1. Trang chủ
  2. » Trung học cơ sở - phổ thông

bai thi em yeu lich su

17 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực sự đã đánh dấu một mốc son trong lịch sử của dân tộc Việt Nam; đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam v[r]

Trang 1

Bµi dù thi cuéc thi: Em yªu lÞch sö

Họ và tên: Nguyễn Thị Hạnh

Ngày tháng năm sinh: 13/4/2003

Địa chỉ: Lớp 7A – Trường THCS Tân Ước – Thanh Oai – Hà Nội

*********************

Kính gửi Bam giám khảo hội thi, lời đầu tiên em xin chúc ban giám khảo lời chúc sức khỏe, chúc cuộc thi thành công rực rỡ Trước khi trả lời các câu hỏi em xin được chia

sẻ như sau: Vừa qua đọc báo em thấy số lượng học sinh đăng kí thi môn tự chọn Lịch sử

là rất ít Thậm chí kết quả thi đại học khối C có môn lịch sử kết quả điểm thi không cao Điều này dự báo một thế hệ trẻ Việt Nam đang tự quay lưng lại với lịch sử của nước nhà Thật đáng buồn Làm thế nào để khơi dậy say mê, yêu thích về lịch sử Em nghĩ việc tổ

chức các cuộc thi về lịch sử là một cách hiệu quả Cuộc thi: “Em yêu lịch sử” là một

trong nhưng cuộc thi có ý nghĩa ấy Vì vậy em muốn dự thi để thêm hiểu biết và chia sẻ với bạn bè kiến thức của mình Em xin trả lời những câu hỏi của cuộc thi như sau:

Bài làm Câu 1: Những hiểu biết của em về cách mạng tháng Tám và tuyên ngôn độc lập năm

1945 Lấy dẫn chứng tiêu biểu về những đóng góp của quê hương em cho thắng lợi cách mạng tháng Tám năm 1945 Theo em độc lập có ý nghĩa như thế nào đối với một quốc gia?

Trả lời Những hiểu biết của em về cách mạng tháng Tám năm 1945:

Sau khi được thành lập, Đảng Cộng Sản Đông Dương lãnh đạo nhiều cuộc khởi nghĩa

chống thực dân Pháp, như Khởi nghĩa Nam Kỳ, Khởi nghĩa Bắc Sơn nhưng đều thất bại Vào tháng 5 năm 1941 các lực lượng ái quốc, trong đó nòng cốt là Đảng Cộng Sản Đông Dương, tham gia một tổ chức đứng về phía Đồng Minh giành độc lập cho Việt Nam gọi là Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội Tổ chức này thường được gọi vắn tắt là Việt Minh

Tổ chức này xây dựng một chiến khu do họ kiểm soát ở biên giới Việt Trung Ngày 22 tháng 12 năm 1944, Võ Nguyên Giáp thành lập một trung đội 34 người mang tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân (một trong những tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), ngay sau khi thành lập đã tiến đánh quân Nhật, mở rộng chiến khu Trước sự kiện Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng 3 năm 1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" nhằm phát động cao trào kháng Nhật cứu nước (thay đổi hình thức tuyên truyền, tổ chức đấu tranh để thích hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa, tập dượt quần chúng tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền)

Trang 2

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân Tại châu Âu, Đức thất trận và đầu hàng ngày 7 tháng 5 năm 1945 Ngày 6 tháng 8, Hoa

Kỳ ném hai trái bom nguyên tử trên đảo Hiroshima và Nagasaki Ngày 14 tháng 8, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng vô điều kiện Do đó quân Nhật tại Việt Nam dao động và tan rã Đây là thời cơ để Việt Minh xây dựng lực lượng lớn khắp cả nước, họ tập hợp nhân dân cướp các kho thóc Nhật Đồng thời, một đại hội đại biểu toàn quốc họp trên chiến khu, thành lập Quốc dân Đại hội, tức quốc hội lâm thời Khi Nhật thất bại, khởi nghĩa nổ ra trên toàn quốc, đó là Cách mạng tháng Tám Cách mạng diễn ra nhanh chóng với sự tham gia của hầu hết dân chúng, Việt Minh giành được chính quyền trên cả nước trong mười mấy ngày

Diễn biến tại miền Bắc

Khi nhậm chức, bộ trưởng tư pháp Trịnh Đình Thảo của chính phủ Trần Trọng Kim

đã ra lệnh thả hàng ngàn tù chính trị bị Pháp giam giữ trước đó và cho phép các tổ chức, hội đoàn chính trị được hoạt động công khai Tin đồn dân Nhật sắp sửa đầu hàng đã lan tỏa khắp nơi tại miền Bắc, lợi dụng cơ hội, dân chúng đã tụ tập biểu tình, bãi công nhiều nơi, như ở Thái Bình vào ngày 11 tháng 8 Từ ngày 12 tháng 8 năm 1945, các đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh lần lượt tiến công các đồn Nhật ở các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái và hỗ trợ nhân dân các tỉnh này tiến lên giành chính quyền tại các tỉnh lỵ

Hội nghị toàn quốc họp ở Tân Trào ngày 13 tháng 8 năm 1945 đã nhận định rằng những điều kiện cho Tổng khởi nghĩa đã chín mùi và chuẩn bị lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa

Ngày 14-8 một số cán bộ Đảng Cộng sản và Việt Minh dù chưa nhận được lệnh khởi nghĩa nhưng căn cứ vào tình hình hiện tại và chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" đã quyết định cùng nhân dân khởi nghĩa, khởi nghĩa lan rộng ra nhiều xã thuộc các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng như Thanh Hóa, Thái Bình

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, một đơn vị Giải phóng quân của Việt Minh do đại tướng

Võ Nguyên Giáp chỉ huy từ Tân Trào (Tuyên Quang) kéo về bao vây, tấn công quân Nhật

ở thị xã Thái Nguyên

Trang 3

Tổng khởi nghĩa tại Hà Nội

Tinh mơ sáng ngày 19 tháng 8, hàng chục vạn người dân ở Hà Nội và các tỉnh lân cận theo các ngả đường kéo về quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội Khoảng 10 giờ rưỡi, cuộc mít tinh lớn chưa từng có của quần chúng cách mạng được sự bảo vệ của Thanh niên tự

vệ, của tổ chức Việt Minh Hoàng Diệu Hà Nội đã diễn ra Đại diện Việt Minh tuyên bố: Tổng khởi nghĩa! Sau đó một cánh tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ, và nhanh chóng làm chủ toàn bộ khu vực này

Chiều tối 19 tháng 8, phái đoàn đàm phán của Việt Minh đàm phán với Tổng tư lệnh kiêm Toàn quyền Nhật - ngay tại Tổng hành dinh quân đội Nhật Họ đã chấp nhận chính quyền cách mạng Thắng lợi tại Hà Nội có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng tháng Tám

Phủ Khâm sai Bắc kì

Diễn biến tại Huế

Ngày 17/8/1945 chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh ra mắt quốc dân nhưng cuộc mít tinh đã trở thành cuộc tuần hành ủng hộ Việt Minh Ngày 23/8 khởi nghĩa giành thắng lợi

Diễn biến tại miền Nam

Tại Sài Gòn, Huỳnh Phú Sổ kết hợp các tổ chức chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Quốc dân đảng, Đại Việt Quốc dân đảng thành Mặt trận Quốc gia Việt Nam Thống nhất, tổ chức một cuộc biểu tình lớn chống Pháp Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Việt Minh

mà Thanh niên Tiền phong làm nòng cốt tổ chức biểu tình và giành chính quyền tại Sài Gòn

Trang 4

Đến ngày 28 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền toàn quốc Ngày 22 tháng 8, Việt Minh gửi công điện yêu cầu Bảo Đại thoái vị, họ đã giành được chính quyền Bảo Đại tuyên bố chấp nhận thoái vị, từ bỏ ngai vàng và trở thành công dân Vĩnh Thụy Ngày 30 tháng 8, hàng mấy vạn người tụ tập trước Ngọ Môn Lâu xem nhà vua thoái vị, ông tuyên

bố: "Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ".

Ảnh nhà Nguyễn trao trả ấn tín cho chính quyền cách mạng

Ý nghĩa của cách mạng tháng Tám năm 1945

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công – nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời; dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Vì thế sự kiện lịch sử này có ý nghĩa vô cùng quan trọng:

Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích nô lệ của thực dân, đế quốc trong gần một thế kỷ, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ Đảng ta từ một Đảng hoạt động bí mật, bất hợp pháp trở thành một Đảng cầm quyền

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của cách mạng Việt Nam, là thắng lợi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng ta gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại

Cách mạng Tháng Tám đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam Đây là quá trình phát triển tất yếu của lịch sử dân tộc trải qua mấy nghìn năm phấn đấu mà đỉnh cao ý chí quật cường, sức mạnh cố kết cộng đồng, tầm cao trí tuệ của dân tộc hoà quyện với những tư tưởng của C.Mác, Ănghen, Lênin, Hồ Chí Minh, với xu thế của thời đại vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội

Những đóng góp của quê hương Tân Ước trong cách mạng tháng Tám năm 1945

Cuối năm 1944 đầu năm 1945, quân phát xit Đức-ý-Nhật liên tiếp thất bại trên nhiều mặt trận Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc Thực dân Pháp

Trang 5

ráo riết hoạt động chờ thời cơ quân đồng minh đổ bộ vào Đông Dương sẽ nổi lên tiến công quân Nhật.Biết rõ âm mưu của quân Pháp nên quân Nhật đã quyết định hành động trước Vào lúc 20h 20phut ngày 9/3/1945, quân Nhật đồng loạt nổ súng lật đổ chính quyền Pháp ở Đông Dương Sau nắm quyền cai trị ở cấp Trung ương , chúng lập chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim Bọn Đại Việt phản động dựa vào thế quan thày cùng bộ máy tay sai

từ huyện đến các làng xã ra sức tuyên truyền về thuyết “ Đại Đông Á”, chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim, gây chống phá phong trào

Ngày 12/3/1945 Ban Thường vụ Trung Ương Đảng ra chỉ thị “ Nhật –Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, xác định rõ kẻ thù trước mắt của nhân dân ta là phát xit Nhật, đấu tranh theo khẩu hiệu “đánh đuổi Phát xít Nhật” tiến tới “ thành lập chính quyền cách mạng của nhân dân Đông Dương Phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền

đề cho cuộc tổng khởi nghĩa khi thời cơ đến”

Để thục hiện phong trào kháng Nhật cứu nước ở khu vực Thanh Oai, ngày 18/3/1945, Tỉnh ủy Hà Đông đã phân công các tỉnh ủy viên chỉ đạo phong trào Khu vực phía Bắc do đồng chí Mai Vy phụ trách, phía Nam do đồng chí Bùi Quang Tạo phụ trách

và cùng thời gian này cơ sở cách mạng xuất hiện ở Tân Ước Trong thế phát triển chung, được tỉnh ủy tăng cường lãnh đạokháng chiến chông Nhật ở Tân Ước có những chuyển biến sâu sắc

9/5/1945 Hồng quân Liên Xô tiến vào Béclin- sào huyệt cuối cùng của phát xit Đức, chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc ở Châu Âu Trước tình hình đó bộ máy tay sai của phát xít Nhật ở các thôn xã có phần hoang mang Xét thấy tình thế cách mạng có những bước chuyển biến thuận lợi Tỉnh ủy Hà Đông đẩy mạnh công tác tuyên truyền gắn chặt với xây dựng và củng cố tổ chức.Trong hai tháng 4 và 5 năm 1945, phong trào cách mạng ở Thanh Oai ngày càng phát triển Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy , công tác tuyên truyền ở Thanh Oai đã vận dụng nhiều hình Thức linh hoạt, phong phú, như tuyên truyền miệng, phát hành báo cứu quốc, treo cờ, giải truyền đơn, dán áp phich, kẻ vẽ các khẩu hiệu như “

Đả đảo phát xít Nhật”, “ Đả đảo chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim”, “ ủng hộ mặt trận Việt Minh”…xuất hiện ở các trục giao thông lớn và các chợ Do làm tốt các tuyên truyền nên nhiều cán bộ và quần chúng tích cực tham gia, trở thành hạt nhân của phong trào cách mang, nhiều cơ sở cách mạng lần lượt ra đời trong giai đoạn này

15/8/1945 Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện Sáu vạn quân Nhật ở Đông Dương hoang mang rệu rã đến tột độ Đây là cơ hội có một không hai cho nhân dân Việt Nam vùng lên giành quyền độc lập, thoát khỏi xiềng xích nô lệ

Được tin Nhật đầu hàng đồng minh từ Tân Trào dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh, ủy ban khởi nghĩa đã phát đi bản Quân lệnh số 1 ra lệnh tổng khởi nghĩa trong toàn quốc Ngày 15/8/1945, tuy chưa nhận được chỉ thị từ Trung ương đến địa phương nhưng xứ ủy Bắc kỳ đang họp tại làng Vạn Phúc đã ra quyết định khởi nghĩa giành chính quyền từ cấp cấp xã đến cấp xã đến cấp huyện, đầu tiên là những nơi có điều kiện, có khả năng chắc thắng Ở Hà Đông, làng Vạn Phúc, Ứng Hòa, Mĩ Đức được chọn làm nơi khởi nghĩa trước

Ở Tân Ứớc lúc này do đồng chí Oánh và đồng chí Minh Lộc cán bộ bí mật huyện Thanh Oai bí mật về tổ chức và chỉ đạo Tổ chức cách mạng gồm có đồng chí Lê Đình Tế, Nguyễn Đăng Dư , Nguyễn Văn Thực Đêm ngày 15/8/1945 các đồng chí trên được đi dự mít tinh ở xã Xuân Dương do Tỉnh ủy tổ chức tuyên truyền lệnh tổng khởi nghĩa Sau đó các đồng chí về tổ chức vận động nhân dân trong các thôn chuẩn bị giành chính quyền khi

có lệnh cấp trên

Trang 6

Sáng 17/8/1945 cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền ở huyện Mỹ Đức thắng lợi.Đây là nhiệm vụ cổ vũ lớn lao cho phong trào cách mạng ở Thanh Oai đặc biệt là

ở Tân ước Tin thắng trận ở khắp mọi nơi báo về nhất là tin giành được chính quyền ở Hà Nội ngày 19/8/1945 đã cổ vũ nhân dân xã Tân ước Ngày 20/8/1945 lực lượng tự vệ tấn công huyện đường tước khí giới của quân Nhật Tri huyện Nguyễn Quang Nhạ đã hoảng

sợ chạy trốn, lực lượng cách mạng tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền ở địa phương

28/8/1945 cán bộ Việt Minh đã xuống làng Ước Lễ và Tri Lễ tổ chức tuyên truyền

bà con dự lễ mít tinh Tại cuộc mit tinh cán bộ Việt Minh đã truyền đạt được lệnh khởi nghĩa của tỉnh Hà Đông, tuyên bố giải tán chính quyền cũ, lý trưởng, phó lý, trưởng chạ đem tất cả sổ sách, triện đồng giao cho ủy ban cách mạng lâm thời Ở Ước Lễ ủy ban cách mạng lâm thời do ông Đặng Văn Vân làm chủ tịch, ông Nguyễn Đình Hòa làm phó chủ tich, ông Trang Công Hoàng làm thư kí Ngay sau đó lý trưởng Đặng Văn Phi, trưởng chạ Ngô Đình Tuất đã đem đầy đủ sổ sách triện đồng ra trả lại cho chính quyền.15h ngày 28/8/1945dưới sự chỉ đạo của mặt trận Việt Minh ông Nghiêm Phú Nho thay mặt nhân dân tuyên bố giải tán chính quyền, buộc lý trưởng Nguyễn Hữu Vượng, phó lý Nguyễn Trọng Chất, trưởng chạ Nguyễ KimQúy phải giap nộp sổ sách triện đồng cho chính quyền cách mạng

Như vậy việc giành chính quyền ở Tân Ước diễn ra hết ức mau lẹ và không đổ máu Sau khi lật đổ chế độ chính trị chính quyền mới tịch thu hết triện đồng, bằng sắc của

lý trưởng giấy tờ củ chính quyền thục dân phong kiến Thực hiện chia lại công thổ, công điền cho nhân dân, xáo bỏ mê tín dị đoan, thực hiện nam nữ bình quyền Nhân dân Tân Ước đã đứng lên làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ quê hương, cùng với nhân dân cả nước đứng lên đấu tranh bảo vệ thành quả cách mạng vừa mới giành được

Hiểu biết của em về Bản tuyên ngôn độc lập 2/9/1945

Cách đây 70 năm, ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt quốc dân đồng bào đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh

nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á Bản Tuyên ngôn độc lập ngắn gọn nhưng chứa đựng những nội dung bất hủ, không chỉ có giá trị lịch sử đối với dân tộc Việt Nam, mà còn có ý nghĩa thời đại sâu sắc

Ngày 19-8-1945, khi khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi ở Hà Nội, lãnh tụ Hồ Chí

Minh rời Tân Trào (Tuyên Quang) về Hà Nội Người ở và làm việc tại số nhà 48 phố Hàng Ngang Tại đây, Bác đã soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập, làm việc cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Trung ương Đảng và Ủy ban Giải phóng dân tộc, chuẩn bị cho ra mắt Chính phủ lâm thời và Ngày Lễ tuyên bố Độc lập của đất nước Bản tuyên ngôn độc lập là kết tinh ý chí tự lực, tự cường của dân tộc, đồng thời kế thừa và phát triển những giá trị tiến bộ của nhân loại, được thể hiện trên 3 vấn đề cơ bản:

Một là: Tuyên ngôn tán đồng tư tưởng tiến bộ, đề cao những giá trị về quyền con người

và từ quyền con người, Hồ Chí Minh nâng lên quyền của các dân tộc.

Hai là: Tố cáo và lên án mạnh mẽ chính sách áp bức của chủ nghĩa thực dân đối với dân tộc Việt Nam, trái với những tuyên truyền lừa bịp của đế quốc, thực dân đối với các dân tộc thuộc địa

Ba là: Tuyên ngôn nêu bật cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam chống sự xâm lược của Pháp, Nhật; đồng thời khẳng định giá trị hiện thực và cơ sở pháp

lý của nước Việt Nam độc lập

Trang 7

Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực sự đã đánh dấu một

mốc son trong lịch sử của dân tộc Việt Nam; đã khẳng định những quyền dân tộc cơ bản của dân tộc Việt Nam và trở thành một cuộc đối thoại lớn có ý nghĩa lịch sử trọng đại: Tuyên bố với thế giới về việc chấm dứt 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và hàng nghìn năm phong kiến ở Việt Nam; Tuyên bố sự ra đời và yêu cầu Quốc tế công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; Khẳng định quyền được hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập của Việt Nam; Thể hiện quyết tâm cao nhất của dân tộc trong đấu tranh giữ gìn độc lập dân tộc, tự do hạnh phúc của nhân dân

Bản Tuyên ngôn Độc lập không còn chỉ dành riêng cho dân tộc Việt Nam mà đó còn

là sự cổ vũ, lời khẳng định thiêng liêng của tất cả các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là các

dân tộc kém và chưa phát triển Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng

hòa đã được thế giới coi như là Tuyên ngôn nhân quyền của các dân tộc thuộc địa trên

toàn thế giới “Đó là một đạo luật mới của nhân dân thế giới khẳng định quyền tự do, độc

lập bất khả xâm phạm của các dân tộc bị áp bức”

Hình ảnh Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 tại quảng trường Ba đình

Em hiểu ý nghĩa của độc lập với một quốc gia như sau

Từ tiến trình lịch sử Việt Nam và cuộc đấu tranh của các dân tộc bị áp bức, Hồ Chí Minh

đã khẳng định chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Vì vậy ta thấy rằng độc lập

có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mỗi quốc gia Bởi vì: Các quyền dân tộc cơ bản: độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc là những những quyền phải được tôn trọng và bảo đảm trên thực tế thì mới

có điều kiện thực hiện quyền con người Mà quyền con người chỉ được thực hiện khi đất nước có độc lập thật sự Quyền dân tộc và quyền con người có mối quan hệ mật thiết với nhau và không ngừng hoàn thiện, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững, con người làm chủ vận mệnh của mình

Trang 8

Như vậy một quốc gia chỉ tồn tại và được thế giới thừa nhận trên bản đồ khi thực sự có nền độc lập Nền độc lập cũng là quyền bất khả xâm phạm cả về lãnh thổ cũng như sự can thiệp chính trị của một quốc gia – chủ quyền tối cao

Câu 2: Hãy giới thiệu về Văn miếu – Quốc Tử Giám ( khoảng 1-2 trang) Theo em giá trị lịch sử, văn hóa của khu di tích Văn Miếu – Quốc Tử Giám được thể hiện ở những điểm nào?

Trả lời Giới thiệu về Văn Miếu quốc tử giám:

Trong số hàng nghìn di tích lịch sử của Hà Nội, thì Văn Miếu là một di tích gắn liền với

sự thành lập của kinh đô triều Lý, đã có lịch sử gần nghìn năm, với quy mô khang trang,

bề thế nhất, tiêu biểu cho Hà Nội và cũng được coi là biểu tượng cho văn hóa lịch sử Việt Nam

Theo Đại Việt sử ký, vào mùa thu năm Canh Tuất - 1070, Vua Lý Thánh Tông đã cho khởi công xây dựng Văn Miếu để thờ các bậc tiên thánh tiên hiền, các bậc nho gia có công với nước, trong đó có thờ Khổng Tử - người sáng lập ra nền nho giáo phương Đông và Tư nghiệp Quốc Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam

Sáu năm sau - năm 1076, Vua Lý Nhân Tông quyết định khởi xây Quốc Tử Giám - một trường Nho học cao cấp nhất hồi bấy giờ nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước Đây là một

sự kiện có ý nghĩa quan trọng đánh dấu sự chọn lựa đầu tiên của triều đình phong kiến Việt Nam về vấn đề giáo dục, đào tạo con người Việt Nam theo mô hình Nho học châu Á

Tọa lạc trên khuôn viên hơn 54.000m2, khu di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám nằm giữa bốn dãy phố, cổng chính ở đường Quốc Tử Giám (phía Nam), phía Bắc giáp đường Nguyễn Thái Học, phía Đông giáp phố Tôn Đức Thắng, phía Tây là phố Văn Miếu Bên ngoài có tường vây bốn phía, bên trong chia làm 5 khu vực

Khu vực 1 gồm có Văn hồ (hồ văn); Văn Miếu môn, tức cổng tam quan ngoài cùng, cổng có ba cửa, cửa giữa to cao và xây hai tầng, tầng trên có ba chữ Văn Miếu môn

Khu vực thứ hai, từ cổng chính đi thẳng vào cổng thứ hai là Đại Trung môn, bên trái là Thánh Dực môn, bên phải có Đạt Tài môn Tiếp trong là Khuê Văn Các (được xây dựng vào nǎm 1805)

Khu vực 3 là giếng Thiên Quang (Thiên Quang Tỉnh có nghĩa là giếng trời trong sáng) Tại khu vực này có 82 bia Tiến sĩ dựng thành hai hàng, mặt bia quay về giếng, là một di tích thật sự có giá trị

Qua cửa Đại Thành là vào khu vực thứ 4, cửa Đại Thành cũng mở đầu cho những kiến trúc chính như hai dãy Tả Vu và Hữu Vu, chính giữa là Toà Đại Bái đường, tạo thành một cụm kiến trúc hình chữ U cổ kính và truyền thống Xưa, đây là nơi thờ những vị Tổ đạo Nho

Trang 9

Khu trong cùng là nơi giảng dạy của trường Quốc Tử Giám thời Lê, nhiều thế hệ nhân tài

"nguyên khí của nước nhà" đã được rèn giũa tại đây Khi nhà Nguyễn dời trường Quốc học vào Huế, nơi đây dùng làm đền thờ Khi Thánh (cha mẹ Khổng Tử), nhưng ngôi đền này đã bị hư hỏng hoàn toàn trong chiến tranh

Bố cục của toàn thể Văn Miếu như vậy muộn nhất là cũng có từ đời Lê (thế kỷ 15 - thế

kỷ 18) Riêng Khuê Văn Các mới được dựng khoảng đầu thế kỷ 19, nhưng cũng nằm trong quy hoạch tổng thể vốn có của những Văn Miếu (như Văn Miếu ở Khúc Phụ, Trung Quốc, quê hương của Khổng Tử, có đủ Ðại Trung Môn, Khuê Văn Các, Ðại Thành Môn, Ðại Thành Ðiện, bia tiến sĩ ) Khuê Văn Các ở Văn Miếu Hà Nội thường là nơi tổ chức bình các bài văn thơ hay của các sĩ tử

Hiện trong di tích còn có 82 tấm bia đá, trên đó được khắc tên của 1306 vị đã từng đỗ tiến sĩ trong 82 kỳ thi từ giữa năm 1484 và 1780 Cũng trên các tấm bia này đã ghi lại người đỗ tiến sĩ cao tuổi nhất trong lịch sử là ông Bàn Tử Quang Ông đỗ tiến sĩ khi 82 tuổi Người trẻ nhất là Nguyễn Hiền, quê Nam Trực (Nam Định), đậu trạng nguyên năm Đinh Mùi niên hiệu Thiên ứng Chính bình thứ 16 ( tức năm 1247) dưới triều Trần Thái Tông khi đó mới 13 tuổi Từ đó Văn Miếu cùng Quốc Tử Giám - được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam đã tồn tại đến thế kỷ 19

Ngôi trường đại học đầu tiên của Việt Nam, Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một trong số những công trình kiến trúc tiêu biểu Văn Miếu - Quốc Tử Giám gắn bó chặt chẽ với lịch

sử phát triển của văn hóa Thăng Long - Hà Nội, là nơi thờ các bậc thánh hiền đạo Nho, thờ thầy giáo Chu Văn An, bậc thánh hiền, người thầy mẫu mực của làng văn làng học

Có thể nói, kiến trúc Văn Miếu - Quốc Tử Giám là một khu di tích đặc biệt của thủ đô

Hà Nội, được bao quanh bởi những viên gạch vồ cỡ lớn Tổng thể công trình ẩn hiện dưới những vòm cây toát lên một không khí thâm nghiêm cổ kính và rất đỗi huyền bí Lối vào chính khu Văn Miếu là Văn Miếu môn (cổng phía Nam) có dạng cổng tam quan cao hai tầng, có cổng chính và hai cổng phụ, tạo nên một tổng thể kiến trúc uy nghi nhưng không kém phần thanh thoát Hai phía trước cổng có bia hạ mã (xuống ngựa), nhắc nhở người quân tử và những người qua lại không ngồi trên ngựa hoặc trên xe để tỏ lòng thành kính nơi tôn thờ

Trên bức tường hoa ở cuối lớp không gian thứ nhất (từ Văn Miếu môn đến Đại Trung môn) có ba cửa đi: cửa Đại Trung (lấy tên đầu hai bộ sách quan trọng của Khổng tử: Đại học, Trung dung) là cửa giữa Hai bên là cửa Thành Đức (trở nên đạo đức), cửa Đạt Tài (trở nên tài giỏi) Cửa Đại Trung có cấu trúc khung gỗ, mái ngói, bậc thềm bó đá Lấp ló phía sau là Khuê Văn các in hình trong Thiên Quang - ánh sáng của trời Sự tuyệt diệu của Khuê Văn các chính là bởi ý nghĩa biểu trưng: Các là lầu; Khuê là sao Khuê, là biểu tượng của vị thần phụ trách; Văn là cái đẹp, cũng có nghĩa là văn hóa Văn hóa là thành tựu mà con người mô phỏng, phóng tác từ quy luật tự nhiên theo sự sáng tạo khác nhau Nhìn nhận một cách hữu hình, có thể hiểu: Khuê Văn các (ở phía Nam) là đứng ở trên lầu nhìn

ra 4 phương 8 hướng Hình tròn và hình vuông với 8 tiếp điểm thể hiện sự gắn bó giữa quy luật và thực tế nhằm phục vụ con người Có thể coi đây là tượng đài ca ngợi vẻ đẹp của văn chương, một nét đẹp rực rỡ toả sáng soi bóng dưới “mặt gương lớn” và duyên dáng thêm với những điểm tô của vườn bia Với đường nét kiến trúc cân đối, hài hòa giữa các tỉ

lệ và bộ phận cấu thành, Khuê Văn các đã được chọn làm biểu trưng cho văn hiến Hà Nội, ban ngày thì cao sang tuyệt đẹp, ban đêm dưới ánh đèn chiếu sáng, gác Khuê Văn trở nên

Trang 10

lung linh huyền diệu, soi bóng xuống mặt hồ Thiên Quang tỉnh (Giếng trời trong sáng) Gương nước lớn có khả năng soi bóng hình ảnh tuyệt đẹp của Khuê Văn các, chính là cách tiếp cận Văn Miếu - Quốc Tử Giám dưới tính đa diện và sự phân tích nguồn gốc căn nguyên của nguyên tắc hình thể: “Gương nước” ở giữa phản chiếu ánh sáng bầu trời, là sự hàm ý thu nhận văn hóa khai thác để khống chế ánh sáng của trời nhằm phục vụ cho đạo học của con người Nằm ở giữa trung tâm khu Văn Miếu, tấm gương nước có thể soi bóng tổng thể công trình kiến trúc với hiệu quả thẩm mĩ cao nhất, bộc lộc một nét đẹp độc đáo của kiến trúc hòa quyện với trời mây trong sáng Khuê Văn các, Đại Thành môn, Vườn bia… đều in hình trong đó như thách thức với thời gian, như gợi mời những nhân tài đất Việt tạo thêm nét duyên dáng vốn có của kiến trúc Văn Miếu

Người xưa đã xây dựng công trình Văn Miếu Quốc Tử Giám thuận theo lẽ âm -dương - trời - đất và tự khẳng định chính là nơi hội tụ nhân tài, là một quần thể kiến trúc độc đáo nơi địa linh nhân kiệt Khởi nguồn từ địa thế: (đứng trên cao) mở rộng tầm nhìn ra

4 phương 8 hướng, từ cõi hư vô suy xét khai thác ánh sáng vẻ đẹp của trời đất mà phục vụ cho sự học của con người - học làm người, tinh luyện văn hóa vật chất mà gây dựng văn hóa tinh thần nhằm tiến tới thành tựu tuyệt diệu cuối cùng của sự tu luyện học vấn một cách đạt thành

Ý nghĩa của công trình Khuê Văn các và các mối quan hệ với Thiên Quang tỉnh và Đại Thành môn đã thuận theo quan điểm tứ trụ, không nằm ngoài ý nghĩa hướng đạo người quân tử Đó là do quan điểm tứ trụ mà thành: Thiên - địa - nhân Con người phải đem (trí tuệ) để hài hòa thiên - địa - nhân, đem tri thức để giúp đời mới là người có tri thức Tư tưởng Nho giáo do Khổng tử - nhà giáo dục tư tưởng lớn của Trung Hoa với Tứ Thư, Dịch, Lễ, Xuân Thu) đã tập hợp những tư tưởng triết lý, luân lý đạo đức mà cái phép lớn nhất là phép ứng xử: Nhân, nghĩa, lễ, trí, tín… Các khoa thi, các vị Tiến sĩ của nền giáo dục xưa được ghi danh lại nơi những văn bia; những câu đối, những môtíp trang trí không chỉ đơn thuần làm đẹp mà còn là sự nhắc nhở những điều hay lẽ phải Tất cả đều là đạo đức cổ nhân Vườn bia có 82 bia nằm thành hai dãy cân đối hai bên Thiền Quang tỉnh, với lối kiến trúc thấp, giản dị nhưng lại hài hòa với tổng thể Việc chạm khắc chữ Hán trên bia là một công trình nghệ thuật đặc sắc Trán bia cong thường có hình hai rồng chầu mặt nguyệt, rồng được cách điệu rất tinh tế trở thành những đám mây uyển chuyển, sinh động Diềm bia được trang trí hoa văn hình hoa lá cách điệu kết hợp với chữ triện Đế bia hình rùa tạo hình vững chãi, bền chắc mang ý nghĩa trường thọ, vĩnh cửu Hình tượng con rùa biểu thị cho sự trường tồn vĩnh cửu…Rùa, theo Từ điển biểu tượng thế giới, là thuộc nam tính và nữ tính: thuộc loài người và vũ trụ, ý nghĩa biểu trưng của nó trải rộng ra khắp các miền của trí tưởng tượng Mai rùa phía trên như bầu trời, giống như biểu tượng của mái vòm, phía dưới phẳng như mặt đất Riêng thế cũng đã có thể minh chứng rùa như một biểu tượng đầy đủ của vũ trụ

Xưa kia, Nữ Oa đã cắt 4 chân rùa để thiết lập 4 cực của thế giới Còn trong các mộ phần của Hoàng đế, mỗi cây cột đều được đựng trên một mai rùa… Liệt tử thì coi các đảo tiên chỉ có thể đứng vững khi chúng được cõng trên mai rùa… Dù là biểu thị cho những quyền năng ma thuật trong bói toán (Hà đồ, Lạc thư), hay những lập luận của các chức năng cõng

vũ trụ, sinh ra tinh đẩu, tinh tòa hay đức sinh của một tổ phụ thông thái và cát tường… thì rùa vẫn là một người bạn, một biểu tượng của quán tưởng, của sự trở lại trạng thái khởi nguyên, một tư thế cơ bản của trí tuệ

Ngày đăng: 24/09/2021, 22:19

w