nhất trong hệ thống tòa hình sự, xét

xử trong lĩnh vực hình sự

+ Tòa cấp trên:

• Tòa án cấp cao: gồm 3 tòa là Tòa Nữ hoàng chuyên trách, Tòa đại pháp chuyên trách, Tòa gia đình chuyên trách

• Tòa án hình sự trung ương: là tòa án cấp trên của tòa pháp quan, không chỉ có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ việc hình sự nghiêm trọng và một vài vụ việc dân sự mà còn có thẩm quyền xét xử phúc thẩm những vụ việc đã được xét xử bởi tòa pháp quan khi có kháng cáo

• Tòa phúc thẩm: gồm Tòa dân sự chuyên trách và tòa hình sự chuyên trách

+ Tòa án cấp xét xử cao nhất:

Trang 8

• Ủy ban tư pháp của Hội đồng tư mật chỉ là cấp xét xử phúc thẩm đối với một số trường hợp nhất định

• Ủy ban phúc thẩm của Thượng nghị viện giải quyết đại đa số các vụ phúc thẩm

b Mỹ

- Hệ thống tòa án kép bao gồm hệ thống tòa án Bang và hệ thống tòa

án Liên bang

+ Hệ thống tòa án Liên bang:

• Tòa án quận

Bao gồm 94 tòa

Các tóa án quận có quyền xét xử hầu hết các vụ tranh tụng bản án, phán quyết của tòa án Quận có thể bị kháng cáo lên tòa phúc thẩm Tòa phúc thẩm được tổ chức theo từng vùng, mỗi vừng gồm 3 bang hoặc nhiều hơn Mỹ có 11 tòa phúc thẩm liên bang

• Tòa án tối cao Liên bang

Đây là cấp xét xử cao nhất trong hệ thống tòa án Liên bang và tòa

án thực sự có quyền lực

Tòa có 9 thẩm phán ( bao gồm 1 chánh án) do tổng thống bổ nhiệm dưới sự chấp

Thuận của thượng nghị viện

Tòa án tối cao có quyền tùy ý trong việc thụ lí hồ sơ khiếu kiện với một vài ngoại lệ: Tòa chỉ xét xử những vụ việc mà Tòa muốn

xử Tòa có toàn quyền quyết định tiếp nhận giải quyết đơn kháng cáo, kháng nghị nếu cảm thấy đó là vụ việc quan trọng hoặc vì mâu thuẫn nào đó trong các phán quyết của tòa án

+ Hệ thống tòa án bang

• Các tòa sơ thẩm cấp quận

Là cấp xét xử chủ yếu các vụ việc hình sự và dân sự

• Tòa án phúc thẩm

Tòa án phúc thẩm của các bang có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án của tòa án sơ thẩm cấp quận xét xử

• Tòa án tối cao của bang

Là cấp kháng cáo cuối của các bang

Chủ yếu xét xử phúc thẩm những vụ việc đã được giải quyết bởi tòa án phúc thẩm của bang và có quyền quyết định lựa chọn những vụ việc để xét xử phúc thẩm

Phán quyết của tòa án này có thể bị bãi bỏ bởi tòa án tối cao Liên bang trong một số trường hợp

3 Phương thức hoạt động của tòa án

Trang 9

a Anh

- Mỗi tòa án bị buộc phải tuân thủ theo các quyết định của tòa án cấp cao hơn trong cùng hệ thống

- Phán quyết của những tòa án ngang cấp với nhau chỉ có giá trị tham khảo đối với các tòa án này => không phải mọi phán quyết của tòa đều được coi là án lệ

- Yếu tố thời gian không làm mất đi tính hiệu lực của tiền lệ

b Mỹ

- Hệ thống tư pháp của Mỹ về cơ bản được tiến hành thông qua tranh tụng

- Phán quyết của các tòa án tối cao của Bang và Liên bang không chịu

sự ràng buộc của chính mình Tòa án bang không bị bắt buộc tuân thủ

án lệ của các bang khác

4 Nguyên tắc thiết lập hệ thống tòa án

- Ở Anh, hệ thống tòa án được thiết lập theo khu vực ( Tòa án khu

vực) Có tòa Nữ hoàng để đại diện cho hoàng gia

- Ở Mỹ, hệ thống tòa án được thiết lập theo bang bao gồm tòa án

Liên bang và tòa án các Bang

5 Chế độ bổ nhiệm thẩm phán

- Ở Anh, thẩm phán được bổ nhiệm từ những luật sư tranh tụng và luật sư tư vấn do Ủy Ban Thẩm Phán gửi tới Đại pháp quan bổ nhiệm

và được bổ nhiệm suốt đời

- Ở Mỹ, trong hệ thống tòa án Liên bang, thẩm phán do Tổng thống

bổ nhiệm và Thượng nghị viện phê chuẩn ( thẩm phán phải là luật sư) Còn trong hệ thống tòa án bang, thẩm phán do thống đốc bang bổ nhiệm ( thẩm phán không nhất thiết phải là luật sư)

6 Án lệ

- Ở Anh thì án lệ là nguồn luật chính thống và chủ yếu

- Ở Mỹ, án lệ ít quan trọng hơn và chỉ áp dụng ở tòa án cấp trên.

VI Nguyên nhân sự khác nhau

Nước Mỹ ra đời là sự liên hợp của 13 thuộc địa của Anh ở Bắc Mỹ.

Người Anh đã mang hệ thống pháp luật của mình đến với các thuộc đại này Mặc dù có nguồn gốc từ hệ thống pháp luật Anh nhưng từ sau năm

1776, khi Mỹ tuyên bố độc lập, pháp luật Anh và Mỹ trở thành hai hệ thống pháp luật độc lập và phát triển theo những hướng khác nhau, kéo theo sự khác biệt nhất định trong hệ thống pháp luật của hai quốc gia

Và nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt trên là do Anh là một quốc gia có dân cư gần như thuần nhất Mỹ lại là nước có dân số chủ yếu là dân

Trang 10

nhập cư, đa tôn giáo, đa sắc tộc đi cùng với lối sống và đặc trưng về nền kinh tế xã hội cũng khác nhau, nên trong cách suy nghĩ và tư duy pháp lý có những điểm khác biệt là điều tất yếu Bên cạnh đó, nhà nước

Mỹ được tổ chức dưới dạng Cộng hòa Liên bang, trong đó các bang có chủ quyền độc lập của riêng mình Trên thực tế sự độc lập này đã mất dần theo thời gian nhưng với tư cách là những thực thể pháp lý, các bang này vẫn tồn tại riêng rẽ với hệ thống chính phủ của riêng mình Thực tiễn cho thấy trên nhiều lĩnh vực và với nhiều người, pháp luật của bang quan trọng hơn pháp luật của Liên bang Mỗi bang không những có chính phủ mà còn có cả Hiến pháp riêng mặc dù hầu hết Hiến pháp của các bang được soạn thảo theo mô hình hiến pháp liên bang, với cùng cơ cấu tổ chức chính phủ bang và những quyền dân sự cũng như quyền công dân tương tự nhau giữa các bang

Ở Anh, nhà nước được tổ chức dưới dạng Quân chủ Lập hiến với Thủ tướng đảm nhiệm vị trí đứng đầu Chính phủ Đây là hệ thống chính trị đa nguyên với sự ủy thác một phần quyền lực cho xứ Scotland, xứ Wales Bắc Ireland Quyền hành pháp thuộc về Chính phủ, quyền lập pháp được trao cho cả Chính phủ và lưỡng viện Quốc hội ( Thượng viện và Hạ viện) Nhánh tư pháp độc lập với hai nhánh còn lại Hiến pháp ở Anh là Hiến pháp bất thành văn, cấu thành bởi các quy ước, luật lệ và một số nhất tố khác

VII Nhận xét, đánh giá

1 Anh

Ưu điểm:

- Quyền tư pháp được thể hiện tập trung, phù hợp với chính thể quân chủ lập hiến ở Anh

- Sau cuộc cải tổ hệ thống pháp luật vào cuối thế kỷ XX, hệ thống tòa

án của Anh đã được tổ chức lại một cách toàn diện theo cơ cấu chính trị đơn nhất, phân chia thành tòa án cấp trên cấp dưới

Hạn chế:

- Quá đề cao vai trò của Thượng nghị viện => không đảm bảo sự độc lập giữa ba nhánh tư pháp, hành pháp và lập pháp

- Sự chồng chéo trong thẩm quyền xét xử ( Vd: thẩm quyền của tòa pháp quan còn bao quát cả những vụ dân sự nhỏ và những vụ về quan

hệ gia đình => xung đột với thẩm quyền của tòa địa hạt)

- Sử dụng luật bất thành văn dẫn đến bất ổn định về hệ thống tòa án

2 Mỹ

Ưu điểm:

Ngày đăng: 29/09/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w