1. Trang chủ
  2. » Tất cả

So sánh Thu hứng vs Thu điếu

19 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 1,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Khuyến ra làm quan khi đất nước rơi vào hoàn cảnh nước mất nhà tan, ước mong giúp nhân dân sống hòa bình của ông không thể thực hiện, Nguyễn Khuyến đành cáo quan về ở ẩn để giữ gì

Trang 1

NGỮ VĂN 11

SO SÁNH BÀI THƠ THU HỨNG VÀ BÀI THƠ

THU ĐIẾU

Phần trình bày của tổ 2

Trang 2

1 Tác giả

Đỗ Phủ ( 712 – 770)

– Là nhà thơ hiện thực lớn nhất

của Trung Quốc Ông sống trong

nghèo khổ, chết trong bệnh tật.

– Thơ ông chủ yếu là thơ hiện

thực theo luật thi Nội dung

thường bày tỏ lòng yêu nước và

tinh thần nhân đạo, niềm đồng

cảm với nỗi khổ nạn của nhân

dân

– Được suy tôn là “ thi thánh” và

“ thi tiên”.

Trang 3

Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) tên khai sinh là

Nguyễn Thắng, hiệu là Quế Sơn, tự là Miễu

Chi, sinh ra tại mảnh đất Hà Nam, xuất thân

trong một gia đình quan lại

– Con đường thi cử của ông ban đầu không

thuận lợi nhưng về sau, ông đỗ liền kì thi hội

thi đình nên được người đời xưng danh là Tam

Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến ra làm quan

khi đất nước rơi vào hoàn cảnh nước mất nhà

tan, ước mong giúp nhân dân sống hòa bình của

ông không thể thực hiện, Nguyễn Khuyến đành

cáo quan về ở ẩn để giữ gìn tấm lòng trong sạch

của mình

– Sự nghiệp của ông được chia ra làm hai mảng

chính: thơ trữ tình và thơ trào phúng với những

tập thơ nổi tiếng như Quế Sơn thi tập, Yến Đổ

thi tập, Bách Liêu thi văn tập,…

1 Tác giả

Trang 4

• Cả hai nhà thơ Đỗ Phủ và Nguyễn Khuyến đều có chân dung người thi sĩ (nghệ sĩ), song song đó là chân dung người nho sĩ

• Nguyễn Khuyến chọn cuộc sống bình dị nơi làng quê, ông nhìn rõ thế sự và vận mệnh đất nước mà không làm gì được nên luôn luôn day dứt, u hoài.

• Đỗ Phủ làm quan và phải xa quê hương trong giai đoạn đất nước loạn li nên chứa trong lòng nỗi buồn nhớ thương, yêu nước, trong thơ ông vang vọng tiếng vọng của quê hương, bao trùm một màu u ám, mờ đục của sương mây và nước mắt.

• Ảnh hưởng lớn đến tư tưởng cũng như phong cách sáng tác của hai tác giả.

1 Tác giả

Trang 5

THU HỨNG – Thể loại: Đường luật thất

ngôn bát cú

– Hoàn cảnh sáng tác: bài thơ

là bài số một trong chùm

“Thu hứng” (gồm 8 bài) –

sáng tác năm 766 khi Đỗ Phủ

ang ngụ cư tại Quỳ Châu

đang ngụ cư tại Quỳ Châu

trong cảnh già, sức yếu, bệnh

tật.

- Viết bằng chữ Hán

THU ĐIẾU -Thể loại: Đường luật thất ngôn bát cú.

-Hoàn cảnh sáng tác:

bài thơ là một trong ba bài trong chùm thơ thu của Nguyễn Khuyến, ược sáng đang ngụ cư tại Quỳ Châu tác khi nhà thơ cáo quan về quê sống ẩn dật.

- Được viết bằng chữ Nôm

2 Tác phẩm

Trang 6

Mùa thu là đề tài yêu thích trong thi ca trung đại Chính vì vậy, đã có rất nhiều các bài thơ có những hình ảnh, cách tả thu giống nhau, bắt chước cách mô tả của nhau mà thiếu đi tính sáng tạo Tuy nhiên, ở cả hai bài Thu hứng (Đỗ Phủ) và Thu điếu (Nguyễn Khuyến) đều có những nét riêng rất khác nhau, tránh được nhiều công thức tả thu và có nhiều sáng tạo độc đáo.

2 Tác phẩm

Trang 7

Thu hứng

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu Sơn Vu Giáp khí tiêu sâm

Giang gian ba lãng kiêm thiên

dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm

Hàn y xứ xứ thôi đao xích

Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

Thu điếu

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.

Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt, Ngõ trúc quanh co khách vắng teo Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,

Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

3 Phân tích

Trang 9

Thu hứng

Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm

Vu Sơn Vu Giáp khí tiêu sâm

Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng

Tái thượng phong vân tiếp địa âm

Tùng cúc lưỡng khai tha nhật lệ

Cô chu nhất hệ cố viên tâm

Hàn y xứ xứ thôi đao xích

Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.

3 Phân tích

Trang 10

+ Ngọc lộ điếu thương phong thụ lâm (Lác đác rừng phong hạt móc sa) Trong thơ

cổ Trung Hoa, hình ảnh rừng phong gắn liền với mùa thu bởi mỗi độ thu về, có rừng phong chuyển sang màu đỏ úa, tượng trưng cho sự li biệt Sương trắng cũng tượng trưng cho mùa thu, cho sự lạnh lẽo Sương móc sa dày đặc làm xơ xác cả rừng phong Nét tiêu điều của cảnh vật hiện lên rất rõ qua cái nhìn đầy tâm trạng của nhà thơ

+ Vu sơn, Vu giáp khí tiêu sâm Nhắc, đến Vu sơn, Vu giáp là người đọc nghĩ ngay tới hình ảnh đặc trưng của đất Ba Thục xưa kia Toàn cảnh bao trùm trong hơi thu hiu hắt Vào mùa thu, khung cảnh nơi đây vốn ảm đạm, lạnh lẽo, qua ngòi bút miêu

tả của Đỗ Phủ, Thu ngày càng thấm đẫm tâm trạng li sầu của tác giả, lại càng thêm tối tăm, ảm đạm

=> Hai câu thơ mở đầu, câu thứ nhất tả cảnh thu ở rừng phong, câu thứ hai tả cảnh thu ở núi non Tuy cảnh vật khác nhau nhưng nhà thơ nhìn chúng với con mắt và tâm trạng giống nhau: trĩu nặng một nỗi buồn thương Đứng trước khung cảnh ấy, một nhà thơ có trái tim nhạy cảm như Đỗ Phủ làm sao lại không nhớ thương quê cũ đến cháy lòng ?!

3 Phân tích

Trang 11

+ “Khóm cúc tuôn thêm dòng lệ cũ” cũng rất hay, giúp người đọc hình dung ra tâm trạng cô đơn chất chửa sầu thương của Đỗ Phủ trong những tháng năm phiêu bạt, xạ quê hương sâu nặng nghĩa tình Hai lần nhìn cúc nở hoa, có nghĩa là đã hai năm Đỗ Phủ sống ở Quý Châu Hoa cúc xui lòng thi nhân ngậm ngùi nhớ lại những mùa thu trước chốn quê cũ, vì vậy mà càng thêm xao xuyến, xúc động đến nghẹn ngào.

+ “Con thuyền buộc chặt mối tình nhà” Chiếc thuyền lẻ loi (cô chu) là một ẩn dụ đầy ý nghĩa không chỉ vì tính chất trôi nổi, đơn độc của nó mà còn vì nó là phương tiện duy nhất để chở ước vọng của nhà thơ về với quê hương trong tâm tưởng.

+ “Lạnh lùng giục kẻ tay dao thước / Thành Bạch, chày vang bóng ác tà” ở hai câu cuối bỗng đột ngột nổi lên âm thanh dồn dập của tiếng chày đập vải trên bến sông, trong bóng hoàng hôn Âm thanh duy nhất này đem đến cho bức tranh sinh hoạt nơi biên ải xa xôi một thoáng vui nhưng thoáng vui ấy không đủ để xua đi những áng mây buồn đang vây phủ trong tâm hồn thi sĩ => Âm thanh của mùa thu may áo vừa kết thúc bài thơ, vừa mở ra nỗi buồn nhớ mênh mang…

=> Tác giả thâu tóm cả thần thái của mùa thu trong bài thơ Đó là một chiều thu cụ thể ở vùng đất Quý Châu trong giai đoạn suy vong của triều đình phong kiến đương thời Chiến tranh xảy

ra liên miên đã đầy Đỗ Phủ phiêu bạt về tận góc trời xa thẳm Ngày đêm, ông chi còn ôm ấp một hi vọng mong manh là được trở về quê cũ Hẳn ước mơ của Đỗ Phủ cũng là ước mơ của bao người dân nghèo khổ lưu vong Bởi vậy, bài thơ tuy không miêu tả trực tiếp tình hình xã hội nhưng vẫn có ý nghĩa hiện thực sâu sắc và chan chứa tình đời.

3 Phân tích

Trang 12

Ở trong bài thơ, các mối quan hệ giữa xa và gần, giữa không gian và thời gian, giữa thị giác và thính giác, giữa thu hứng có sự liên kết chặt chẽ Sự vận hành của tứ thơ rất lôgíc: từ xa đến gần, từ không gian mà cảm nhận thời gian, từ ngoại cảnh thể hiện nội tâm Hàm ẩn trong mỗi câu, mỗi chữ là tâm hồn đau đáu nỗi thương đời, thương người của Đỗ Phủ.Thu hứng dạt dào xuất phát từ rung động mãnh liệt của trái tim nhà thơ đã được thể hiện đầy

đủ qua ngọn bút thần tình Với Đỗ Phủ, mùa thu đồng nghĩa với nỗi buồn và niềm thương nhớ không nguôi, nhất là khi ông đang phải sống trong cảnh nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn nơi xứ lạ.

3 Phân tích

Trang 13

Hai câu đầu nói về ao thu và chiếc thuyền câu Nước ao “trong veo” toả hơi thu “lạnh lẽo” Sương khói mùa thu như bao trùm cảnh vật Nước ao thu đã trong lại trong thêm, khí thu lành lạnh lại trở nên “lạnh lẽo” Trên mặt nước hiện lên thấp thoáng một chiếc thuyền câu rất bé nhỏ - “bé tẻo teo" Cái ao và chiếc thuyền câu là hình ảnh trung tâm của bài thơ, cũng là hình ảnh bình dị, thân thuộc, đáng yêu của quê nhà:

“Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo”.

Các từ ngữ: “lạnh lẽo”, “trong veo”, “bé tẻo teo" gợi tả đường nét, dáng hình, màu sắc của cảnh vật, sắc nước mùa thu; âm vang lời thơ như tiếng thu, hồn thu vọng về.

Hai câu thơ tiếp theo trong phần thực là những nét vẽ tài ba làm rõ thêm cái hồn của cảnh thu:

“Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,

Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo”

Màu “biếc” của sóng hoà hợp với sắc “vàng” của lá vẽ nên bức tranh quê đơn sơ mà lộng lẫy Nghệ thuật đối trong phần thực rất điêu luyện, “lá vàng" với “sóng biếc”, tốc độ

“vèo” của lá bay tương ứng với mức độ của gợn sóng Nhà thơ Tản Đà đã hết lời ca ngợi chữ “vèo” trong thơ của Nguyễn Khuyến Ông đã nói một đời thơ của mình may ra mới

có được một câu thơ vừa ý trong bài “Cảm thu, tiễn thu": "Vèo trông lá rụng đầy sân”.

3 Phân tích

Trang 14

Hai câu luận mở rộng không gian miêu tả Bức tranh thu có thêm chiều cao của bầu trời "xanh ngắt" với những tầng mây “lơ lửng” trôi theo chiều gió nhẹ Trong chùm thơ thu, Nguyễn Khuyến nhận diện sắc trời thu là “xanh ngắt“ “Xanh ngắt” là xanh

mà có chiều sâu Trời thu không mây (mây xám), mà xanh ngắt một màu thăm thẳm Xanh ngắt đã gợi ra cái sâu, cái lắng của không gian, cái nhìn vời vợi của nhà thơ, của ông lão đang câu cá Thế rồi, ông lão đong đưa mắt nhìn về bốn phía làng quê Hình như người dân quê đã ra đồng hết Xóm thôn vắng lặng, vắng teo Mọi con đường quanh co, hun hút, không một bóng người qua lại:

“Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”.

Cảnh vật êm đềm, thoáng một nỗi buồn cô tịch, hiu hắt Người câu cá như đang chìm trong một giấc mộng mùa thu Tất cả cảnh vật từ mặt nước “ao thu lạnh lẽo” đến “chiếc thuyền câu bé tẻo teo”, từ “sóng biếc" đến "lá vàng", từ “tầng mây lơ lửng” đến “ngõ trúc quanh co" hiện lên với đường nét, màu sắc, âm thanh có khi thoáng chút bâng khuâng, man mác, nhưng rất gần gũi, thân thiết với mọi con người Việt Nam

3 Phân tích

Trang 15

Như vậy có thể thấy thơ thu Nguyễn Khuyến không chỉ có cảnh đẹp mà còn có tình đẹp, cảnh đẹp bao nhiêu thì tình nặng bấy nhiêu Câu cá mùa thu có một vẻ đẹp xinh xắn rất Việt Nam, thanh đạm đơn sơ, không lộng lẫy những vẫn hết sức gợi cảm Cảnh ở đây là cảnh thu Việt Nam nhẹ nhàng dịu dàng với những hình ảnh quen thuộc của làng quê nhưng lại rất buồn, nỗi buồn lan tỏa nhẹ nhàng, vừa đủ để tạo ra một khoảng lặng trong tâm hồn, giúp người đọc vừa có thể biết lắng nghe mình để hiểu mình, vừa không quên tỏ thái độ lưu luyến với những gì mà thiên nhiên mùa thu đã hữu ý tạo ra cho những con người, những tấm lòng trung hậu Tình ở đây chính là nỗi lòng của nhà thơ dành cho quê hương đất nước, dành cho những người dân Việt khi bị áp bức bóc lột chắc hẳn chính vì những tình, những cảnh ấy đã góp phần làm nên thành công và xứng đáng với danh hiệu nhà thơ của mùa thu dành cho Nguyễn Khuyến

3 Phân tích

Trang 16

- Với Thu hứng: trên cái nền của cảnh thu với rừng thu, khí thu, hoa thu, tiếng thu, nhà thơ đã hòa vào đó tâm trạng của chủ thể trữ tình, một tâm trạng đượm buồn, da diết, sầu thương, khắc khoải trong tình quê nặng và nỗi âu lo kín đáo về thế sự.

- Với “Thu điếu” – Nguyễn Khuyến đã tạo nên cho mình một chỗ đứng quan trọng trong nền thơ ca trung đại Việt Nam nói chung và trong những thi phẩm lựa chọn đề tài mùa thu nói riêng Đong đầy trong từng vần thơ con chữ, ta thấy được mênh mang cái tình của thi nhân Nguyễn Khuyến, hơn một nhà họa sĩ là một nhà thi sĩ Thơ ông hơn một bức tranh tả cảnh là những ngôn từ gợi tình.

- Đọc Câu cá mùa thu, ta không thấy những sự tương phản dữ dội như trong Cảm xúc mùa thu của Đỗ Phủ, vốn rất phù hợp với đối tượng miêu tả là mùa thu vùng thượng lưu sông Trường Giang thuộc miền ôn đới, lại cũng rất phù hợp với tâm sự trầm uất, bi thương mà vị thi thánh muốn biểu lộ Còn ở Thu điếu, tất cả các sự vật được nhắc tới đều xứng hợp với nhau, như tuân theo một trật tự, mọt quan hệ nhân quả, “ao thu” nhỏ nên

“thuyền câu bé”, gió nhẹ nên sóng “gợn tí”, trời xanh nên nước thêm trong, khách vắng teo nên người ngồi câu cũng trầm ngâm yên lặng Chưa kể gam màu xanh trong bài đã được Nguyễn Khuyến dùng rất đắt khi tái hiện hòa sắc chủ đạo của cảnh thu miền nhiệt đới nước ta, qua đó biểu trưng cho tâm hồn Việt thuần hậu, ưa sự nhẹ nhành, tĩnh mạc, yên bình, đồng thời thể hiện tình cảm, suy nghĩ cùng nỗi buồn, day dứt của tác giả

4 So sánh

Trang 17

Ai từng đến thủ đô Trung Quốc vào mùa thu sẽ không bao giờ quên được vẻ đẹp lộng lẫy, tình tứ của nàng thu nơi đây Tháng 9 về, lá cây trên đường phố Bắc Kinh bắt đầu ngả sắc, từ xanh sang vàng Đấy là lúc thu đã về, hơi thu đang lẩn khuất trên từng ngõ phố Sang cuối tháng 9, đầu tháng 10, mùa thu Bắc Kinh sẽ vàng nhất và quyến rũ nhất Khung cảnh tĩnh lặng tuyệt đối sau mùa hạ nóng bỏng, cuồng nhiệt, giống như vẻ điềm đạm, an nhiên của một cô gái đã trưởng thành đang vào lúc mặn mà, đằm thắm Tiếc thay, thu về thường chóng vánh Nhưng có lẽ vì ngắn ngủi nên quãng thời gian này lại càng khiến người ta phải nâng niu và yêu thương hơn rất nhiều.

5 So sánh mùa thu Trung Quốc và mùa thu Việt Nam

Ngày đăng: 26/09/2021, 16:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w