Chất độc tác động lên bộ phận nội cảm thụ của cục bộ cơ thể rồi truyền lên vỏ não, những luồng kích thích bệnh lý đó làm khả năng điều chỉnh của thần kinh bị rối loạn, cuối cùng gây rối [r]
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÀI GIẢNG BỆNH NỘI KHOA THÖ Y
Biên soạn : TS PHAN THỊ HỒNG PHÚC
Thái Nguyên, 2015
Trang 2BÀI MỞ ĐẦU
I KHÁI NIỆM
Môn học Bệnh Nội khoa gia súc là một môn khoa học chuyên nghiên cứu những bệnh không có tính chất truyền nhiễm, không lây lan từ con này sang con khác và là bệnh xảy ra ở các cơ quan trong cơ thể gia súc
Ví dụ: Bệnh viêm dạ dày - ruột, bệnh viêm thận, các bệnh về tim, phổi
Trong quá trình điều trị bệnh nội khoa tuỳ từng loại bệnh khác nhau mà dùng các loại thuốc khác nhau, bằng các con đường khác nhau như: uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm vào xoang hay dùng phương pháp thông, thụt
Tuy nhiên trong quá trình điều trị bệnh, cũng có những bệnh ta phải dùng kết hợp phương pháp ngoại khoa để can thiệp như: bệnh tắc thực quản, trong trường hợp này, nếu không đưa được vật tắc xuống dạ dày bằng phương pháp nội khoa thì ta phải mổ thực quản để lấy dị vật ra
II NHIỆM VỤ CỦA MÔN HỌC
Môn học nghiên cứu về các vấn đề chủ yếu sau:
2.1 Nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh
Nguyên nhân gây bệnh nội khoa rất đa dạng, phức tạp và có tính chất tổng hợp, không mang tính đặc hiệu như nguyên nhân của các bệnh truyền nhiễm hay
ký sinh trùng Có những nguyên nhân gây bệnh nội khoa thuộc về di truyền, về chăm sóc, nuôi dưỡng, ăn uống không đúng khoa học hoặc do các nhân tố vật lý, hoá học, vi sinh vật, nhưng cũng có những bệnh phát ra do kế phát từ các bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh ký sinh trùng
Ví dụ: Bệnh viêm ruột cata cấp tính ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây
nên như:
- Do chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn kém phẩm chất (thức ăn ôi, thiu, mốc hay thức ăn bị nhiễm độc )
- Do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột
- Do kế phát từ một số bệnh khác như: bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng
- Do môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm, dẫn đến con vật dễ bội nhiễm một
số vi khuẩn đường ruột như: E.coli, Salmonella
Trang 3Từ những nguyên nhân trên cho thấy, việc nghiên cứu nguyên nhân, tìm
ra nguyên nhân chính và nguyên nhân phụ để đưa ra phác đồ điều trị có hiệu quả
là rất quan trọng
Do vậy, nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh có ý nghĩa rất quan trọng để chẩn đoán bệnh chính xác và mang lại hiệu quả cao trong quá trình điều trị Mặt khác, khi biết nguyên nhân gây bệnh, ta còn có các biện pháp phòng bệnh thích hợp
2.2 Nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh
Việc nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh của một bệnh là hết sức quan trọng Bởi vì trong quá trình điều trị bệnh, nếu biết được cơ chế sinh bệnh người ta sẽ đưa ra được các biện pháp để cắt đứt một hay nhiều khâu trong quá trình sinh bệnh, từ đó sẽ hạn chế được sự tiến triển của bệnh theo các hướng khác nhau
Ví dụ: Trong bệnh viêm phế quản phổi (quá trình viêm làm cho phổi bị
xung huyết và tiết nhiều dịch viêm đọng lại trong lòng phế quản, gây trở ngại quá trình hô hấp, dẫn đến gia súc khó thở, nước mũi chảy nhiều, ho) Do vậy, khi điều trị bệnh, ngoài việc dùng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn còn dùng thuốc giảm ho và giảm dịch thẩm xuất để tránh hiện tượng viêm lan rộng
2.3 Nghiên cứu về triệu chứng của bệnh
Hầu hết gia súc khi mắc bệnh, trên cơ thể con bệnh sẽ có những biến đổi khác nhau về sinh lý bình thường, dựa vào các triệu chứng đó ta có thể chẩn đoán bệnh Tuy nhiên, với mỗi loại bệnh khác nhau có những biểu hiện triệu chứng khác nhau
Ngoài chẩn đoán lâm sàng, để có kết luận chính xác hơn về bệnh, người ta còn dùng các phương pháp xét nghiệm để kiểm tra máu, phân, nước tiểu , từ đó có cơ sở giúp chẩn đoán bệnh được nhanh chóng, chính xác, nhằm đưa ra phác đồ điều trị có hiệu quả cao nhất
2.4 Nghiên cứu về các biện pháp chẩn đoán bệnh
Trong quá trình chẩn đoán bệnh, hiệu quả chẩn đoán phụ thuộc vào phương pháp chẩn đoán Do vậy, để chẩn đoán nhanh và chính xác, phải thường xuyên nghiên cứu để đưa ra những phương pháp chẩn đoán tiên tiến, cho kết quả chẩn đoán nhanh và chính xác Chẩn đoán chủ yếu dựa vào các phương pháp sau:
- Hỏi bệnh: hỏi chủ gia súc để: nắm sơ bộ nguyên nhân gây bệnh, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, thời gian gia súc mắc bệnh, quá trình diễn biến của bệnh và những thuốc đã dùng cho con bệnh
- Kiểm tra triệu chứng lâm sàng: kiểm tra các triệu chứng lâm sàng điển hình mà con bệnh thể hiện ra bên ngoài, chú ý chẩn đoán phân biệt với một số bệnh khác
Trang 4- Phương pháp hoá nghiệm: dùng phương pháp này để kiểm tra các triệu chứng phi lâm sàng đặc thù của từng bệnh, khi các bệnh có triệu chứng lâm sàng giống nhau
- Ngoài ra, còn dùng các phương pháp như X quang, nội soi, điện não đồ, điện tâm đồ để chẩn đoán bệnh khi thông qua chỉ tiêu hoá nghiệm và triệu chứng lâm sàng
vẫn chưa xác định được bệnh Ví dụ: bệnh viêm bao tim do ngoại vật ở thời kỳ đầu,
bệnh sỏi thận, các bệnh ở van tim
2.5 Nghiên cứu về tiên lƣợng của bệnh
Nghiên cứu về tiên lượng của bệnh giúp chúng ta đánh giá mức độ và khả năng hồi phục của bệnh, trên cơ sở đó có hướng điều trị tiếp hay loại thải thích hợp
2.6 Nghiên cứu các biện pháp điều trị
Mục đích là tìm ra các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cao và nhanh chóng nhất, từ đó tránh được sự lãng phí thuốc, tăng hiệu quả kinh tế và tránh được hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn
III MỐI LIÊN QUAN VỚI CÁC MÔN HỌC KHÁC
Môn bệnh nội khoa gia súc là một môn học có quan hệ với nhiều môn học khác Do vậy, muốn nắm chắc được môn bệnh nội khoa và ứng dụng vào điều kiện sản xuất, chúng ta cần biết mối liên quan giữa môn học này với các môn học khác
Sự liên quan này được thể hiện chặt chẽ và logic với một số môn học sau:
- Môn giải phẫu: Đây là môn học giúp chúng ta biết vị trí các cơ quan của
từng loại gia súc, từ đó dùng các phương pháp sờ, nắn, gõ, nghe để chẩn đoán bệnh, đồng thời biết các biến đổi tổ chức của con bệnh
- Môn sinh lý bệnh: giúp chúng ta giải thích các quá trình bệnh lý, từ đó biết
trạng thái sinh lý bình thường và trạng thái bệnh lý của gia súc
- Môn giải phẫu bệnh: cung cấp những kiến thức về sự biến đổi vi thể tổ
chức cơ thể dưới tác động của mầm bệnh
- Môn chẩn đoán bệnh: biết được vị trí và các phương pháp chẩn đoán, từ
đó có thể chẩn đoán bệnh một cách chính xác
- Môn ngoại khoa: giúp ta phương pháp điều trị bệnh ngoại khoa, vì có
những bệnh nội khoa vẫn phải dùng kết hợp với phương pháp ngoại khoa để can thiệp
- Môn dược lý: biết được tính chất, tác dụng và liều lượng của từng loại thuốc,
từ đó kê đơn thuốc cho con vật nhằm đem lại hiệu quả cao trong điều trị bệnh
- Môn vệ sinh gia súc: giúp chúng ta nắm được các kiến thức về vệ sinh,
nuôi dưỡng, chăm sóc và sử dụng gia súc một cách hợp lý
Trang 5Phần thứ nhất
ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH NỘI KHOA GIA SÖC
Chương 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ ĐIỀU TRỊ HỌC
I KHÁI NIỆM VỀ ĐIỀU TRỊ HỌC
Điều trị học là khoa học làm hồi phục cơ thể gia súc ốm trở lại khoẻ mạnh bình thường Điều trị học chủ yếu dùng các biện pháp sau:
+ Dùng thuốc: Tuỳ từng loại bệnh khác nhau mà dùng các loại thuốc khác
nhau Thuốc dùng để điều trị bệnh cho gia súc bằng nhiều con đường khác nhau như: uống, tiêm bắp, tiêm tĩnh mạch, tiêm vào xoang, thụt Thuốc dùng để điều trị bệnh là các loại thuốc như kháng sinh, vitamin, các loại thuốc giảm đau, hạ sốt, chống viêm và cả thuốc nam
+ Dùng hoá chất: Có thể dùng một số loại hoá chất để điều trị bệnh nội
khoa cho gia súc như: dùng xanh methylen trong điều trị trúng độc HCN; dùng
Na2SO4, MgSO4 để điều trị các bệnh viêm ruột, bội thực dạ cỏ
+ Dùng lý liệu pháp: Dùng ánh sáng, điện, nước để điều trị bệnh cho gia súc + Hộ lý: Ngoài việc dùng thuốc và các phương pháp trên, chăm sóc nuôi
dưỡng gia súc ốm là một khâu hết sức quan trọng Chăm sóc, nuôi dưỡng tốt kết hợp với điều trị bệnh sẽ mang lại hiệu quả điều trị cao
II NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA ĐIỀU TRỊ HỌC
Điều trị học hiện đại kế thừa sự nghiệp của các nhà Y học lỗi lạc (Botkin, Pavlop ) Dựa trên quan điểm cơ bản “Cơ thể là một khối thống nhất, hoàn chỉnh, luôn luôn liên hệ chặt chẽ với ngoại cảnh và chịu sự chỉ đạo của thần kinh trung ương” Với sự tiến bộ không ngừng của sinh học, y học, điều trị luôn luôn thay đổi về phương pháp và kỹ thuật Tuy vậy, vẫn có những nguyên tắc không thay đổi và luôn luôn đúng
mà người thầy thuốc phải nắm vững Những nguyên tắc chính như sau:
2.1 Nguyên tắc sinh lý
Chúng ta thấy rằng, mọi hoạt động của cơ thể đều chịu sự chỉ đạo của thần kinh để thích nghi với ngoại cảnh luôn luôn biến đổi, để nâng cao sức chống đỡ bệnh nguyên mà ta gọi chung là phản xạ bảo vệ cơ thể Bao gồm: hiện tượng thực bào, quá trình sinh tế bào, mô bào mới, hình thành miễn dịch, giải độc Do vậy, trong quá trình điều trị bệnh chúng ta phải tạo điều kiện thuận lợi cho cơ thể thích nghi để nâng cao khả năng chống đỡ bệnh tật
Chính vì vậy, tuỳ từng bệnh cụ thể mà ta phải điều chỉnh khẩu phần ăn, chú
ý đến bầu tiểu khí hậu, những kích thích của ngoại cảnh Mặt khác, phải có khẩu
Trang 6phần ăn thích hợp để nâng cao sức đề kháng của cơ thể Có như vậy hiệu quả điều trị mới cao
2.2 Nguyên tắc chủ động tích cực
Nguyên tắc này đòi hỏi cán bộ thú y phải có trách nhiệm với nghề nghiệp Khi phát hiện bệnh cần phải:
- Can thiệp sớm, tìm biện pháp tốt nhất để điều trị
Ví dụ: Trong bệnh viêm phổi bê, nghé có 2 phương pháp điều trị:
+ Dùng kháng sinh tiêm bắp
+ Dùng kháng sinh kết hợp với novocain phong bế hạch sao
Trong hai phương pháp này thì phương pháp dùng kháng sinh kết hợp với phong bế hạch sao mang lại hiệu quả cao hơn Vì vậy, chọn phương pháp thứ hai
để điều trị
- Có kiến thức chuyên môn vững vàng, có như vậy mới suy đoán và phòng ngừa được những tai biến xảy ra trong quá trình bệnh Mặt khác, phải năng động, sáng tạo, dựa trên nguyên tắc điều trị mà sáng tạo phù hợp với điều kiện cụ thể để hiệu quả điều trị bệnh cao
Ví dụ: Bệnh chướng hơi dạ cỏ cấp tính có thể dẫn đến ngạt thở mà chết Do
vậy, trong điều trị cần phải theo dõi sự tiến triển của quá trình lên men sinh hơi trong
dạ cỏ, từ đó nhanh chóng thoát hơi dạ cỏ cho gia súc bệnh
2.3 Nguyên tắc tổng hợp
Trong điều trị bệnh, muốn thu được kết quả cao, chúng ta không nên chỉ sử dụng một loại thuốc, một biện pháp điều trị mà phải dùng đồng thời các biện pháp tác động lên con vật
Ví dụ: trong bệnh bội thực dạ cỏ, ngoài biện pháp tiêm pilocarpin tăng nhu
động dạ cỏ, hay tiêm NaCl 10% tăng tuần hoàn cục bộ, ta còn có thể phẫu thuật ngoại khoa để lấy bớt chất chứa trong dạ cỏ ra
2.4 Nguyên tắc điều trị theo từng cơ thể
Cùng một loại kích thích bệnh nguyên, nhưng đối với từng cơ thể, sự biểu hiện bệnh lý khác nhau Sự khác nhau này là do phản ứng của từng cơ thể khác nhau, do cơ năng bảo vệ và loại hình thần kinh của từng con vật khác nhau Mặt khác, giống, loài khác nhau, khối lượng khác nhau, con đực và con cái cũng chịu đựng những liều thuốc khác nhau trong quá trình điều trị Do vậy, trong điều trị bệnh cho gia súc, ta cần phải chú ý tới từng trạng thái của con bệnh, không nên chỉ sử dụng một loại thuốc cho một con bệnh, hay một loại thuốc cho tất cả các
Trang 7con bệnh, mà cần phải trực tiếp quan sát và khám bệnh cho từng con gia súc ốm,
từ đó có những liệu pháp điều trị phù hợp với từng cơ thể bệnh
Ví dụ: Trong bệnh viêm bàng quang có hai trường hợp: viêm tắc và viêm
không tắc Hai trường hợp này có phương pháp điều trị khác nhau: nếu viêm tắc thì không được dùng thuốc lợi tiểu, còn viêm không tắc thì dùng được Như vậy, muốn tránh tai biến xảy ra khi dùng thuốc lợi tiểu thì bác sỹ phải trực tiếp khám
và điều trị cho từng con bệnh
2.5 Điều trị phải có kế hoạch
Kế hoạch điều trị bệnh là một trong những khâu rất quan trọng Tuỳ theo tình trạng bệnh nặng hay nhẹ, cấp tính hay mãn tính mà ta xây dựng kế hoạch điều trị bệnh cụ thể Muốn có kế hoạch điều trị bệnh cụ thể, phải dựa vào các nguyên tắc sau:
2.5.1 Biết bệnh
Biết bệnh, về phương diện điều trị học còn là biết khả năng của y học hiện nay có điều trị được bệnh đó không Nếu là trường hợp bệnh thuộc loại có thể điều trị khỏi hẳn, ta phải khẩn trương tiến hành điều trị Nếu trường hợp bệnh không có khả năng chữa được thì cho loại thải gia súc
2.5.2 Biết con bệnh
Biết bệnh cũng chưa đủ để điều trị bệnh, mà còn cần phải biết con bệnh (tình trạng sức khoẻ, tuổi, giống ) Trong việc điều trị bệnh, người thầy thuốc có vai trò rất quan trọng, phải có kiến thức y học rộng, phải nắm được các kiến thức tối thiểu của các chuyên khoa khác, từ đó có kiến thức điều trị bệnh theo từng con bệnh cụ thể
2.5.3 Biết thuốc
Thầy thuốc phải phải biết rõ thuốc và phương pháp sử dụng để áp dụng cho đúng, nhằm đem lại hiệu quả tối ưu Cụ thể, cần phải biết được dược tính, liều lượng, khả năng tác dụng của thuốc, cách sử dụng thuốc
2.6 Phải theo dõi chặt chẽ trong điều trị
2.6.1 Theo dõi tác dụng của thuốc
Phải theo dõi chặt chẽ xem thuốc có tác dụng hay không Cần chú ý khi dùng thuốc đúng quy cách, đúng bệnh nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm, không khỏi Đối với trường hợp này ta phải kiểm tra lại cách sử dụng thuốc, pha chế thuốc, hạn sử dụng, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi của con vật
Trang 82.6.2 Dùng nhiều thuốc cùng một lúc
Khi dùng nhiều thuốc cùng một lúc phải lưu ý đến khả năng tương kỵ thuốc Tương kỵ của thuốc là ảnh hưởng qua lại giữa hai hay nhiều vị thuốc khi dùng với nhau, dẫn tới sự biến đổi một phần hoặc toàn bộ tính chất lý, hoá học của thuốc, hoặc giảm tác dụng chữa bệnh của vị thuốc chính trong đơn điều trị
Trước khi pha chế các loại thuốc với nhau, cần nghiên cứu kỹ thành phần của thuốc có tương kỵ hay không
2.6.3 Theo dõi các tai biến có thể xảy ra
Khi điều trị cho con vật, có những nguy hiểm xảy ra do con bệnh, nhưng cũng có nguy hiểm xảy ra do thuốc Có những nguy hiểm ta lường trước được, nhưng không có giải pháp nào hơn được, nhưng cũng có những tai biến xảy ra đột ngột do dùng thuốc quá liều Điều đáng chú ý là, đối với những trường hợp không phải quá liều tối đa quy định trong dược lý, mà quá liều so với tình trạng con bệnh Do vậy, ta phải theo dõi chặt chẽ con vật trong quá trình điều trị
III PHÂN LOẠI ĐIỀU TRỊ HỌC
Mỗi loại bệnh đều có những nguyên nhân tác động riêng Dựa trên tính chất, tác nhân gây bệnh và cơ chế sinh bệnh, người ta chia điều trị ra làm 4 loại
3.1 Điều trị theo nguyên nhân bệnh
Đây là phương pháp điều trị thu được hiệu quả cao nhất Khi ta xác định đúng nguyên nhân gây bệnh thì thời gian điều trị ngắn, con vật mau lành bệnh, nhanh chóng bình phục sau điều trị
Ví dụ: - Trường hợp gia súc bị trúng độc sắn (HCN), có thể can thiệp bằng
cách tiêm xanh methylen 1%, gây nôn, uống nước đường
- Gia súc bị ỉa chảy do trúng độc thức ăn thì dùng phương pháp tẩy rửa ruột
3.2 Điều trị theo cơ chế sinh bệnh
Quá trình sinh bệnh trải qua nhiều giai đoạn khác nhau Nghiên cứu về cơ chế sinh bệnh giúp chúng ta đánh giá được hậu quả sẽ xảy ra ở các giai đoạn kế tiếp Vì vậy, khi tiến hành điều trị theo cơ chế sinh bệnh chính là nhằm cắt đứt một hay nhiều giai đoạn gây bệnh để đối phó với sự tiến triển của bệnh theo các hướng khác nhau
Ví dụ: Trong bệnh chướng hơi dạ cỏ, vi khuẩn làm thức ăn lên men sinh
nhiều hơi Bình thường, các khí này được thải ra qua 3 con đường (thấm vào máu,
ợ hơi, theo phân ra ngoài) Nếu một trong ba con đường thoát hơi bị trở ngại, đồng thời vi khuẩn hoạt động mạnh làm quá trình sinh hơi nhanh, dẫn đến dạ cỏ
bị chướng hơi Khi điều trị ta phải hạn chế sự hoạt động của vi khuẩn, loại trừ thức ăn dễ lên men sinh hơi trong dạ cỏ, hồi phục lại các đường thoát hơi
Trang 93.3 Điều trị theo triệu chứng
Đây là loại điều trị thường hay sử dụng trong thú y Việc chẩn đoán chính xác bệnh cho gia súc là một công việc rất khó, bởi đối tượng điều trị không biết nói, chủ gia súc lại thường không quan tâm theo dõi con bệnh Để nâng cao sức
đề kháng của gia súc, hạn chế mức độ tiến triển của bệnh, chúng ta vẫn phải điều trị theo triệu chứng lâm sàng thể hiện trên con vật, từ đó vừa kết hợp điều trị, vừa tìm nguyên nhân gây bệnh
Ví dụ: Khi gia súc bị ỉa chảy, mất nước chưa rõ nguyên nhân thì trước hết
ta phải cung cấp nước, kết hợp tiêm các thuốc trợ lực cho gia súc
3.4 Điều trị mang tính chất bổ sung
Loại điều trị này dùng cho những bệnh xảy ra do cơ thể thiếu một số chất gây nên Trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng, khẩu phần ăn của gia súc không hợp lý, hoặc do gia súc kém hấp thu nên thiếu một số chất cần thiết cho cơ thể Phải nhanh chóng bổ sung các chất mà cơ thể gia súc đang thiếu để gia súc sinh trưởng và phát triển tốt
Ví dụ: - Bổ sung Fe trong bệnh thiếu máu ở lợn con
- Bổ sung Ca, P trong bệnh còi xương, mềm xương
- Bổ sung các nguyên tố vi lượng trong bệnh thiếu các nguyên tố vi lượng
IV ĐIỀU TRỊ BẰNG KÍCH THÍCH PHI ĐẶC HIỆU
Đây là phương pháp dùng protein lạ đưa vào cơ thể, nhằm mục đích nâng cao sức đề kháng của cơ thể Phương pháp này không có tính chất điều trị đặc hiệu đối với một loại bệnh nào Đây là phương pháp đem lại hiệu quả điều trị cao nhưng rất đơn giản và rẻ tiền Trong điều trị người ta thường dùng các phương pháp sau:
4.1 Tổ chức liệu pháp
Đây là phương pháp do Filatop sáng lập năm 1933
Nguyên lý: Những mô bào, tế bào thực vật hay động vật khi tách khỏi cơ
thể thì chưa ngừng trao đổi chất Ở mức độ nhất định, khi đặt những mô bào, tế bào này vào điều kiện bất lợi thì những mô bào này sẽ sản sinh ra một chất duy trì
sự sống ở mức độ tối thiểu Những chất đó gọi là kích sinh tố Bản chất của chúng
là axit hữu cơ (axit dicacbonic, oxydicacbonic hoặc axit mạch vòng không bão hoà) Khi đưa vào trong cơ thể, nó kích thích thần kinh trung ương và thần kinh thực vật, từ đó hoạt hoá các men trong quá trình trao đổi chất, kích thích sản sinh hoormon, hình thành miễn dịch, xúc tiến tiêu hoá, hấp thu, kích thích cơ quan tạo máu, tăng tác dụng điều trị khi kết hợp với kháng sinh
- Điều chế: chế thành dạng bột, hoặc dạng dung dịch Người ta lấy gan, lá
lách, dịch hoàn, buồng trứng, nhau thai để trong tủ lạnh 2 - 40
C trong thời gian 6
Trang 10- 7 ngày Sau đó lấy ra nghiền với nước sinh lý theo tỷ lệ 1/10 rồi lọc lấy nước trong Hấp tiêu độc ở nhiệt độ 1200C trong 1 giờ Nếu dùng cho ăn thì cắt nhỏ, sấy khô, nghiền thành bột bổ sung vào thức ăn cho gia súc hàng ngày
- Ứng dụng điều trị: Đặc trị các bệnh mãn tính như: loét dạ dày, vết thương
điều trị lâu ngày, chống còi cọc, suy dinh dưỡng, thiếu máu
4.2 Protein liệu pháp
Đây là phương pháp dùng protein tiêm vào cơ thể để điều trị bệnh cho gia súc Các loại protit khác nhau như: lòng trắng trứng hay sữa đã tách bơ
Nguyên lý: khi protein vào cơ thể sẽ phân giải thành các đoạn polypeptit,
các loại amino axit, kích thích chức năng phòng vệ của cơ thể và làm tăng bạch cầu, đặc biệt bạch cầu đa nhân trung tính, tăng thực bào và tăng quá trình trao đổi chất trong cơ thể
Khi tiêm protein vào cơ thể sẽ xảy ra 2 giai đoạn:
- Giai đoạn phản ứng: Đây là giai đoạn cơ thể có những phản ứng cục bộ
và toàn thân Thể hiện như: tại nơi tiêm có thể sưng, nóng, đau, thân nhiệt tăng; kiểm tra máu thấy bạch cầu trung tính tăng; hô hấp tăng; nhịp tim, huyết áp tăng Thời gian này kéo dài từ 6 -10 giờ sau khi tiêm
- Giai đoạn hồi phục: Cơ thể dần trở lại bình thường, không sốt, không
viêm cục bộ Kiểm tra máu có nhiều lâm ba cầu Cơ thể dần dần hồi phục và trở lại bình thường
Ứng dụng: Protein liệu pháp được ứng dụng điều trị các ổ viêm như: viêm
vú, viêm tử cung, áp xe, viêm phế quản, viêm phổi
Chống chỉ định: Không dùng cho gia súc mắc các bệnh về tim, gan, thận
Vì khi đưa protein lạ vào thì cơ thể có phản ứng dị ứng, bệnh càng nặng thêm
Loại protein dùng trong điều trị: lòng trắng trứng, sữa tách bơ
Liều lượng: lợn: 25 - 50ml/con; trâu, bò: 70 - 90 ml/con; chó 10 - 20ml/con
Tiêm dưới da Cách 2 - 3 ngày tiêm 1 lần, liệu trình điều trị 2 - 3 lần
Ví dụ: Trong thực tế, người ta dùng lòng trắng trứng gà kết hợp với
penicillin điều trị bệnh đóng dấu lợn cho kết quả cao
4.3 Protein thủy phân
Dùng phương pháp protein thuỷ phân để điều trị cho gia súc sẽ an toàn hơn phương pháp protein liệu pháp, bởi protein có thành phần phân tử lớn, các mạch polypeptit có tính đặc hiệu đối với từng cơ thể và từng loài, do vậy khi dùng phương pháp này có thể sẽ gây dị ứng hoặc gây sốc cho gia súc
Người ta thuỷ phân protein bằng HCl hoặc men pepsin ở nhiệt độ cao để phân huỷ polypeptit thành axit amin
Trang 11Công thức thuỷ phân như sau:
HCl d = 1,19 5ml
Nước cất 1000 ml Tuỳ từng loại bệnh và tuỳ từng cơ quan khác nhau, người ta có thể sử dụng các mô bào tương ứng trong điều trị, nhằm đem lại hiệu quả cao nhất
Ứng dụng: Hiện nay, người ta đã điều chế ra hemolizat để chống còi cọc
cho gia súc Hemolizat được điều chế như sau:
Lấy 1000 ml máu + 100 ml HCl 0,1 N đem thuỷ phân, lọc rồi hấp tiệt trùng, cho gia súc uống
Tác dụng: Cũng giống như protein liệu pháp, nhưng khác là có thành phần
hữu hình của máu bị phân huỷ nên nó kích thích cơ quan tạo máu sản sinh nhiều hồng cầu mới, được dùng điều trị suy dinh dưỡng, chống thiếu máu, phòng bệnh lợn con ỉa phân trắng
Có các loại huyết liệu pháp sau:
- Dùng máu cùng loài Ví dụ: máu lợn tiêm cho lợn, máu trâu tiêm cho trâu
- Dùng máu khác loài Ví dụ: máu bò tiêm cho lợn, máu gà tiêm cho chó
- Dùng máu tự thân, ngoài protein nó còn có các kháng nguyên đặc hiệu của cơ thể, do đó có tác dụng tốt trong điều trị bệnh
Ứng dụng:
- Dùng điều trị các bệnh có tính chất cục bộ như các ổ viêm, áp xe
- Phòng và trị các bệnh khác như: ỉa chảy, viêm phổi, lợn con phân trắng
Liều lượng: (ml/con)
- Máu khác loài : Gia súc lớn: 15 - 20 ml, gia súc nhỏ: 1 - 3 ml
- Máu cùng loài : Gia súc lớn: 20 - 25 ml, gia súc nhỏ: 3 - 5 ml
- Máu tự thân : Gia súc lớn: 50 - 70 ml, gia súc nhỏ: 5 - 10 ml Liệu trình tiêm 2 - 3 lần, cách 2 ngày tiêm 1 lần Để chủ động sử dụng và phòng hiện tượng đông vón máu, người ta thường dùng chất chống đông xitrat natri 5%, pha với tỷ lệ 1/10, để tủ lạnh 2 - 3 ngày
Trang 12V ĐIỀU TRỊ BẰNG NOVOCAIN
Novocain do Einhorn và Ullfelder tìm ra gồm 250 loại gần giống nhau Loại chúng ta thường dùng là procain Novocain khi vào cơ thể sẽ thuỷ phân thành 2 chất:
+ Axit para amino benzoic (giúp quá trình tổng hợp axit folic)
+ Dietyl amino etanol (phần này không có tác dụng gì và được thải ra ngoài) Novocain có thể đưa vào cơ thể gia súc bằng nhiều con đường khác nhau như: cho uống, tiêm nội bì, tiêm dưới da, tiêm bắp thịt, tiêm tĩnh mạch, tiêm động mạch, phong bế, gây tê, tiêm vào màng bụng, khí quản Các đường cho thuốc khác nhau sẽ có tác dụng khác nhau Novocain có tác dụng kích thích nhẹ, xúc tiến sự hồi phục của cơ năng thần kinh, giảm những kích thích bệnh lý từ ổ bệnh lên vỏ đại não, cắt đứt vòng tuần hoàn ác tính, cải thiện dinh dưỡng ở mô bào Novocain được dây thần kinh ở nơi tiêm hấp thu sẽ có tác dụng làm giảm đau Ngoài ra novocain còn điều tiết cơ năng của mạch quản, làm cho hành tuỷ và vỏ đại não được nghỉ ngơi
Novocain có thể kết hợp với kháng sinh điều trị nhiều bệnh, đặc biệt dùng
để phong bế các hạch, ngăn chặn các xung động bệnh lý truyền về thần kinh trung ương, làm cho cơ thể dần dần được hồi phục trở lại Trong thực tế novocain được dùng như sau:
5.1 Phong bế dây thần kinh phó giao cảm (thần kinh mê tẩu)
Vị trí: Chia đoạn cổ làm 3 phần,
điểm phong bế thứ nhất ở phía dưới 1/3
đoạn cổ trên, cách tĩnh mạch cổ về phía trên
2 cm Điểm thứ 2 cách điểm thứ nhất 6 -7
cm về phía sau cổ
Cách đâm kim: Dùng cỡ kim 14, đâm
kim vuông góc và sâu 2 - 4 cm Liều lượng:
Novocain được pha ở nồng độ từ 0,25 -
0,5% Liều lượng 50 ml/1 lần
Liệu trình: cách một tuần phong bế 1 lần và sau đó phong bế điểm thứ hai Nếu bệnh chưa khỏi ta có thể phong bế ở cổ bên kia
Ứng dụng: Điều trị các bệnh ở đường hô hấp trên và đường tiêu hoá dưới
Ví dụ: viêm mũi, viêm họng, viêm thanh quản, viêm thực quản, viêm phổi )
5.2 Phong bế hạch sao
Phong bế hạch sao đồng thời cũng là phong bế hạch cổ dưới vì hạch cổ dưới nằm ở sát hạch sao Hạch sao và hạch cổ dưới nằm ở trước cửa lồng ngực và phía trên xương sườn 1
Vị trí phong bế thần kinh mê tẩu
Trang 13- Vị trí: Vị trí đâm kim là giao điểm của hai đường: từ đốt cổ 7 kẻ một
đường vuông góc với mặt đất, từ xương sườn 1, 2 kẻ một đường song song với mặt đất
- Cỡ kim: kim 18, có độ dài 8 - 12 cm
- Hướng đâm kim: đâm kim trước xương bả vai, dưới đốt cổ 7
Vị trí phong bế hạch sao ở trâu, bò, lợn
- Cách tiến hành: Sau khi xác định được vị trí đối với từng loại gia súc ta
kéo chân trước của gia súc về phía sau hết cỡ Dùng kim dài 8 -12 cm, đâm kim từ trước ra sau và chếch từ dưới lên trên, sau đó xoay ngang mũi kim theo dọc thân con vật và ấn hết cỡ kim Đối với gia súc nhỏ để nằm, độ sâu của kim 5 - 6 cm Dùng novocain ở nồng độ 0,25 - 0,5% với liều lượng từ 150 - 200 ml
- Ứng dụng: dùng để điều trị các bệnh trong xoang ngực: viêm ngoại tâm
mạc, viêm nội tâm mạc, viêm phổi, viêm màng phổi
Đối với ngựa vị trí xác định bởi hình
tam giác, trong đó: đỉnh của tam giác
là u vai, còn 2 đáy là khớp vai và
mỏm khuỷu Trên tam giác đó ta kẻ
một đường trung tuyến, chia đường
trung tuyến ra làm 3 phần bằng nhau
Vị trí phong bế là 1/3 phía dưới của
đường trung tuyến Hướng kim từ sau
ra trước, từ dưới lên trên Dùng
novocain 0,5% liều 150 ml Vị trí phong bế hạch hạch sao ở ngựa
Trang 145.3 Phong bế hạch cổ dưới ở ngựa
+ Vị trí: Từ mỏm ngang đốt cổ 7 kẻ
đường vuông góc với mặt đất Từ xương
sườn 1 kẻ đường ngang song song với đốt
5.4 Phong bế dây giao cảm trên màng phổi
- Mục đích: ngăn chặn một số kích thích bệnh lý tới đường hô hấp và tiêu
hoá (dạ dày, ruột, phổi) Đây là phương pháp chủ yếu đối với thần kinh giao cảm, đồng thời cũng là sự phong bế đám rối thần kinh tuỵ tạng trong xoang bụng
- Vị trí phong bế: đối với ngựa phong bế cả 2 bên ngực Điểm phong bế là
giao điểm của 2 đường: gian sườn cuối cùng 17 - 18 và mép dưới cơ dài lưng Trâu,
bò phong bế một bên ngực phải Điểm phong bế là gian sườn 12 - 13 và mép dưới cơ dài lưng
- Phương pháp tiến hành: Đâm kim chếch một góc so với mặt phương nằm
ngang hướng về dưới cột sống Khi kim chạm mặt bên cột sống, ta rút kim ra 1 cm, đưa kim lên một góc 5 - 100, và đâm sâu thêm 1 - 1,5 cm
- Nồng độ Novocain: 0,5%
- Cỡ kim: Độ dài kim 10 - 12 cm, đường kính kim 1,5 mm
- Liều lượng: 0,5 ml/1 kg thể trọng
- Ứng dụng: Điều trị các bệnh trong xoang ngực và bụng như: viêm phổi,
viêm màng phổi, chướng hơi dạ cỏ, viêm màng bụng, đau bụng ngựa
5.5 Phong bế bao thận
- Mục đích: Làm giảm kích thích bệnh lý đến các khí quan trong xoang
bụng, sinh dục và tiết niệu Phong bế bao thận tức là phong bế đám rối thận, đám rối treo tràng, đám rối mặt trời
+ Trâu, bò: Chủ yếu là phong bế thận phải
Vị trí phong bế hạch cổ dưới
Trang 15- Vị trí: giao điểm của 2 đường: mỏm ngang đốt hông 1 và sau xương sườn
cuối cùng, cách cột sống 8 - 10 cm
- Hướng kim: đâm vuông góc với mặt da, sâu 8 - 11cm
- Cỡ kim: độ dài của kim 10 - 12cm, đường kính 1,5mm
+ Ngựa: Phong bế cả 2 bên nhưng vị trí khác nhau
- Vị trí phong bế thận phải là giao điểm của 2 đường: khe sườn cuối cùng
và cách sống lưng 10 -12 cm
- Hướng kim: Đâm hơi chếch về phía trước, sâu 8 - 10 cm
- Cỡ kim: độ dài của kim 10 - 12cm, đường kính 1,5mm
- Vị trí phong bế thận trái là giao điểm của 2 đường: mỏm ngang đốt hông 1,
sau xương sườn cuối cùng, cách cột sống 8 -10 cm
- Hướng kim: Đâm kim thẳng góc với mặt da, sâu 6 - 8 cm
- Cỡ kim: độ dài của kim 10 - 12cm, đường kính 1,5mm
- Nồng độ novocain: 0,5%
- Liều lượng: 0,5 ml/1 kg thể trọng
- Ứng dụng: điều trị các bệnh trong xoang bụng, các bệnh ở hệ tiết niệu
như: Chướng hơi dạ cỏ, ruột, dạ dày; bội thực dạ cỏ; nghẽn dạ lá sách; viêm thận, viêm bàng quang, viêm đường sinh dục
5.6 Tiêm novocain vào mạch quản
- Mục đích: Dùng novocain tiêm vào mạch quản nhằm mục đích phong bế
sự nhận cảm của vách mạch quản, có tác dụng giảm các kích thích bệnh lý, làm giảm phản ứng mạch quản ở cục bộ, làm giảm kích thích bệnh lý tới thần kinh trung ương Khi tiêm novocain vào cơ thể sẽ mau lành vết thương vì trong thành phần của novocain có PABA PABA giúp cho sự tái sinh mô bào mới Nếu kết hợp novocain với kháng sinh sẽ kéo dài thời gian tác dụng của thuốc
Novocain được tiêm vào động mạch, tĩnh mạch gia súc với nồng độ 0,25%; 0,5%; 1% và thường được dùng kết hợp với kháng sinh
Khi tiêm novocain vào máu sẽ làm tăng một số chỉ tiêu máu như: bạch cầu trung tính tăng, tăng tần số hô hấp, tăng tần số tim, tăng sự bài tiết và tăng quá trình trao đổi chất, nhưng quá trình này chỉ diễn ra khoảng 20 phút, sau đó trở lại bình thường
- Ứng dụng: Người ta dùng novocain kết hợp với kháng sinh để điều trị
một số bệnh như: viêm phổi, thận, bàng quang, vú, khớp, tuyến nước bọt
- Liều lượng: Dùng liều 0,1 - 0,15 g/100 kg thể trọng, pha novocain ở nồng
độ 0,25; 0,5% với nước cất rồi hấp tiêu độc Khi tiếp vào mạch quản cần chú ý tiếp với tốc độ chậm hơn tiếp nước
Trang 16VI ĐIỀU TRỊ BẰNG YẾU TỐ VẬT LÝ (LÝ LIỆU PHÁP)
Người ta thường sử dụng các yếu tố vật lý như: ánh sáng, nhiệt độ, dòng điện, nước để điều trị bệnh Trong quá trình điều trị, các yếu tố này thông qua phản xạ thần kinh, làm tăng cường trao đổi chất cục bộ, tăng tuần hoàn cục bộ, tiêu viêm, giảm đau cục bộ, tăng quá trình lành vết thương Dùng các phương pháp điều trị sau:
6.1 Điều trị bằng ánh sáng
6.1.1 Ánh sáng tự nhiên
- Cơ chế: Lợi dụng ánh sáng mặt trời có tia hồng ngoại và tử ngoại có tác
dụng chuyển 7 Dehydrocolesterol thành vitamin D3 Vitamin D3 giúp cho quá trình hấp thu canxi và quá trình tạo xương Ngoài ra còn tác dụng gây xung huyết mạch quản ngoại biên, làm tăng cường tuần hoàn máu, tăng trao đổi chất, diệt vi khuẩn ngoài da và môi trường vì nó làm phân huỷ protit của vi trùng
- Ứng dụng điều trị: phương pháp này được ứng dụng rộng rãi để điều trị
bệnh còi xương, mềm xương, chữa ung nhọt, chàm da, phòng bại liệt trước và sau khi đẻ, lợn con ỉa phân trắng
Thời gian tắm nắng: 30 phút - 5 giờ / ngày
Có thể tắm nắng trong khoảng thời gian sau:
Mùa hè: buổi sáng 6 - 10 h
buổi chiều 3 - 6 h Mùa đông: buổi sáng 8 - 12 h
buổi chiều 1 - 3 h
6.1.2 Ánh sáng nhân tạo
Thường dùng ánh sáng điện thường, đèn hồng ngoại hoặc đèn tử ngoại
Đối với từng loại ánh sáng khác nhau ta có phương pháp điều trị khác nhau:
- Công dụng: Tập trung ánh sáng vào cục bộ, làm cho nơi được chiếu xung
huyết có tác dụng tiêu viêm, giảm đau
- Ứng dụng: Dùng điều trị các bệnh nội khoa như: viêm phổi, viêm màng
phổi, phòng bệnh lợn con phân trắng Đối với ngoại khoa ta dùng để điều trị các bệnh viêm cơ, viêm khớp, chấn thương
*Đèn hồng ngoại
Trang 17Đây là loại ánh sáng phát ra do đốt nóng dây may so của các lò sưởi điện,
khi may so nóng đỏ thì nhiệt lượng phát ra 300 - 7000C và có làn sóng dài 3 - 5 m
- Cách dùng: dùng như ánh sáng điện thường, nhưng có độ chiếu rất sâu
Khi chiếu để cách mặt da của gia súc 50 -70 cm, mỗi lần chiếu 20 - 40 phút
- Tác dụng: Dùng điều trị các vết thương nằm sâu trong cơ thể
* Đèn tử ngoại
Phát ra từ bóng đèn thạch anh Trong bóng đèn có chứa khí Ar (Ac gông) và
thuỷ ngân Hơi thuỷ ngân có áp suất là 1/1000 atmotfe
- Cơ chế: Khi dòng điện chạy qua thì khí Ar sinh ra hiện tượng điện ly và
phóng điện tử bắn vào các phân tử của hơi thủy ngân làm cho một phần phân tử của thuỷ ngân ion hoá, còn một phần phát ra ánh sáng, ánh sáng này chính là tia
tử ngoại
- Tác dụng: Làm biến đổi 7 hydrocolesterol thành vitamin D3 và elgosterol thành vitamin D2, làm phân huỷ protit, vì vậy có tác dụng sát trùng, tiêu viêm Ngoài ra còn làm giãn mao quản, xúc tiến quá trình tuần hoàn và trao đổi chất của
cơ thể, làm tăng thực bào
- Cách chiếu:
+ Đối với đại gia súc: xác định hàm lượng ánh sáng bằng cách dùng tấm bìa dài 20 cm, rộng 7 cm, có đục 5 lỗ, mỗi lỗ có diện tích 1 cm2 Đặt tấm bìa lên thân gia súc Lấy tấm bìa khác che và lần lượt cho hở từng lỗ một rồi chiếu 3 giờ liền đến thời gian mặt da đỏ lên thì thôi
+ Tiểu gia súc: Chiếu toàn đàn, thời gian từ 10 - 15 phút, cách xa 1 m, ngày chiếu 3 lần
* Những chú ý khi chiếu đèn tử ngoại:
+ Sau khi chiếu xong phải để gia súc ở nơi thoáng khí, vì đèn chiếu sinh ra khí ozon (O3) kích thích niêm mạc, nhất là niêm mạc đường hô hấp
+ Trong khi chiếu tia tử ngoại cho gia súc, phải đeo kính chống tia sáng tử ngoại vì nó kích thích thần kinh thị giác và tế bào gậy của mắt, có hại cho mắt
6.2 Điều trị bằng dòng điện
Cơ thể con người cũng như cơ thể động vật đều là môi trường dẫn điện do
có nước, các phân tử keo và các tinh thể Chính vì vậy người ta có thể dùng dòng điện để điều trị bệnh Trong điều trị bệnh cho gia súc, thường dùng các phương pháp sau:
Trang 18* Sử dụng dòng điện một chiều
Sử dụng phương pháp này thông qua hệ thống nắn dòng mà dòng điện xoay chiều chuyển thành dòng điện một chiều, với điện thế 60 V và cường độ dòng điện là 60 A
- Phương pháp tiến hành: Dùng 2 miếng vải gạc nhúng vào nước sinh lý
Diện tích miếng vải phụ thuộc vào dòng điện sử dụng (0,3 - 0,5 mA/1 cm2) Mắc một cực ở nơi bị viêm và một cực ở chân gia súc Thời gian cho dòng điện chạy qua từ 15 - 20 phút, cách vài giờ ta chạy một lần
+ Làm hồi phục chức năng của dây thần kinh ngoại biên
+ Điều trị các chấn thương, viêm xoang, viêm màng phổi, màng bụng, màng ngực
Chú ý: Không dùng trong trường hợp viêm mãn tính, viêm hoá mủ, viêm da
* Điều trị bằng phương pháp điện phân:
Sử dụng phương pháp này cũng giống như sử dụng đối với dòng điện một chiều, nhưng khác ở chỗ dung môi là các hoá chất, vì vậy thời gian tác dụng kéo dài do các ion thuốc
Bromua Kali Iodua Kali Penicillin Natri Salyxilat NaCl CaCl2
Mg2SO4Novocain Ichthiol Streptomicin
- Ưu điểm: Thuốc vào chậm, thải trừ chậm, tác dụng kéo dài
- Nhược điểm: không khống chế được liều lượng thuốc
Trang 19- Ứng dụng: Tuỳ theo các ion của hợp chất trong dung môi mà có tác dụng khác nhau:
+ Chữa chứng suy nhược thần kinh, an thần, giảm đau Ví dụ: novocain,
clorua
+ Điều trị chứng tê liệt (tê liệt thần kinh ngoại biên), tiêu viêm, giảm đau
Ví dụ: iod, salicilat, novocain
+ Chống nhiễm trùng, ví dụ: kháng sinh, ichthiol
* Điều trị bằng điện thấu nhiệt
Dùng dòng điện có tần số và nhiệt độ cao so với các bóng đèn khác (50 vạn đến 2 triệu chu kỳ/giây) cường độ dòng điện chạy qua máy là 3 ampe
- Tác dụng:
+ Tăng nhiệt độ ở các mô bào khi dòng điện chạy qua
+ Xúc tiến quá trình tuần hoàn cục bộ dẫn đến tiêu viêm, giảm đau cục bộ + Xúc tiến quá trình trao đổi chất cơ thể, kích thích tiết dịch, hoormon, diệt trùng và làm tan vết sẹo trong vết thương ngoại khoa
- Cách tiến hành: ngày chạy một lần, mỗi lần từ 20 - 30 phút
- Ứng dụng: điều trị các bệnh nội khoa như viêm phế quản, viêm màng phổi, viêm phổi Điều trị các vết thương ngoại khoa, làm giảm đau trong trường hợp đau bụng
- Xoa bóp làm tăng quá trình thải nhiệt, tăng quá trình trao đổi chất, đẩy mạnh quá trình oxy hoá
- Xoa bóp cục làm sản sinh ra histamin hay những chất gần giống histamin,
có tác dụng kích thích mao quản dãn nở làm tổ chức cục bộ nóng đỏ
- Xoa bóp đối với vỏ não còn gây một kích thích nhẹ, thay thế kích thích bệnh
lý, giúp cho vỏ não ở trạng thái ức chế, từ đó cơ thể nhanh chóng hồi phục
Có rất nhiều phương pháp xoa bóp khác nhau, nhưng trong thú y người ta thường sử dụng hai phương pháp sau:
* Xoa bóp toàn thân
Đây là phương pháp thường được áp dụng đối với bò sữa, dê sinh sản và ngựa Nếu bò sữa hàng ngày được tắm chải, kỳ cọ toàn thân sẽ kích thích cơ năng
Trang 20tiêu hoá, gia súc ăn nhiều, khả năng tiêu hoá cao, sẽ tiết sữa nhiều Ngựa nếu được tắm chải, kỳ cọ hàng ngày thì lông, da bóng mượt, do vậy ít bị mắc các bệnh ngoài da
Cách tiến hành:
- Đối với bò sữa: Cho gia súc vận động nhẹ, ngày 1 - 2 giờ rồi dùng cỏ khô
hay rơm mềm xoa bóp toàn thân từ 10 - 15 phút/ ngày
- Đối với ngựa: hàng ngày tắm rửa, kết hợp kỳ cọ cho gia súc 15 - 20 phút
Chú ý: không điều trị bằng phương pháp này khi gia súc bị mắc các bệnh
về da hoặc khi gia súc đang bị sốt
6.4 Điều trị bằng nước
Đây là một phương pháp có tác dụng rất tốt trong việc điều trị bệnh cho gia súc Tuy nhiên, khi áp dụng phương pháp điều trị này, chúng ta phải chú ý đến môi trường xung quanh như: mùa, nhiệt độ chuồng nuôi, điều kiện nuôi dưỡng, tuổi gia súc
Nhờ tác dụng bằng cơ học, nhiệt học và hoá học của nước đối với nút nhận cảm ở mặt da hay bề mặt niêm mạc, truyền lên vỏ não và gây thành phản xạ có lợi cho cơ thể
Người ta chia nước thành các mức sau đây:
- Nước lạnh : nhiệt độ dưới 200C
- Nước mát : nhiệt độ từ 20 - 330C
- Nước ấm : nhiệt độ từ 36 - 400C
- Nước nóng : nhiệt độ trên 400C
Tuỳ theo trạng thái bệnh lý và mục đích điều trị người ta chọn nhiệt độ của
nước cho thích hợp Ví dụ: Trong trường hợp cảm nắng, cảm nóng thì dùng nước
lạnh phun toàn thân gia súc và dùng nước đá chườm vùng đầu, nhưng trong trường hợp cước chân thì dìng nước ấm ngâm chân
Người ta chia ra 2 phương pháp điều trị sau:
Trang 21* Điều trị toàn thân:
Dùng phương pháp tắm Khi tắm cho gia súc không nên dùng nước lạnh dưới 18 - 200C Mục đích để loại bỏ những cáu bẩn bám trên da của gia súc, từ đó tăng cường cơ năng của thần kinh và quá trình trao đổi chất, làm cho hoạt động của các hệ tuần hoàn, hô hấp, tiêu hoá được tăng cường
* Điều trị cục bộ:
- Rửa mũi, họng và miệng: điều trị đối với gia súc bị viêm mũi thể cata, viêm họng hoặc viêm miệng Có thể dùng các dung dịch như: nước muối sinh lý, bicacbonat natri 3% hoặc axit tanic 0,5% Tuỳ theo từng bệnh mà ta có phương pháp điều trị thích hợp
+ Rửa mũi: lau và rỏ dung dịch trên vào mũi
+ Rửa họng: dùng ống thông đưa vào cửa họng để rửa Khi rửa, nếu gia súc ho thì ngừng một lúc, đợi cho gia súc trở lại bình thường mới rửa tiếp Ngày rửa 1 -2 lần
+ Rửa miệng: ngày rửa 2 -3 lần sau bữa ăn Khi rửa, cần chú ý tránh để gia súc cắn nát ống thông
- Rửa dạ dày:
+ Mục đích: loại bỏ những thức ăn bị ứ đọng lâu trong dạ dày, làm giảm kích thích vào vách dạ dày và sự co thắt của cơ vòng thượng vị, hồi phục cơ năng tiết dịch và nhu động
+ Ứng dụng: chữa chứng đau dạ dày cấp tính của ngựa; bội thực, chướng hơi dạ cỏ, gia súc bị trúng độc
- Rửa ruột:
+ Mục đích: dùng dung dịch thụt ruột để tống phân tích trong ruột ra ngoài, làm cơ năng hoạt động của ruột và dạ dày trở lại bình thường hoặc thụt thuốc hay chất dinh dưỡng vào đường ruột
+ Ứng dụng: thụt rửa ruột chữa chứng đau bụng ngựa do táo bón hay tắc ruột Chữa tắc ruột già đối với đại gia súc
- Ngoài ra, có thể dùng nước lạnh, nước ấm dội lên mặt da của gia súc (trên trán, đầu) điều trị chảy máu cam, cảm nắng, cảm nóng hoặc khi sốt cao Dội nước vào hai mé bụng của ngựa để chữa đau thắt ruột Dội nước vào mé bụng trái của trâu, bò, dê để chữa bệnh liệt hoặc chướng hơi dạ cỏ
Trang 22Chương 2 TRUYỀN MÁU VÀ TRUYỀN DUNG DỊCH
I TRUYỀN MÁU
1.1 Sơ lƣợc lịch sử
- Từ thế kỳ XVII, con người đã biết truyền máu, nhưng ở thế kỷ này người
ta dùng máu cừu non truyền cho người Đến năm 1677, người ta đã biết lấy máu người truyền cho người, nhưng không tìm ra được các nhóm máu và sự tương kỵ giữa các nhóm máu, do vậy tai biến thường xảy trong quá trình truyền
- Năm 1901, ông Lanxteinơ (nhà Bác học người Áo) đã tìm ra các nhóm máu và sự tương kỵ giữa chúng Do vậy việc truyền máu ít có tai biến xảy ra
- Năm 1911 người ta lại tìm được các chất chống đông máu, do vậy việc truyền máu rất thuận lợi và có thể trữ lại máu được ít lâu
- Đến nay việc truyền máu đã trở lên rất thông dụng Người ta cho rằng, truyền máu là cách duy nhất cứu sống nạn nhân trong các trường hợp như: mất nhiều máu, huyết cầu bị phá vỡ nhiều, nhiễm trùng huyết
1.2 Khái niệm về truyền máu
Truyền máu nghĩa là đưa máu của động vật cho máu vào hệ tuần hoàn của động vật nhận máu Mục đích là bù lại số lượng máu đã mất hoặc đem lại những yếu tố mới để chữa bệnh
1.3 Ý nghĩa của việc truyền máu
- Bổ sung lượng máu đã bị mất trong chảy máu cấp hay hồng cầu bị phá
vỡ nhiều, nhiễm trùng máu Từ đó làm tăng áp suất thẩm thấu của máu, duy trì huyết áp bình thường
- Cầm máu: Máu đưa vào trong cơ thể đã có sẵn những yếu tố làm đông máu như: fibrinogen, protrombin, canxi, tiểu cầu, giúp cho cơ chế đông máu trở lại bình thường
- Tạo huyết: Máu đưa vào cơ thể có tác dụng cung cấp hemoglobin cho cơ thể tạo huyết cầu mới
- Chống nhiễm trùng và giải độc: Máu cung cấp kháng thể, tăng cường tuần hoàn, từ đó tăng cường chống độc và giải độc
1.4 Kỹ thuật truyền máu
Trước khi truyền máu, phải kiểm tra máu của con vật cho Máu của vật cho không được mắc bệnh truyền nhiễm và bệnh ký sinh trùng đường máu Con vật phải hoàn toàn khoẻ mạnh Sau đó ta tiến hành các bước tiếp theo:
Trang 23* Định nhóm máu:
Đây là một công việc hết sức quan trọng vì nếu ta không định được nhóm máu trước khi truyền cho con vật sẽ xảy ra hiện tượng ngưng kết chéo, dẫn đến tai biến trong khi tiếp
Máu của gia súc cũng như máu của người gồm 4 nhóm máu: A, B, O, AB
Sở dĩ người ta dùng các chữ cái trên để gọi các nhóm máu vì máu người cũng như động vật có một đặc điểm căn bản là:
- Trong các loại máu chỉ có 2 loại ngưng kết sinh A và B, hai ngưng kết sinh này nằm trong huyết cầu và mỗi ngưng kết sinh này đều có 1 ngưng kết tố tương kỵ là và ở huyết thanh
- Trong máu thì ngưng kết sinh và ngưng kết tố tương kỵ, không tồn tại cùng nhau, nếu cùng tồn tại thì huyết cầu bị ngưng kết, vì vậy sự sống sẽ không còn
Từ đó người ta đưa ra công thức của 4 loại máu một cách đầy đủ như sau:
+ Loại A (): ở hồng cầu có ngưng kết sinh A và trong huyết thanh có ngưng kết tố ()
+ Loại B (): ở hồng cầu có ngưng kết sinh B và trong huyết thanh có ngưng kết
* Kiểm tra tính tương kỵ của hai nhóm máu:
Đây là một việc làm hết sức cần thiết trước khi truyền máu, mặc dù chúng
ta đã định loại máu và kiểm tra giám sát về lâm sàng Thông thường người ta sử dụng 2 phương pháp sau:
Trang 24+ Kiểm tra trên lam kính: Lấy một giọt máu của vật cho máu và một ít huyết thanh của vật nhận máu, hoà đều với nhau trên lam kính Sau 5 phút quan sát Nếu có hiện tượng ngưng kết thì hồng cầu tập trung thành từng đám, nếu không ngưng kết thì hồng cầu phân bố đều Nếu tập trung thành từng chuỗi, đó là hiện tượng ngưng kết giả Trường hợp này ta có thể truyền máu được
Có thể quan sát theo sơ đồ sau:
Máu Huyết thanh
+ Kiểm tra bằng phương pháp sinh vật học:
Đây là phương pháp lấy máu của vật cho máu rồi tiêm trực tiếp vào vật nhận máu, sau đó theo dõi từ 15 - 20 phút Nếu vật nhận máu không có biểu hiện
gì về rối loạn tuần hoàn, hô hấp thì tiến hành truyền máu cho con vật với một lượng cần thiết
Liều lượng truyền: Tiểu gia súc: 10 - 20 ml; Đại gia súc: 100ml
1.5 Kỹ thuật truyền máu cho gia súc
Có 2 cách sau:
* Không sử dụng chất chống đông: Lấy máu của con vật cho truyền ngay
vào tĩnh mạch của con vật nhận Phương pháp này có ưu điểm là vô trùng, nhưng lại có nhược điểm lớn là máu hay bị đông vón, vì vậy thường xẩy ra tai biến Khi truyền máu cho gia súc, người ta ít sử dụng phương pháp này
* Sử dụng chất chống đông: có thể sử dụng các chất chống đông máu như:
Natricitrat 4%, sunfatnatri 4%, canxiclorua 15% hoặc magiesunfat 8% Những chất này khi sử dụng pha loãng với tỷ lệ 1/10 so với lượng máu tiếp
Chú ý: các dung dịch chống đông pha xong lọc kỹ, hấp tiệt trùng, để nguội
rồi pha với lượng máu cần tiếp theo tỷ lệ trên, sau đó đem tiếp bằng dụng cụ tiếp
- Dụng cụ truyền gồm có:
+ Chai truyền: gồm có nắp chai và chai
+ Dây truyền: thường có hai loại dây truyền:
* Dây có bầu lọc: trước khi truyền ta phải cho lượng máu cần truyền vào bầu
* Dây không có bầu lọc: trước khi truyền ta cho đầy dung dịch vào dây, cần chú ý tránh bọt khí ở trong dây truyền
Không ngưng kết
Có ngưng kết Ngưng kết giả
Trang 25- Khi chưa kịp truyền ngay, người ta có thể bảo quản máu trong tủ lạnh 1 -
2 ngày nhưng cho thêm kháng sinh và adrenalin vào máu theo tỷ lệ sau:
Canxiclorua 15% 100 ml
1.6 Liều lƣợng và số lần truyền máu cho gia súc
- Liều lượng máu tiếp cho gia súc: tuỳ theo yêu cầu của từng cơ thể mà ta
có thể tiếp từ 1 đến 4 lít máu
- Số lần truyền máu: qua thực tế, người ta thấy rằng số lần truyền máu không hạn chế, nhưng cần chú ý trong lần truyền sau cần phải đề phòng hiện tượng dị ứng xảy ra (do sau lần truyền đầu cơ thể sinh ra kháng thể chống huyết cầu, khi truyền máu lần 2 có sự kết hợp giữa kháng nguyên với kháng thể)
1.7 Những điều cần chú ý khi truyền máu
- Chỉ truyền máu trong trường hợp mất máu cấp tính (sau phẫu thuật bị mất nhiều máu, gia súc bị ký sinh trùng đường máu hoặc bị trúng độc)
- Không truyền trong trường hợp gia súc bị thiếu máu mãn tính, suy dinh dưỡng, bị bệnh tim, thận hoặc bệnh gan
- Kiểm tra gia súc cho và nhận máu về lâm sàng để loại trừ các bệnh truyền nhiễm, ký sinh trùng đường máu
- Máu dùng để truyền phải đảm bảo thật vô trùng, nếu không sẽ dẫn đến tai biến nhiễm trùng máu cho gia súc nhận máu
- Phải lọc máu cẩn thận trước khi truyền để đảm bảo không có cục máu đông, không có cặn
- Trong khi truyền máu cho gia súc, chú ý không để bọt khí trong bầu lọc
và trong dây truyền
- Nhiệt độ của máu truyền phải bằng nhiệt độ cơ thể nhận máu
- Tốc độ truyền: tuỳ theo từng trạng thái cơ thể gia súc mà ta có thể truyền từ 30
- 40 giọt/ phút (25 - 30 phút/ lít máu, nếu gia súc yếu 15 - 20 phút/ 1 lít máu, nếu gia súc khoẻ)
- Phải theo dõi liên tục con vật trong quá trình truyền và sau khi truyền khoảng
30 phút
- Trước khi truyền máu cho gia súc phải chuẩn bị thật tốt thuốc cấp cứu (adrenalin, canxi, cafein, long não), để kịp thời can thiệp khi có tai biến xấu xảy ra đối với con vật nhận máu
1.8 Các tai biến có thể xẩy ra trong quá trình truyền máu
Trong quá trình truyền máu cho gia súc thường xảy ra các tai biến sau:
Trang 26- Sốc tiêu huyết: Con vật khó thở, toàn thân đỏ lên, run rẩy, mạch yếu, huyết áp thấp Trường hợp này ta cần tiêm ngay một trong các loại thuốc sau: adrenalin 1‰, cafein hoặc long não 3 ml
- Phản ứng quá mẫn: tiêm adrenalin 1%
- Phù phổi cấp: tiêm morphin hoặc atropin
- Nếu sốc do truyền máu quá nhanh ta phải giảm tốc độ truyền
II TRUYỀN DỊCH
Trong điều trị bệnh cho gia súc, việc truyền máu thường rất hiếm (chỉ sử dụng với gia súc quý) Nhưng việc dùng các dung dịch để truyền cho con vật ốm là rất cần thiết và thường dùng, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả điều trị bệnh
2.1 Các dung dịch thường tiếp cho gia súc
+ Nước muối đẳng trương (nước muối sinh lý 0,9%): được dùng để truyền trong trường hợp cơ thể mất máu cấp tính, viêm ruột ỉa chảy cấp, nôn mửa nhiều Dung dịch này có thể tiêm dưới da hoặc truyền vào tĩnh mạch Liều lượng tuỳ thuộc vào mục đích điều trị
+ Dung dịch muối ưu trương (NaCl 10%): có tác dụng tăng cường tuần hoàn cục bộ và phá vỡ tiểu cầu Do vậy, dung dịch này thường được dùng trong các trường hợp liệt dạ cỏ, nghẽn dạ lá sách, chảy máu mũi, tích thức ăn trong dạ cỏ Truyền trực tiếp vào tĩnh mạch Liều lượng: Đại gia súc: 200 - 300ml/con/ngày; Bê nghé: 100 - 200ml/con/ngày; Chó, lợn: 20 - 30ml/con/ngày
+ Dung dịch Glucoza ưu trương (10 - 40%): dùng trong trường hợp gia súc quá yếu, tăng cường giải độc cho cơ thể khi gia súc bị trúng độc, tăng cường tiết niệu và giảm phù Truyền vào tĩnh mạch Liều lượng tuỳ theo mục đích điều trị
+ Dung dịch Glucoza đẳng trương (5%): Dùng trong trường hợp cơ thể bị suy nhược và mất nhiều nước Tiêm dưới da hoặc tiêm truyền tĩnh mạch Liều lượng tuỳ theo mục đích sử dụng
+ Dung dịch điện giải Oresol: dùng để tiếp trong trường hợp gia súc ỉa chảy mất nhiều nước Liều lượng tuỳ theo mục đích điều trị
2.2 Phương pháp truyền dịch cho gia súc
Trước khi truyền, cần chuẩn bị dung dịch truyền, sau đó pha dung dịch cần truyền vào bình, hấp tiệt trùng Sau khi hấp tiệt trùng để nguội, sao cho nhiệt độ của dung dịch cần truyền xấp xỉ bằng nhiệt độ của cơ thể gia súc
Trang 27Cố định gia súc, xác định vùng truyền và sát trùng Sau đó dùng kim đã
được sát trùng phóng vào vùng truyền (ví dụ: tĩnh mạch cổ, đối với đại gia súc)
Sau khi đã đâm kim trúng tĩnh mạch, nối một đầu của dây tiếp vào đốc kim, đầu kia cắm vào bình truyền Cố định bình truyền ở cột gần gia súc Theo dõi gia súc trong quá trình truyền
Cách truyền dung dịch cho gia súc 2.3 Những điều chú ý trong khi truyền dung dịch cho gia súc
- Trước khi truyền cho gia súc dung dịch truyền phải lọc kỹ và hấp tiệt trùng
- Nhiệt độ của dung dịch phải xấp xỉ bằng nhiệt độ của cơ thể
- Không có bọt khí trong dây và bầu tiếp
- Tốc độ truyền khoảng 40 - 60 giọt/1 phút
- Chuẩn bị một số loại thuốc cấp cứu cho gia súc như: cafeinnatribenzoat 20%, canxi, long não
- Theo dõi con vật được truyền trong suốt quá trình truyền dung dịch và sau khi truyền 30 phút Nếu trong quá trình theo dõi thấy kim bị chệch ra khỏi tĩnh mạch thì ta ngừng truyền và chỉnh lại kim
- Trong quá trình truyền nếu thấy gia súc có hiện tượng sốc, choáng thì phải ngừng và kịp thời tiêm thuốc cấp cứu
Chai dịch Nắp chai Dây truyền
Vị trí truyền dịch
Trang 28Hệ tim mạch có liên quan chặt chẽ tới các bộ phận khác trong cơ thể, hệ tim mạch bị bệnh ảnh hưởng xấu tới các bộ phận khác trong cơ thể và ngược lại
1 Đối với hệ hô hấp
Hệ tim mạch bị bệnh dẫn đến rối loạn hô hấp, Khi lượng máu đến các cơ quan bị thiếu, tuần hoàn bị rối loạn, việc vận chuyển khí oxy cho các mô bào bị rối loạn dẫn đến suy hô hấp và xung huyết phổi Ngược lại, hệ hô hấp bị bệnh làm trở ngại hoạt động của tim hoặc gây viêm tim thực thể
Ví dụ: khi viêm phế mạc có thể dẫn tới viêm ngoại tâm mạc, hoặc khi viêm
phế quản mãn tính dễ dẫn đến suy tim phải
2 Đối với hệ tiêu hoá
Tim bị bệnh dễ dẫn đến rối loạn tiêu hoá vì máu không đủ cung cấp cho gan để giải độc, vì vậy sẽ có nhiều sản vật trung gian sản sinh trong máu, dẫn đến rối loạn tiêu hoá và hấp thu, gia súc sẽ bị viêm ruột Ngược lại, nếu gia súc bị mắc bệnh: viêm ruột, ỉa chảy thì ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp đập của tim
3 Đối với hệ tiết niệu
Khi hệ tim mạch bị bệnh thì lượng máu vào thận ít, làm giảm khả năng siêu lọc của thận giảm làm cho Na+ tích lại nhiều trong mô bào gây chứng phù nề Ngược lại, nếu thận bị bệnh thường dẫn đến hiện tượng cao huyết áp do tim phải
co bóp mạnh nên dễ dẫn đến suy tim phải
4 Đối với máu
- Nếu máu loãng, khi nghe tiếng tim thấy có nhiều tạp âm
- Nếu trong máu có nhiều khí CO2 thì làm cho tim đập nhanh hơn
5 Đối với hệ thần kinh
Trang 29Nếu thần kinh giao cảm hưng phấn thì sẽ làm cho tim đập nhanh Ngược lại, nếu lỗ động mạch chủ bị hẹp thì gây ra hiện tượng thiếu máu, do đó con vật hay bị ngất
6 Đối với quá trình trao đổi chất
Quá trình trao đổi chất trong cơ thể bị rối loạn thường gây nên hiện tượng thoái hoá cơ tim
7 Đối với tuyến nội tiết
Nếu tuyến nội tiết bị rối loạn như tăng chất thyroxin hay adrenalin trong máu thì quá trình trao đổi chất tăng, dẫn đến tim đập nhanh hơn
Trong các bệnh nội khoa, tỷ lệ gia súc mắc bệnh tim tương đối thấp, chiếm khoảng 2 - 4 % Trong nhân y, do có phương pháp và phương tiện hiện đại nên người ta phát hiện được về hệ tim mạch một cách dễ dàng Nhưng đối với ngành thú y, đối tượng của chúng ta là gia súc nên rất khó để chẩn đoán chính xác, hơn nữa phương tiện để chẩn đoán bệnh còn thô sơ, nên bệnh ở hệ tim mạch ít được phát hiện
BỆNH VIÊM NỘI TÂM MẠC CẤP TÍNH
(Endocarditis acuta)
1 Đặc điểm
Bệnh viêm nội tâm mạc hay còn gọi là viêm màng trong tim Là tình trạng viêm màng trong tim có hiện tượng loét sùi Bệnh thường gây hẹp và hở các van tim, từ đó gây trở ngại rất lớn đến hoạt động của tim
Quá trình viêm thường xảy ra trên bề mặt màng trong tim (lớp niêm mạc trong tim)
Vi khuẩn (liên cầu khuẩn, tụ cầu khuẩn) là tác nhân chính gây viêm màng trong tim
- Do kế phát từ một số bệnh ký sinh trùng đường máu
- Do trúng độc một số hoá chất, do quá trình trao đổi chất rối loạn vì cơ thể thiếu các vitamin
Tất cả các nguyên nhân trên làm giảm sức đề kháng của cơ thể, từ đó vi khuẩn xâm nhập vào tim và gây bệnh
Trang 303 Cơ chế sinh bệnh
Tính chất viêm phụ thuộc vào tác động và tính chất của bệnh nguyên
- Nếu độc tính của vi khuẩn kém thì thể hiện viêm ở thể sùi Độc tố của vi khuẩn tác động vào màng trong tim, làm xung huyết nội tâm mạc, sau đó tiết dịch
và gây viêm Do trong dịch viêm có nhiều fibrin, làm cho nơi viêm dày lên và sần sùi Nếu qúa trình viêm ở van tim, thường làm hẹp van tim
- Nếu độc tính của vi khuẩn mạnh thì biểu hiện viêm ở thể loét Độc tố của
vi khuẩn gây hoại tử niêm mạc tim một cách nhanh chóng, gây hiện tượng loét tại nơi viêm (thậm chí có khi gây thủng tim); những mảnh tổ chức bị hoại tử lẫn vào máu gây hiện tượng nhồi huyết, hoặc gây viêm cho một số khí quan khác trong cơ thể, thậm chí còn gây hiện tượng nhiễm trùng huyết dẫn đến gia súc chết đột ngột
Mặt khác, do viêm trên van tim, từ đó đã làm cản trở quá trình vận chuyển máu, đồng thời do kế phát viêm cơ tim, làm cho cơ tim bị suy nhược Hơn nữa, do độc tố của vi trùng, kết hợp với nhiễm trùng toàn thân làm cho cơ thể con vật suy kiệt một cách nhanh chóng, con vật chết nhanh
4 Bệnh tích
* Tổn thương trong tim
Thời kỳ sơ phát: Tế bào thượng bì nội bào tương mạc sưng, màu đỏ hay
màu sẫm, có hiện tượng xung huyết hay xuất huyết
Thể viêm sùi: Các tổn thương ở van tim có màu từ vàng xám tới vàng sẫm to nhỏ không đều nhau, trên có phủ một lớp fibrin Những nốt đó sau tụ lại thành viêm sùi Ngoài ra ở dưới nội tâm mạc hoặc trên cơ tim có những nốt loét xuất huyết
Thể viêm loét: Trên van tim có những nốt loét bằng hạt đậu hay bằng đồng
xu, trên phủ một lớp mô hoại tử
* Tổn thương ngoài tim
- Tắc hoặc giãn động mạch do viêm lan toả lớp nội mạc
- Gan và lách thường to do phản ứng phòng vệ của hệ thống võng mạc nội
Tim đập nhanh, sờ vào vùng tim có hiện tượng "rung tim" Nếu viêm ở cả tâm
thất trái và tâm thất phải thì triệu chứng thể hiện rõ nét hơn viêm một bên
Nếu viêm ở thể sùi van nhĩ thất, làm trở ngại tuần hoàn nhĩ thất trái, gây ứ huyết phổi, gia súc có triệu chứng phù phổi Trên lâm sàng ta thấy gia súc có triệu chứng khó thở
Nếu viêm ở van nhĩ thất phải, làm ảnh hưởng đến tuần hoàn các cơ quan tiêu hoá (gan, lách, ruột) gây hiện tượng bóng nước, gia súc bị phù
Nếu có hiện tượng nhồi huyết thì tuỳ theo cơ quan trong cơ thể bị nhồi huyết mà có triệu chứng khác nhau
Trang 31Ví dụ: Nhồi máu ở gan: có hiện tượng báng nước, gia súc bị phù
Nếu nhồi huyết não: gia súc có hiện tượng bại liệt Nếu nhồi huyết ở tim: gia súc có hiện tượng chết đột ngột
* Hộ lý: Để gia súc ở nơi yên tĩnh, chăm sóc nuôi dưỡng tốt Khi mới phát,
dùng nước đá chườm vào vùng tim
* Nguyên tắc điều trị:
- Dùng kháng sinh liều cao và điều trị kéo dài 4 - 6 tuần
- Theo dõi chức năng thận khi dùng kháng sinh gây độc cho thận
- Phát hiện và điều trị sớm các biến chứng
* Dùng thuốc điều trị
- Dùng thuốc đặc hiệu điều trị nguyên nhân chính
- Dùng thuốc đề phòng viêm lan và nhiễm trùng kế phát: dùng một số loại kháng sinh có hoạt phổ rộng như gentamycin, lincosin, ampicillin
- Dùng thuốc trợ sức, trợ lực tăng cường sức đề kháng, giải độc
Dung dịch Glucoza 20% 1 - 2 lít 0,3- 0,4 lít 0,1 - 0,15 lít Cafein natribenzoat 20% 10- 15 ml 5-10ml 3- 5ml
Truyền chậm vào tĩnh mạch
Chú ý: Đối với đại gia súc nếu do viêm kế phát từ thấp khớp ta có thể dùng thêm:
Cafein natribenzoat 10% 10 ml/con
Trang 32BỆNH VIÊM NGOẠI TÂM MẠC
- Viêm tích nước: do dịch viêm không được cơ thể hấp thu và tích lại nhiều trong màng bao tim, khi tim co bóp thường tạo ra một âm như ta dùng tay khuấy vào nước, âm này gọi là âm vỗ nước (âm bơi)
Bệnh gây ảnh hưởng đến sự hoạt động của tim, làm cho máu trở về tim bị trở ngại và gây ra hiện tượng ứ huyết tĩnh mạch
Tuỳ theo nguyên nhân gây bệnh, chia ra:
- Viêm ngoại tâm mạc do ngoại vật: thường gặp ở gia súc nhai lại
- Viêm ngoại tâm mạc không do ngoại vật: gặp ở tất cả các loài gia súc, bao gồm các nguyên nhân: vi khuẩn, vi rút, ung thư
Bệnh có tỷ lệ chết cao 90 - 95%
2 Nguyên nhân
* Viêm do ngoại vật: Trường hợp này xảy ra đối với loài nhai lại trong
trường hợp ăn phải ngoại vật Ngoại vật đâm thủng dạ dày và cơ hoành rồi đâm lên bao tim gây viêm
* Viêm không do ngoại vật: xảy ra với các loài gia súc nhưng lợn hay mắc nhất
- Do kế phát từ các bệnh truyền nhiễm như: lao, đóng dấu, tụ huyết trùng, dịch tả lợn
- Do quá trình viêm lan (viêm cơ tim, viêm gan, viêm phổi), vi khuẩn theo máu về tim và gây viêm bao tim
3 Cơ chế sinh bệnh
Kích thích bệnh lý thông qua thần kinh trung ương tác động vào ngoại tâm mạc làm xung huyết Sau đó dịch rỉ viêm tiết ra đọng lại trong xoang bao tim Tuỳ theo mạch quản của ngoại tâm mạc bị tổn thương mà gây nên hiện tượng tràn tương dịch hoặc hình thành fibrin Nếu dịch rỉ viêm tiết ra nhiều, đồng thời trong dịch có nhiều fibrin thì dịch đọng lại trong bao tim làm hoạt động của tim bị trở ngại, gây nên hiện tượng ứ huyết ở tĩnh mạch gây phù vùng đầu và tĩnh mạch
Trang 33cổ phình to Do phổi bị xung huyết và tuần hoàn bị trở ngại gây rối loạn hô hấp, gia súc khó thở Mặt khác, phản xạ đau làm nhu động của ruột và dạ dày giảm, gây rối loạn tiêu hoá lúc đầu táo bón, sau ỉa chảy
Do máu về thận ít làm khả năng siêu lọc của thận kém gia súc ít đi tiểu Máu vào gan ít, khả năng giải độc của gan giảm, các sản vật trung gian tích lại nhiều và đi vào máu, gây trúng độc cho cơ thể gây co giật Do vi khuẩn tiết nhiều độc tố vào máu, tác động trung khu điều tiết thân nhiệt gia súc bị sốt cao
4 Triệu chứng
* Thời kỳ đầu của bệnh (thời kỳ này thường kéo dài)
Ở giai đoạn này chẩn đoán bệnh hết sức khó khăn Do triệu chứng lâm sàng thể hiện chưa rõ Quan sát kỹ con vật thấy: sốt cao 41 - 420C, kém ăn hay bỏ
ăn, có biểu hiện đau (nghiến răng, ngoảnh đầu về vùng tim) Nhu động dạ dày và ruột giảm, con vật bị táo bón Đối với loài nhai lại, dạ cỏ bị chướng hơi mãn tính, con vật đi tiểu ít Ấn vào vùng tim con vật có biểu hiện đau
* Thời kỳ cuối của bệnh (kéo dài 7 - 10 ngày, sau đó con vật chết)
Triệu chứng thường thể hiện rõ: phù ở vùng đầu, tĩnh mạch cổ nổi to, vật
bỏ ăn, thở khó Nghe vùng tim thấy âm bơi, âm cọ màng bao tim Dùng kim chọc
dò xoang bao tim có nhiều dịch chảy ra Gia súc ỉa chảy, phân lỏng như bùn, màu đen, thối khắm
Cuối cùng con vật hôn mê rồi chết
Xét nghiệm máu thấy: số lượng bạch cầu tăng cao, độ dự trữ kiềm trong máu giảm Kiểm tra nước tiểu có protein và indican
Có hiện tượng phù vùng đầu và trước ngực, tĩnh mạch cổ nổi rõ Con vật thở khó Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh sau:
* Bệnh phù bao tim: Gia súc không sốt, vùng tim không đau
* Bệnh tim to hay tim giãn: Bao tim không tích nước, nghe tim không có
âm bơi và tiếng cọ màng tim
Trang 34* Hộ lý
Cho gia súc nghỉ ngơi, ăn thức ăn dễ tiêu và giàu dinh dưỡng Không cho
ăn thức ăn dễ lên men, sinh hơi Dùng nước đá chườm vào vùng tim
* Điều trị
Trường hợp viêm không do ngoại vật ở thời kỳ đầu, tuỳ theo nguyên nhân kế phát mà ta dùng thuốc điều trị
- Dùng thuốc điều trị theo nguyên nhân chính: tuỳ theo bệnh gây kế phát
viêm ngoại tâm mạc để dùng thuốc, Ví dụ: bệnh đóng dấu dùng kháng sinh tiêu
diệt vi khuẩn gram dương, bệnh tụ huyết trùng dùng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn gram âm
- Dùng kháng sinh diệt vi khuẩn bội nhiễm như: Gentamycin, pneumotic, ampicilin, lincosin, doxytyl…
- Dùng thuốc giảm đau: novocain 0,25% phong bế hạch sao, hoặc hạch cổ dưới đối với trâu bò, ngựa; analgin, paradon đối với gia súc nhỏ
- Dùng thuốc nâng cao sức đề kháng của cơ thể, tăng cường chức năng giải độc của gan, tăng lợi tiểu và giảm dịch thẩm xuất
Dung dịch glucoza 20% 1 - 2 lít 0,3 - 0,4 lít 0,1 - 0,15 lít Cafein natri benzoat 20% 20 ml 5 - 10ml 1 - 2ml Canxi clorua 10% 50 - 70 ml 20 - 30ml 5ml
Urotropin 10% 50 - 70 ml 30 - 50ml 10 -15ml Vitamin C 5% 20 ml 10ml 5ml
Truyền chậm vào tĩnh mạch
- Dùng thuốc điều trị triệu chứng:
Trang 35+ Thời kỳ đầu của bệnh, nếu gia súc táo bón dùng thuốc nhuận(tràng
Na2SO4 hoặc MgSO4 cho uống Liều lượng: Đại gia súc 50 - 100g/con; Tiểu gia súc 30 - 50g/con; Lợn 5 - 10g/con; Chó 2 - 5 g/con Hoà nước cho uống ngày 1 lần, uống liên tục 3 ngày
+ Nếu gia súc ỉa chảy: dùng thuốc cầm ỉa chảy như sulfaguanidin, tiamulin, nofloxacin
+ Nếu xoang bao tim tích nước thì chọc dò hút dịch ra rồi dùng dung dịch sát trùng rửa xoang bao tim, sau đó bơm dung dịch kháng sinh vào xoang bao tim Điều trị từ 5 - 7 ngày, mỗi ngày 1 lần
BỆNH TÍCH NƯỚC TRONG XOANG BAO TIM
(Hydropericadium)
1 Đặc điểm
Còn gọi là bao tim tràn tương dịch, nước trong xoang là dịch thẩm lậu Bệnh thường kế phát từ một số bệnh mãn tính trong cơ thể như: suy dinh dưỡng, suy tim, viêm thận
2 Nguyên nhân
Chủ yếu là do kế phát từ một số bệnh
+ Do tim bị suy hay van tim hẹp, hở van tim, cơ tim bị thoái hoá, từ đó gây rối loạn tuần hoàn, xung huyết tĩnh mạch Vì vậy, nước qua mạch quản vào xoang bao tim
+ Do suy dinh dưỡng, áp lực keo trong máu giảm dẫn đến sự chênh lệch áp suất thẩm thấu Do đó, nước từ mạch quản đi vào các mô bào và các xoang trong
cơ thể, gây hiện tượng tích nước xoang bao tim
+ Do viêm thận, chức năng siêu lọc của thận giảm, dẫn đến tích Na+
trong máu, nước thoát ra khỏi mạch quản tích lại trong các xoang và tổ chức của cơ thể
+ Do một số bệnh ký sinh trùng như: bệnh sán lá gan, tiên mao trùng, làm cho hồng cầu bị phá vỡ gây thiếu máu, áp lực keo trong máu giảm dẫn đến tích nước ở xoang bao tim
3 Cơ chế sinh bệnh
Nếu do nguyên nhân suy tim, hở hoặc hẹp van tim, hoặc thoái hoá cơ tim sẽ gây hiện tượng ứ huyết ở tĩnh mạch, thành mao mạch thiếu oxy, tế bào thượng bì mao mạch bị tổn thương, tính thấm thành mạch tăng làm cho nước tích ở các xoang
Nếu do suy dinh dưỡng hoặc do bệnh thận (lượng protit thoát ra đường thận nhiều) làm áp lực keo trong máu giảm, dẫn đến nước vào xoang và mô bào của cơ thể
Trang 36Mặt khác thận viêm gây sự tích ion Na+ trong máu, dẫn đến nước trong mạch quản thoát ra ngoài và tích lại trong các xoang cũng như trong các tổ chức của cơ thể
Xoang bao tim bị tích nước làm trở ngại hoạt động của tim, gây phù hoặc phù phổi Gia súc thở khó khăn
4 Triệu chứng
Gia súc không bị sốt và không đau vùng tim, gõ vùng tim thì âm đục mở rộng Nghe có âm bơi và thấy tim đập yếu Chọc dò xoang bao tim thấy có nước trong chảy ra Gia súc khó thở Tĩnh mạch cổ phình to Có triệu chứng phù nề ở tổ chức dưới da, ức, hầu
Ví dụ: + Nếu do ký sinh trùng đường máu như bệnh tiên mao trùng: dùng
naganin hoặc trypamidium, berenil
+ Nếu do suy dinh dưỡng thì bổ sung dung dịch đạm vào máu, kết hợp với vitamin và sắt
- Dùng thuốc trợ tim, lợi tiểu, giảm triệu chứng phù, bền vững thành mạch, trợ sức cho con vật
Dung dịch glucoza 20% 1 - 2 lít 0,3 - 0,4 lít 0,1 - 0,15 lít Cafein natri benzoat 20% 20 ml 5 - 10ml 1 - 2ml
Canxi clorua 10% 50 - 70 ml 20 - 30ml 5ml
Urotropin 10% 50 - 70 ml 30 - 50ml 10 -15ml
Truyền chậm vào tĩnh mạch
Chú ý: Nếu do suy tim ta cần xử lý theo cách sau:
- Tăng cường hoạt động của tim: Dùng thuốc trợ tim nhóm: digitan, stophantus
- Giảm bớt ứ máu ngoại biên: Hạn chế ăn muối, dùng thuốc lợi tiểu, chọc
dò và hút dịch ở xoang bao tim và xoang ngực
Trang 37BỆNH VIÊM CƠ TIM CẤP TÍNH
- Do vi rút: Adenovirut, Hepatitis (virut viêm gan), vi rut cúm, virut dại
- Do ký sinh trùng: ấu trùng sán dây, giun tròn, trùng roi, giun xoắn
- Do thuốc và các hoá chất: thuỷ ngân, chì, phospho vô cơ, khí cacbon
3 Cơ chế sinh bệnh
Các tác nhân gây viêm cơ tim theo 3 cơ chế sau:
- Xâm nhập vào cơ tim
- Tạo ra độc tố cho cơ tim
- Phá huỷ cơ tim thông qua cơ chế miễn dịch
Ở giai đoạn đầu của ổ viêm, kích thích bệnh lý tác động vào cơ tim và thần kinh điều khiển tự động của tim, làm cơ tim xung huyết, tim đập nhanh, huyết áp cao, sinh ra nhịp ngoại tâm thu
Nếu bệnh tiếp tục tiến triển thì cơ tim bị thoái hoá, thường bị thoái hoá mỡ hoặc thoái hoá protit, làm cho cơ tim không đủ năng lượng Hoạt động của tim yếu dẫn đến mạch yếu, huyết áp hạ, vùng xa tim có hiện tượng thủy thũng Do tim yếu, tuần hoàn bị trở ngại sinh ra hiện tượng ứ huyết ở gan, ruột, dẫn đến hàm lượng urobilirubin trong nước tiểu tăng và hàm lượng hemobilirubin trong huyết thanh tăng, làm cho nhu động ruột và tiết dịch ruột giảm Từ đó dễ gây hiện tượng viêm ruột thể cata, con vật sinh ra ỉa chảy
Trang 38Ở thời kỳ cuối của bệnh, do lượng máu vào thận ít làm khả năng siêu lọc của thận giảm, urê tích lại làm hàm lượng urê trong máu tăng cao Con vật xuất hiện hiện tượng co giật rồi chết
4 Bệnh tích
- Giai đoạn đầu: cơ tim có từng vệt xuất huyết hoặc từng điểm xuất huyết Dùng dao cắt cơ tim thấy ướt và có dịch màu thẫm chảy ra Khám toàn bộ tim thấy thành tim mỏng, cơ tim bị nhão, lòng tim nở to
- Giai đoạn cơ tim thoái hoá: màu của tim trắng bệch, giống màu đất sét hoặc có màu xám Đôi khi thấy có cả ổ mủ to bằng hạt đậu
6 Chẩn đoán
Việc chẩn đoán bệnh rất khó khăn (do kế phát từ các bệnh khác nên thường
bị triệu chứng lâm sàng của bệnh chính lấn át) Để chẩn đoán có hiệu quả, có thể tiến hành các bước sau:
- Trước hết nghe tim và đếm tần số tim đập của gia súc Sau đó, cho gia súc vận động bình thường từ 5 - 10 phút rồi dừng lại, tiếp tục nghe tim và đếm tần số tim đập, theo dõi xem trong thời gian bao lâu tim hoạt động trở lại bình thường
Đối với tim bình thường thì sau khi vận động tim sẽ đập nhanh lên Sau đó khoảng 2 phút tim đập trở lại bình thường Trường hợp tim bị bệnh này thì sau khi vận động tim đập nhanh lên và kéo dài thời gian khoảng 4 - 5 phút sau, đồng thời nghe tim thấy có lẫn những tạp âm (do hiện tượng hở van)
- Nghe tim: tiếng tim không rõ
- Gõ vùng tim thấy vùng âm đục mở rộng
- Kiểm tra huyết áp: huyết áp hạ
- Kiểm tra máu thấy tốc độ huyết trầm tăng, bạch cầu trung tính tăng; ngược lại lâm ba cầu, bạch cầu đơn nhân, bạch cầu ái toan và ái kiềm giảm
Trang 39- Dùng thuốc làm hưng phấn thần kinh trung ương:
+ Cafein natribenzoat hoặc long não nước, liều 10 ml/con, khoảng 3 - 4 giờ tiêm 1 lần Tiêm 3 - 4 ngày liên tục Trường hợp tim quá yếu, có thể dùng adrenalin 0,1%, liều 3 - 5 ml/con (đại gia súc)
Đối với tiểu gia súc, tiêm cafein natribezoat liều 5 - 10 ml/con
Đối với chó, dùng spactein hay spactocan với liều 1 - 2 ml/con, cứ 5 giờ tiêm 1 lần, ngày tiêm từ 2 - 3 lần Tiêm 2 - 3 ngày liên tục
- Dùng thuốc lợi tiểu
Thuốc diuritin với liều lượng sau:
Đại gia súc : 5 ml/con Tiểu gia súc : 2 ml/con Chó : 1 ml/con Tiêm dưới da ngày 1 lần
Chú ý: Không nên dùng thuốc lợi tiểu liên tục, lâu dài vì thuốc làm mất
kháng thể trong cơ thể, nên dùng cách quãng
Trang 40BỆNH VAN TIM
(Ritium cordis)
Mỗi tâm thất có một van ở nơi máu chảy vào và một van ở nơi máu chảy
ra, các van ở nơi máu chảy vào gọi là van nhĩ thất Ở nửa tim trái còn gọi là van hai lá, ở nửa tim phải là van ba lá Các van ở nơi máu chảy ra có ba lá và gọi là van tổ chim Van ở nửa tim trái là van động mạch chủ, van ở nửa tim phải là van động mạch phổi
Những van tim là những cấu trúc cho phép máu chỉ vận chuyển theo một chiều Khi máu có xu hướng chảy theo chiều ngược lại, các van sẽ đóng Các van tim
là những cấu trúc thụ động vì không có tổ chức cơ Khi van tim bị tổn thương sẽ gây rối loạn cơ năng tim
Những tác động bệnh lý có thể làm cho van tim bị biến đổi về hình thái và cấu trúc Từ đó làm biến đổi cơ năng của tim, xuất hiện tiếng tim bệnh lý (tiếng thổi tâm thu hoặc tiếng thổi tâm trương) Bệnh ở van tim thường được chia làm 2 nhóm:
+ Bệnh ở nhóm thổi tâm thu
+ Bệnh ở nhóm thổi tâm trương
Bệnh van tim thường tiến triển qua hai thời kỳ: Thời kỳ bù và thời kỳ mất khả năng bù
I BỆNH CỦA NHÓM THỔI TÂM THU
BỆNH HỞ VAN HAI LÁ (Van tăng mạo)
(Mitra valve regurgitation)
1 Đặc điểm
Van hai lá nối liền với nhĩ trái và thất trái, giúp máu đi theo hướng từ nhĩ trái xuống thất trái, khi van hai lá không khép kín thì trong kỳ tâm thu có một lượng máu chảy ngược chiều lên nhĩ thất trái gây ra tiếng thổi tâm thu Tiếng thổi tâm thu xuất hiện liền tiếng tim thứ nhất hay trùng với tiếng tim thứ nhất
2 Nguyên nhân
Do tổn thương thực thể ở tim hoặc do rối loạn cơ năng của tim
* Hở van hai lá do tổn thương thực thể ở tim: có mấy nguyên nhân sau:
- Viêm màng trong tim do thấp khớp
- Viêm màng trong tim loét, sùi do vi khuẩn (liên cầu khuẩn, phế cầu khuẩn)
- Do van tim bị rách
- Hở van do chấn thương
* Hở van hai lá do rối loạn cơ năng của tim:
- Do suy thất trái
- Cơ tim thiếu máu cục bộ
- Buồng tim và lỗ van tim giãn rộng