1. Trang chủ
  2. » Tất cả

3. GT Chan nuoi chim - Da dieu

224 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 224
Dung lượng 16,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI NÓI ĐẦU Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tăng nhanh sản lượng, chất lượng các sản phẩm chăn nuôi gia súc gia cầm truyền thống như trâu bò, lợn, gà, ngành chăn nuôi nước ta đã h

Trang 1

B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 3

LỜI NÓI ĐẦU

Trong những năm gần đây, bên cạnh việc tăng nhanh sản lượng, chất lượng các sản phẩm chăn nuôi gia súc gia cầm truyền thống như trâu bò, lợn, gà, ngành chăn nuôi nước ta

đã hòa nhập với sự phát triển của nền chăn nuôi trên thế giới, bổ sung thêm nhiều đối tượng chăn nuôi mới như đà điểu, bồ câu và chim cút , làm phong phú thêm các sản phẩm chăn nuôi, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường

Để góp phần vào sự đổi mới và phát triển mạnh mẽ của nghành, cung cấp tài liệu học tập cho sinh viên, tài liệu tham khảo cho các học viên, cán bộ nghiên cứu, những độc giả

quan tâm đến lĩnh vực này, chúng tôi biên soạn giáo trình Chăn nuôi đà điểu và chim, nhằm

cung cấp những kiến thức cơ bản về chăn nuôi đà điểu, bồ câu và chim cút - những đối tượng rất mới, có tốc độ phát triển nhanh và giàu tiềm năng, nhiều triển vọng trong ngành chăn nuôi nước ta.

Để sử dụng giáo trình có hiệu quả, khi học môn học này các học viên cần tham khảo thêm tài liệu các môn cơ sở như sinh lý, sinh hoá, dinh dưỡng, thức ăn, giống vật nuôi để hiểu kỹ và ứng dụng tốt các kiến thức trình bày trong tài liệu.

Trong quá trình biên soạn giáo trình, bên cạnh việc tham khảo các tài liệu quý trong

và ngoài nước, chúng tôi còn mạnh dạn đưa vào nhiều kết quả nghiên cứu chuyên ngành của nhiều tác giả cũng như những tiến bộ mới trong sản xuất.

Khi sử dụng giáo trình, sinh viên cần liên hệ với các bài giảng của giáo viên, với tình hình thực tiễn trong sản xuất, tham khảo thêm tài liệu chuyên môn để hiểu các nội dung được trình bày một cách có hệ thống

Nhân dịp hoàn thành cuốn giáo trình này, chúng tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp

đỡ và những ý kiến đóng góp hết sức quý báu của nhiều thế hệ các thầy giáo, cô giáo khoa Chăn nuôi và Nuôi trồng Thuỷ sản, khoa Thú y, các cán bộ nghiên cứu của Viện Chăn nuôi Quốc gia, các bạn đồng nghiệp; lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật các trang trại chăn nuôi; các thế

hệ sinh viên và học viên cao học mà chúng tôi đã có cơ hội được giảng dạy.

Hiện nay, các đối tượng chăn nuôi được đề cập đến trong giáo trình đang được coi là mới, những tài liệu được công bố có liên quan còn rất hạn chế vì vậy, trong phạm vi có thể, chúng tôi đã cố gắng cung cấp được nhiều nhất những thông tin về các con vật mới mẻ này Chúng tôi cũng hiểu rằng, mặc dù đã rất nỗ lực, nhưng do thời gian eo hẹp và đặc biệt, những hiểu biết của mình về đà điểu, bồ câu và chim cút còn rất hạn chế, chắc chắn tài liệu

sẽ có nhiều thiếu sót

Mong bạn đọc đóng góp ý kiến để giáo trình này được hoàn thiện hơn trong những lần xuất bản sau.

Tác giả

Trang 4

BÀI MỞ ĐẦU

1.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH CỦA MÔN HỌC

1.1.1 Đối tượng của môn học

Lớp chim với hơn 9600 loài, chia thành 3 nhóm chính :

- Nhóm chim bay

- Nhóm chim bơi

- Nhóm chim chạy

Trong giáo trình chăn nuôi gia cầm, chúng tôi đã đề cập đến chăn nuôi gà - một loài

chim bay và thủy cầm - một số loài chim bơi Trong giáo trình này, chúng tôi tiếp tục đề cập đến một loài chim chạy là đà điểu và hai loài chim bay nữa: bồ câu, chim cút, đó là một nhóm

động vật thuộc lớp chim, đã được con người thuần hoá từ tổ tiên hoang dại thông qua quátrình thích nghi lâu dài

1.1.2 Mục đích của môn học

Giúp học viên nắm được nguồn gốc tiến hoá và sự hình thành các loài đà điểu, bồ câu vàchim cút, đặc điểm giải phẫu, sinh lý, nhu cầu dinh dưỡng, sức sản xuất, kỹ thuật ấp trứng,nuôi dưỡng chăm sóc, quản lý các loại đà điểu, bồ câu, chim cút… ứng dụng vào thực tiễnchăn nuôi ở nước ta để cho năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt

1.2.Tình hình chăn nuôi nói chung, chăn nuôi đà điểu, bồ câu và chim cút trên thế giới

1.2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt trên thế giới

Thịt và sản phẩm thịt là nguồn cung cấp quan trọng nhất về đạm, vitamin, khoángchất… cho con người Chất dinh dưỡng từ động vật có chất lượng cao hơn, dễ hấp thu hơn là

từ rau quả Trong khi mức tiêu thụ thịt bình quân đầu người ở các nước công nghiệp rất caothì tại nhiều nước đang phát triển, bình quân đạt dưới 10 kg, gây nên hiện tượng thiếu và suydinh dưỡng Ước tính, có hơn 2 tỷ người trên thế giới, chủ yếu ở các nước chậm phát triển vànghèo bị thiếu vitamin và khoáng chất, đặc biệt là vitamin A, iodine, sắt và kẽm, do họ khôngđược tiếp cận với các loại thực phẩm giàu dinh dưỡng như thịt, cá, trái cây và rau quả

Tại một số nước, tình hình tiêu thụ như sau: (mức hiện nay/40 năm trước): Mỹ 124/89;EU: 89/56; TQ: 54/4; Nhật 42/8; Brazin 79/28 kg

Sản lượng sữa toàn cầu năm 2002 là 580 triệu tấn, dự kiến đến năm 2050 là 1043 triệu tấn

Để đủ chất dinh dưỡng, mỗi người cần được ăn trung bình 20 g đạm động vật/ngàyhoặc 7,3 kg / năm, tương đương với 33 kg thịt nạc, hoặc 45 kg cá, hoặc 60 kg trứng, hay 230

kg sữa Thịt được cung cấp chủ yếu từ chăn nuôi các động vật nông nghiệp: bò, lợn, gia cầm;một ít trâu, dê và cừu Trong đó, thịt lợn là phổ biến nhất, chiếm trên 36%, tiếp theo là giacầm 33% và thịt bò 24%

Một số khu vực khác còn có thêm thịt lạc đà, bò tây tạng, ngựa, đà điểu, bồ câu, chimcút… ngoài ra còn thịt cá sấu, rắn, thằn lằn…

Bảng 1 Tiêu thụ thịt bình quân (kg/ người) trên thế giới trong một số năm gần đây

Trang 5

Chỉ tiêu 2006 2007 2008 so với 2007 Tăng 2008

Nguồn:FAO World Food Outlook, 2008.

1.2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thịt và trứng của Việt Nam

Bảng 2 Số lượng gia súc gia cầm của nước ta trong một số năm gần đây

2010 đạt: 36 kg thịt xẻ, 82 quả trứng, 4,3 kg sữa; đến năm 2015 đạt: 46 kg thịt xẻ, 116 quảtrứng, 7,5 kg sữa và đến năm 2020 đạt trên 56 kg thịt xẻ, trên 140 quả trứng và trên 10 kg sữa

Tỷ trọng thịt được giết mổ, chế biến công nghiệp so với tổng sản lượng thịt đến năm 2010 đạtkhoảng 15%; đến năm 2015 đạt 25% và đến năm 2020 đạt trên 40%

Đến năm 2020, tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 35 triệu con, trong đó đànlợn ngoại nuôi trang trại, công nghiệp 37% Tổng đàn gà tăng bình quân trên 5% năm, đạtkhoảng trên 300 triệu con, trong đó đàn gà nuôi công nghiệp chiếm khoảng 33% Đàn thủycầm giảm dần còn khoảng 52-55 triệu con; đàn thủy cầm nuôi công nghiệp trong tổng đàntăng dần, bình quân 8% năm Đàn bò sữa: tăng bình quân trên 11% năm, đạt khoảng 500 ngàncon, trong đó 100% số lượng bò sữa được nuôi thâm canh và bán thâm canh Đàn bò thịt: tăngbình quân 4,8% năm, đạt khoảng 12,5 triệu con, trong đó bò lai đạt trên 50% Đàn trâu: ổnđịnh với số lượng khoảng 2,9 triệu con, nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc,Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên Đàn dê cừu: tăng bình quân 7% năm, đạt khoảng 3,9 triệucon

Trang 6

1.2.3.Tình hình chăn nuôi đà điểu (ostrich) trên thế giới

Theo ước tính, số lượng đà điểu sinh sản trên toàn thế giới vào khoảng gần 4 triệu con,trong đó 1/3 tập trung ở châu Phi Trên 90% đà điểu ở châu Phi được nuôi trong các trang trạihoặc các vườn thú, số còn lại sống trong tự nhiên Mỗi năm, thị trường thế giới cần 10 triệucon đà điểu để lấy thịt Giá 1 quả trứng giống vào khoảng 350 USD, đà điểu con khoảng 1000USD, đà điểu một năm tuổi là 5000 USD Nghề chăn nuôi đà điểu đang phát triển mạnh ởkhắp các châu lục

Châu Phi

Cộng hòa Nam Phi (RSA) là nước dẫn đầu trên thế giới về chăn nuôi đà điểu Nơi đây

có lịch sử thuần hóa đà điểu từ lâu đời, phát triển mạnh nhất là vùng Little Karoo, trong khingành này được bắt đầu tại vùng Đông Cape ( gần mũi Hảo vọng)

Các trang trại thương phẩm hàng năm giết mổ từ 3,0 – 3,5 triệu con Để cân đối cungcầu cũng như giữ giá xuất khẩu, tại Nam Phi người ta đã áp đặt lệnh hạn chế chăn nuôi Mộttrong những trại đà điểu nổi tiếng nhất đó là Trại thực nghiệm ở Oudtshoorn, nơi bán đàngiống có chất lượng cao vào bậc nhất thế giới Do có truyền thống chăn nuôi đà điểu lâu đời

và khí hậu phù hợp, RSA vẫn sẽ là nước đứng đầu thế giới về chăn nuôi đà điểu trong thờigian tới

Các nước châu Phi láng giềng như Namibia, Botswana và Zimbabwe cũng bắt đầuquan tâm đến việc thành lập các công ty đà điểu Trong 3 năm qua, doanh số xuất khẩu thịt và

da đà điểu của những nước này sang châu Âu (chủ yếu là Đức) đã tăng gấp đôi Gần đây,người ta lại chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành chăn nuôi đà điểu tại Bắc Phi: AiCập, Morocco và Tunisia

Bắc Mỹ

Vào cuối thế kỷ XX, hàng nghàn người Mỹ đã nuôi đà điểu và Emu (đà điểu sa mạc-trong đó có một số nuôi làm cảnh) Các trang trại lớn nuôi tới hàng trăm con Đà điểu đượcnuôi chủ yếu ở Texas, Oklahoma, Arkansas và Kansas Trong những năm gần đây, đang có

xu hướng tập trung hóa sản xuất nhằm giảm chi phí sản xuất, số trang trại giảm đi nhưng quy

mô chăn nuôi đà điểu lại tăng lên

Tại Canada, đà điểu được chăn nuôi cả ở vùng lạnh nhất của đất nước Winnipeg nơi mà nhiệt độ xuống dưới - 400C trong mùa đông

Australia

Có khoảng vài trăm trang trại đà điểu tại Australia Hầu hết trong số đó tại bangVictoria Đà điểu cũng được nuôi tại New South Wales, Đông và Nam Australia Số lượngcác trang trại này đã giảm xuống trong những năm gần đây Cũng giống như ở Bắc Mỹ, ởchâu Úc cũng đang có quá trình thay đổi cơ cấu ngành chăn nuôi đà điểu theo hướng tăng quy

mô và hiện đại hóa

Châu Á

Ở châu Á, các nước và khu vực có nền chăn nuôi đà điểu phát triển mạnh mẽ nhất phải

kể đến Israel, Trung Quốc, Đài Loan… Đà điểu được nuôi ở Israel vào những năm 1970, khidân tị nạn chính trị từ Nam Phi đã mang theo một số trứng chất lượng cao vào Israel NgườiIsrael đặt tên cho chúng là Black African, một cái tên phổ biến đến ngày nay ở khắp nơi ngoàiNam Phi Chăn nuôi đà điểu công nghiệp tại nước này chính thức bắt đầu vào đầu năm 1980.Hiện tại có khoảng 50 trang trại đà điểu, trong đó có một số trang trại thương mại rất lớn nhưCông ty Zemach Ostrich, sản xuất một số lượng rất lớn thịt đà điểu hàng năm Sau Nam Phi,Israel là nước dẫn đầu về đà điểu giết mổ trên thế giới Ở Israel, thịt đà điểu được cho làkhông phải ăn kiêng và chủ yếu được bán vào thị trường châu Âu

Đất nước có nền chăn nuôi đà điểu phát triển nhanh chóng cả về số lượng đầu concũng như quy mô, số lượng trang trại phải kể đến Trung Quốc Trên đất nước đông dân nhất

Trang 7

thế giới này, ngành chăn nuôi đà điểu được quan tâm từ những năm đầu thập niên 90 của thế

kỷ XX Trong gần 2 thập niên qua, tốc độ phát triển đà điểu tăng rất mạnh Năm 2000 TrungQuốc mới chỉ có khoảng 60.000 con, nhưng đến năm 2007 Trung Quốc đã có 270.000 congiống, nuôi trong hơn 580 trang trại

Các nước châu Á khác như Nhật Bản cũng có khoảng 60 trang trại đà điểu Vì đấtđai rất đắt nên không có khả năng xây dựng những trang trại rộng lớn Nhật Bản là 1 trongnhững nước nhập khẩu thịt và đặc biệt là da đà điểu quan trọng

Gần đây, các trang trại đà điểu cũng được xây dựng tại ấn Độ, Hàn Quốc, các nướcĐông nam Á, Syria, tiểu vương quốc Arập thống nhất, Iran và Iraq

Châu Âu

Ở châu Âu, số lượng các trang trại cũng như số lượng đàn vẫn đang gia tăng Số lượngđàn sinh sản đã vượt quá 50.000 con và số lượng trang trại cũng trên 6.500 Đà điểu đượcnuôi ở hầu hết các nước châu Âu, trong đó nhiều nhất là Italy, đặc biệt là trong 3 năm qua.Trong năm 2000, có 150.000 con được nuôi dưỡng trong 1.400 trang trại Quy mô các trangtrại này khác nhau, lớn nhất là 3.000 con

Ở Tây Ban Nha, có khoảng 700 trang trại Gần đây, một số trang trại cũng được xâydựng ở Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp và thậm chí cả ở Bungary

Tại Nga cũng có những trang trại đà điểu, trong đó lớn nhất là LEMEK với trên 200con, gần Matxcơva, nơi thịt đà điểu được phục vụ trong những nhà hàng sang trọng

Năm 1993, chăn nuôi đà điểu được bắt đầu ở CH Séc và hiện nay, ở đây có khoảng

250 trang trại Tại Ba Lan, trang trại đà điểu đầu tiên cũng được thành lập vào năm 1993 ởphía bắc, đến năm 2001, đã có 500 trang trại được thành lập với 16.000 - 18.000 con, baogồm cả 3.500 con sinh sản Đa số là những trang trại nhỏ, với 3 - 8 con trưởng thành, nhữngtrang trại lớn đều là do các công ty liên doanh xây dựng

Chăn nuôi emu và rhea

Trang trại Emu thương mại đầu tiên được thành lập ở Australia vào đầu những năm 70của thế kỷ XX tại Kalanme Năm 1991, có 21 trang trại emu với khoảng vài trăm con Hiệnnay, Emu cũng được nuôi ở Hoa Kỳ, Canada và châu Âu để lấy thịt, da và mỡ

Ngoài Nam Mỹ ra, không có nơi nào chăn nuôi rhea thuần Ở Hoa Kỳ cũng có một sốnhững trang trại nhỏ Rhea cũng được đưa vào mục đích du lịch nông nghiệp cùng với Emu

Số lượngtrang trại

Số lượngtrang trại

Đầu congiống

Số lượngtrang trại

Đầu congiống

Trang 8

Trong vài năm qua, chăn nuôi đà điểu phát triển mạnh mẽ trên thế giới Một trongnhững thay đổi cơ bản xảy ra trong thời kỳ này chính là sự bão hòa của thị trường nội địa tạinhiều nước về con giống Hiện tượng này đã làm giảm mạnh lợi nhuận của người chăn nuôi

mà trước đây họ gần như độc quyền sản xuất Kết quả thị trường bão hòa là giá cả đà điểugiống trên thế giới giảm mạnh Ví dụ, trong thời gian 5 năm, giá 1 quả trứng ấp tại Mỹ giảm

từ 200 xuống còn 20 - 25 USD Xu hướng tương tự cũng đang xảy ra ở châu Âu, cho dù giácon giống ở đây vẫn cao hơn lục địa châu Mỹ

Giá đà điểu giảm có những lý do kinh tế, bởi vì người chăn nuôi muốn giảm chi phísản xuất thì giá con giống cũng phải giảm xuống Có thể, giá đà điểu giảm là một quá trình

mà giá trị của sản phẩm đang trở về với giá trị thật của nó, giá trước đây là quá cao, nhiều khi

là giá trị ảo, đây cũng là cơ hội để các chủ trang trại và các nước đang phát triển tiếp cận đượcvới ngành chăn nuôi mới một cách dễ dàng hơn

Giá trị thịt và các sản phẩm chăn nuôi đà điểu

Hiện nay, giá thịt đà điểu đang được thả nổi trên thị trường thế giới, trong khi chờ đợi

có một cơ cấu giá cả hợp lý Giá cả này sẽ thay đổi tuỳ theo từng khu vực trên thế giới và theotừng loại thịt Phần lớn thịt được bán dưới dạng thịt nạc ướp lạnh và đóng gói chân không

Giá thịt đà điểu nạc cũng thay đổi tuỳ theo giá FOB (free on board - giao hàng lên tàu, giá

hàng hóa chưa bao gồm cước phí vận chuyển và phí bảo hiểm); hay CIF (cost, insurance and freight = FOB + phí bảo hiểm + cước vận tải).

Năm 1997, giá thịt đà điểu đóng gói chân không giao FOB trung bình trên thế giới là

15 USD/kg Mức giá này chủ yếu áp dụng ở thị trường Viễn Đông Ở thị trường châu Âu, giá

cả cao hơn một chút (17 USD/kg)

Nhưng mức giá trên là trung bình trên thị trường Một số mức giá được đặt ra thấp hơnmức giá trung bình này nhưng mức giá của thịt giao FOB đôi khi lại tăng cao hơn: 23USD/kg Những mức giá được đặt ra này đều dựa trên bối cảnh rất thiếu sản phẩm đáp ứngnhu cầu của thị trường Ví dụ năm 1997, giá bán lẻ thịt đà điểu nạc trung bình là khoảng 36USD/kg, trong khi giá thịt tại các cơ sở cung ứng thực phẩm còn cao hơn nhiều

Năm 1997, giá bán buôn trung bình là khoảng 24 USD/kg Mục tiêu của những ngườibán lẻ là tăng giá ít nhất 150 % so với bán buôn, do đó mức bán lẻ trung bình sẽ là khoảng 36USD/kg

Khác với sản phẩm thịt, da đà điểu có một cơ cấu xác định giá cụ thể và dễ dàng hơn.Năm 1997, giá da thô (FOB) trên thị trường quốc tế tăng từ 16 USD lên 27,5 USD/f2 (0,09m2).Một bộ da trung bình 14 f2 được bán với giá 385 USD và những bộ da đà điểu đã thuộc cóchất lượng tốt được bán với giá khoảng 45 USD/f2

Mặt khác, nhu cầu về da đà điểu cao hơn trong thời gian tới, cơ cấu định giá ở trên cầnđược duy trì ổn định

Trang 9

Tên nước Mái sinh sản (con) Đà điểu thịt (con)

Đà điểu thương phẩm/mái/năm (con)

1.2.4 Tình hình chăn nuôi đà điểu ở nước ta

Ở Việt Nam, ngành chăn nuôi đà điểu hình thành muộn Năm 1995, Trung tâm NCGCThụy Phương - Viện Chăn nuôi ấp 2 quả trứng được nhập về từ Úc và nở ra 2 con, nuôi pháttriển bình thường Năm 1996, ấp tiếp 100 quả trứng nhập từ Zimbabwe, ấp nở được 38 con,nuôi cho kết quả tốt Từ những khảo nghiệm trên, đến năm 1998, Bộ Nông nghiệp & PTNTchính thức phê duyệt dự án xây dựng cơ sở nghiên cứu, phát triển chăn nuôi đà điểu tại BaVì- Hà Nội, nhập từ Úc 150 đà điểu 3 - 4 tháng tuổi, với giá gần 7,5 triệu đồng/con, gồm cácnhóm giống Blue, Black, Aust để làm nguyên liệu ban đầu, phục vụ công tác nghiên cứu vàphát triển đà điểu tại Việt nam

Trong 13 năm qua, Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương- Viện Chăn nuôi đã

cử cán bộ đi tham quan và học tập tại nước ngoài, đồng thời phối hợp với các đơn vị, các nhàkhoa học trong và ngoài Viện triển khai nghiên cứu, nhằm hoàn thiện các quy trình công nghệchăn nuôi đà điểu và tích cực chuyển giao kết quả nghiên cứu mới vào sản xuất

Tính đến năm 2007, Trung tâm đã chuyển giao được trên 12.000 con đà điểu giống,trong đó có 3.950 con đang sinh sản, 8.082 con hậu bị vào sản xuất, nuôi tại 56 trang trại ởtrên 40 tỉnh thành, thuộc các vùng sinh thái khác nhau trong cả nước Các trang trại nuôi sinhsản đã bước đầu chủ động được con giống Nhiều trang trại nuôi thương phẩm đã có sản phẩmthịt

Dự kiến đến năm 2010, cả nước có 15.000 – 17.000 đà điểu giống sinh sản, sản xuất được10.000 – 13.500 tấn thịt và 280.000 – 330.000 bộ da/năm Sản phẩm thịt đà điểu có thể xuất khẩuđược 5.000 – 7.000 tấn

1.2.5.Tình hình chăn nuôi bồ câu

Chim bồ câu có đến trên 300 loài, phân bố rộng rãi trên thế giới cũng như ở ViệtNam Cũng là một loại gia cầm nhưng chim bồ câu khác gà, vịt ở chỗ chim bồ câu đã trởthành một số biểu tượng của gia đình hạnh phúc, của hòa bình Tại các thành phố lớn trên thếgiới, cùng với chim sẻ, chim bồ câu được coi là "dân cư" chính thức của thành phố Người ta

đã nuôi chim bồ câu với nhiều mục đích khác nhau: nuôi chim bồ câu làm cảnh; đưa thư, hoạtđộng thể thao (thi bay) và nhiều nhất là nuôi chim câu lấy thịt

Chim được ăn thịt phổ biến nhất là khi chúng ra ràng (tên tiếng Anh là squab) Trongthuật ngữ ẩm thực, chim ra ràng là thịt bồ câu khoảng một tháng tuổi; nó đã đạt tới kích cỡ gầntrưởng thành nhưng chưa đầy đặn Trong quá khứ, chim ra ràng hoặc chim bồ câu các loại nóichung đã được tiêu thụ tại nhiều quốc gia văn minh cổ đại, bao gồm Ai Cập, Ý và Mediver…Thời đó, người ta đã săn bắn chim bồ câu làm thức ăn cung cấp protein có giá rẻ Thịt chim câu

Trang 10

già hoang dã thì rất dai, do đó phải hầm thật lâu mới ăn được Chim ra ràng rất dễ bắt để làm thịtkhi chúng còn non, chưa đủ lông để bay khỏi tổ, cũng vào thời gian đó đã có một số nông dânnuôi chim sinh sản để sản xuất ra chim non ăn thịt

Gần đây, chim ra ràng được sản xuất hoàn toàn từ các trang trại rất lớn ở nhiều quốc giathuộc khu vực Bắc Phi, Trung đông, một số nước châu Âu, nhiều nước Bắc Mỹ… trong đó, người

ta chăn nuôi các giống chim thịt Ở Hoa Kỳ, có trại nuôi đến 35 000 đôi chim Bồ câu đua và làmcảnh ít, chủ yếu được dùng để ăn thịt

Chim ra ràng thường được xem là món ăn tao nhã, thịt chúng rất mềm, hương vị thơmngon hơn các giống gia cầm thông thường Ngày nay, chim ra ràng là món ăn quen thuộc ở nhiềuquốc gia: Pháp, Mỹ, Ý và một số nước châu Á Món ăn tiêu biểu bao gồm: thịt ngực rán (ở Pháp),

ở Ai Cập, người ta hầm với gạo và thảo mộc, ở Ma Rốc phổ biến là chim bồ câu chiên NgườiTrung Quốc hầm thuốc bắc, rán, nấu miến và nấu cháo…

Trong một số nước phát triển, thịt chim câu được xem như món ăn lạ, không được ưa thích vì chúng gắn liền với hình ảnh của chim câu hoang dã trong thành phố Tuy vậy, chim ra ràng từ các trang trại chăn nuôi lớn vẫn là một phần quan trọng trong các thực đơn ở nhiều nhà hàng như Le Cirque, French Laundry Do đó, chúng thường được bán với giá cao hơn nhiều so với những gia cầm khác, đôi khi đến 17 USD/kg Trong ẩm thực của người Trung Quốc, chim ra ràng là một phần không thể thiếu của các bữa tiệc sang trọng, trong các dịp lễ, tết Hiện nay, phần lớn chim ra ràng nuôi ở Mỹ được bán tại các phố của người Hoa (Chinatowns)

Nguồn: American Giant Runt (http://www Reference.com)

Ở nước ta, chim bồ câu thường được nuôi từ vài cặp tới vài trăm con, kết hợp vừa giảitrí, vừa có chim bồ câu ra ràng ăn thịt Bất cứ nơi nào, từ thành thị tới thôn quê, đâu đâu tacũng thấy những cánh chim bồ câu bay lượn Gần đây, đã xuất hiện và phát triển hình thứcchăn nuôi tập trung từ vài trăm tới cả ngàn con, mang lại lợi nhuận lớn Các giống chim bồcâu nhập nội (bồ câu Pháp) cùng những tiến bộ mới trong dinh dưỡng, phòng dịch và quytrình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng đang mang lại phong trào chăn nuôi bồ câu phát triểnmạnh mẽ ở khắp các vùng miền trong cả nước

1.2.6 Tình hình chăn nuôi chim cút.

Trên thế giới, sản lượng thịt chim cút rất khiêm tốn so với thịt gà, nuôi chim cút lấytrứng phổ biến rộng rãi hơn chim cút thịt Theo T.S Lin Qilu, trường Đại học Nông nghiệpNam Kinh, Trung Quốc là nước chăn nuôi chim cút lớn nhất trên thế giới Chim cút thịt đượcnuôi 4 tuần rồi giết mổ, khi khối lượng đạt khoảng 200g Mỗi năm, Trung Quốc thịt khoảng1.040 -1.360 triệu con (13-17 lứa/ năm/ trang trại) Trung bình, tỷ lệ thân thịt là 70% thì mỗinăm Trung Quốc sản xuất 146.000 - 190.000 tấn, chiếm gần 85% sản lượng chim cút toàn thếgiới Nếu kể cả chim cút "thanh lý" sau 10 tháng đẻ, vào khoảng 315-350 triệu con thì sảnlượng thịt chim cút của Trung Quốc còn lớn hơn nữa

Tây Ban Nha là nước xuất khẩu chim cút tương đối lớn, năm 2004 sản xuất 9.300 tấn, đếnnăm 2007 đã sản xuất 9.300 tấn, trong đó 75% dành cho xuất khẩu, đối thủ chính của họ là Pháp vàTrung Quốc Nước Pháp năm 2005 sản xuất 8.938 tấn, năm 2006 là 8.197 tấn và năm 2007 là 8.200tấn, xuất khẩu khoảng 2.000 tấn mỗi năm, riêng năm 2007 đã xuất khẩu tới 3.782 tấn Các nước thuộc

EU như Bỉ và Đức là những nhà nhập khẩu chủ yếu của Pháp và Tây Ban Nha

Nước Ý, trong 6 năm qua mỗi năm giết thịt 20 - 24 triệu con (3.300 - 3.600 tấn thânthịt chim cút), xuất khẩu được khoảng 600-650 tấn / năm

Tại Mỹ, năm 2002 có 1.907 trang trại nuôi chim cút, với trên 19 triệu con Nếu khốilượng xuất chuồng trung bình là 200-300g/con với sản lượng 2.674 - 4.011 tấn Bang Georgiasản xuất nhiều nhất, tiếp theo là Bắc Carolina, Texas và Alabama Ngoài ra, Mỹ cũng nhậpchim cút thịt, chủ yếu là từ là Canada

Trang 11

Bồ Đào Nha cũng chăn nuôi chim cút với số lượng khiêm tốn Trong 7 năm qua, đãgiết thịt 8-13 triệu con, sản lượng 960 - 1.600 tấn Nước Úc trong giai đoạn 2001-2002 đã thịt6,5 triệu con (trên 17 triệu chim đẻ) Trong năm 2007, Canada xuất khẩu 628 tấn thịt chim cútvào Hoa Kỳ Brazin luôn là một đối thủ cạnh tranh mạnh trong lĩnh vực gia cầm, trong đó cóchim cút Trong năm 2007, sản xuất 1.200 tấn chim cút, tốc độ phát triển 10%/năm Phần lớnsản phẩm dùng trong nước và xuất khẩu tới Trung Đông.

Biểu đồ 1 Sản lượng thịt chim cút của một số nước trên thế giới

Bảng 5 Sản lượng thịt chim cút năm 2007 tại một số nước đứng đầu thế giới

www //: Quail meat - an undiscovered alternative, 01 tháng 2 năm 2009

Thịt chim cút gần giống thịt gà nhưng tốt hơn, có hàm lượng protein cao nhưng chấtbéo thấp (khi bỏ da, chất béo giảm khoảng 60 - 80% so với gà) Trong thành phần lipit cónhiều mỡ không no, axit béo chưa bào hòa, giàu khoáng chất, nhất là phospho, sắt, đồng, kẽm

và selen Thịt chim cút giàu vitamin niacin (vitamin B3) và pyridoxine (vitamin B6) hơn mộtcách đáng kể so với thịt gà

Ở nước ta, nghề nuôi chim cút được nhập vào và phát triển mạnh ở miền Nam trongnhững năm 1971-1972, phong trào nuôi chim cút nở rộ vào những năm 1985-1990, chủ yếunuôi chim cút Pharaoh, nặng khoảng 180-200 g Vào khoảng năm 1980 nhập thêm giống cútPháp, to hơn cút Pharaoh, con trưởng thành nặng tới 250 – 300 g, có màu lông trắng hơn cútPharaoh Ngoài ra, trên thị trường còn một số chim cút Anh, khối lượng trung gian giữa cút

Trang 12

Pharaoh và cút Pháp, trung bình nặng 220-250 g, có lông màu nâu sẫm, rất khó phân biệttrống mái, chỉ phân biệt được khi đã trưởng thành.

Năm 1971, miền Bắc nước ta cũng nhập trứng cút từ Pháp được nuôi tại Viện Chănnuôi để nhân giống, đàn giống nuôi ở nước ta hiện nay đều có nguồn gốc từ đàn cút này

Có thể dựa vào màu sắc vỏ trứng mà phân biệt được giống chim cút bố mẹ: trứng cút Pharaoh

có nền vỏ trắng và các đốm đen to Trứng cút Pháp có nền vỏ trắng nhưng các đốm đen chỉnhỏ như đầu đinh ghim Trứng cút Anh lại có nền vỏ nâu nhạt, các đốm đen to

Đã từ lâu, người ta không nhập giống chim mới và các giống chim cút thuần kể trên còn lạirất hiếm Hiện nay, trên thị trường hầu hết là chim lai tạp nên chất lượng con giống khôngcao, thể hiện rõ trên vỏ trứng, thường có màu lẫn lộn, chứng tỏ các giống cút đã pha tạp ởnhiều mức độ khác nhau

Để đáp ứng nhu cầu chăn nuôi chim cút, tháng 4/1997, Viện Chăn nuôi tiếp tục nhậpchim cút Nhật bản và chim cút Mỹ

Hiện nay, thịt và trứng chim cút đã trở thành các thực phẩm quen thuộc trên thịtrường và chăn nuôi chim cút đã trở thành một nghề phổ biến của nhiều hộ nông dân với cácquy mô khác nhau: từ vài trăm con tới hàng chục ngàn con Tổng đàn chim cút trong cả nước

đã lên đến hàng chục triệu con, tốc độ phát triển không ngừng tăng cao do kỹ thuật chăn nuôiđơn giản và ít rủi ro hơn so với chăn nuôi các đối tượng gia cầm khác

Trang 13

Phần thứ nhất KIẾN THỨC CƠ SỞ

Chương 1

Nguån gèc, §ÆC §IÓM GI¶I PHÉU SINH LÝ cỦA CHIM

1.1 NGUỒN GỐC ĐÀ ĐIỂU, BỒ CÂU VÀ CHIM CÚT

Đà điểu, bồ câu và chim cút đều thuộc lớp chim, trong hệ thống phân loại động vật, chúng được phân loại như sau:

1.1.1 Nguồn gốc của đà điểu

Các nước khác nhau gọi là đà điểu bằng những tên khác nhau, tiếng A rập gọi là naama, Pháp – autruche, Đức – staub, Ý: struzzo, Na Uy: struts, Tây Ban Nha: avestruz, tiếng

Anh: ostrich Trong tiếng Việt, đà điểu là tên có gốc Hán Việt: điểu là chim, đà là lạc đà (một

loài động vật thường sống ở vùng sa mạc khô cằn, đi lại rất giỏi trên cát ), vì vậy, có thể

hiểu đà điểu là chim lạc đà.

a Vị trí đà điểu trong hệ phân loại động vật

Giống đà điểu (Struthio) hiện đang tồn tại thuộc họ Struthionidae, là loài chim cònsống lớn nhất trên trái đất Giống như hầu hết các loài chim chạy khác, nó được tiến hoá đểthích nghi với cuộc sống chạy trên mặt đất: cẳng chân rất dài và khoẻ, kèm theo cái cổ vươncao, khiến cho chiều cao của con chim tăng lên rất nhiều để quan sát từ xa Lông ở trên mìnhcon đực có màu đen, lông cánh và lông đuôi thì có màu trắng Những con cái nói chung nhỏhơn, có bộ lông màu nâu xám Cả con đực và con cái đều có đầu nhỏ hơn nhiều so với các bộphận khác trên cơ thể chúng Đà điểu có đôi mắt nằm ẩn sâu trong hốc mắt (đường kính mắtđến 50mm, thuộc loại lớn nhất trong số các loài động vật có xương sống trên cạn), lông mimắt đen và dài Cổ hầu như không có lông, chỉ được phủ lưa thưa một ít lông cứng Phần lớncẳng chân trơ trụi không lông, da ở cổ và cẳng chân thì có màu xám hoặc màu đỏ

Hình 1.1 Đà điểu trống với chếc cổ trần

Trang 14

Các loài chim chạy có cùng tổ tiên với các loài chim bay Tuy nhiên, chân đà điểu chỉcòn hai ngón, các ngón khác đã thoái hoá Loài chim bay có 4 ngón chân để thích nghi vớiviệc bay lượn và đậu trên cành cây Ở đà điểu, việc tiêu biến dần đi 2 ngón chân vì loài chimnày không còn bay và đậu trên cây nữa, bàn chân của chúng cần khoẻ và chắc hơn (ví dụ, ởchân ngựa, các ngón cũng thoái hoá đi, chỉ còn một ngón) để thích nghi với khả năng đi trênmặt đất và chạy nhanh Ngón chân bên trong của chúng to và ngón bên ngoài thì nhỏ hơn, cómóng rất khoẻ Ngoài tác dụng để di chuyển, cẳng chân chúng còn được dùng để đá kẻ thù vàcác loài thú ăn thịt nhỏ, dùng để bới đất và gãi đầu Đôi chân khoẻ còn làm cho chúng có thểchạy được với tốc độ 70 km/h (mỗi bước sải dài tới 8m), vì thế chúng có thể đuổi kịp hầu hếtnhững con vật mà chúng săn đuổi Đà điểu có cái cổ dài và đôi mắt rất tinh nên chúng có thểnhìn được ở khoảng cách rất xa (12 – 14 km)

Hình 1.2 Chân đà điểu với 2 ngón

Theo hệ thống phân loại động vật, đà điểu thuộc:

Lớp - Chim (Aves)

Bộ - Chim chạy (Ratitae) Phân bộ - Đà điểu 2 ngón Châu Phi (Struthioniformes)

Họ – Struthionidae (ostriches) Chủng (giống)- Struthio Loài - Struthio camelus Trong loài Struthio camelus, có 5 loài phụ mà 4 trong số đó vẫn còn cho đến

ngày nay

Loài phụ - Ostrich Syrian (Struthio camelus syriacus) - tuyệt chủng

Loài phụ - Bắc Phi (Struthio camelus camelus) Loài phụ - Massai (Struthio camelus massaicus) Loài phụ - Somali (Struthio camelus molybdphanes) Loài phụ - Nam Phi (Struthio camelus australis)

Phân bộ - Đà điểu 3 ngón Nam Mỹ (Rheiformes)

Họ - Nandu (Rheidae)

Loài - Grey nandu (Rhea americana)

Trang 15

Loài - Darwin nandu (Pterocnemia pennata)

Phân bộ - Đà điểu 3 ngón Châu Úc (Casuariformes)

Phân bộ - Aepyornithiformes - tuyệt chủng Phân bộ - Dinornithiformes - tuyệt chủng Phân bộ - Aeterygiformes

Họ - Kiwi (Apterygidae)

Loài - Apteryx australis Loài - Apteryx oweni Loài - Apteryx haastii

Phân bộ - Tinamiformes

Họ - Tinamidae

TheoMicheal Y Hastings , đà điểu thuộc nhóm chim chạy, trong đó được biết nhiều nhất có:

Đà điểu Phi (Struthio camelus), tiêu biểu: đà điểu (ostrich)

Đà điểu Úc (Dromiceus novae-hollandiae), tiêu biểu: Emu

Đà điểu Mỹ (Rhea american), tiêu biểu: Rhea

Đà điểu Niu Zi lân (Apteryx australialis), tiêu biểu: Kiwi

Riêng Kiwi là loài chim không cánh, không có đầy đủ những đặc điểm của

Struthioniformes khác

Riêng từ "camelus" (lạc đà) có nguồn gốc dựa trên sự giống nhau của đà điểu và lạcđà: cẳng chân khoẻ và dài, cổ dài, mắt to và lông mi dài, tầm vóc lớn và có khả năng chịuđựng tốt trong môi trường sống hoang dã

b Sự phân bố địa lý của các loài chim chạy

Có thể đà điểu và các loài chim lớn không biết bay khác đã biến mất trên phần lớn khuvực chúng từng sống cách đây 1 triệu năm Nguyên nhân có thể là do đà điểu đã được dùnglàm nguồn thực phẩm cho loài người và cuối cùng đã bị tiêu diệt hết do khai thác quá mức.Tuy nhiên, trên thực tế, có những vùng vẫn còn sót lại một số ít: ở miền Nam châu Âu, Ấn

Độ, Trung Quốc (những nơi đã tìm thấy các dấu tích hoá thạch của chúng) Hiện nay, sốlượng đà điểu hoang dã còn rất ít ở các vùng khô cằn của châu Phi: từ miền Nam sa mạcSahara tới vùng mũi Hảo vọng, kéo dài tới miền Nam Ma Rốc, miền nam Su Đăng và miềnnnam Ai Cập Sự phân bố tự nhiên của chúng giảm hẳn ở Trung Phi – trên dải BrachystegiaWoodland, miền nam Tanzania, Zambia và Mozambic

c Phân loại đà điểu

Có sáu giống đà điểu Struthio camelus phân bố theo các vùng địa lý, chúng khác nhaumột chút về kích thước, màu da ở những vùng không có lông như đùi, đầu, cổ và kích thướccũng như cấu tạo trứng của chúng (xem bảng 1.1)

* Đà điểu Bắc Phi – Struthio c.camelus

Trước đây đã thấy có ở khắp Bắc Phi, nhưng hiện nay các vùng chúng sống đã bị thuhẹp, chỉ còn ở một dải ngang qua lục địa châu Phi, từ phía nam Ma Rốc và Moritania (Tây)tới Awash Valley ở vùng đông bắc Ethiopia và sông Omo ở vùng Tây Nam Ethiopia; từ phíaNam Su Đăng và phía Bắc Uganda tới phía Nam Ai Cập và dọc theo Hồng Hải Đây là giống

đà điểu cao nhất Đặc điểm phân biệt là trên đỉnh đầu không có lông (hói), xung quanh chỗhói có lông cứng, ngắn, màu nâu, mọc xuống đến tận phía sau cổ Chúng có một vòng lông cổ

Trang 16

màu trắng ở giữa khoảng hai phần ba cổ từ trên xuống Phần cổ và đùi không có lông thì cómàu hồng tươi Lông cánh và lông đuôi của con đực có màu trắng tinh Phần mỏ dưới màu đỏ,mắt màu nâu và cẳng chân màu hung đỏ với các vảy mắt cá chân màu đỏ tươi Lông cánh vàlông đuôi của con đực có màu trắng Lông trên thân con cái màu nâu sẫm với lông cánh vàlông đuôi màu nhạt hơn Trong mùa sinh sản, cổ và mỏ của con đực chuyển thành màu đỏtươi, vảy mắt cá chân cũng đỏ hơn.

* Đà điểu Somali- Struthio c.molybdophanes

Khu vực phân bố tự nhiên của chúng gần trùng lặp với đà điểu Bắc Phi Khu vực nàykéo dài từ Đông Bắc Ethiopia qua Somali xuống tới Đông Bắc Kenya Đỉnh đầu của chúngcũng không có lông giống như giống Struthio c.camelus nhưng nó có vòng cổ màu trắng rấtrộng Da ở những chỗ không có lông trên cổ và đùi có màu xanh xám Lông đuôi màu trắng.Lông trên thân con đực có màu đen rất đẹp và con cái có màu xanh nhạt hơn Con cái củagiống này to hơn con đực

* Đà điểu Đông Phi (hay đà điểu Masai) – Struthio c.massaicus

Được tìm thấy ở miền Đông Kenya, từ phía Nam Tsavo tới phía Nam vùng Samburu

và tới các vùng thảo nguyên Katavi của Tanzania Đỉnh đầu của chúng có vùng không có lônghoặc mọc lông kín Da ở những chỗ không có lông trên cổ và đùi có màu xám hơi hồng, trongmùa sinh sản, chúng chuyển thành màu đỏ tươi Chúng có vòng cổ màu trắng hẹp Lông cánh

và lông đuôi màu trắng

*Đà điểu Nam Phi, Struthio c.australis

Khu vực phân bố ban đầu của chúng kéo dài từ Zimbabwe – Botswana, Namibia tới khuvực mũi Hảo vọng ở Nam Phi Đỉnh đầu của chúng có lông Cổ màu xám, chuyển thành màu đỏtrong mùa sinh sản, các vảy mắt cá chân cũng vậy Lông đuôi không trắng mà màu sắc thay đổi,

từ màu nâu xỉn tới màu nâu vàng sáng Không có vòng cổ màu trắng Những con đực trưởngthành nặng tới 150 kg, giống đà điểu này có thể là giống nặng nhất (xem bảng 1.2)

Bảng 1.1 Đặc điểm phân biệt của các giống đà điểu

Tiêu chí

Đà điểu

Thường(Ostrich)

Nam mỹ(Communrhea)

Đarwin (Emu)Úc Đông bắc Úc(Cassowary) Kiwi

Kích thước cơ thể

Màu lông

Brazil,Bolivia,Achentina

Peru,Bolivia,Chilê,Patagonia

Oxtrâylia(trừ miềnđông)

Đông BắcOxtrâylia,Niu Ghinê

Niu Zilân

Trang 17

Nguồn: M.M Shanawany, 1999.

Bảng 1.2: Tóm tắt về những điểm khác biệt chủ yếu giữa các giống

đà điểu châu phi trưởng thành

Đỏ nhạt

Đỏ nhạtTrắng tinhNâuNâu sẫm2,5-3,090-130Nhỏ hơn

Không cólông

RộngXanh xámXanh xámTrắngXámXám nhạt2,0-2,580-120

To hơn

Có vùng không

có lôngHẹpXám hồngXám hồngTrắngNâuNâu xám2,0-2,590-130Nhỏ hơn

Có lôngKhông cóXámHơi hồngNâu nhạtNâu hơi xámNâu xám2,0-2,5100-150Nhỏ hơn

Nguồn: M.M Shanawany, 1999.

* Đà điểu Ả rập, Struthio c Syriocus, hiện nay gần như đã tuyệt chủng

Chúng nhỏ hơn giống đà điểu châu Phi, có lông chất lượng tốt hơn nên bị săn bắnkhông thương tiếc, thậm chí chúng con bị con người dùng ôtô để săn đuổi và bán để giải trí

Vì thị trường của loài đà điểu này luôn nằm sẵn trong sự nghèo túng của người dân bản địanên đà điểu A rập đã bị tiêu diệt vô cùng nhanh chóng Vào sau những năm 1940, rất ít khinhìn thấy chúng ở bất kỳ khu vực phân bố nào trước đây Con đà điểu cuối cùng được xácnhận đã bị bắn ở Bahrain, khoảng năm 1956

* Đà điểu Rio de Oro hoặc Dwarf, Struthio c spatzi

Phân bố giới hạn trong vùng Rio de Oro ở Tây Bắc châu Phi Trứng có những lỗ khí

có hình giống như “một dấu phẩy thẳng, ngắn” Kích thước cơ thể hơi nhỏ hơn các loài khác.Hiện nay chúng được sáp nhập với đà điểu Bắc Phi và không được công nhận là một giốngriêng

Đôi khi đà điểu được chia thành hai hoặc thậm chí thành 4 giống dựa trên các đặcđiểm như đỉnh đầu không có lông hoặc có lông, màu của cổ (bảng 1.3) và đặc điểm của các lỗthông khí (bảng 1.4)

Bảng 1.3 Phân loại các giống đà điểu trong thương mại

Cổ đỏ

Cổ xanh

Struthio c.camelussStruthio c.massaicusStruthio c molybdophanesStruthio c.australis

Nguồn: M.M Shanawany, 1999.

Rất khó nhận ra những điểm khác nhau giữa các giống đà điểu khi chúng dưới 2 năm tuổi.Hơn nữa, các giống khác nhau sẽ có thể lai giống thành công và sinh ra những con lai tốt

* Đà điểu nhà, Struthio c domesticus

Đây là một nhóm đà điểu không thuộc một giống nào cả, chúng có nhiều tên: “đen châuPhi” hoặc “đà điểu cổ đen” đã được những người nuôi đà điểu ở Mỹ đặt ra để gọi như những tênthương mại, tuy chúng chưa được công nhận một cách chính thức Những cái tên cũ như “đà điểuCape” hoặc “chim lấy lông Cape” (mô tả giống đà điểu được nuôi ở vùng Cape thuộc Nam Phi đểlấy lông) vẫn được dùng cho tới ngày nay Giống đà điểu nhà là con lai từ các giống hoang dã (vớigiống chính là đà điểu Nam Phi được thuần chủng – Struthio c australis)

Trang 18

Trong thời gian từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, một số giống đà điểu Bắc Phi(Struthio c Camelus) và đà điểu A rập (Struthio c Syriacus) đã được đưa sang Nam Phi vàcho phối giống, sinh sản có chọn lọc với Struthio c australis để cải thiện chất lượng lông Sựchọn lọc giống tập trung nhất vào chất lượng cho lông đã đặt ra sau khi công việc kinh doanhlông bị suy sụp vào năm 1941 Chỉ có những giống đà điểu có lông tốt nhất mới được giữ lại

để làm giống, cho ra giống đà điểu nhà ngày nay

Bảng 1.4 Những đặc điểm về trứng của các giống đà điểu

Nguồn: M.M Shanawany, 1999.

Trứng đà điểu nhà có hình dáng bên ngoài giống với đà điểu Struthio c australis cổxưa thuở ban đầu Tuy nhiên, so với các giống hoang dã thì chúng nhỏ hơn, cẳng chân và cổngắn hơn một cách tương xứng và phần mỏ dưới luôn ngắn hơn Đặc điểm khác biệt là chấtlượng lông Các ngạnh lông của chúng rộng hơn trên một con so với ngạnh của giống hoang

dã và đầu ngạnh tù chứ không nhọn Mặt khác, con cái trưởng thành của giống đà điểu nhà cóphần lông trắng nhiều hơn

1.1.2 Nguồn gốc bồ câu

Bồ câu thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có Bộ bồ câu (Columbiformes) gồm những loài chim đi chậm nhưng bay rất khoẻ như bồ câu, cu gáy Gốc

mỏ mềm, chúng ăn quả và hạt là chính Đặc điểm nổi bật của bồ câu là chim non nở ra chưa

có lông, chưa mở mắt và rất yếu.

Darwin chứng minh rằng tất cả các giống bồ câu nhà hiện này đều có nguồn gốc từ bồcâu rừng Columbia livia, hiện nay còn thấy ở vùng Địa Trung Hải, châu Á, châu Phi

Bồ câu sống thành từng cặp, con cái đẻ 2 trứng, thời gian ấp nở từ 17-21 ngày

Bồ câu là tên gọi chung của một gia đình chim, có nhiều giống có kích thước lớn, nhỏ khácnhau Trong đời sống hoang dã, chúng lai tạp lẫn nhau, sống đông đúc ở những vùng ấm áp

Một loài được biết nhiều nhất sống hoang dã hay còn gọi là chim bồ câu sống langthang, tổ tiên của nó sống ở châu Âu và châu Á, được gọi là “chim bồ câu đá”, dài khoảng 33

cm, phía trên mình màu xanh xám, với những chấm đen ở cánh và phía đuôi (phao câu) màuhơi trắng; phía dưới là màu hơi đỏ tía ở phần ngực và xanh phớt ở bụng Xung quanh cổ, đặcbiệt là ở con đực, óng ánh nhiều màu sắc

Hơn 200 giống chim bồ câu nhà (cũng như chim câu rừng) bắt nguồn từ “chim bồ câu

đá” (pigeon des roches), còn có tên gọi khác là chim bồ câu bipel (Columbus livia).

Sau đây là một vài giống chính:

Chim bồ câu Mondain: khối lượng chim trống 800gam, chim mái 750gam, chim bồ câu

con “ra ràng” 1 tháng tuổi nặng 500 gam; là giống đẻ sai, cho từ 8 tới 10 cặp chim bồ câu controng một năm

Chim bồ câu Carneau: có màu lông đỏ, nhẹ cân hơn loài trên nhưng đẻ nhiều hơn Từ các

đặc điểm riêng biệt này nên người chăn nuôi đã cho lai giống này với giống chim bồ câuMondain

Chim bồ câu La-mã: là giống nặng cân nhất trong các loại chim bồ câu Con trống trưởng

thành nặng tới 1300 gam; đẻ ít; một cặp bố mẹ cho khoảng 6 cặp chim con / năm

Trang 19

1.1.3 Nguồn gốc của chim cút

Chim cun cút, gọi tắt là chim cút, có nguồn gốc ở châu Á, chúng sống thích hợp ởnhững vùng khí hậu ấm áp và hơi nóng Lần đầu tiên giống này được thuần hoá ở Nhật Bản từthế kỷ thứ XI (Coturnix Coturnix Japonica) Lúc đầu người ta thuần hoá chúng để nuôi nhưmột loài chim cảnh và chim hót, mãi đến năm 1900, cút Nhật bản mới được nuôi để lấy thịt vàtrứng ăn, sau đó nhanh chóng lan sang nhiều nước trên thế giới Chim cút có nhiều giống khácnhau, chuyên thịt hoặc chuyên trứng, có giống chuyên nuôi để phục vụ săn bắn, như giốngcút Bốp – oai (Bobwhile), có giống nuôi để làm cảnh, nghe hót như giống cút Xinh –ging(Singing quail) Ở châu Mỹ cũng có nhiều giống, nhưng nuôi để lấy thịt và trứng thì chủ yếuvẫn là chim cút Nhật Bản

Chim cút thuộc nhóm chim bay (Carinatae), gồm 25 bộ, trong đó có bộ gà

(Galliformes) gồm những loài chim như gà, gà lôi, công, trĩ, chim cút chúng có cánh ngắn,

tròn nên bay kém, chân to, khoẻ, móng cùn Mỏ ngắn, thích nghi với bới đất tìm thức ăn Contrống sặc sỡ, nhất là vào mùa sinh sản Chim non nở ra có lông che phủ và khoẻ

Một số loài chim cút được nuôi với số lượng lớn trong các trang trại Chúng bao gồm

sản xuất trứng và được bán rộng khắp thế giới

Phân loại khoa họcGiới (regnum): Động vật - Animalia

Lớp (class): Chim- Aves

Bộ (ordo): Gà Galliformes

Họ (familia): Trĩ - Phasianidae, gồm các chi:

Chi Coturnix (đồng nghĩa: Excalfactoria), gồm các loài:

Coturnix adansonii, chim cút lam châu Phi

Coturnix chinensis, chim cút ngực lam, quế hoa tước, chim cút Trung Quốc Coturnix coromandelica, chim cút Ấn Độ

Coturnix coturnix, chim cút thông thường

Coturnix delegorguei, chim cút Harlequin

Coturnix japonica, chim cút Nhật Bản hay chim đỗ quyên Coturnix novaezelandiae, chim cút Niu Zi Lân (tuyệt chủng)

Coturnix pectoralis, chim cút Ostraylia

Coturnix ypsilophora, chim cút Brown

Coturnix gomerae, chim cút Canary - chim tiền sử

Chi Anurophasis

Anurophasis monorthonyx, chim cút núi tuyết

Chi Perdicula

Perdicula argoondah, chim cút rừng núi đá

Perdicula asiatica, chim cút rừng Nam Á

Perdicula erythrorhyncha, chim cút rừng Ấn Độ

Perdicula manipurensis, chim cút rừng Manipur

Chi Ophrysia

Ophrysia superciliosa, chim cút Himalaya, cực kỳ nguy cấp/tuyệt chủng

Sự thuần hóa chim cút của con người là một điều kỳ diệu, chứng minh cho khả năngsáng tạo không giới hạn của con người: từ loài chim nhút nhát, sống chui lủi, cực kỳ hoangdã phải mất trên 6 tháng mới thành thục sinh dục và chỉ đẻ vài chục trứng/năm, con người

Trang 20

đã thuần hóa, chọn lọc và tạo ra các giống chim cút hiện đại, chỉ 5-6 tuần tuổi đã bắt đầu đẻtrứng và có thể đẻ đến trên 400 trứng/năm Vì những ưu điểm đó, chim cút được chăn nuôiphổ biến ở mọi vùng miền trên thế giới.

1.2 ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẤU, SINH LÝ CỦA ĐÀ ĐIỂU VÀ CHIM

Đặc điểm quan trọng nhất của lớp chim là hai chi trước đã biến thành cánh, thân có lông

vũ che phủ, phổi có mang ống khí và hệ thống túi khí, hô hấp kép; tim 4 ngăn, hàm có vỏ bọcsừng, thân nhiệt cao và ổn định, đẻ trứng to, có vỏ đá vôi, trứng được nở nhờ quá trình ấp của

vì vậy khi nuôi chim non, việc giữ nhiệt độ thích hợp là quan trọng nhất

Trong những tuần tuổi đầu tiên đã xảy ra việc thay lông tơ bằng lông non đồng thời vớiviệc phát triển các nang lông và tạo nên các nếp nhăn của da Trong thời kỳ tiếp theo, lớp lôngnon được thay bằng lông trưởng thành có khả năng cách nhiệt rất tốt Nhiệt độ bên trong cơthể trong thời kỳ này là 40,6 - 41,0oC Trong giai đoạn này, những biến đổi nhiệt ở môi trườngbên ngoài ít ảnh hưởng hơn đến cơ thể chim (A G Xviridjuc)

Cần lưu ý là thân nhiệt của chim rất cao so với động vật có vú (40 - 41oC), toàn thân (trừ

mỏ và chân) của chim được che phủ bởi một lớp lông vũ dày Tuyến mồ hôi (một tuyến có vaitrò to lớn trong việc thải nhiệt của cơ thể khi quá nóng) lại không có ở chim, do đó, việc thảinhiệt của cơ thể trong điều kiện thời tiết nóng là cực kỳ khó khăn Trong chăn nuôi cần hếtsức chú ý đến đặc điểm này để thiết kế chuồng trại, tạo tiểu khí hậu chuồng nuôi thích hợp, có

độ thông thoáng cao, mát mẻ và thông khí tốt

Tuyến phao câu (tuyến sáp) là tuyến duy nhất có ở biểu mô của chim, nằm ở vùng đốtsống đuôi, tuyến này có 2 thuỳ hình ô van, chất tiết của chúng là chất nhờn, thành phần gồmnước, protein, lipit, axit nucleic, lexitin Khi mới tiết ra, chất tiết ở dạng dầu nhờn, đặc quánh,sau một thời gian ngắn, chúng biến thành dạng sáp, có tác dụng làm cho bộ lông nhờn, sángbóng và mềm mại, không thấm nước, nhất là ở thuỷ cầm

Sản phẩm của da

Trang 21

a Bộ lông

Lông phân bố không đều trên bề mặt cơ thể chim non cũng như trưởng thành, chiếm tỷ

lệ 4-9 % khối lượng cơ thể và chứa 82% protein

Những chim non vừa nở được phủ lông tơ, gốc của lông tơ gắn vào thân của lớp lông đầutiên, phía ngoài xoà ra, phủ đều trên bề mặt của da Sau 2-3 tuần tuổi, thân lông đầu tiên mọc

từ túi lông, thay thế lông tơ Việc hình thành bộ lông đầu tiên của chim non ở các loài vàgiống khác nhau thì khác nhau và được hoàn thiện ở những tuần tuổi khác nhau

Người ta phân biệt các loại lông theo cấu trúc và chức năng của chúng: lông ống, lôngnệm (lông bông), lông chỉ, lông chổi và lông tơ

Trang 22

Hình 1.3 Cấu tạo hình thể chim (theo Craig Robson, 2005)

Lông ống có số lượng nhiều nhất, đó là lông cánh, lông đuôi và lông bao phủ trên thân,chúng nằm xếp lớp lên nhau và tạo thành bộ lông bên ngoài Về cấu tạo, loại lông này chỉ có

1 trục, 2 phiến lông đối xứng hai bên và có nhiều móc lông để móc vào nhau tạo thành phiến.Cùng với lông nệm nằm dưới, nó tạo lớp lông cách nhiệt, bao phủ hầu như toàn thân Tuỳthuộc vào nơi mọc mà người ta gọi tên của chúng: lông cổ, gáy, lưng, vai, diều, ngực, bụng,cánh

Ở cánh có 3 loại lông ống: lớn, trung bình và nhỏ Lông cánh dài và chắc, làm thành quạtlông chắn gió, lông vũ hàng thứ nhất ở vùng ngón thứ 2 và thứ 3; chim có 10 - 12 chiếc Lông vũhàng thứ hai (11 – 12 chiếc) dính tới mặt ngoài của xương cánh tay và có hình quạt đều rộng, 3 - 4lông dính tới ngón thứ nhất của cánh tạo nên lông cánh nhỏ, có ý nghĩa rất quan trọng khi bay lên

và hạ cánh, chống lại sự tạo thành dốc thẳng của các dòng không khí phía trước

Lông đuôi (10 - 12) nằm theo hàng ngang, mọc tới 4 - 6 đốt sống đuôi cuối cùng Lôngđuôi có thân lông cứng và phiến lông thẳng

Lông bông có trục ngắn, phiến lông trên đầu trục là một búi mềm không định hướng.Người ta phân biệt lông bông phủ toàn thân ở chim non và trưởng thành Số lượng lông bôngkhông giống nhau ở các loài và giống chim Lông bông phát triển mạnh ở vùng bụng của chim.Tất cả lông bao và lông tơ tạo thành bộ lông nhỏ của chim, lông cánh và lông đuôi tạonên bộ lông lớn

Lông chỉ hay là lông hình sợi rất giống như lông mao của gia súc nhưng rất mảnh Nhữnglông này mọc thành từng nhóm nhỏ (từ 2 - 10 chiếc) xung quanh lông vũ Có thể quan sát loạilông này rất rõ sau khi chim đã được vặt lông rồi cho tiếp xúc với nền nhà trong vòng 3-5phút, khi đó, chúng sẽ mọc rất nhanh và nhiều Chức năng của lông này hiện chưa được giảithích rõ

Lông chổi (giống hình chổi quét sơn) mọc xung quanh lỗ thoát chất tiết của tuyến phaocâu (tuyến sáp), có thân tương đối dài và mỏng, ở đầu có một chùm tơ

Lông tơ chỉ có một thân mỏng, không có phiến lông, mọc chủ yếu ở gốc mỏ, thỉnhthoảng ở ngón chân, trên mắt (lông mi)

Lông bao của các loài và giống chim khác nhau thì khác nhau, chúng tạo nên đặc trưng

về hình dạng bên ngoài của chim Lông chim thực hiện những chức năng khác nhau: bảo vệ

cơ thể khỏi những ảnh hưởng xấu của môi trường (lạnh, ẩm ), điều hoà nhiệt và xúc giác.Một số lông chuyên dùng để bay, một số khác là dấu hiệu sinh dục thứ cấp của chim

Màu sắc lông chim gắn chặt với sự có mặt của những sắc tố melanin và lipocrom Ởtrong lông, sắc tố có hình hạt hay hình gậy Melanin được tạo nên trong ty lạp thể của tế bàosinh trưởng biểu mô melaniphor Tiền sắc tố melanin là melanogen Sự oxy hoá melanogen ởcác mức độ khác nhau sẽ cho ra các màu của lông khác nhau: vàng đất, vàng gỉ sắt, hung gỉsắt, nâu hung, nâu, đen

Màu lông rực rỡ của một số giống chim được tạo bởi sắc tố khác - lipocrom Nó thuộcnhóm sắc tố carotenoit Lipocrom hoà tan trong mỡ và có nguồn gốc ngoại sinh Chúng làmcho lông có màu vàng, đỏ, xanh da trời hoặc xanh lá cây Mỗi cá thể có thể có một màu hoặcnhiều màu Nếu không có sắc tố thì lông màu trắng, đó là chim bạch tạng, thường thấy ở chim bồ câutrắng

Trang 23

Màu sắc của lông có vai trò rất lớn trong chăn nuôi Đó là các tính trạng bên ngoài rấtquan trọng, được sử dụng trong công tác chọn giống Màu sắc, độ bóng mượt của lông liênquan chặt chẽ với tình trạng dinh dưỡng, sức khoẻ, sức sản xuất của chim, khi khoẻ mạnh,khẩu phần cân đối thì bộ lông đẹp; ngược lại, dinh dưỡng kém, ốm yếu thì bộ lông xơ xác,

dễ gãy, dễ rụng

Hình 1.4 Một số lông chim bồ câu

Ta có thể dễ dàng xác định giới tính của đà điểu trưởng thành qua đặc điểm màu lông.Tính biệt (cái, đực) khác nhau thì bộ lông hoàn toàn khác nhau Con trống hầu hết có màulông đen nhưng lông cánh và lông đuôi thì trắng tuyền Sự phân màu rõ tới mức có thể phânbiệt chúng từ xa Con mái thì ngược với con đực, toàn thân một màu xám, làm cho chúng ít lộliễu (khó thấy) trong suốt thời kì sinh sản, nhất là khi ấp trứng trên sa mạc Trong điều kiệnkhí hậu châu Phi, lông là lớp bảo vệ hữu hiệu chống lại cái nóng của ban ngày còn trong vùngbán sa mạc thì chống lại sự thoát nhiệt vào ban đêm

Trang 24

Hình 1.5 Đà điểu trống (màu đen) và mái (màu xám)

Trong mùa sinh sản, con đực bộc lộ một phần lông màu rực rỡ, thường có màu đỏ sẫmhoặc xanh sẫm tùy thuộc vào từng phân loài, rất rõ ở phần trước đùi và phần trên cổ

Hình 1.6 Lông đà điểu

Trang 25

Lông đà điểu không có các tơ lông gắn chặt những sợi lông nhỏ vào cuống lông ởgiữa nên chúng giống như tóc hơn là lông Chúng mọc trên khắp bề mặt da nhưng có vùng lạimọc ít lông, riêng ở phần đùi to thì không có lông Cũng như các loài chim khác, đà điểukhông có tuyến mồ hôi.

Con đà điểu đực có bộ lông màu đen và trắng khi trưởng thành Những con cái và connon thì có bộ lông màu nâu xám, màu xỉn hơn nhiều Những con nhỡ thì có bộ lông xù lên, ởđầu nhọn của lông có màu đen cho tới khi chúng được khoảng 4 tháng tuổi

Trong suốt mùa sinh sản, bộ lông của con đực có màu sáng hơn Da thường chuyển từmàu xanh nhạt thành màu đỏ tươi ở mỏ, trán và xanh quanh mắt Lớp vảy ở cẳng chân vàngón chân trở thành màu hồng

Khi còn non, các con đực và cái rất giống nhau, chỉ có thể phân biệt bằng cách xem cơquan sinh dục của chúng Việc này rất khó vì dương vật của con đực vẫn còn rất nhỏ và rất dễnhầm với âm vật của con cái Khoảng từ 7 – 8 tháng tuổi, có thể xác định được giới tính củachúng khi chúng đái hoặc ỉa, khi đó dương vật của con đà điểu đực thò ra

Không giống hầu hết các loài chim, đà điểu đực có một dương vật và lỗ đái, ỉa riêng(mặc dù việc đái, ỉa gần như là đồng thời) Khi được khoảng 2 năm tuổi thì con đực và con cáikhác nhau hoàn toàn như đã mô tả ở trên

Cần biết rằng, màu đỏ da cam ở đỉnh đầu và da của con đực phụ thuộc vào sự có mặtcủa tinh hoàn trưởng thành, còn bộ lông màu đen của nó lại do sự không tồn tại của buồngtrứng (đặc biệt là hooc mon oestrogen) quyết định Con đực đã thiến thì không bao giờ cómàu đỏ cam, nhưng bộ lông của chúng thì thường vẫn có màu đen đặc trưng cho con đực.Nếu bị thiến mất tinh hoàn sau khi đã trưởng thành về sinh dục thì cũng sẽ gây ảnh hưởng tớibản năng sinh dục của đà điểu mặc dù nó sẽ vẫn tiếp tục đạp mái

Hocmon tuyến giáp trạng tham gia điều khiển quá trình mọc lông bình thường ở chim.Sau khi cắt bỏ tuyến này thì sự khác biệt về màu sắc lông giảm đi hoặc mất hoàn toàn

b Sinh lý thay lông

Thay lông là sự thay đổi thường kỳ của lông và thành phần cấu trúc biểu bì của da Đốivới chim hoang dã, sự thay lông có tính mùa vụ, thường là bắt đầu vào mùa thu, khi di chuyểnchỗ ở hoặc lúc bắt đầu mùa đông giá lạnh Vì vậy thay lông là sự thích nghi sinh học của chimvới việc thay đổi điều kiện sống

Người ta phân biệt thay lông của chim non (thay lông non) và thay lông thường kỳ (hàngnăm) của chim trưởng thành, trùng với mùa nhất định Khi thay lông, trong cơ thể chim xảy ranhững thay đổi về hoạt động của hệ thần kinh về cơ quan nội tiết, đồng thời diễn ra quá trìnhtăng cường trao đổi chất, chủ yếu là trao đổi protein và muối khoáng, cơ thể rất mất cân bằng,giảm sức đề kháng với bệnh tật, dễ ốm, chim trưởng thành giảm nhanh hoặc ngừng đẻ trứng.Những thay đổi mạnh của thức ăn và điều kiện nuôi dưỡng, các tác nhân strees (nhiệt độ,

độ ẩm cao, thấp; bệnh tật ) đều có thể gây nên hiện tượng thay lông trước thời hạn

Ở chim non, cơ thể thay lớp lông đầu tiên bằng lớp lông cơ bản (lớp thứ hai), quá trìnhnày kết thúc khi khối lượng cơ thể đã cơ bản hoàn thành và bắt đầu thành thục sinh dục Thờiđiểm bắt đầu và số ngày thay lông non của chim ở các dòng, giống khác nhau thì khác nhau, bắtđầu từ 1,5 tháng tuổi và kết thúc hoàn toàn lúc bắt đầu đẻ trứng Việc thay lông ở chim trống xảy

ra mạnh mẽ hơn ở chim mái Thay lông cánh xảy ra cùng lúc với việc thay các lông khác Thaylông cánh ở chim bắt đầu theo hướng từ trong ra ngoài Lông cánh của chim con có 7 lôngống hàng thứ nhất và 8 lông hàng thứ hai Tiếp theo mọc 3 lông hàng thứ nhất còn lại, trongkhi đó thay lông hàng thứ nhất bắt đầu từ những lông cuối (8 - 10) chưa mọc hết Trong thời gian

Trang 26

này xuất hiện những lông vũ chưa đủ dài của hàng thứ hai Việc thay chúng xảy ra theo hướngngược lại - từ ngoài vào giữa cánh

Thay lông của chim trưởng thành được nhắc lại mỗi năm một lần trong đời và thườngdiễn ra vào một mùa cố định trong năm, khi thời gian chiếu sáng thay đổi: từ ngày dài chuyểnsang ngày ngắn, thường gặp vào cuối mùa hè và mùa thu, thỉnh thoảng vào mùa đông

Vào giai đoạn thay lông của chim, khi mà việc thay lông diễn ra mạnh nhất, hoạt tính chứcnăng của tuyến giáp trạng và tuyến cận giáp tăng lên thì khối lượng của chim cũng tăng lên một ít(A K Đanhilova,1986) Quá trình mọc và hình thành lông ở chim liên quan chặt chẽ với việc tăngcường độ trao đổi chất và năng lượng trong cơ thể, tăng tính hấp thu và tiêu hoá thức ăn

Ở da đà điểu có một số chai sần Những miếng chai này là phần da dày lên tại nhữngchỗ dễ bị cọ xát hoặc chịu lực Đà điểu thường nằm bẹp hoặc nằm nghỉ trên mu bàn chân Khinằm miếng đệm dày khoảng 1cm và có kích thước 5 x 12 cm Những miếng đệm chai dàynằm ở phần xương ức dưới bụng có kích thước 1 x 8 x 11 cm, phần da chai bảo vệ phầnxương nhô ra từ phía bụng của xương mu có kích thước 1 x 4 x 9 cm Những phần da chainày phải chịu sức nặng của cả thân con đà điểu khi chúng nằm

Da phía trước của chân (từ khuỷu chân trở xuống) và phía trên các ngón chân chủ yếu

có cấu tạo vẩy to Những chỗ còn lại trên vùng da này được bao phủ bằng các vẩy nhỏ hơn

Da ở phía trên mặt các ngón chân chuyển thành một loại da khác Da ở những miếng đệmcủa đà điểu dày và bề mặt da được bao phủ bằng các mấu thịt xếp khít nhau theo chiều dọc từ trênxuống (dài 0,8 cm) Miếng đệm mô này dày 1cm và kích thước trung bình của nó ở ngón chângiữa là 6 x 18 cm, còn ở ngón chân nhỏ cuối cùng là 5 x 11 cm Tại khớp nối giữa xương chân vàxương ngón chân cũng có một miếng đệm Các miếng đệm được tăng cường độ êm bằng một lớp

mỡ lót phía trên với kích thước 1,5 x 13 cm Lớp mỡ này được bao phủ bằng một màng xơ Mônày giống như miếng đệm ngón chân ngựa hay đệm ngón chân của dê và cừu

Ngón chân to nhất của đà điểu có một cái móng to, cùn Móng của ngón nhỏ thì bé hơn

1.2.2 Hệ tuần hoàn và máu

Khu vực khác có thể lấy máu là các ven ở cánh Điều nên nhớ là, mặc dù hệ thống tĩnhmạch ở cánh đà điểu chạy song song với động mạch nhưng cả động mạch và tĩnh mạch ở đàđiểu đều khác nhiều so với các loài chim khác Ví dụ, ở gà thì động mạch cánh sâu và cácđộng mạch phụ nối với nhau hoặc gần như nối khít nhau ở khuỷu cánh Còn ở đà điểu thì cácnhánh của động mạch sâu và động mạch phụ không nối với nhau Nhờ vị trí và kích thướctiện lợi nên các ven chính ở cánh đà điểu rất phù hợp để tiêm hoặc lấy máu, trong khi tất cảcác ven khác thì nằm quá sâu hoặc quá nhỏ Chỗ tốt nhất để tiêm ven là tĩnh mạch cánh, độngmạch này chạy qua vùng âu cánh trên tại phần giáp với bụng, lấy ven ở vị trí này không gâytác hại tới bộ phận dễ bị tổn thương khác

b Máu

Trang 27

Máu cùng lympho và dịch mô tạo thành môi trường bên trong của cơ thể, có thành phần

và tính chất lý - hoá tương đối ổn định, nhờ đó, các điều kiện cần thiết cho hoạt động sống của

tế bào và mô được đảm bảo

Tỷ trọng của máu chim là 1,050 - 1,060 Tỷ trọng máu có thể tăng lên khi máu bị đặc lại

và giảm đi khi bị thiếu máu

Độ nhớt của máu chim trung bình bằng 5 (4,7 - 5,5), nó phụ thuộc vào số lượng hồngcầu, nồng độ protein và muối Tăng độ nhớt thường gặp khi cơ thể bị mất nước, ví dụ khi bị ỉachảy hoặc khi tăng số lượng hồng cầu Khi tăng độ nhớt của máu, huyết áp tăng và giảm sựkhuếch tán nước từ mao quản ra các mô, áp suất thẩm thấu của máu phụ thuộc vào nồng độcác muối tan trong đó, trước hết là muối natri clorua

Trong máu và dịch mô, áp suất thẩm thấu tạo thành chủ yếu do NaCl, dung dịch 0,9%NaCl, tương ứng với áp suất thẩm thấu máu của động vật có vú được tính là dung dịch sinh

lý Áp suất thẩm thấu của máu chim bằng dung dịch 0,93% NaCl

Độ pH: đối với động vật máu nóng, pH máu thường nằm trong khoảng 7,0 - 7,8; đối vớichim là 7,42 - 7,56

Theo mức kiềm dự trữ trong máu có thể đoán được sức đề kháng của cơ thể, cường độcủa các quá trình sinh lý Sự dao động lượng kiềm dự trữ trong máu phụ thuộc vào sự thay đổitrạng thái sinh lý của cơ thể Lượng protein trong huyết thanh chim tăng lên theo quá trìnhsinh trưởng, cao nhất ở thời gian đầu của giai đoạn đẻ trứng

Tỷ số anbumin/globulin (hệ số protein) phụ thuộc vào lứa tuổi và sức sản xuất của chim.Ngoài protein ra, trong huyết tương còn có các hợp chất nitơ phi protein; ure, axit uric,amoniac, creatin, creatinin, chúng được gọi chung là nitơ cặn, có nồng độ tương đối lớn trongmáu chim (44 mg%) Trong máu chim còn có các chất hữu cơ khác: đường, mỡ và sản phẩmtrung gian của quá trình phân giải các chất này

Bột đường gồm glycogen và glucoza Nồng độ glucoza ở chim cao hơn ở động vật có vútới 1,5 - 2 lần

Hàm lượng glycogen và axit adenozin triphotphoric (ATP) trong máu chim tăng lên theoquá trình phát triển Ở chim một ngày tuổi, nồng độ của ATP là 2,4 - 4,9 mg%, glycogen 24 -27mg%; ở 150 ngày tuổi tương ứng là 7,8 - 9,4 mg% và 45 - 52 mg%

Các loại lipit trong máu tồn tại dưới dạng mỡ trung tính, axit béo, phophatit, cholesterin vàcác este của cholesterin Khối lượng mỡ trung tính trong huyết tương chim không quá 0,1 -0,15% Ở chim đẻ, hàm lượng lipit lớn hơn ở chim chưa đẻ và chim trống, hàm lượng lipit tăngsau khi rụng trứng Các hocmon hướng tuyến sinh dục có tác dụng làm tăng lipit trong máu

Trang 28

Lượng canxi trong máu của chim đẻ lớn hơn so với gia súc Phần lớn canxi trong máunằm ở huyết thanh (10 - 12 mg%), phần nhỏ trong hồng cầu Trong huyết thanh, canxi có 2dạng: bị khuếch tán (60 - 65%) và không bị khuếch tán (34 - 40%) Sự phân biệt này liên quanđến khả năng của canxi đi qua màng siêu lọc (các màng tế bào).

Phần lớn canxi bị khuếch tán nằm dưới dạng ion (Ca++) và phần nhỏ (15%) liên kết vớicác bicacbonat, citrat và phosphat

Canxi không bị khuếch tán liên kết với protein huyết thanh - anbumin và globulin Canxi cóthể được giải phóng khỏi các liên kết này dưới dạng ion Lượng canxi không bị khuếch tán tronghuyết tương có thể thay đổi phụ thuộc vào hàm lượng protein trong đó, chủ yếu là albumin

Hàm lượng ion canxi trong huyết tương và dịch mô tương đối ổn định, phụ thuộc vào lứatuổi và sức sản xuất của chim, vào lượng canxi trong khẩu phần thức ăn Ở chim chưa đẻ, trongmáu có 9 - 12 mg% canxi Trong huyết tương chim đẻ có trung bình 20 - 26 mg% canxi Trongthời gian trứng rụng, khi có tác động của hocmon tuyến yên và buồng trứng, lượng canxi có thểtăng lên tới 35mg% Sau khi đẻ trứng, lượng canxi trong máu giảm xuống 12 - 15mg%

Ở chim non, hàm lượng canxi trong máu thay đổi không lớn Khi trong khẩu phần thức

ăn thiếu canxi, hàm lượng canxi trong máu chim con giảm xuống nhanh

Photpho trong máu chim thường ở dạng các hợp chất hữu cơ và vô cơ Tỷ lệ giữa haidạng này là 8: 1 - 10: 1

Photpho vô cơ hầu hết nằm trong huyết tương và phần lớn ở dạng ion Hàm lượng phospho vô

cơ trong huyết thanh chim thay đổi tương đối lớn, phụ thuộc vào cường độ trao đổi chất và phosphotrong thức ăn Người ta nhận thấy có sự giảm dần nồng độ phospho trước thời kỳ sinh sản Phosphohữu cơ gồm phospho lipit, phospho tan trong axit và phospho nucleotit Ngoài ra, còn cóphotpho của axit phitin trong hồng cầu có nhân và photpho của ATP

Gần đến thời kỳ thay lông, hàm lượng phospho giảm xuống nhanh Trước và trong thờigian đẻ trứng, lượng phospho tổng số trong máu tăng lên

Cần thận trọng khi dùng các chỉ số nồng độ Ca, P trong máu để đánh giá tình trạng dinh dưỡngcác nguyên tố này của chim vì chúng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố và có biên độ dao động rất lớn.Trong máu chim có natri clorua, phân ly ra thành cation Na+ và anion Cl- Cation K+ cómột lượng nhỏ trong huyết tương Nồng độ các ion này trong huyết tương chim cũng tương tự như ởđộng vật có vú Ion natri và clo trong huyết tương nhiều hơn, còn ion kali trong hồng cầu nhiều hơn.Như trên đã nói, các bicacbonat và phosphat của natri và kali tham gia vào thành phầncác hệ thống đệm của máu, giữ cân bằng axit - kiềm Việc thải các chất thừa, chủ yếu NaCl, là

do thận, song ở chim cường độ thải ion Na+ qua thận kém hơn so với động vật có vú Vì vậy,khi lượng muối này quá nhiều, nồng độ natri trong máu tăng lên, dẫn tới rối loạn hô hấp, hạhuyết áp và co giật chim bị ngộ độc muối thường chết trong vòng vài phút Vì vậy, cần hếtsức chú ý đến nồng độ NaCl trong thức ăn cho chim, nhất là trong bột cá

Bảng 1.5 Một số chỉ tiêu huyết học của đà điểu bình thường

Nguồn cung cấp (*)

Chưa trưởng thành

Trưởng thành

Chưa trưởng thành

Trưởng thành

Trang 29

Lượng (hemoglobin) huyết cầu trung bình Pg 57 71 71 65,3

Các thành phần hữu hình của máu

Số lượng hồng cầu trong 1mm3 máu của chim trung bình là 2,5-3,5 triệu Hồng cầu ở cáthể đực nhiều hơn ở cá thể cái

Số lượng hồng cầu thay đổi phụ thuộc vào mùa Vào mùa xuân – hè, số lượng hồng cầu tănghơn so với thu - đông Số lượng hồng cầu trong máu tăng giảm phụ thuộc vào chế độ nuôi và sứcsản xuất Trong khẩu phần, thức ăn có nguồn gốc động vật làm cho số lượng hồng cầu tăng lên.Khi hấp thu nhiều nước, máu loãng ra làm giảm số lượng hồng cầu và ngược lại khi thiếu nước,máu đặc lại làm tăng số lượng hồng cầu Nguyên nhân giảm hồng cầu và huyết sắc tố lâu dài(trong trường hợp thiếu máu) có thể là do trong thức ăn thiếu sắt và đồng Thiếu máu có thể domất nhiều máu hoặc do hồng cầu bị phá huỷ vì bị nhiễm độc, chức năng tạo máu yếu

Ở chim trưởng thành, hàm lượng huyết sắc tố là 12,5 - 16,6 g% Ở gia súc, 1g huyết sắc tố cóthể liên kết với 1,34 ml oxy, ở chim là 1,4 - 1,41 ml Biết hàm lượng huyết sắc tố trong máu có thểxác định dung lượng oxi của máu, tức là khối lượng oxi lớn nhất có thể liên kết với 100 ml máu

Số lượng bạch cầu trong máu ít hơn rất nhiều so với hồng cầu (15 - 35.000/mm3)

Tiểu cầu trong máu chim ít hơn hẳn so với gia súc

Cấu trúc tim và các mạch máu cơ bản của đà điểu tương tự như các loài gia cầm khácnhư gà Nhịp tim của đà điểu trưởng thành là 28 - 36 lần/phút trong khi con non là 60 - 164

Đà điểu có các tĩnh mạch bề mặt phía dưới cánh là nơi lý tưởng cho máu lưu thông Các giátrị chuẩn cho những chỉ dẫn huyết học ở đà điểu là như sau:

mô Ở giai đoạn bào thai, gan cũng tham gia vào quá trình tạo máu Ở tuỷ đỏ của lách xảy raquá trình phân huỷ hồng cầu Hồng cầu còn phân huỷ cả ở gan Phân huỷ hồng cầu ở các cơquan này diễn ra bằng phương pháp thuỷ phân trong các tế bào của hệ lưới nội mô Khi đó từhuyết sắc tố, sắt được giải phóng ra khỏi tế bào Một phần sắt được oxi hoá, chuyển vào sắc tốbilirubin, sắc tố này được thải ra khỏi cơ thể cùng với phân và nước tiểu Phần sắt còn lại tích

tụ trong tế bào của các cơ quan tạo máu và có thể dùng để tạo ra các hồng cầu mới

Ngoài chức năng tạo máu, lách còn giữ vai trò dự trữ máu, nhờ cấu tạo hợp lý của hệmạch máu tại đây

12

Trang 30

1.2.3 Hệ xương – cơ

a Hệ xương

Hình 1.7 Sơ đồ bộ xương chim

1- Xương đầu; 2- Xương cổ; 3 - Cột sống; 4- Xương lưỡi hái; 5- Xương cánh; 6- Xương đùi;

7- Xương cẳng; 8- Xương bàn chân; 9- Xương ngón chân;

Các phần của hệ xương chim tương ứng như các động vật khác Cánh chim tương ứngvới cánh tay và bàn tay ở động vật bậc cao, cẳng chân và ngón chân tương ứng cẳng và ngónchân ở động vật, xương bàn chân của chim là sự nối tiếp và kéo dài ra từ xương chân củađộng vật

Trang 31

Hình1.8 Bộ xương đà điểu

1-Mỏ dưới; 2-Mỏ trên; 3-Xương sọ; 4-Các đốt sống cổ; 5-các đốt sống ngực; 6-Xương lưng; 7-Đuôi; 8-Xương bả vai; 9-Xương đòn; 10-Xương ức; 11- Xương cánh trên; 12-Xương sườn; 13 - Xương quay; 14- Xương trụ; 15- Xương cánh dưới; 16- Xương đùi; 17- Xương háng; 18-Xương khớp; 19-Xương cẳng chân; 20-Xương khuỷu chân; 21-Xương ống chân;

22-Xương ngón chân thứ tư; 23- Xương ngón chân thứ ba.

Hệ xương chim có kết cấu vững chắc, xốp, nhẹ và khoẻ (cứng) Hệ xương bao gồmxương đầu, xương sống, xương ngực, xương sườn và xương chi Xương đầu chia thành hailoại là xương sọ và xương mặt Xương sống chia ra xương sống cổ, xương ngực, xương hông(lưng, khum) và xương đuôi Bộ xương chiếm khối lượng 7-8% khối lượng cơ thể

Xương ngực (xương lưỡi hái) ở chim phát triển mạnh Phần xương này là nơi bám vàocủa những cơ có giá trị quí- cơ ngực Đà điểu không có xương này vì chúng không phải làchim bay mà là chim chạy

Đà điểu là loài chim lớn nhất sống trên trái đất Con trống cao 2,7 m và nặng đến hơn

150 kg Con mái nhỏ hơn, chỉ cao 2 m, nặng 110 - 120 kg Gần 1/3 chiều cao của đà điểu nằm

ở chiếc cổ dài và cong với 19 đốt sống, nhờ đó, chúng có thể dễ dàng quan sát được xungquanh và với tới các lá cây cao mà các loài khác không thể (trừ hươu cao cổ và voi) Mỏ củachúng rộng và dẹp, có 2 lỗ mũi giúp cơ thể làm mát, khi thời tiết nóng, chúng thường mở rộng

lỗ mũi ra Mỏ đà điểu không cứng lắm, vì vậy chúng không phải dùng để tự vệ hay tấn công

Đôi chân cực khỏe của đà điểu để đỡ cơ thể, cũng là 1 lợi thế lớn nhất của loài này.Mỗi chân chỉ có 2 ngón Về mặt này, đà điểu là 1 ngoại lệ trong các loài họ nhà chim và kể cả

các đại diện Ratitae khác - emu và nandu - có 3 ngón Ngón chân to tương ứng với ngón giữa

của các loài chim khác, phát triển mạnh và có vuốt dài khoảng 7 cm Khi đối mặt với nguyhiểm, đà điểu có thể dễ dàng tiêu diệt đối thủ với cú đá rất dũng mãnh Điều này giải thích vìsao trong tự nhiên, chúng có rất ít kẻ thù Hơn nữa, do có đôi chân khỏe nên đà điểu có thể đạttốc độ chạy là 70 km/giờ qua một đoạn đường dài vài km

Hộp sọ đà điểu “xốp” nên bảo vệ não rất kém Não đà điểu trưởng thành chỉ như mộtquả trứng gà, nặng khoảng 30 - 40 g Ở một số loài, đỉnh đầu bị trụi, còn một số loài khác thì

có lông tơ

Xương ức cấu tạo đặc biệt chính là nguồn gốc sinh ra cái tên chim chạy trong nhómchim này Xương ức là một cái xương rộng lõm phía trên lưng và lồi ở phía bụng giống nhưmột cái đĩa đựng xúp Xương này bảo vệ các cơ quan trong phần ngực con vật Không cóxương lưỡi hái và phần ngực không có cơ bắp Xương đai ngực đã bị teo dần vì không cầngiúp cho chúng bay Xương bả vai, xương quạ và xương đòn được gắn liền lại ở đà điểutrưởng thành và được coi là xương ức

Trang 32

Xương đai chậu ở vùng hông tạo ra một cái xương che ở phía trên các đốt xương sống.Các xương mu và xương đốt háng kéo dài ra phía đuôi, sau đó uốn cong trở lại phía bụng vàđầu xương tạo ra khớp xương mu Ở các loài chim chạy khác, xương mu và xương đốt hángtách rời nhau và không có khớp xương mu.

Đà điểu không có xương bánh chè Có thể có một cái xương nhỏ trong khối cơ ở đầuxương ống chân, giúp tăng thêm sức mạnh cho cẳng chân để chúng di chuyển được nhanhnhẹn, vững vàng về phía trước khi con đà điểu chạy và bơi Một trong số những xương mắt cáchân của đà điểu không nối liền với những xương tiếp giáp và có vị trí giống như xương bánhchè

Đà điểu có 2 ngón chân, còn các loài chim khác thì có 3 ngón chân Khác với các loàichim khác, mỗi ngón chân đà điểu có 4 đốt ngón chân

Khi mới nở, tất cả các xương đều có các khối sụn hình nón lớn nối liền với các đĩaphát triển và khung vỏ xương Vào lúc một tuần tuổi, phía bên ngoài của khối sụn non nớt nàybắt đầu cứng lại thành xương và ở một số xương, các khối sụn này tách rời khỏi các đĩa pháttriển Khi được 3 tuần tuổi, vẫn có thể nhìn thấy các khối sụn chưa phát triển thành xương ốngchân và các đoạn xương sụn nhỏ nối các khối hình nón với các đĩa phát triển Đối với các loài

có hệ xương phát triển sớm khác như gà và gà tây thì các đoạn xương sụn ở những cái xươngdài của chúng khi mới nở sẽ phát triển thành xương chỉ trong một hoặc hai tuần tuổi Ở đàđiểu (và các loài chim khác), vào lúc 3 tuần tuổi vẫn còn các khối sụn lớn chưa phát triểnthành xương, và đấy là một hiện tượng phát triển xương bình thường Vì các khối xương sụnnày có thể bị nhầm lẫn với những tổn thương lớn nên cần phải biết rõ đặc điểm này ở xương

đà điểu để chẩn đoán chính xác các bệnh rối loạn cấu trúc xương, rất phổ biến khi chúng chưatrưởng thành

Bộ xương của chim mái còn là nơi dự trữ khoáng để tạo vỏ trứng Trong những xươngdài có nhiều gai xốp trong tuỷ xương Khi hoạt động sinh dục mạnh, các gai này phát triển vàchứa đầy Ca, dự trữ cho quá trình tạo vỏ trứng Khi thức ăn nghèo Ca, chim mái sẽ huy độngđến 40 % Ca từ xương khi đẻ ra 6 quả trứng đầu tiên

b Hệ cơ

Hình 1.9 Sơ đồ hệ cơ chim

1- Cơ ngực nông; 2- Cơ ngực sâu; 3- Cơ đùi; 4- Cơ cẳng chân

1

2 3

4

Trang 33

Ở chim, hệ cơ mịn, sợi nhỏ và chắc Sự phát triển của hệ cơ phụ thuộc vào loài, giống,tuổi của chim Ở các phần khác nhau của cơ thể chim, hệ cơ phát triển ở mức độ khác nhau.

Cơ ngực phát triển tốt theo sự vận động của cánh và bảo vệ các cơ quan bên trong của ngực

và bụng Cơ ngực có ý nghĩa kinh tế quan trọng trong sản xuất thịt, nó chiếm khoảng 17-22 %khối lượng cơ thể và 40 -50 % tổng lượng cơ trong phần thịt ăn được của chim Màu sắc cơcủa chim là màu đỏ sẫm Tốc độ chảy của máu qua cơ quy định màu của nó

Độ lớn của tế bào cơ biến động từ 10-100 mm, chiều dài từ 6-12 cm Các tế bào cơ chứa70-75% là nước, 17-19% protein, 1-7% các hợp chất không chứa nitơ, khoảng 1% chấtkhoáng và 3,9% mỡ

Ở đà điểu, khối cơ vùng giữa thành bụng gồm có các màng gân của cơ bụng Đà điểukhông có mô cơ dài ở bên cạnh Các sợi cơ chỉ có ở lưng, phần bụng được nâng lên bằng mộtlớp da Như đã nói ở trên, đà điểu không có cơ lườn, thịt của chúng tập trung ở hai đùi nên tỷ

lệ thịt thấp, trung bình chỉ 30-35%

1.2.4 Hệ thần kinh và tập tính

Đà điểu có cặp mắt rất tinh, có thể nhìn được ở khoảng cách 3 km Do có chiếc cổnghểnh cao và cặp mắt rộng (mỗi con ngươi nặng khoảng 60 g) nên chúng có thể quan sátđược tầm xa và rộng Vì lý do này, trong tự nhiên ta có thể thấy các loài động vật khác nhưlinh dương và ngựa vằn thường đi cùng với đà điểu - ở đó chúng được an toàn hơn nhờ sự báođộng của đà điểu khi có kẻ thù đe dọa Cần lưu ý rằng, “màng nitric” bao bọc con ngươi vàtrong điều kiện thời tiết xấu với sự trợ giúp của lông mi dày và dài sẽ bảo vệ hữu hiệu đượcmắt khỏi bụi và cát Thính giác của đà điểu rất phát triển Lỗ tai rộng có thể phát hiện thậmchí những âm thanh nhỏ nhất và vì thế hỗ trợ được cho hệ thống tự vệ Thị và thính giác pháttriển bao nhiêu thì khứu giác và vị giác của đà điểu lại phát triển kém bấy nhiêu

Hệ thần kinh của đà điểu không có đặc điểm gì nổi bật Qua nghiên cứu nhiều tập tính bấtthường, người ta có thể kết luận: đà điểu không phải là loài vật thông minh

Mặc dù các loài chim có thể nằm nghỉ trên xương ức cả ngày nhưng nếu đà điểu chỉnằm nghiêng một bên trong một giờ cũng có thể dẫn tới bị liệt dây thần kinh gần xương máchoặc gây ra chứng phù nề Do đó cần phải đệm lót nền đủ êm cho đà điểu khi trưởng thànhbằng loại đệm không khí hoặc đệm bọt xốp

Một vài tập tính của đà điểu: trong tự nhiên, đà điểu dành hầu hết thời gian trong ngàytìm thức ăn, mỗi ngày chúng có thể đi đến 40 km Đà điểu tại vùng đồng cỏ Châu Phi hoặcbán sa mạc rộng lớn chủ yếu sống bằng những loài thực vật cằn cỗi Chúng ăn hạt, quả, lá và

rễ cây Chúng sẵn sàng ăn cả quả vả và cỏ sa mạc Ngoài thức ăn thực vật ra thì côn trùngcũng như ấu trùng, ốc, thằn lằn và thậm chí cả trứng của các loài khác cũng là món ăn hấp dẫnđối với chúng

1.2.5 Hệ Hô hấp

Loài chim có nhu cầu oxy cao hơn rất nhiều so với động vật có vú, do đó chúng có bộmáy hô hấp rất đặc biệt, đảm bảo cường độ trao đổi khí cao trong quá trình hô hấp Cơ hoànhkhông phát triểm, hai lá phổi nhỏ, đàn hồi kém, lại nằm kẹp vào các xương sườn nên hệ hôhấp được bổ sung thêm hệ thống túi khí Túi khí có cấu trúc túi kín (giống như bóng bay) cómàng mỏng do thành các phế quản chính và phế quản nhánh phình ra mà thành Theo chứcnăng, các túi khí được chia thành túi khí hít vào (chứa đầy khí hít vào) và túi khí thở ra (chứađầy khí thở ra) Chim có 9 túi khí, gồm 4 cặp nằm đối xứng nhau và một túi lẻ

Các cặp túi hít vào gồm cặp bụng và cặp ngực phía sau Các túi khí to nhất là những phầntiếp theo của các phế quản chính Túi bên phải lớn hơn túi bên trái Cả hai túi có bọc tịt (túi

Trang 34

thừa) kéo vào tới xương đùi, xương chậu và xương thắt lưng - xương cùng, có thể nối cả vớicác xoang của những xương này.

Túi khí ngực sau nằm ở phần sau xoang ngực và kéo dài tới gan

Túi khí ngực trước nằm ở phần bên của xoang ngực, dưới phổi và kéo dài tới xương sườncuối cùng

Cặp túi khí cổ kéo dài dọc theo cổ tới đốt sống cổ thứ 3 - 4, nằm trên khí quản và thựcquản Theo đường đi, các túi khí này tạo ra thêm các bọc, toả vào các đốt sống cổ, ngực vàxương sườn Túi khí lẻ giữa xương đòn nối với các túi khí cổ Nhờ hai ống túi này nối với hai

lá phổi và có ba cặp túi thừa, một cặp đi vào hai xương vai, cặp thứ hai đi vào khoảng trốnggiữa xương quạ và xương sống, cặp thứ ba vào giữa các cơ và vai ngực Phần giữa lẻ của túigiữa xương đòn nằm giữa xương ngực và tim

Dung tích tất cả các túi khí lớn hơn thể tích của phổi 10 - 12 lần Các túi khí còn có vaitrò trong việc điều hoà nhiệt của cơ thể, bảo vệ cơ thể khỏi bị quá nóng hoặc quá lạnh Nếutách hệ thống túi khí khỏi quá trình hô hấp của chim thì khi cơ làm việc nhiều, thân nhiệt sẽtăng lên quá mức bình thường

Nằm giữa các cơ quan bên trong và dưới da, các túi khí đồng thời làm giảm khối lượng

cơ thể chim Thêm nữa, sự phế hoá các xương cũng có ý nghĩa về mặt này

Nhịp thở trung bình của đà điểu trưởng thành trong điều kiện nhiệt độ ôn hoà giaođộng từ 6 - 12 lần/phút nhưng trong điều kiện thời tiết cực nóng có thể tăng lên thậm chí 5lần Mặc dù nhiệt độ bình thường đo trong lỗ huyệt lên đến 38 - 400C nhưng trong trường hợpthân nhiệt cao có thể tăng lên 460C

Trang 35

Hình 1.10 Sơ đồ bộ máy hô hấp của chim

1- Túi giữa xương đòn; 2 - Lối vào xương vai; 3 - Túi cổ; 4 - Túi ngực trước; 5 -Túi ngực sau; 6- Túi bụng; 7 - Phổi; 8 - Phế

quản chính; 9 - Phế quản ngoài của túi bụng; 10 - Phế quản túi ngực sau; 11 - Phế quản túi bụng;

Chim hô hấp kép, đó là các đặc điểm điển hình của cơ quan hô hấp Khi hít vào, không khí bênngoài qua mũi để vào phổi, sau đó vào các túi khí bụng (túi khí hít vào), trong quá trình đó, diễn ra quátrình trao đổi khí lần thứ nhất Khi thở ra, không khí từ các túi khí bụng và ngực sau, bị ép và đẩy raqua phổi, trong quá trình đó, diễn ra quá trình trao đổi khí lần thứ hai

Nồng độ khí cacbonic ở không khí thở ra của chim tương đối lớn, từ 4,0-4,2%

Tần số hô hấp ở chim phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loài, giới tính, độ tuổi, khả năng sảnxuất, trạng thái sinh lý, điều kiện nuôi dưỡng và môi trường (nhiệt độ, độ ẩm, thành phần khítrong không khí, áp suất khí quyển ) Tần số hô hấp thay đổi trong ngày và đặc biệt trongcác trạng thái bệnh lý khác nhau của cơ thể

Dung tích thở của phổi chim được bổ sung bằng dung tích các túi khí, cùng với phổi, tạonên hệ thống hô hấp thống nhất Dung tích thở của phổi và các túi khí được tính bằng tổng thểtích không khí hô hấp, bổ sung và dự trữ Thể tích khí bổ sung và dự trữ của chim trong thực

tế không đo được Không xác định được cả thể tích không khí lưu lại

Đặc điểm của hệ hô hấp đà điểu: hệ hô hấp bắt đầu từ hai lỗ mũi tới thanh quản Thanh

quản kéo dài xuống khí quản, nơi được chia thành 2 cuống phổi tại điểm đầu tiên nối với cổ

Trang 36

Thanh quản của tất cả các loài chim chạy đều phát triển tốt Tuy nhiên không có các nếp nhăn

để phát ra tiếng nói, không có xương sụn tạo thành nếp thanh quản, nhưng lại có các sụnphễu, sụn dạng nhẫn và tuyến giáp

Đà điểu có thể hít thở một cách dễ dàng nhờ thanh hầu to, có thể nhận biết được khichúng há mỏ hoặc kéo lưỡi về phía trước (đường kính ống khí quản 18 mm sẽ phù hợp choviệc hô hấp của đà điểu trưởng thành)

Khí quản của đà điểu gồm các vòng sụn rất linh hoạt, có thể kéo dài để tạo ra một cáivòng tròn nhỏ hoặc thành hình elip Các vòng sụn khí quản chạy dài tới cuống phổi nhưngkhông nằm ở chính giữa Đà điểu có màng phế giống như màng phế của chim công

Phổi được bám chặt vào quanh khung xương lưng ngả về phía bụng Về mặt giải phẫunói chung, túi khí của đà điểu rất giống như các loài chim biết bay khác Mặc dù phổi đà điểutương đối nhỏ so với phổi của các loài động vật có vú, nhưng nó lại trao đổi khí hiệu quả hơn

Hệ thống mạch máu hoạt động trong phổi đà điểu nhỏ hơn 1/3 toàn bộ hệ thống mạch máutrong phổi của loài động vật có vú nhỏ nhất Không khí và máu được lưu thông bắt đầu từ gócbên phải sang các góc trong mạng lưới mạch máu mắt cáo Và kết quả là bề mặt trao đổi khítrên phổi đà điểu rộng hơn mười lần bề mặt trao đổi khí của các động vật có vú khác

Tốc độ hô hấp ở một con đà điểu trưởng thành trong điều kiện nhiệt độ môi trường ônhoà thay đổi từ 6 – 12 lần thở/phút Nếu chúng bị nhốt trong môi trường nhiệt độ cao thì nhịpthở có thể tăng lên tới 40 – 60 lần/phút Đà điểu trưởng thành có thể duy trì nhiệt độ cơ thể ở

38 – 400C (trung bình là 39,10C) thậm chí cả khi nhiệt độ xung quanh lên tới 560C Nhiệt độ

cơ thể được duy trì bằng cách bốc hơi nước từ khí quản, từ các túi khí và khu vực ngoài cổhọng để làm mát

Trao đổi khí giữa không khí và máu chim bằng phương thức khuếch tán, quá trình nàyphụ thuộc vào áp suất riêng phần của các khí có trong không khí và trong máu chim

Trong khí quyển hoặc trong những chuồng nuôi thông thoáng tốt thường có: oxi 20,94%;

CO2 0,03%; nitơ và các khí trơ khác (acgon, heli, neon ) là 79,93% Trong không khí thở racủa chim có 13,5 - 14,5% oxi và 5 - 6,5 % cacbonic

Trong chăn nuôi chim, việc tạo cho chuồng nuôi có độ thông thoáng lớn, tốc độ gió lưuthông hợp lý nhằm cung cấp khí sạch, loại thải khí độc (CO2 , H2S…), bụi ra khỏi chuồng cómột ý nghĩa vô cùng to lớn

1.2.6 Hệ tiêu hoá

Chim có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú Cường độ tiêu hoámạnh ở chim được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở chim non, tốc độnày là 30 - 39 cm trong 1 giờ; ở chim lớn hơn là 32 - 40cm và ở chim trưởng thành là 40 - 42cm.Chiều dài của ống tiêu hoá chim không lớn, thời gian mà khối thức ăn được giữ lại trong đó khôngvượt quá 2 - 4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác, do đó, để quá trình tiêu hoá thức ăn diễn

ra thuận lợi và có hiệu quả cao, thức ăn cần phải phù hợp với tuổi và trạng thái sinh lý, được chế biếnthích hợp, đồng thời có hàm lượng xơ ở mức ít nhất

Trang 37

Hình 1.11 Sơ đồ hệ tiêu hoá của chim

1 - Thực quản; 2 -Diều; 3 -Dạ dày tuyến; 4 - Dạ dày cơ; 5 - Lá lách; 6 - Túi mật; 7 - Gan; 8 - ống mật; 9 - Tuyến tuỵ;

10 - Ruột hồi manh tràng; 11 - Ruột non; 12 - Ruột thừa (manh tràng); 13 - Ruột già; 14 - Ổ nhớp

a Tiêu hoá ở miệng

Chim lấy thức ăn bằng mỏ Hình dáng và độ lớn của mỏ ở các loài gia cầm rất khác nhau.Chim bồ câu, chim cút có mỏ ngắn, nhọn và cứng, hơi cong Lưỡi gia cầm nằm ở đáy khoangmiệng, có hình dạng và kích thước tương ứng với mỏ Bề mặt phía trên của lưỡi có những gairất nhỏ hoá sừng hướng về cổ họng, có tác dụng giữ khối thức ăn trong miệng và đẩy chúng

về phía thực quản Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra sự tiếp nhận thức ăn Chim thựchiện mổ và nuốt thức ăn nhờ các động tác nâng lên, hạ xuống linh hoạt của đầu Số lượngthức ăn mà chim ăn được trong 1 đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn,loài và tuổi của chim Khi đói, nó mổ nhanh và ăn nhiều Chim tiếp nhận thức ăn lỏng vànước bằng cách nâng đầu rất nhanh rồi ngửa cổ lên để nuốt Riêng chim bồ câu uống nướcbằng cách thả mỏ, hút nước vào nhờ áp lực âm trong xoang miệng

Việc điều khiển lượng thức ăn ở chim được thực hiện bởi các trung tâm thần kinh củavùng dưới đồi thị Các trung tâm này bị kích thích hoặc ức chế do ảnh hưởng của các yếu tốngoại sinh (thành phần và tính chất của thức ăn, tần số và thời gian cho ăn) và nội sinh (mức

độ của các quá trình trao đổi chất)

Chim bồ câu thường ăn trực tiếp các loại hạt đỗ, ngũ cốc và rất thích ăn các loại hạt

có màu Khi trộn thức ăn hỗn hợp và các hạt có màu như ngô, đỗ thì bao giờ chim cũng chọn

ăn hạt có màu trước Trong hỗn hợp thức ăn có cám viên, ngô hạt, đỗ xanh thì chim chọn ănhạt đỗ xanh trước tiên sau đó đến ngô và sau cùng mới đến cám viên

Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ nuốt Các tuyếnnước bọt của chim phát triển kém Động tác nuốt ở chim được thực hiện nhờ chuyển động rấtnhanh của lưỡi, khi đó thức ăn được chuyển rất nhanh vào vùng trên của hầu vào thực quản.Thanh quản được nâng lên phía trước và lên trên, lối vào thanh quản bị ép tới đáy của xươngdưới lưỡi và gốc lưỡi, ngăn không cho thức ăn rơi vào đường hô hấp Viên thức ăn thu nhậnđược ở cuống lưỡi được đẩy vào lỗ thực quản và sau đó, do những co bóp nhu động của thànhthực quản, nó được đẩy vào diều Ở chim đói, thức ăn được đẩy thẳng vào dạ dày, không quadiều Trong thành thực quản có các tuyến nhầy hình ống, tiết ra chất nhầy, cũng có tác dụnglàm ướt và trơn thức ăn khi nuốt

Trang 38

b Tiêu hoá ở diều và “sữa diều” của bồ câu

Ở chim cút và chim bồ câu, diều là một chỗ phình rộng hơn, hình túi Đà điểu không códiều Diều nằm bên phải, chỗ đi vào khoang ngực, ngay trước chạc ba nối liền hai xương đònphải trái Mặt ngoài của diều được tiếp xúc trực tiếp với cơ da, cơ này giúp cho nó giãn nởrộng khi thức ăn rơi vào Các lỗ dẫn vào và dẫn ra của diều rất gần nhau và có các cơ thắt.Giữa các cơ thắt lại có ống diều - là một phần của diều Khi chim đói, thức ăn theo ống này đithẳng vào dạ dày, không qua túi diều nữa

Thức ăn ở diều được làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các men củathức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật

Nếu làm thí nghiệm cắt diều của chim đi, thức ăn đi qua ống tiêu hoá nhanh hơn nhưng

sự tiêu hoá lại giảm đi một cách đáng kể, chim đẻ sút cân Sau một thời gian, cơ thể sẽ lại tạo

ra một cái diều mới, bên trên chỗ diều cũ

Dịch diều – “sữa” của bồ câu non, giai đoạn 1-28 ngày tuổi

Một đặc điểm của bồ câu là khối lượng và tỷ lệ lòng đỏ trứng thấp, khi nở ra, con noncòn rất yếu nên hàng ngày chim bố mẹ phải mớm cho chim non bằng “sữa diều”

Trong lúc ấp trứng, có nhiều biến đổi xảy ra ở cơ thể chim bồ câu bố mẹ, giúp chúngsản xuất ra chất dinh dưỡng cho chim con trong những ngày đầu mới nở: dịch diều hay sữachim bồ câu Dưới tác động của hocmon prolactin, các mạch máu chằng chịt trên thành củabao diều ngày càng dày hơn, tới mức biến thành tuyến ngoại tiết, có thể so sánh với tuyến sữa

ở loài có vú Chiều dày của thành diều có thể tới 1cm và được cấu tạo bởi những mô bào,trong khi đó, ở vào thời điểm bình thường nó chỉ là một màng gần như trong suốt Hocmonnày cũng ngăn cản sự rụng trứng Do vậy, nếu lấy đi những trứng mới đẻ trước lúc chim bố

mẹ ấp thì sau 7 ngày chim mẹ sẽ lại đẻ; còn ngược lại, nếu lấy trứng muộn hơn, khi chim bố

mẹ ấp, có nghĩa là có sự xảy ra của chu trình hocmon thì 10 ngày sau khi lấy trứng đi, chim

Sau khi nuôi con được 10 – 18 ngày, chim mái bắt đầu đẻ lại và tiếp tục ấp những quảtrứng mới đẻ Điều này cho thấy cường độ làm việc của chim trống, mái cũng rất cao Chúngvừa ấp trứng vừa nuôi con đang lớn Hàng ngày khi ăn trưa xong thì chim mái thường đổi chỗcho chim trống vào ấp thay Cả chim trống và chim mái rất cần mẫn, khéo léo phối hợp vớinhau một cách nhịp nhàng trong việc ấp trứng và nuôi con Đây chính là một đặc điểm đángquý của chim bồ câu

Theo J.L.Frindel (1995), quá trình hình thành sữa diễn ra như sau:

Sau khi đẻ xong quả trứng thứ 2 và từ ngày ấp thứ 4, một số phần của diều hình thànhnên các tế bào tiết, làm cho thành diều dày hẳn lên Từ ngày thứ 8 tới ngày 12, hình thành các

“giọt nhỏ chất béo” trong một số lớp tế bào, chúng được tiết vào xoang diều, vài ngày sau đó,chim bồ câu sẵn sàng “mớm” sữa vào mỏ chim bồ câu con mới nở ra

Trang 39

Có hai loại ý kiến khác nhau về “sữa chim bồ câu”: sự bài tiết sữa có thể so sánh với sựtiết sữa ở loài có vú; ý kiến khác cho rằng đây là sự tăng sinh của những tế bào chất béo ởphía bên trong niêm mạc diều; các tế bào này tách rời ra và tạo nên một chất lỏng sền sệt màuvàng nhạt tụ lại ở diều.

Sữa chim bồ câu chứa 14 – 16% protein và 8 – 10% chất béo; ngoài ra còn có chấtkhoáng, vitamin, nhưng không có hoặc rất ít đường Vào ngày thứ 17 – 18, sự tiết sữa đạtmức cao nhất, kéo dài trong 7 – 8 ngày, sau đó bắt đầu giảm

Theo sự phân tích của Bernard Lardeux, thành phần dinh dưỡng sữa chim bồ câu có thểthay đổi theo các tác nhân dưới đây:

- Sự khác nhau giữa các giống chim bồ câu

- Thời gian sau khi nở

- Thức ăn của chim bố mẹ

Thành phần dinh dưỡng sữa diều chim bồ câu

mỡ thô tăng dần theo độ tuổi từ 2,76% ở ngày tuổi đầu tiên đến 4,59% ở ngày tuổi thứ 7 Tỷ lệ khoángtổng số ở các ngày tuổi 1, 3, 5, 7 lần lượt tương ứng là: 1,51%; 1,69%; 2,17% và 2,17%

Thành phần một số axit amin trong dịch diều

Kết quả phân tích hàm lượng một số axit amin có trong thành phần của dịch diều ở cácngày tuổi 1, 3, 5, 7 được trình bày ở bảng 1.9 Các axit amin trong dịch diều đều tăng dần từngày tuổi thứ 5, sau đó giảm dần Như vậy, cùng với sự tăng lên của độ tuổi, sự biến động vềhàm lượng của các axit amin trong dịch diều là không giống nhau

Trang 40

Bảng 1.7 Kết quả phân tích axit của dịch diều bồ câu non

giai đoạn 1-7 ngày tuổi (n=10)

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, viện Chăn nuôi, 1997

Hàm lượng đường hoà tan

Kết quả phân tích hàm lượng đường hoà tan trong thành phần dịch diều được trình bày

ở bảng 1.10

Bảng 1.8 Hàm lượng đường hoà tan trong dịch diều bồ câu non

giai đoạn 1-7 ngày tuổi (n=10)

Nguồn: Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương, viện Chăn nuôi, 1997

Hàm lượng đường sacharoze cao nhất ở ngày tuổi đầu tiên (0,88 mg/ml), sau đó có xu hướnggiảm dần theo ngày tuổi, đến ngày tuổi thứ 7 chỉ còn 0,38 mg/ml Trong khi đó hàm lượng đườngglucoza cao hơn và biến động như sau: cao nhất ở ngày tuổi đầu tiên (1,82 mg/ml), sau đó giảm mạnh

ở ngày tuổi thứ 3, thứ 5 (chỉ còn tương ứng là 1,26 mg/ml và 1,23 mg/ml) Nhưng đến ngày tuổi thứ 7lại có xu hướng tăng lên, đạt 1,76 mg/ml – tuy nhiên chưa đạt bằng giá trị ngày tuổi thứ nhất

Hoạt động của 3 loại enzyme tiêu hoá chính :   amylase, lipaza, proteaza

Trước khi xác định hoạt tính của các enzyme, ta phải xác định hàm lượng protein hoà tan cótrong mẫu do các enzyme có bản chất là protein Kết quả thu được trình bày ở bảng 1.9

Bảng 1.9 Hàm lượng protein hoà tan trong dịch diều bồ câu

giai đoạn 1-28 ngày tuổi (n=10)

Ngày đăng: 22/09/2021, 09:46

w