Nó bao gồm năm thành phần: nền tảng tri thức khoa học công nghệ, các cơ quan nghiên cứu và triển khai, nhân lực khoa học và công nghệ, chính sách khoa học và công nghệ và nền văn hoá côn
Trang 1BÀI 2 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ CÔNG NGHỆ
Hướng dẫn học
Để học tốt bài này,sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia thảo luận trên diễn đàn
Đọc tài liệu:
Giáo trình “Quản lý công nghệ”, Bộ môn Quản lý công nghệ, NXB ĐH Kinh tế Quốc
dân, 2013
Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email
Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học
Nội dung
Công nghệ và sự phát triển kinh tế – xã hội;
Khái niệm về quản lý công nghệ;
Phạm vi quản lý công nghệ;
Hạ tầng cơ sở công nghệ quốc gia
Mục tiêu
Phân tích được vai trò của công nghệ công nghệ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội;
Hiểu được khái niệm quản lý công nghệ ở tầm vĩ mô và vi mô Lý giải tại sao lại phải quản lý công nghệ;
Hiểu được được phạm vi của quản lý công nghệ;
Phân tích được các yếu tố hạ tầng cơ sở công nghệ quốc gia
Trang 2T ình huống dẫn nhập
Giàu tài nguyên mà vẫn thu nhập thấp
Ukrain, một quốc gia ở Đông Âu, đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế rất cao vào cuối thế kỷ
19 và đầu thế kỷ 20 thông qua việc phát triển các các ngành công nghiệp nặng Là một vùng đất giàu khoáng sản chủ yếu là than và sắt, Ukrain đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài Hàng loạt các nhà máy liên hợp từ khai thác đến chế biến, chế tạo đã mọc lên nhanh chóng và kết quả là Ukrain từ một quốc gia trước đó phát triển kinh tế chủ yếu dựa nông nghiệp nhờ đất đai phì nhiêu đã nhanh chóng trở thành một vùng công nghiệp phát triển thuộc diện nhất nhì Châu Âu
Tuy nhiên, vì sự phát triển chủ yếu dựa vào tài nguyên không tái tạo cho nên Ukrain hiện có thu nhập đầu người ở mức thấp của Châu Âu
Nguồn: Tổng hợp từ các nguồn khác nhau của Bộ môn Quản lý công nghệ
1 Tại sao ở thời kỳ công nghiệp hóa ban đầu Ukrain lại đạt được thành tựu một cách nhanh chóng?
2 Tại sao Ukrain lại trở thành một quốc gia có thu nhập thấp?
Trang 32.1 Công nghệ và phát triển kinh tế – xã hội
Công nghệ đóng vai trò chính trong sự tiến hóa và phát triển kinh tế – xã hội của loài
người qua các luận cứ sau đây:
2.1.1.1 Lịch sử tiến hóa và phát triển kinh tế – xã hội của loài người gắn liền với
lịch sử phát triển công nghệ
Nếu học thuyết tiến hóa của loài người là từ vượn người với với trò chủ đạo là lao động đúng thì cần làm rõ hơn lao động như thế nào Hẳn là lao động có sử dụng công
cụ, tức là sử dụng công nghệ, mới thúc đẩy quá trình tiến hóa đó Kế tiếp, quá trình phát triển của xã hội loài người gắn liền với lịch sử tiến bộ công nghệ Hầu hết những bước ngoặt trong lịch sử kinh tế thế giới đều gắn với các sáng chế công nghệ Sự gắn kết về mặt lịch sử còn thể hiện rõ hơn khi tên của các kỷ nguyên của xã hội loài người được gọi theo tên của các lĩnh vực tiến bộ công nghệ và thành tựu công nghệ phục vụ diễn biến của lịch sử loài người Xã hội loài người đã đi qua các kỷ nguyên: đồ đá, đồ đồng, công nghiệp và hiện tại là thông tin Rất có thể, kỷ nguyên tiếp theo của loài người là kỷ nguyên công nghệ sinh học
Thế kỷ 20 đã chứng kiến rõ ràng thành tựu công nghệ phục vụ cho diễn biến lịch sử Lịch sử thế giới của thế kỷ này có hai giai đoạn khác biệt rõ ràng về diễn biến Trước năm 1945 lịch sử là chiến tranh, khi loài người đã trải qua hai cuộc đại chiến: đại chiến thế giới I (1914 – 1918) và đại chiến thế giới II (1939 – 1945) Các công nghệ có thể đã được ấp ủ từ trước nhưng đạt đến đỉnh cao của thành
tựu là do nhu cầu chiến tranh Công nghệ sản xuất tàu
thủy lớn đạt đến đỉnh cao do nhu cầu đóng tuần dương
hãm và tàu sân bay; công nghệ sản xuất máy bay do nhu
cầu nhảy dù và tấn công vào hậu phương của đối
phương; công nghệ sản xuất thép đặc biệt bền nhiệt để
chế tạo nòng súng và thân vỏ xe tăng, không gỉ để làm
công sự ngầm Đặc biệt, có những thành tựu mà ít ai
cho rằng được thúc đẩy bởi nhu cầu chiến tranh, đó là công nghệ chế tạo hợp kim nhôm
để làm đồ bếp quân dụng (nồi niêu, bát đĩa) Trước đấy đồ bếp chủ yếu được chế tạo từ hai vật liệu là đồng và đất, hoàn toàn không phù hợp khi hành quân vì nặng và dễ méo hoặc dễ vỡ Nhôm dưới dạng hợp kim đã khắc phục được hai yếu điểm này
Sau 1945 là thời kỳ phát triển hòa bình của loài người Các thành tựu công nghệ chính
ở giai đoạn này là công nghệ thông tin và giai đoạn đầu của công nghệ sinh học là công nghệ gen và công nghệ di truyền Sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm cho xã hội loại người vận động nhanh hơn; còn sự phát triển của công nghệ sinh học
đã giải phóng được loài người được khỏi mối lo hàng thế kỷ là trái đất không đủ khả năng nuôi sống loài người trong dài hạn
2.1.1.2 Công nghệ cải thiện được các chi tiêu kinh tế – xã hội
Sự phát triển công nghệ làm thay đổi cơ cấu kinh tế của các quốc gia Khi trình độ công nghệ thấp thì tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP chiếm ưu thế; cùng với sự
Trang 4phát triển của công nghệ tỷ trọng của công nghiệp lấn át nông nghiệp và ở giai đoạn phát triển cao hơn thì tỷ trọng của dịch vụ lấn át cả công nghiệp và nông nghiệp Các quốc gia phát triển thuộc nhóm G7 có tỷ trọng của nhóm ngành thứ nhất (bao gồm nông lâm, ngư và khai khoáng) và nhóm ngành thứ hai (bao gồm chế tạo và chế biến) chỉ chiếm đến khoảng 20%, nhóm ngành thứ ba (dịch vụ) chiếm trên 80%) Các quốc gia có trình độ kinh tế xã hội tương đương Việt Nam có tỷ trọng này khoảng 1/3, 1/3 và 1/3
Sự phát triển công nghệ tăng hiệu suất sử dụng tài nguyên thiên nhiên Ở giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hoá, các quốc gia phải khai thác tối đa các nguồn tài nguyên sẵn có (đất đai, rừng, nước ngầm…) để tạo vốn và đào tạo nhân lực Do đó ở giai đoạn này cùng với kết quả của công nghiệp hoá – sự gia tăng số lượng công nghệ
và năng lực công nghệ – là suy giảm các nguồn tài nguyên Tới một trình độ công nghệ nhất định, đất nước vượt qua ngưỡng đói nghèo mức tiêu thụ tài nguyên sẽ cân bằng, sau đó nhờ thành tựu của khoa học và công nghệ hiệu quả sử dụng tài nguyên sẽ tăng lên và một số loại tài nguyên này có thể phục hồi
2.1.1.3 Vị trí của công nghệ trong xã hội đương đại
Sự ra đời của một công nghệ trong thời đại của chúng ta đòi hỏi một quá trình nghiên cứu cơ bản sau đấy là nghiên cứu ứng dụng Công nghệ tạo ra giá trị kinh tế khi được đưa áp dụng vào kinh doanh Như vậy công nghệ đứng giữa khoa học và kinh doanh (hình 2.1)
Hình 2.1 Vị trí trung gian của công nghệ
Ở tầm vi mô, công nghệ quyết định vị thế của doanh nghiệp trên thương trường vì công nghệ nâng cấp độ chất lượng sản phẩm và do đó nâng sức cạnh tranh của doanh nghiệp Ở tầm vĩ mô, trình độ công nghệ có ảnh hưởng đến vị thế của quốc gia trên trường quốc tế
Sự phát triển của công nghệ có tác động tốt và cả tác động xấu đối với cuộc sống của con người Con người tạo ra công nghệ để đáp ứng sự thỏa mãn nhu cầu của mình Sự phát triển của công nghệ tác động đến các nhu cầu của con người như thế nào được trình bày như ở bảng dưới đây Các nhu cầu của con người được liệt kê theo mức độ cao dần
Không Khí Khống chế được nhiệt độ, độ ẩm,
lưu lượng
Phá hủy chu kỳ cân bằng của tự nhiên; Hiệu ứng nhà kính;
Phá hủy tầng ozôn
Khoa học
Trang 5Nước Tìm ra được nguồn mới;
Khống chế được lưu lượng, cột áp,
độ sạch
Phá hủy môi sinh của thủy sinh vật;
Làm lún đất
Công nghệ sau thu hoạch nâng cao chất lượng của sản phẩm
Ô nhiễm nông nghiệp;
Khai thác đất với cường độ quá cao; Phá hủy môi sinh hoang dã
Mẫu và màu đa dạng và thay đổi nhanh
Tạo ra thói quen tiêu dùng hoang phí; Làm cạn kiệt nhanh tài nguyên không tái tạo
Nhà cửa Vật liệu xây dựng có độ bền cao thời
gian đông kết ngắn;
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất
Phá hủy cảnh quan tự nhiên;
Đánh mất bản sắc văn hóa
Sức khỏe Kháng sinh mạnh và đa dạng;
Thiết bị hiện đại;
Dịch vụ chăm sóc kéo dài tuổi thọ
Phản ứng phụ của kháng sinh;
Lạm dụng thuốc và thiết bị;
Bùng nổ dân số
Chiến tranh Tạo ra nhiều sản phẩm mới trong thời
gian ngắn
Tích lũy một lượng phương tiện giết người quá lớn
Giao thông Đi nhanh hơn xa hơn và tiện nghi hơn
trên cả ba phương tiện thủy, bộ và hàng không
Tiếng ồn;
Ô nhiễm;
Tai nạn
Truyền thông Tốc độ truyền càng ngày càng cao;
Chất lượng âm thanh càng ngày càng cao
Lạm dụng thiết bị;
Tội phạm mới
Thông tin Thiết bị lưu giữ có kích thước càng
ngày càng nhỏ dung lượng càng ngày càng lớn;
Tốc độ xử lý càng ngày càng cao
Lạm dụng thiết bị;
Tội phạm mới;
Vi phạm riêng tư
Giáo dục Thiết bị lưu giữ kiến thức có kích thước
càng ngày càng nhỏ dung lượng càng ngày càng lớn
Tốc độ truyền bá kiến thức có tốc độ cao nhờ thiết bị
Hạn chế tư duy sáng tạo;
Học gạo
Làm việc Điều kiện lao động tốt;
Năng suất cao
Mâu thuẫn thu nhập giữa lao động trí tuệ
và lao động cơ bắp;
Thất nghiệp
Trang 6Tổ chức Tổ chức lớn hiệu quả cao Chi phí sự cố lớn;
Khai thác tài nguyên thiên nhiên quá nhanh Năng lượng Tìm ra được nhiều nguồn mới Làm cạn kiệt tài nguyên không tái tạo
Tự do Con người được giải phóng khỏi các
ràng buộc về mặt cơ bắp
Con người chịu thêm các ràng buộc mới
về mặt thần kinh
Xã hội phát triển đòi hỏi chất lượng sống cao, bền vững, hài hoà sinh thái, nhân văn,
sẽ định hướng phát triển công nghệ bằng kinh tế, pháp lý Như vậy các vấn đề công nghệ không thể tách rời yếu tố môi trường xung quanh công nghệ
Cơ sở hạ tầng công nghệ quốc gia là tập hợp các yếu tố hình thành nên bối cảnh dựa vào đấy để quốc gia đó tiến hành các hoạt động phát triển công nghệ Nó bao gồm năm thành phần: nền tảng tri thức khoa học công nghệ, các cơ quan nghiên cứu và triển khai, nhân lực khoa học và công nghệ, chính sách khoa học và công nghệ và nền văn hoá công nghệ quốc gia
2.2.1.1 Tri thức khoa học công nghệ
Nền tảng tri thức khoa học công nghệ là tập hợp các nguyên lý hay là lý thuyết chung nhất về khoa học công nghệ mà đã được con người khám phá ra và tư liệu hóa để sử dụng về sau Để đo lường nền tảng tri thức của một quốc gia trước đây người ta sử dụng tổng số trang in hoặc viết có ở tất cả các thư viện của quốc gia đó Cùng với sự
ra đời của thư viện điện tử thì đơn vị đo lượng kiến thức đã mở rộng thêm bao gồm cả đợn vị đo của bộ nhớ máy vi tính Một phần của tri thức khoa học nằm trong kiến thức của các nhà khoa học và dân chúng
Tri thức khoa học được tích luỹ một cách hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là một hoạt động xã hội hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới
để cải tạo thế giới Nghiên cứu khoa học được phân loại thành nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
Nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu nhằm phát hiện thuộc tính, cấu trúc, động thái các sự vật, tương tác trong nội bộ sự vật với các sự vật khác Sản phẩm của nghiên cứu cơ bản có thể là các khám phá, phát hiện, phát minh, dẫn dến việc hình thành một hệ thống lý thuyết có giá trị tổng quát Chẳng hạn Newton phát minh ra định luật hấp dẫn
vũ trụ, Faraday phát hiện định luật cảm ứng điện từ, Quiry tìm ra cơ chế phản ứng dây chuyền hạt nhân Nghiên cứu ứng dụng là vận dụng quy luật được phát hiện từ nghiên cứu cơ bản để giải thích sự vật, sáng chế những nguyên lý mới về giải pháp và áp dụng chúng vào sản xuất và đời sống Để đưa kết quả nghiên cứu ứng dụng vào sử dụng phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, có tên gọi là triển khai
Trang 7Hình 2.2 Từ khoa học đến công nghệ
2.2.1.2 Vai trò của tri thức khoa học công nghệ
Nhờ áp dụng các thành tựu khoa học thời gian nghiên cứu và triển khai ngày càng rút ngắn Tới lượt mình, công nghệ lại cung cấp những phương tiện thiết bị cho các nhà khoa học để họ rút ngắn thời gian tìm tòi, nghiên cứu của mình (hình 2.3)
Vai trò của tri thức đối với công nghệ có thể thấy rõ ở sự khác nhau giữa các nước phát triển và đang phát triển Các nước phát triển với nền tảng tri thức khoa học sâu rộng là nguyên nhân tạo ra nền công nghệ phát triển, trong khi sự yếu kém của nền công nghệ ở các nước đang phát triển là kết qủa tất yếu của nền khoa học kém phát triển
Hình 2.3 Mối quan hệ cơ hữu giữa khoa học và công nghệ
2.2.2.1 Khái niệm nghiên cứu và triển khai
Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), "nghiên cứu và triển khai là một công việc sáng tạo, được tiến hành một cách có hệ thống nhằm tăng cường cơ sở kiến thức và sử dụng các kiến thức đó để tạo ra các ứng dụng mới."
Nghiên cứu và triển khai (hoặc R&D) bao gồm hai giai đoạn (hình 2.2): giai đoạn nghiên cứu hình thành do nhu cầu thực tiễn hoặc do kết quả của nghiên cứu khoa học
cơ bản Nghiên cứu trong giai đoạn này là nghiên cứu ứng dụng nhằm tạo ra những nguyên lý mới về các giải pháp, do đó một số giải pháp có thể trở thành sáng chế công nghệ Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu ứng dụng chưa thể sử dụng được Để đưa kết quả này vào ứng dụng phải tiến hành một loại hình nghiên cứu khác, đó là triển khai
Công nghệ mới
Xã hội Phương tiện, công cụ
Cung cấp kiến thức Nhà khoa học
Rút ngắn thời gian Nhà công nghệ
Nghiên cứu khoa học cơ bản Nghiên cứu ứng dụng Triển khai Công nghệ
Trang 8Triển khai thực nghiệm dựa vào các nguyên lý, giải pháp của nghiên cứu ứng dụng để đưa ra các hình mẫu với nghiên cứu các tham số khả thi, giai đoạn này gọi là triển khai kỹ thuật, tiếp đó tiến hành nghiên cứu các khả thi khác như về tài chính, kinh tế, môi trường, xã hội… giai đoạn này có thể gọi là marketting Sau đó sản phẩm được giới thiệu ra thị trường
Các cơ quan nghiên cứu và triển khai thường bao gồm các viện nghiên cứu, các trường đại học, các cơ sở hỗ trợ: sản xuất, thử nghiệm, các trung tâm tư liệu, thông tin, các trung tâm tính toán Chúng được coi là một nhà máy đặc biệt, sản xuất một loại sản phẩm đặc biệt, đó là các công nghệ mới
2.2.2.2 Vai trò và các cơ quan nghiên cứu và triển khai
Vai trò này có thể tóm tắt trong các lập luận sau đây:
Công nghệ mới là cơ sở để đổi mới công nghệ Sự
đổi mới công nghệ cho phép tạo ra sự tăng trưởng kinh tế theo hàm số mũ Do đó không có cơ quan nghiên cứu và triển khai và không có hoạt động nghiên cứu và triển khai không thể tạo ra công nghệ mới, khoảng cách kinh tế giữa các nước đã có và chưa có nghiên cứu và triển khai có hiệu quả sẽ tăng theo hàm số mũ
Đối với các nước đang phát triển, việc nhập các công nghệ tiên tiến từ các nước phát triển sẽ có thể thu hẹp khoảng cách công nghệ Tuy nhiên, một nước không
có cơ quan nghiên cứu và triển khai và hoạt động nghiên cứu và triển khai sẽ không có khả năng tự nhận biết các công nghệ hiện có trên thế giới, không thể đánh giá và lựa chọn công nghệ thích hợp với mình, thậm chí không thể tiếp thu
và thích nghi công nghệ đã nhập khẩu
Cơ quan nghiên cứu và triển khai còn có vai trò rất lớn trọng việc tư vấn kiến thức
về công nghệ Các doanh nghiệp nhỏ khi lựa chọn công nghệ thường thiếu sự hiểu biết tổng thể về công nghệ họ rất cần tư vấn từ các cơ quan nghiên cứu và triển khai
2.2.3.1 Khái niệm
Theo nghĩa rộng, nhân lực khoa học và công nghệ bao gồm các nhà khoa học; các kỹ
sư và các nhân viên kỹ thuật trong các cơ quan nghiên cứu và triển khai trong các tổ chức cơ sở; các nhà doanh nghiệp; các nhà hoạch định chính sách khoa học và công nghệ Cụ thể hơn thì nhân lực khoa học và công nghệ của một quốc gia là tập hợp những người được đào tạo và thợ có tay nghề cao làm việc trong lĩnh vực phát triển khoa học và công nghệ
2.2.3.2 Vai trò của nhân lực khoa học và công nghệ
Vai trò chính của nhân lực khoa học và công nghệ là tạo ra sáng chế công nghệ, đưa ra chiến lược, chính sách và kế hoạch phát triển công nghệ
Trang 9Các nước phát triển Các nước đang phát triển Các nhà sáng chế và đổi mới
Các kỹ sư và các nhà quản lý
Các kỹ thuật viên
Công nhân lành nghề
Hình 2.4 Cơ cấu nhân lực khoa học và công nghệ
Hình 2.4 biểu thị cơ cấu nhân lực khoa học và công nghệ của nhóm nước phát triển và nhóm nước đang đang phát triển Nó cho thấy vai trò của con người và sự phát triển cân đối ở các nước phát triển giữa nguồn lao động chất xám và nguồn lao động thủ công Trong khi đó có sự mất cân đối trong cơ cấu nhân lực công nghệ ở các nước đang phát triển với số lao động không được đào tạo khá cao (trên 80%)
2.2.3.3 Phát triển nhân lực khoa học và công nghệ ở các nước đang phát triển
Các nước phá triển sau thường chọn một trong hai giải pháp: du học và đào tạo tại chỗ với sự trợ giúp của thầy giáo các từ các nước phát triển hơn Chọn phương pháp nào đi nữa thì cũng có khía cạnh ưu việt và khía cạnh không ưu việt
Du học mang lại kết quả nhanh vì không phải xây dựng cơ sở hạ tầng nhân sự và vật chất cho đạo tạo, có chi phí đạo tạo tính cho từng người thấp nhờ chi phí cố định tính cho một người học thấp hơn, và mở rộng được quan hệ quốc tế Tuy vậy, sự khác biệt giữa môi trường đào tạo và môi trường làm việc và người học xong không quay trở lại
đã đặt các nước phát triển sau vào tình trạng khó khăn Đào tạo tại chỗ khắc phục được hai điểm yếu của du học và thường dễ thích hợp hơn, nhưng chất lượng lại không cao
2.2.4.1 Khái niệm
Chính sách khoa học và công nghệ của một quốc gia là
tổng hợp các nội dung về định hướng, ưu tiên và biện
pháp phát triển khoa học và công nghệ của quốc gia
đó, được thể hiện trong các văn bản pháp quy và
hướng dẫn từ định hướng chiến lược cho đến các khía
cạnh cụ thể của mọi hoạt động kinh tế – xã hội ở tầm
vĩ mô cũng như vi mô nhằm đạt được các mục tiêu
phát triển khoa học và công nghệ và phối hợp các quan hệ trong quá trình phát triển khoa học và công nghệ Nói chung, các quốc gia thường xây dựng chính sách này thành ba cấp: định hướng, kế hoạch và thực hiện
Ở cấp định hướng, hầu hết các nước tập trung các cố vấn cao cấp, các chuyên gia hàng
đầu đưa ra định hướng chiến lược, thứ tự ưu tiên phát triển công nghệ cho toàn bộ các
ngành dựa trên chiến lược phát triển kinh tế – xã hội quốc gia Chính sách cấp kế
hoạch dành cho các bộ ngành Ở đây các chương trình khoa học và công nghệ được
hoạch định theo chỉ dẫn của cấp thứ nhất Việc thực hiện các chương trình diễn ra ở
Trang 10cấp thứ ba – cấp thực hiện Các chuyên gia, cán bộ kỹ thuật ở cơ sở, ở các viện nghiên
cứu và triển khai biến các chương trình thành hiện thực thông qua các đề tài khoa học Một ví dụ về chính sách đòn bẩy để khuyến khích phát triển công nghệ: miễn giảm thuế trên phần đầu tư và tái đầu tư vào nghiên cứu và triển khai; các sản phẩm mới là kết quả của nghiên cứu triển khai trong nước, có hàm lượng nghiên cứu và triển khai cao, miễn thuế ba năm đầu, giảm 50% thuế hai năm tiếp theo
2.2.4.2 Vai trò
Chính sách khoa học và công nghệ liên quan khăng khít với các chính sách của một quốc gia Chính sách khoa học và công nghệ không phải là chính sách chủ chốt nhưng vai trò của nó là ở chỗ, nó là phương thức phân tích kết quả, thúc đẩy và kiểm tra hiệu quả của các chương trình, chính sách trong mọi lĩnh vực
2.2.5.1 Khái niệm
Nền văn hoá công nghệ của một quốc gia là nhận thức của cộng đồng vấn đề công nghệ một cách khoa học và thái độ đối với đổi mới nói chung và đổi mới công nghệ nói riêng Trong một nền văn hóa công nghệ cao dân chúng thường giải quyết ba vấn
đề "làm cái gì", "làm thế nào", và "làm cho ai" dựa trên cơ sở khoa học, không theo kinh nghiệm, duy ý chí…
2.2.5.2 Vai trò
Trong xã hội có nền văn hoá công nghệ cao người dân được tiếp xúc với các thành tựu của công nghệ do đó hiểu rõ vai trò của công nghệ và phát triển công nghệ, họ luôn ủng hộ phát triển công nghệ Xã hội tạo điều kiện cho người dân học hành từ đó kích thích họ luôn tìm tòi, ưa thích sáng tạo, đây là nguồn cung cấp các ý tưởng công nghệ cho xã hội Người dân dễ dàng nắm bắt, hiểu rõ đường lối phát triển công nghệ, ủng
hộ công nghệ nội sinh
2.2.5.3 Xây dựng nền văn hoá công nghệ
Để xây dựng một nền văn hóa công nghệ cao cần tiến hành các công việc sau:
Nâng cao mức phổ cập giáo dục: tiểu học, trung học
Xây dựng nền giáo dục có định hướng khoa học và
công nghệ cho tất cả mọi người chứ không phải chỉ một số người chắc chắn trở thành các nhà khoa học
Sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng
như báo chí, radio, truyền hình Internet đưa tinh thần khoa học đến với đông đảo dân cư Tạo ra một xã hội mà số đông trong cộng đồng (với các nước đang phát triển, đó là lực lượng lao động trong nông nghiệp) tin tưởng ở khoa học, làm theo khoa học, mạnh dạn và ưa thích sử dụng công nghệ mới
Khuyến khích các hoạt động sáng tạo, nâng cao nhận thức của nhân dân về lợi ích của khoa học công nghệ trong đời sống hàng ngày Tạo điều kiện để xã hội đánh giá đúng công lao của các nhà khoa học và công nghệ, khuyến khích, tạo điều kiện