Trong các tác phẩm của mình, Ngô Tất Tố đã chứng minh rằng bọn quan lại địa chủ dần dần chiếm đoạt hết ruộng công điền Bãi nước bọt trên mặt ông tuần phủ, thủ tiêu hết những yếu tố dân c[r]
Trang 1HỌC PHẦN : VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN ĐẠI I
Thời lượng: 03 ĐVHT Ngành : Sư phạm Ngữ văn
A KẾ HOẠCH HỌC TẬP:
1 Mục tiêu học tập học phần: Giúp Sinh viên
- Nắm được một cách cơ bản vị trí, quy trình phát triển đặc điểm lịch sử văn học Việt Nam thời kì đầu TK XX đến CM T8 - 1945 Nắm vững những thành tựu chủ yếu, các tác giả, tác phẩm tiêu biểu, trào lưu, bộ phận văn học chính.
- Kĩ năng đọc hiểu, giảng dạy các TPVH của các tác giả và TPVH ở THCS chương trình VHVNHĐ1
- Tích cực học tập và phát huy tính chủ động trong việc soạn giảng các nội dung liên quan tới học phần vào thực hành giảng dạy thực tập tại trường THCS
2 Nội dung và thời lượng học tập:
Thời
Thứ tự tiết
2 Khái quát về văn học Việt Nam từ đầu TK XX đến
2 Khái quát khuynh hướng văn học yêu nước và Cách
Trang 2* Tài liệu tham khảo:
1 Phan Ngọc Thu, Để hiểu thêm về một số tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại.
2 Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942.
3 Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97.
4 Chu Văn Sơn, Ba đỉnh cao thơ Mới, GD, 2006.
5 Trần Đăng Xuyền, Văn học Việt Nam thế kỷ XX, ĐHSPHN, 2004.
6 Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 - 1930), gd, 73.
7 Phan Bội Châu - tác gia và tác phẩm, Nxb GD, 2001.
8 Tuyển tập thơ Xuân Diệu.
9 Tuyển tập các sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan.
Tiết: 01 - 02 Ký duyệt
Bài 1 KHÁI QUÁT VỀ VĂN HỌC VIỆT NAM
TỪ ĐẦU TK XX ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG 8 - 1945
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp Sinh viên nắm được
1 Kiến thức: Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa tư tưởng; Quá trình phát triển,
những đặc điểm cơ bản và Thành tựu chủ yếu của thể loại văn học Việt Nam từ TK
XX - 1945
Trang 32 Kĩ năng: Phân tích, tổng hợp vấn đề về văn học VN từ TK XX - 8/1945.
Đồng thời có khả năng vận dụng tri thức vào việc tìm hiểu sâu hơn vấn đề trong từng tác giả tác phẩm văn học cụ thể
3 Thái độ: Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc Phát huy tính chủ động
trong học tập
B.TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1,
NXBGD, 2006.
* Tài liệu tham khảo:
1 Phan Ngọc Thu, Để hiểu thêm về một số tác giả, tác phẩm Văn học Việt Nam hiện đại.
2 Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942.
3 Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97.
4 Bộ SGK, SGV Ngữ văn THCS (bộ chuẩn), NXB GD
C NỘI DUNG BÀI HỌC
I HOÀN CẢNH LỊCH SỬ - XÃ HỘI VÀ VĂN HÓA, TƯ TƯỞNG
- Tiến hành khai thác xứ Đông Dương giàu có đè bóc lột, vơ vét tài nguyên.
- Thực hiện chính sách kinh tế: bán hàng hóa, khai thác nguyên liệu, cho vay nặng lãi Công nghiệp chỉ được phát triển trong phạm vi cung cấp cho chính quốc những nguyên liệu cần thiết và tập trung phát triển ở đô thị.
+ Độc chiếm mua rẻ nông phẩm (gạo, tơ tằm), bán đất công nghiệp phẩm cho nhân dân.
+ Độc chiếm khai thác mỏ, làm muối, nấu rượu
+ Duy trì bộ máy quan liêu, chính sách thuế phong kiến, chiếm đoạt ruộng đất, tăng cường bóc lột Đẩy nhân dân vào con đường bần cùng
Trang 4- Thực hành chính sách : đặt ra chế độ chính trị ban hành luật pháp khác nhau giữa ba kì, để tránh sự thống nhất giữa ba kì khi chúng thực hiện mở rộng giao lưu trao đổi hàng hóa
Xã hội Việt Nam chuyển từ xã hội phong kiến sang thuộc địa nửa phong kiến Sự đối lập rõ giữa nông thôn và đô thị nhưng không giống với sự đối lập trong xã hội tư sản (sản xuất >< tiêu thụ, truyền thống >< hiện đại, nông dân ><
quyền quý )
Từ 1940, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân lại chịu thêm tầng
bức Đặc biệt sau chiến tranh thế giới thứ II xảy, Pháp và Nhật lại càng ra sức vơ vét dẫn đến nạn đói khủng khiếp năm 1945
Trong nước, các cuộc khởi nghĩa tiếp tục nổ ra nhưng theo hướng mới Đó là việc thành lập những tổ chức đầu tiên lãnh đạo: sự ra đời của Đảng CSVN 1930.
Đến năm 1945 cách mạng tháng 8 thành công đưa nước ta sang trang mới: chấm dứt chế độ thực dân, lật nhào ngai vàng phong kiến trên đất nước ta
2 Về văn hóa, tư tưởng
- Bãi bỏ khoa thi Hán học, thay đổi hệ thống giáo dục, đưa văn hóa phương Tây vào đời sống Báo chí và nghề xuất bản phát triển mạnh Chữ quốc ngữ dần thay
thế chữ Hán và chữ Nôm Phong trào dịch thuật phát triển Lớp trí thức Tây học thay thế lớp trí thức Nho học và đóng vai trò trung tâm trong đời sống văn hoá thời kì này.
- Hệ tư tưởng Nho giáo mất dần địa vị thống trị mà thay vào đó là hệ tư tưởng
tư sản phương Tây du nhập vào nước ta Đó là điều kiện để hệ tư tưởng vô sản với nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê nin được truyền bá rộng dẫn đến sự ra đời của Đảng Cộng sản ở Việt Nam Làm cho nền văn hoá phát triển theo chiều hướng tiến bộ
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN
1 Từ đầu TK XX - 1930: Đây là giai đoạn văn học mang tính giao thời
Trang 5Văn học cách mạng sản sinh trong các phong trào yêu nước, được nuôi dưỡng thành phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc Là tiền đề văn học mở rộng cảm hứng, quan điểm
Hạn chế: hình thức thể hiện vẫn chưa thoát khỏi phạm trù văn học trung đại
+ Kịch nói xuất hiện và gây chú ý
+ Dịch thuật phát triển Xuất hiện công trình biên khảo
2 Giai đoạn 1930 - 1945
Hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực đều có sự phát triển mạnh mẽ Các thể loại văn học biến đổi sâu sắc đạt tới tính hiện đại và kết tinh được nhiều tác phẩm đặc sắc, nảy nở nhiều phong cách nghệ thuật
- Văn xuôi phát triển sôi nổi và đa dạng ở cả 2 khuynh hướng hiện thực và lãng mạn.
- Phong trào thơ Mới phát triển tạo cuộc cách mạng trong thi ca.
- Phê bình văn học trở thành ngành hoạt động chuyên biệt và được phát triển khá mạnh mẽ
- Kịch nói mới du nhập đến giai đoạn này cũng khá phát triển
III/ NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VHVN TỪ XX - 1945
1.Văn học đổi mới theo hướng hiện đại hoá.
Khái niệm hiện đại hoá: là quá trình làm cho văn học VN biến đổi thoát
khỏi hệ thống thi pháp văn học TĐ và đổi mới theo hình thức văn học PT, có thể hội nhập với nền văn học hiện đại thế giới.
Biểu hiện trên nhiều phương diện:
- Ý thức nghệ thuật, quan niệm thẩm mĩ và quan niệm văn chương VHTĐ chưa thoát khỏi hiện tượng văn sử triết bất phân, coi trọng tính giáo huấn đạo lí và là
phương tiện thể hiện khám phá theo quan niệm nho gia VHHĐ là phương tiện tự
Trang 6biểu hiện, khám phá thế giới của nhà văn, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ và nhận thức của công chúng Kích thích sự mở rộng công chúng văn học
- Văn học giải phóng khỏi những quy tắc, luật lệ mang tính quy phạm, đề cao tính cá thể trong sự khám phá và thể hiện con người và thế giới, mở ra khả năng khám phá, biểu hiện bằng nghệ thuật Nó diễn ra trên mọi thể loại: sự ra đời
mau lẹ của thể loại văn xuôi hiện đại bằng tiếng Việt
Ví dụ: Bút pháp nghệ thuật trong VHTĐ thường là Ước lệ, tượng trưng
“ Đầu lòng hai ả tố nga Thuý kiều là chị em là Thuý vân.
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”
( Truyện Kiều - Nguyễn Du )
Trong văn học hiện đại: Bút pháp tả thực
“ Em đẹp lắm khi mày em nhíu lại Cặp mày xanh như rừng biếc chen cây
Em thảnh thơi như buổi sáng đầu ngày
Em mạnh mẽ như buổi chiều giữa hạ”
( Xuân Diệu )
- Xuất hiện những tác giả văn học kiểu mới: tri thức văn học phương Tây.
- Văn tự: chữ quốc ngữ thay thế chữ Hán, Nôm
Quá trình hiện đại hoá: 3 giai đoạn.
- Giai đoạn thứ nhất ( từ đầu TK XX đến khoảng năm 1920)
Đây là giai đoạn mở đầu và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho công
cuộc hiện đại hoá văn học.
Chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi.
Báo chí và phong trào dịch thuật phát triển khá rầm rộ, thúc đẩy sự
hình thành phát triển của nền văn xuôi chữ quốc ngữ (điểm khác vơi VHTĐ)
Truyện kí (những cây bút Nam Bộ) Thành tựu chủ yếu của giai đoạn này là thơ của các chí sĩ cách mạng:
Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng
Nhìn chung, văn học ở giai đoạn này chỉ mới đổi mới về nội dung tư tưởng, chứ chưa đổi mới về hình thức nghệ thuật.
- Giai đoạn thứ hai (từ 1920 đến 1930)
Trang 7Giai đoạn quá độ trong quá trình hiện đại hóa văn học
Tiểu thuyết có những thành tựu đáng kể Các tác giả, tác phẩm có giá
trị như: tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách.
Bộ phận truyện kí của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp đã góp
phần đáng kể vào quá trình hiện đại hoá văn học trong nước.
Nhìn chung, giai đoạn này báo hiệu một cuộc cách mạng mới trong văn học Tuy nhiên nhiều yếu tố của văn học trung đại vẫn còn tồn tại từ nội
dung đến hình thức
- Giai đoạn thứ ba ( từ 1930 đến 1945)
Quá trình hiện đại hoá văn học đã được hoàn tất với những cuộc cách tân sâu sắc trên mọi thể loại, nhất là tiểu thuyết, truyện ngắn và thơ.
Văn xuôi được viết theo lối mới từ cách xây dựng nhân vật đến nghệ thuật kể
chuyện và ngôn ngữ nghệ thuật với các tác giả tiêu biểu như: Vũ Trọng Phụng, NgôTất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Tuân, nhóm Tự lựcvăn đoàn,…(Tự lực văn đoàn)
Thơ ca đổi mới sâu sắc với phong trào thơ mới, đưa lại một “cuộc cách mạng
trong thơ ca” cùng với những tên tuổi sáng chói và phong cách riêng biệt như Thế
Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên
Những thể loại mới như Phóng sự, phê bình văn học…cũng góp phần khẳng
định sự đổi mới toàn diện của văn học
Đây là giai đoạn bùng nổ các trào lưu văn học Công cuộc hiện đại hoá đã diễn ra trên mọi mặt của đời sống văn học, làm biến đổi toàn diện nền văn học nước nhà
2 Văn học phát triển với một nhịp độ khẩn trương, mau lẹ
Nguyên nhân: do sự thúc bách của yêu cầu thời đại, sự vận động tự thân của
nền văn học, sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân, viết văn trở thành nghề kiếm sống
Biểu hiện:
Số lượng tác giả và tác phẩm Riêng trong Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh
-Hoài Chân tuyển chọn 169 bài thơ với 45 nhà thơ hay đặc sắc.
Thành tựu (chất lượng) nghệ thuật: có cả ở văn xuôi và thơ ca Tiểu thuyết
của Tự lực văn đoàn Thơ ca xuất hiện “thi san” (núi thơ) trên văn đàn.
Cách tân văn học: cả ở văn xuôi và thơ ca đều có đổi mới
Trang 8Vũ Ngọc Phan: “Ở nước ta, một năm có thể kể như ba mươi năm của người”
3 Sự phân hóa phức tạp thành nhiều khuynh hướng văn học
Văn học hình thành hai bộ phận và phân hoá thành nhiều khuynh hướng vừa đấu tranh với nhau vừa bổ sung cho nhau để cùng phát triển.
a Bộ phận công khai (hợp pháp): chia thành 2 khuynh hướng chính:
* Thứ nhất: Khuynh hướng lãng mạn chủ nghĩa:
Biểu hiện trực tiếp cái tôi trữ tình tràn đầy cảm xúc, đề cập tới cái tôi cá nhân.
Thể hiện những quan hệ riêng tư trong cuộc sống (khát vọng sống, khát vọng tình yêu VD: bàithơ Vội vàng của Xuân Diệu, Tương tư của Nguyễn Bính ), những cái bất hòa, bất lực trướcmôi trường xã hội tầm thường giả dối (Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân)
Đề tài: tình yêu, thiên nhiên, quá khứ
H/chế: ít gắn với đời sống xã hội chính trị
* Thứ hai: Khuynh hướng hiện thực chủ nghĩa:
Phản ánh hiện thực với tinh thần phê phán xã hội thực dân phong kiến lúc
bấy giời: thực trạng bất công, thối nát của xã hội đương thời, phản ánh tình cảnh khốn khổ của các tầng lớp nhân dân bị áp bức bóc lột với một thái độ cảm thông sâu sắc
Tiêu biểu: Nam Cao, NCH, Nguyên Hồng, Tô Hoài, VTP, NTT
Hạn chế: ít có điều kiện đầu tư, gia công về nghệ thuật, chủ yếu là tác phẩm ngắn, phổ biến là thơ ca
Hai bộ phận văn học này có sự tác động qua lại lẫn nhau; làm cho văn học phát triển không ngừng.
IV THÀNH TỰU CHỦ YẾU CỦA CÁC THỂ LOẠI VĂN HỌC
1 Các thể loại văn xuôi
Trang 9Cuối TK XIX, xuất hiện những tác phẩm văn xuôi chữ quốc ngữ đầu tiên qua tácphẩm Thầy Lazalo Phiền của Nguyễn Trọng Quản Đến TK XX trở thành trào lưu sáng tácvăn xuôi chữ quốc ngữ ở Nam Bộ với việc đưa vào những yếu tố mới: hình ảnh, sự viêccon người của cuộc sống Nam Bộ Những tác phẩm ghi lại thành công của công cuộc hiệnđại hóa này: Truyện ngắn cua Phạm Duy Tốn, Tố Tâm - Hoàng Ngọc Phách
Tiểu thuyết: Phát triển mạnh ở Nam Bộ với tên tuổi tiêu biểu: Hồ Biểu Chánh.
VHTĐ nhiều khi vay mượn đề tài cốt truyện của VH nước ngoài, nhân vật phân theo loại thiện ác, kết cấu hay kể theo trình tự thời gian, cái nào có trước kể trước ảnh hưởng VHDG Còn VHHĐ có thay đổi: Hầu như không còn sự vay mượn mà là sáng tạo, phá vỡ kết cấu, nhân vật đi sâu vào miêu tả đời sống nội tâm của nhân vật
Truyện ngắn: phát triển phong phú, đổi mới nhanh chóng và hình thành nhiều
phong cách Thạch Lam phong cách trữ tình, Nam Cao phong cách hiện thực Đi sâu vào khía cạnh đời sống làm truyện dễ đến gần công chúng.
Phóng sự: là thể mới phát triển cùng với báo chí, đáp ứng yêu cầu tìm hiểu và
phát hiện sự thật đời sống xã hội công chúng Vũ Trọng Phụng được coi là ông vua phóng sự đất Bắc
Tùy bút hiện đại coi trọng sự thể hiện cái tôi của chủ thể tác giả nên thường
đậm chất trữ tình Nguyễn Tuân là cây tùy bút tiêu biểu.
3 Thơ ca
Tuy có phần phát triển chậm hơn văn xuôi, nhưng đến năm 30 thơ bùng nổ rất sôi động với phong trào Thơ mới Nó đã đem tới sự biến đổi sâu sắc và toàn diện cho thơ Việt Nam, báo hiệu sự thức tỉnh ý thức cá nhân của cái tôi trữ tình kiểu mới Bộc
lộ nhu cầu giải phóng tình cảm tạo giọng điệu đa dạng sôi nổi, thể thơ tự do hóa
4 Kịch
Được du nhập và phát triển với ảnh hưởng sân khấu phương Tâu Ban đầu là phỏng dịch sau đó biểu diễn chủ yếu là kịch cổ điển Một số tác giả tiêu biểu thời này như Vũ Đình Long, Nam Xương đã dùng thể loại hoàn toàn mới mẻ này để phản ánh hiện thực xã hội đương thời Đời sống của các gia đình phong kiến bị phá sản, sự hư hỏng của con người trong xã hội tư sản, hiện tượng lai căng mất gốc Tuy nhiên, mọi vấn đề được các ông đưa lên sân khấu để bóc trần sự thật, để phê phán hay đả kích đều xuất phát từ lập trường đạo lí, nhằm củng cố nền luân lí cổ
Trang 10truyền của dân tộc Cho nên, chưa thể xem nội dung đó là hoàn toàn mới lạ mà những vấn đề hãy còn xưa cũ ấy được thể hiện trong một hình thức rất mới.
5 Phê bình văn học
Trong những năm đầu, lĩnh vực này chủ yếu tập trung vào biên khảo, giới thiệu các quan niệm và thể loại văn học phương Tây Sau đs thì đã xuất hiện những công trình phê bình văn học và cây bút chuyên viết về phê bình
D HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1 Văn học Việt Nam từ TK XX - 1945 đã phát triển trong hoàn cảnh lịch sử xã hội văn hóa tư tưởng nào?
2 Nêu những giai đoạn phát triển của VHVN từ TK XX - 1945.
3 Những đặc điểm cơ bản và thành tựu thể loại của VHVN TK XX - 1945 (1 - 1)
4 Chuẩn bị bài Khái quát khuynh hướng văn học yêu nước và Cách mạng từ đầu TK XX - 1945.
Tiết: 03 - 04 Ký duyệt
Bài 2 KHÁI QUÁT KHUYNH HƯỚNG VĂN HỌC YÊU NƯỚC
VÀ CÁCH MẠNG TỪ ĐẦU TK XX - 1945
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp Sinh viên nắm được
1 Kiến thức: Cơ sở xã hội, tư tưởng tác động tới khuynh hướng văn học yêu
nước và cách mạng từ đầu TK XX - 1945 Đồng thời nắm được các chặng đường phát triển, những hiện tượng tác giả tiêu biểu, những đặc điểm cơ bản của khuynh hướng văn học yêu nước và cách mạng
2 Kĩ năng: Phân tích, tổng hợp, đánh giá và so sánh khuynh hướng văn học
yêu nước cách mạng với các khuynh hướng văn học khác.
Trang 113 Thái độ: Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc Phát huy tính chủ động
trong học tập và có ý thức vận dụng tri thức vào học tập các phần tác giả.
B.TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1
* Tài liệu tham khảo:
1 Thơ văn yêu nước và cách mạng đầu thế kỷ XX (1900 - 1930), gd, 73.
2 Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97.
C NỘI DUNG BÀI HỌC
I CƠ SỞ XÃ HỘI, TƯ TƯỞNG
1 Cơ sở xã hội
Sau khi thực dân Pháp yên tâm đặt ách cai trị lên toàn cõi Việt Nam và tiến hành khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam chuyển sang chế độ thực dân, nửa phong kiến
Với những chính sách thuế khóa nặng nề, chèn ép cuộc sống người dân khắp
các nơi nổi lên các phong trào đấu tranh sôi sục dưới sự lãnh đạo của Đảng
Văn chương dù có sự canh tân đổi mới hòa nhập với văn hóa phương Tây nhưng cũng thể hiện sự gắn bó chặt chẽ với tuyên truyền, nghệ thuật với chính trị.
2 Cơ sở tư tưởng
Cơ sở tư tưởng chủ yếu là chủ nghĩa yêu nước
Biểu hiện ở những nội dung sau:
- Ý thức tự cường dân tộc, kêu gọi đoàn kết, đồng tâm chống xâm lược Ở đây dân là gốc.
- Gắn liền với cổ động duy tân Văn thơ thống thiết lòng căm thù, chí cứu nước và tràn đầy tinh thần dân chủ
- Lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm kim chỉ nam cho hành động, nhìn nhận vấn
Vứt bỏ lối văn chương cũ còn xa vời quần chúng, các nhà nho yêu nước thời
kỳ này đã ý thức được độc lập chủ quyền của dân tộc Họ tự gánh vác trách nhiệm
trên vai, hướng tới sự kêu gọi quần chúng nhân dân, hướng tới tinh thần dân chủ trên
Trang 12cả phương diện nội dung lẫn hình thức nghệ thuật Nơi họ thể nghiệm ước vọng là môi trường của Đông Kinh nghĩa thục.
Các tác giả tiêu biểu:
* Nguyễn Thượng Hiền (1868 - 1925):
Là dấu nối giữa hai thế hệ nhà nho giữa hai giai đoạn văn học.
Từ nhỏ Nguyễn Thượng Hiền đã nổi tiếng rất thông minh Năm 1884, khi 17 tuổi, ông
đỗ cử nhân ở khoa thi Hương ở Thanh Hóa Năm 1885, ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịpxướng danh thì Huế thất thủ, ông phải về ở ẩn tại núi Nưa, Thanh Hóa Đến năm 1892, ông rathi Đình và đỗ Hoàng Giáp Thời gian ở Huế, ông cảm nhận tư tưởng tiến bộ của Đại ThếThiên Hạ Luận của nhân sĩ Nguyễn Lộ Trạch, đọc nhiều tân thư Trung Quốc Ông kết giao vớinhiều sĩ phu yêu nước như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng
Như nhà nho kiểu mẫu, ông canh cánh ơn quân thân, nỗi lòng cố quốc Ông cảmthấy dằn vặt mình trước tấm gương trung nghĩa:
Tương phùng mạc thuyết Khai nguyên sự Nam uyển thu phong hận hữu dư
(Gặp đừng kể chuyện khai nguyên nhé Mối hận vườn Nam, ngọn gió thu)
Chứng kiến những biến động của xã hội dưới ách ngoại xâm ông càng bất hợp tácvới kẻ thù là lòng trong sạch không muốn sống chung với bọn hèn hạ:
Tùng bách tự cô trực Yên năng dữ trăn gian”
(Chênh vênh thẳng cứng bách tùng Với hàng lan cỏ đứng cùng được sao?)
(Quy Na Sơn biệt thự)
Không làm được trận mưa rào cứu hạn cho dân thì thành đám mây ung dung bay về núi Ông đi tìm nguồn vui ở thiên nhiên nhưng vẫn không yên lòng Vì thế ông biến thơ
văn thành vũ khí cổ động hô hào duy tân
Sau khi các hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội thất bại, Nguyễn ThượngHiền xuống tóc vào tu ở chùa Thường Tích Quang, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang(Zhejiang) và mất tại đây ngày 28 tháng 12 1925 Thi hài ông được hỏa táng, tro rải xuốngsông Tiền Đường - Trung Quốc
Nguyễn Thượng Hiền - một kẻ sĩ nặng tình với nước non Ông muốn đem cái tâm, cái trí của mình để phụng sự cho đất nước Song ông cũng như nhiều kẻ sĩ, sinh ra không
Trang 13gặp thời nên đành ôm hận mà ngậm ngùi nơi chín suối chứ chưa trở thành nhà cách mạng dân chủ hăng hái như Phan Bội Châu
* Phan Châu Trinh (1872-1926)
Phan Châu Trinh là một tấm gương sáng trong phong trào Duy Tân đầu thế kỷ 20
Ông là một nhà nho yêu nước có nhiều suy nghĩ tiến bộ Có thể xem ông là người có tư tưởng dân chủ sớm nhất trong số các nhà nho yêu nước tiến bộ đầu thế kỉ.
Sinh tại Quảng Nam Thân sinh là một võ quan nhỏ, từng tham gia phong trào CầnVương trong tỉnh Thân phụ ông mất năm ông mới 13 tuổi Bạn cùng học với ông là HuỳnhThúc Kháng (kém ông 4 tuổi) Năm 1902, ông vào học Trường Hậu bổ, sau ra làm Thừa biện
Bộ Lễ Ít lâu sau ông từ quan, hoạt động cứu nước Ông kết giao với nhiều sĩ phu yêu nướcnhư Huỳnh Thúc Kháng và Phan Bội Châu Ông và Phan Bội Châu tâm đắc về nhiệt huyếtcứu nước, nhưng ông không tán thành đường lối của Phan Bội Châu dựa vào Nhật để đấutranh vũ trang chống Pháp Ông cùng các bạn đi khắp Việt Nam cổ vũ đấu tranh và liên kết trí
thức, văn sĩ yêu nước; là người tiêu biểu được tín nhiệm cho ph trào Đông Kinh nghĩa thục
Trong thời gian từ 1902 đế 1905, Phan Chu Trinh có dịp học những tác phẩm có tưtưởng cách mạng của Jean-Jacques Rousseau, Montesquieu, Voltaire Càng tiếp xúc nhiềuvới các quan trường, Phan Chu Trinh càng thấy rõ cảnh thối nát , hủ bại trên đường cửnghiệp Năm 1905, ông xuất dương sang Nhật Bản rồi sang Pháp chủ trương dựa vào Pháp
để tiến hành cải cách, thực hiện tự do dân chủ, lật đổ chế độ phong kiến, làm cho dân giàu,nước mạnh, tiến lên giải phóng dân tộc
Vì thế cho nên có thể thấy rõ Quan điểm sáng tác của ông là:
+ Vậy xin cùng nói lời chính cáo cùng người nước ta rằng: “Không bạo động, bạo
động tất chết! Không trông người nước ngoài, trông người nước ngoài tất ngu! Đồng bào
ta, người nước ta, ai mà ham mến tự do, tôi xin có một vật rất quý báu tặng cho đồng bào,
là “Chi Bằng Học” (Phan Châu Trinh) Không phải ông sợ chét, ươn hèn hay cam chịu mà
thời đó những người đấu tranh võ trang chỉ xuất phát từ nhiệt tình không có suy tính cẩnthận, nhất là với lòng mong ngóng vào đế quốc hổ đói Nhật Bản
+ Coi dân chủ là một nguồn lực Theo ông, tư tưởng dân chủ phải là:
* Khai dân trí: bỏ lối học tầm chương trích cú, mở trường dạy chữ Quốc ngữ, kiếnthức khoa học thực dụng, bài trừ hủ tục xa hoa
* Chấn dân khí: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường, mọi người giác ngộ được quyềnlợi của mình, giải thoát được nọc độc chuyên chế
* Hậu dân sinh: phát triển kinh tế, cho dân khai hoang làm vườn, lập hội buôn, sảnxuất hàng nội hóa
Trang 14Con người ông là người có khí phách, cứng cỏi sẵn sàng hi sinh:
Bi tai quốc thế ngụy hiền phát
Tử nhĩ, nam nhi sĩ khấu đầu (Thế nước đến nguy treo sợi tóc Tài trai thà chết chẳng nghiêng đầu)
(Điếu giải nguyên Nguyễn Hữu Huân, Ngô Đức Kế dịch)
Luy luy già tỏa xuất đô môn Khẳng khái bi ca, thiệt thượng tồn Quốc thổ trầm luân, dân tộc tụy Nam nhi hà sự phạ Côn Lôn?
( Xiềng gông cà kệ biệt đô môn Khẳng khái ngâm nga, lưỡi vẫn còn Đất nước đắm chìm nòi giống mỏn Thân trai nào sự cái Côn Lôn)
(Xuất đô môn)
Ông kịch liệt phản đối thói hám danh lợi, bóc lột, làm ngơ trước nỗi khổ của người
khác Đó là những hạng người : Người mình không đức không tài
Ham quan ham tước, chen vai cúi đầu như đàn ruồi lũ kiến không một chút nhân cách nào; đứa gian giảo thì như ma quỷ, lừa gạt, bóc lột, cái gì mà chẳng dám làm; còn đưa hèn kém thì như lợn như trâu, bị giẫm cổ,
đè đầu cũng không dám ho một tiếng
Đặc biệt, con đường ông chọn là dấn thân tranh đấu nhưng ôn hòa, bất bạo động Đây làđiểm khác biệt với Phan Bội Châu Phan Châu Trinh xem vấn đề dân chủ còn cấp bách hơn độclập và tin rằng có thể dùng luật pháp, cách cai trị có quy củ theo kiểu Âu Mỹ để quét sạch những
hủ bại của phong kiến Với tinh thần yêu nước nồng nhiệt, suốt đời gắn bó với vận mệnh đấtnước, với cuộc sống sôi nổi, gian khổ và thanh bạch, ông xứng đáng để hậu thế ngưỡng mộ
Khi Phan Châu Trinh chết thì Phan Bội Châu viết trong bài văn tế:
“… Ba tấc lưỡi mà gươm mà súng, nhà cường quyền trông gió cũng gai ghê;
Một ngòi lông mà trống mà chiêng, cửa dân chủ khêu đèn thêm sáng chói…
Trước đã giỏi mà sau thêm giỏi nữa, dấu cộng hòa xin ráng sức theo đòi;
Thác còn thiêng thời sống phải thiêng hơn, thang độc lập quyết ra tay vin tới”.
* Phan Bội Châu (1867 - 1940)
Phan Bội Châu là ngôi sao dẫn đường cho cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp Sáng tác của ông biểu hiện vai trò là dấu nối của hai thời đại, hai nền văn học cũ và mới
Trang 15Xuất thân từ một nhà nho, thông thạo lối văn cử tử, được mệnh danh “hay chữ nhất nước Nam” Lại là người có vốn kiến thức về văn học dân gian Khi bước vào hoạt động
chính trị, ông đã sáng tác văn chương để phục vụ cho phong trào cách mạng Đó là những sáng tác có nội dung mới mẻ
Ông viết ở nhiều thể loại văn học và có ảnh hưởng sâu rộng tới cách mạng.
Năm 17 tuổi, Pháp kéo quân ra Bắc kì lần thứ hai, đánh chiếm Hà Nội, ông nửa đêmkhêu đèn thảo hịch Bình Tây Thu Bắc dán ở gốc đa đầu làng kêu gọi mọi người hưởng ứng
2 Văn thơ cách mạng theo ý thức hệ vô sản thời kì 1930 -1945
2.1 Thời kì 1930 -1935: Văn học vô sản có hai hình thái:
* Thơ văn xô Viết Nghệ Tĩnh:
- Đây là hồi trống báo hiệu sự có mặt và phát triển mạnh mẽ của dòng văn học vô sản, là khúc dạo đầu cho khuynh hướng văn học xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
- Sáng tác phổ biến bằng hình thức truyền miệng với khí thế chiến đấu của
lực lượng tri thức mới mẻ
- Nội dung: vạch mặt đế quốc thực dân, phong kiến thống trị, phơi bày cuộc sống đen tối Từ đó hô hào cổ vũ đấu tranh:
Trên gió cả, cờ đào phất thẳng Dưới đất bằng giấy trắng tung bay Giữa thành một trận xông pha Bên kia đạn sắt, bên ta gan vàng
Trang 16Thời kì chịu ảnh hưởng của Mặt trận Việt Minh và nền văn học cách mạng tiến bộ của Liên Xô và Pháp.
Dòng văn học phát triển mạng mẽ phong phú, đa dạng ở nhiều thể loại: Thơ,
văn xuôi, kí
2.3 Thời kì 1940 - 1945
Là thời kì dân chịu một cổ hai tròng, nên văn thơ cách mạng tiếp tục là nguồn
cổ vũ cho quần chúng đấu tranh.
Thơ ca trong thù tiếp tục phản ánh tâm tư, tình cảm, ý chí chiến đấu trong tù Thơ văn thời kì Mặt trận Việt Minh được in ấn rộng khắp phản ánh cuộc sống khổ cực của dân Từ đó khơi gợi lòng căm thù, giáo dục tình đoàn kết
Tổ chức Văn hóa cứu quốc thành lập dưới ánh sáng của Đề cương văn hóa
tập hợp nhiều nghệ sĩ yêu nước tiến bộ: Nguyễn Huy Tưởng, Như Phong
III NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHUYNH HƯỚNG YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG
1 Thể hiện nhiệt tình cứu nước, khát vọng dân chủ, duy tân.
Đó là khát vọng dân chủ mở mang dân trí chấn hưng dân khí.
Là niềm tự hào đất nước, ý thức tự chủ tự cường dân tộc
Kêu gọi mọi người đồng tâm cứu nước.
2 Phản ánh những vấn đề cơ bản, cốt yếu nhất của xã hội Việt Nam, con người Việt Nam trong thời kì lịch sử sôi động.
Nhìn bằng con mắt biện chứng của giai cấp triệt để cách mạng.
Tố cáo xã hội, vạch mặt bè lũ phản động.
Vạch ra con đường giải quyết mâu thuẫn bằng đấu tranh cách mạng
Lực lượng đấu tranh chủ yếu là quần chúng nhân dân do Đảng lãnh đạo.
3 Văn học Cách mạng là tiếng nói mạnh mẽ khỏe khoắn của những tâm hồn rực lửa đấu tranh và vững vàng trước gian nguy thử thách
Lực lượng chủ yếu là nhà nho yêu nước tiến bộ, các chí sĩ cách mạng Mục đích của họ là phản ánh hiện thực điển hình bằng sự động viên cổ vũ.
Thể hiện qua cuộc đấu tranh gay go trong chính bản thân người chiến sĩ cộng sản để giữ vững lòng trung thành với Đảng
4 Văn học vô sản thể hiện niềm tin vững chắc vào tương lai.
Trang 17Thơ ca thường nói nhiều về tương lai bằng vẻ say sưa chín chắn tin vào cách mạng Ví dụ bài Từ ấy - Tố Hữu
Thể hiện sức mạnh chiến đấu tin vào tương lai chắc thắng.
Giúp Sinh viên nắm được
1 Những nét cơ bản về thân thế, sự nghiệp văn chương, nội dung văn thơ yêu nước
và nghệ thuật viết văn của Phan Bội Châu.
2 Nhận xét, đánh giá, phân tích những đóng góp to lớn của Phan Bội Châu cho văn
học nghệ thuật Việt Nam hiện đại
3 Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc Phát huy tính chủ động trong học tập B.TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1
* Tài liệu tham khảo:
1 Phan Bội Châu, tác gia và tác phẩm, Nxb GD, 2001.
2 Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân, Thi nhân Việt Nam 1932 - 1941, xb 1942.
3 Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97.
C NỘI DUNG BÀI HỌC
I/ Tiểu sử, con người và sự nghiệp văn chương
1 Tiểu sử và con người
PHAN BỘI CHÂU
Trang 181.1. Thân thế và thời đại.
Phan Bội Châu tên hiệu là Sào Nam, lúc nhỏ tên là Phan Văn San Sinh tại quê ngoại là làng Sa Nam nay là xã Nam Diên huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An Đến năm 3 tuổi, nhà dời về quê nội thuộc làng Đan Nhiệm nay là xã Nam Hòa, huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An - Đây là mảnh đất có truyền thống cần cù lao động, kiên cường bất khuất đấu tranh chống giặc ngoại xâm, có nhiều di tích lịch sử Nơi đây
đã có tác động lớn đến tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu.
(Dẫn thêm: Hơn 1200 năm trước, Mai Hắc Đế đã chiến đấu và hi sinh trong cuộc chiến
chống quân xâm lược nhà Đường; Phía bắc làng Đan Nhiệm có núi Đại Vạc, Đại Huệ cao chótvót Cách đây 5 thế kỉ, Hồ Quý Ly đã dựng lũy chống quân Minh xâm lược; Ở đây còn cóTruông Hến cheo leo; Năm 1789, anh hùng Nguyễn Huệ đã dừng chân tuyển mộ thêm 5 vạnquân trên đường ra Bắc tiêu diệt hơn 20 vạn quân Thanh; Phía tây nam có thành Lục Niênnằm trên dãy núi Thiên Nhân điệp trùng, từng là căn cứ chỉ huy của Lê Lợi trong những nămbình Ngô ở thế kỉ XV; Trên các cánh đồng và thôn xóm của vùng Sa Nam và vùng ĐanNhiệm, năm 1874 Trần Tấn và Đặng Như Mai đã dựng cờ “ Bình – Tây; hàng ngàn nghĩaquân tập hợp dưới ngọn cờ Cần Vương của Trần Xuân và Vương Thúc Mậu ở Rú Chung)
Phan Văn San nổi tiếng trong nghề văn cử Ngoài lẽ ông thông minh, chăm học thì có lẽ bởi một phần ông xuất thân trong gia đình đã mấy đời “Lấy nghiên làm ruộng, lấy bút làm cày” lấy nghề dạy học chữ Nho để kiếm sống, nên đời sống cóphần khó khăn Thân phụ của Phan Văn San là ông Phan Văn Phổ - một thầy đồ hay chữ.Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Nhàn – người mẹ hiền thục, chịu khó, chịu thương Cả hai đềuquan tâm đến việc học hành, nuôi dạy các con Vì thế nên từ nhỏ Phan Văn San đã nổitiếng thông minh và chăm học
(Dẫn thêm: Bà con xứ Nghệ cho đến nay vẫn truyền lại nhiều mẫu truyện ca ngợi
tài học, tài làm thơ và lẩy Kiều của Phan Văn San Mới 4 tuổi Phan Văn San đã thuộc lòng
nhiều bài thơ chữ Hán trong Kinh Thi do mẹ truyền miệng Lên 5 tuổi đã học xong sách
Tam tự kinh 6 tuổi theo cha đi đến các nơi cha dạy học và nổi tiếng thần đồng từ thưở đó
Năm lên 7 tuổi đã đọc thông kinh truyện, học thuộc sách Luận ngữ và có phóng tác Phan
tiên sinh Luận ngữ chế giễu bạn bè Lúc 8 tuổi đã biết viết những bài văn ngắn và mấy
lần đi thi hạch ở làng, ở phủ, huyện đều đỗ đầu)
Phan Văn San là người con chí hiếu và nghị lực Sinh ra trong một gia đìnhnhà nho nghèo Phan Văn San đã sớm biết chia sẻ cùng cha mẹ, không bao giờ đòi hỏi, yêusách cho riêng mình Năm 1894 thân mẫu qua đời, cha già, bệnh tật, hai đứa em còn nhỏ
Trang 19dại, gia đình lâm vào cảnh khó khăn, túng thiếu Phan Văn San phải đi kiếm sống bằngnghề dạy học Số tiền ít ỏi có được, thầy dùng để nuôi gia đình và giúp các nghĩa sĩ củaphong trào Cần Vương.
Nhưng con đường thi cử làm quan lại không hanh thông Khoa Đinh Dậu 1897
do mang sách vào trường thi nên mắc án hoài hiệp văn tự, bị cấm thi suốt đời.Ông vào Huế
tìm nơi dạy học và tìm cách liên lạc với những người cùng chí hướng làm bài phú “Bái thạch
vi huynh” (Tôn đá làm anh) (vì bài thơ này ông được kinh đô Huế đánh giá là người hay chữ nhất nước Nam, được mọi người vận động nhà vua xóa án) Nên đến năm 1900 ông đã đi thi
và đỗ Giải nguyên - Bảng tên lừng lẫy làng văn
Không những là một thanh niên học giỏi, có hiếu, thầy giáo San còn là một
người rất gần gũi với cuộc sống của nhân dân lao động Điểm đặc sắc nhất ở Phan Văn San là sớm có tinh thần yêu nước, chống Pháp Viết trong Phan Bội Châu niên
biểu: “Lúc tôi sinh ra là lúc Nam Kỳ đã thất thủ 5 năm Tiếng khóc oa oa chào đời như báo trước cho tôi rằng: Mày sẽ là một người dân mất nước” Lớn lên, chứng kiến từng ngày tội ác,
sự tàn bạo của bọn đế quốc, phong kiến, nỗi thống khổ của nhân dân ta Phan Bội Châu đãkhai tâm bằng bài học đầu tiên là căm thù giặc và lấy lòng yêu nước làm ranh giới phân biệtbạn - thù Ý thức về nghĩa vụ của người dân mất nước trỗi dậy sớm trong Phan Văn San Mới
9 tuổi nghe tin Trần Tấn, Đỗ Mai ở Nghệ An, Lê An ở Hà Tĩnh khởi nghĩa chống Pháp, đã tụtập các bạn lấy ống tre làm súng, hạt vải làm đạn chơi trò đánh Tây Năm 17 tuổi ông viết bài
"Hịch Bình Tây Thu Bắc" đem dán ở cây đa đầu làng để hưởng ứng việc Bắc Kì khởi nghĩa
kháng Pháp Năm 19 tuổi (1885) ông cùng Trần Văn Lương lập nghĩa quân Cần Vương chốngPháp nhưng không thành Trong 5 năm sau khi đỗ Giải nguyên, ông bôn ba khắp nước ViệtNam liên kết với các nhà yêu nước như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp,Nguyễn Thượng Hiền, Đặng Thái Thân để cùng chống Pháp Ông chọn Kỳ Ngoại HầuCường Để - một người thuộc dòng dõi nhà Nguyễn - làm lãnh tụ phong trào Cần Vương và đãthành lập phong trào Duy Tân Hội (1904) - chủ trương tôn quân và bạo động đánh đổ đô hộPháp để khôi phục nền độc lập và khởi xướng phong trào Đông Du (1905) - vận động ngườitrong nước xuất dương qua Trung Hoa, Nhật Bản du học để thâu nhận kiến thức mới của nướcngoài về giúp nước nhà Năm 1908 (thời kì đắc ý nhất), nhận được sự giúp đỡ vào trường họcNhật Ban, ông không ngừng sáng tác vừa để giới thiệu cách mạng Việt Nam mà con gửi vènước cùng phối hợp hành động, chung tay giúp cho lưu học sinh ăn học Khi Nhật bắt tay vớiPháp ông bị trục xuất thì chạy sang Trung Quốc (thời kì buồn bã nhất) lưu vong Năm 1910,ông phải di tản các đồng chí sang Xiêm nhờ giúp đỡ và đợi thời
Trang 20(Dẫn thêm: Năm 1907, trường Đông Kinh Nghĩa Thục được thành lập để huấn luyện
các nhà cách mạng chống thực dân Pháp Các tác phẩm của ông được nghiên cứu và Phan ChuTrinh giảng dạy tại trường này Nghi rằng Phan Bội Châu có liên quan đến trường này, Pháp
đã đóng cửa trường trong vòng gần 1 năm và cho rằng ông có trách nhiệm trong các cuộc biểutình chống thuế tại các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, Huế đầu năm 1908 Ngoài ra, họ còncho rằng ông có dính líu đến một cuộc nổi dậy bị thất bại tại Hà Nội vào tháng 6 năm 1908.Pháp đã xử tử 13 người tham gia cuộc nổi dậy này và bỏ tù hàng trăm người khác tại Côn Đảo(trong đó có Phan Chu Trinh) Tháng 3/ 1909, Phan Bội Châu bị Nhật trục xuất theo đề nghịcủa Pháp Sau đó, ông đến Hồng Kông, Bangkok và Quảng Châu Trong những năm này, cáctác phẩm cách mạng của ông ảnh hưởng đến phong trào chống Pháp ngay tại Việt Nam Năm
1912, nức lòng vì thành quả của cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc của Tôn DậtTiên, Phan Bội Châu cùng một số nhà cách mạng quốc gia Việt Nam lưu vong tại QuảngChâu thành lập một tổ chức cách mạng thay thế cho Hội Duy Tân Tôn chỉ của tổ chức mớivới tên Việt Nam Quang phục Hội là đánh đuổi người Pháp ra khỏi đất nước, khôi phục chủquyền của Việt Nam, và thành lập "Việt Nam Cộng hòa Dân quốc" Thời điểm này, Phan BộiChâu thay đổi chính kiến về thể chế quân chủ nhưng vẫn duy trì Kì Ngoại Hầu Cường Để.Nhằm gây tiếng vang, tạo ủng hộ trong quần chúng quốc nội, năm 1913 ông cho tổ chức ámsát và đặt chất nổ phá hoại nhiều nơi trong nước Chính quyền Pháp đã nhờ chính quyền TrungQuốc bắt giam Phan Bội Châu cùng các đồng chí) Năm 1917, Phan Bội Châu được phóng thích Ông lưu lạc tại Trung Quốc suốt tám năm sau đó, ông học tập và viết báo sinh nhai ởHàng Châu, làm biên tập viên của tờ Bình sự tạp chí, và không còn trực tiếp ảnh hưởng đếncác cao trào cách mạng tại Việt Nam Từ 1921-1924, sự kiện Cách mạng Tháng Mười Nga(1917), liên minh Quốc - Cộng tại Trung Quốc đã có ảnh hưởng lớn đến Phan Bội Châu.Ông tìm hiểu về cuộc Cách mạng Tháng Mười, và viết báo tôn vinh Vladimir Ilyich Lenin.Giữa năm 1924, phỏng theo Trung Quốc dân đảng của Tôn Trung Sơn, ông đã cải tổ ViệtNam Quang phục hội thành Việt Nam Quốc dân đảng
Ngày 30 tháng 6 năm 1925, ông lại bị Pháp bắt tại Hàng Châu, ông bị dẫn giải về
Hà Nội và xử án chung thân khổ sai, về sau, bản án được đổi lại thành án quản thúc tại gia
do phản ứng mạnh mẽ của toàn dân đối với nhà cầm quyền Pháp
Năm 1926, ông bị đưa về sống ở Bến Ngự, Huế Lúc đó ông được gọi là Ông giàBến Ngự Trong thời gian này, tư tưởng chống Pháp của Phan Bội Châu đã ôn hòa hơn.Vào tháng 3 năm 1927, trong dịp kỉ niệm ngày giỗ một năm của Phan Chu Trinh, Phan BộiChâu đã viết:
Trang 21"Than ôi! Ông có thứ cho tôi chăng? Lúc ông [từ Nhật Bản] về nước [1906], tôi tiễn chân ông
đến Hương Cảng, ông cầm tay tôi dặn mấy lời sau hết: ‘Từ thế kỉ 19 về sau, các nước tranh nhau ngày càng dữ dội, cái tính mạng một nước, gửi trong tay một số người đông, chứ không thấy nước nào không có dân quyền mà khỏi mất nước bao giờ Thế mà nay Bác lại còn dựng cờ quân chủ lên hay sao?’ Ông nói thế, lúc bấy giờ tôi chưa có câu gì đáp lại, nay đã hơn 20 năm rồi, lời ôn càng lâu, càng nghiệm Tôi mới biết cái óc suy nghĩ cùng cái mắt xem xét của tôi thiệt không bằng ông! Phỏng ngày nay ông còn sống thì cầm cờ hướng đạo cho chúng ta, hẳn phải nhờ tay ông mới được Than ôi! Ngày nay những kẻ cúng vái ông, kính mến ông, có phải là chỉ ngắm tượng ông, đọc văn ông góp nhặt năm ba câu làm bộ ái quốc, ái quần đầu miệng mà thôi ư? Phải biết rằng ông Hi Mã mà được danh tiếng lưu truyền với sử xanh là vì ông có chủ trương thiệt, tinh thần thiệt."
Phan Bội Châu mất ngày 20 tháng 10 năm 1940 tại Huế trong tình cảnh khá thê lương Mật thám bủa vây xung quanh nhà ngày đêm Ông nói khá mỉa mai:
Đêm nghe con Vá chào ông trộm Ngày bảo thằng Nghi kể chuyện tù
Và để lời từ biệt: Cứu nước, bảo toàn giống nòi [tôi] có chí, nhưng không có
tài Nay tôi từ biệt quốc dân mãi mãi Tội [tôi] rất lớn Xin [quốc dân] tha thứ cho
Đám tang vắng vẻ Báo chị bị cấm đưa tin, chỉ một số bạn bè thân thiết đến đưa tang Sau bạn bè miền Trung biết tin gửi tiền xây nhà thờ cạnh mộ ông
2 Con người:
Tất cả những điều kiện tự nhiên, lịch sử và xã hội đó đã ảnh hưởng đến con người.Đặng Thai Mai nói: Người Nghệ Tĩnh can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiênquyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ Ơ mảnh đất này từng có những con người ngangtàng, thị tài như Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Chỉnh; có những người coi thường công danh
cả các triều đại như Nguyễn Thiếp; có ngời chống triều đình như Trần Tấn, Hoàng PhanThái Là người sinh ra và lớn len khi Nho học đang phát triển sâu rộng, cộng với ảnhhưởng của những con người ưu tú, điều kiện lịch sử nên hun đúc con người ông
Tổng kết cuộc đời mình, Phan Bội Châu tự đánh giá: Lịch sử tôi, quả tình chỉ là lịch sử của một cuộc thất bại từ đầu chí cuối” ( Phan Bội Châu niên biểu).
Nhưng đó chỉ là nhận xét khiêm tốn của “con người sống đẹp”:
Ông là nhà nho tiến bộ, dám vứt bỏ những tín điều cũ rích để vươn tới một chân trời mới đầy khát vọng và ước mơ Ông cho rằng “ Đọc sách thánh hiền mới
được chữ trung quân” vì thế phải lặn lội trùng dương tận mắt thấy những điều đã
tiếp nhận trong sách để “Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà” Không chỉ kêu gọi
Trang 22mọi người hướng đầu óc ra khỏi lối tư duy cũ mà ngay cả khi chấm dứt hoạt động
sôi nổi của mình ông vẫn cổ động “Đời đã mới, người càng nên đổi mới”.
Là con người nhiệt thành với lí tưởng cứu nước, có tinh thần chiến đấu bền
bỉ, kiên cường Dù cả cuộc đời theo ông là mưu trăm việc không nên việc gì nhưng ông vẫn cho rằng “Gian nan mới là trường học”, “Thất bại là mẹ thành công” Dù có phải thay đổi
chính kiến, vất vả gian nguy ông vẫn sãn sàng đi bất cứ đâu, làm việc gì, dám chấp nhận hisinh lớn : từ bỏ ngay cả niềm tin Bảy mươi tuổi người ta vẫn còn thấy ông hăng hái:
Mò tim quên quách chòm râu bạc Bảy chục còn nghi tuổi mới ba
II Sự nghiệp văn chương
Ông là một tác giả lớn về thơ và tiểu thuyết, với những bút danh Hải Thu, Sào Nam,Thị Hán, Độc Tỉnh Tử,… Sự nghiệp sáng tác văn chương của ông liên tục, suốt đời khôngngừng nghỉ ngay từ khi còn bé đến lúc mất Đồng thời là người có gan thử bút trên nhiềuthể loại văn chương Phan Bội Châu viết rất nhiều thể loại bằng chữ Hán, chữ Nôm Thơ,văn đã đi cùng với cụ Phan trong suốt cuộc đời hoạt động Thơ, văn Phan Bội Châu lànhững lời tâm huyết chứa chan lòng yêu nước, đồng thời là vũ khí tuyên truyền cách mạng
Sự nghiệp văn chương có thể chia 3 thời kì gắn với 3 giai đoạn trong cuộc đời hoạt động:
1 Thời kì trước 1905
- Hịch Bình Tây thu Bắc (16 tuổi - hiện không còn) dán đầu làng
- Trước ngày xuất dương, ngoài phần văn thơ cử tử, Phan Bội Châu đã viết những
bài cổ động tinh thần yêu nước chống Pháp: Song tuất lục (1886), Lưu Cầu huyết lệ tâm
thư (1903) … Riêng bài Lưu Cầu huyết lệ tâm thư đương thời đã làm cho nhiều sĩ phu
có tâm huyết biết tiếng cụ Phan Bội Châu và sau đó trở nên những người cộng sự
- Bài Chơi xuân, Xuất dương lưu biệt
2 Từ 1905 - 1925:
Thời kì ngòi bút của Phan Bội Châu được tung hoành thoải mái Một số tác phẩm
viết vào thời gian này chủ yếu bằng chữ Hán như: Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải
ngoại huyết thư (1906), Khuyến quốc dân tư trợ du học văn (1905), Việt Nam quốc sử khảo (1908)… đã được bí mật đưa về trong nước, khích lệ nhân dân, nhất là tầng lớp thanh
niên trí thức đi vào con đường cách mạng Có tác phẩm đã làm cho nhiều chính kháchNhật Bản, Trung Hoa biết tiếng và khâm phục Loại văn thơ này đã giúp đắc lực cho hoạtđộng ngoại giao của Phan Bội Châu
Trang 23Cũng thời gian này Phan Bội Châu đã viết rất nhiều về tiểu sử các liệt sĩ như: Kỉ
niệm lục (1907) viết về Tăng Bạt Hổ và Vương Thúc Quí; Sùng Bái Giai Nhân (1907)
ghi lại cuộc đấu tranh của những anh hùng nhân dân như Cao Thắng và Quán Báo; Hà
Thành liệt sĩ truyện (1913) viết lại gương hy sinh của các liệt sĩ trong vụ đầu độc lính
Pháp tại Hà Nội; Hoàng Yên Thế tướng quân liệt truyện, chép lại lịch sử đấu tranh của
Hoàng Hoa Thám; Phạm Hồng Thái truyện, ghi lại tiểu sử liệt sĩ Phạm Hồng Thái hy
sinh năm 1924 trong vụ ném bom giết Toàn quyền Đông dương Mec1lanh tại Sa điện Loạisách này vừa ghi công, vừa để nêu lên cho quốc dân những tấm gương dũng cảm, sự hysinh bất khuất của các liệt sĩ Ngoài công việc viết sách, lúc này cụ Phan còn viết rất nhiềubài cho các báo ở Trung Quốc, Nhật Bản, đã ghi lại một phần tư tưởng, tình cảm tốt đẹp vàcác bước chuyển biến trong đường lối đấu tranh cách mạng của nhà chí sĩ
3 Từ 1925 – 1940:
Mặc dầu bị Thực dân Pháp kìm kẹp, cách ly khỏi cách mạng, song Phan Bội Châuvẫn cố gắng làm người tuyên truyền giáo dục lòng yêu nước Thơ, văn của Cụ vẫn tiếp tụcnói nhiều đến nỗi khổ nhục của người dân mất nước, trách nhiệm của người dân mất nước,
như các tác phẩm: Nam nữ quốc dân tu tri (1929), Thuốc chữa dân nghèo, Lời hỏi
thanh niên, Luân lí vấn đáp, Lịch sử Việt Nam diễn ca… Đặc biệt là tác phẩm Phan Bội Châu niên biểu, Cụ viết trước khi qua đời Người đã chép lại lịch sử hoạt động của
mình thời thanh niên đến năm 1925, nhằm giải bày tâm sự và để lại kinh nghiệm cho đờisau Các tác phẩm trên ra đời cùng với hơn 800 bài thơ Nôm các loại và hàng chục bài phú,văn tế, tạp văn khác là những di sản cuối đời của cụ dành cho hậu thế
III NỘI DUNG VĂN THƠ CỦA PHAN BỘI CHÂU
1 Quan niệm mới về văn chương
Quan niệm thứ 1:
Vào đời vốn không phải là để làm một nhà văn, nhà thơ mà là để làm người chiến sĩ đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc
- Đến với khoa cử chỉ là con đường ông đến với hoạt động cách mạng Ông
hiểu rõ, sức văn hồi bút mạnh hơn binh và ông đã dùng nó làm vũ khí thực hiện
nguyện vọng đấu tranh cách mạng:
Mõ chuông là cái bút này Lôi đình trên ngọn bút này nổi lên
(Gọi hồn quốc dân)
Trang 24- Hay trong văn tế Phan Châu Trinh ông cũng nói tới sức mạnh ngòi bút luận
chiến và thể hiện rõ tư tưởng người chiến sĩ và người nghệ sĩ chỉ là một Nhưng
cần nói rõ ông là nhà chính trị mới, và viết văn như một nhà nho
Quan niệm thứ hai:
Ông là người đầu tiên trong lịch sử đã có ý thức dùng văn chương để tuyên truyền¸vận động cách mạng Ngòi bút của ông đã khơi dòng chảy cho một loại văn chương trữ tình chính trị góp phần đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng
- 16 tuổi viết hịch Bình Tây thu Bắc
- Đến Kinh đô Huế viết Bái Thạch vi huynh
- Lưu Cầu huyết lệ tân thư được truyền tụng rộng rãi
- Huỳnh Thúc Kháng nói tới những áng văn như sấm giật: Miệng giọng cuốc vạch kêu trời giật một, giữa từng không mù cuốn mây tan/ Tay ngòi lông vỗ án múa chầu ba, đầy mặt giấy mưa tuôn sấm nổ
- Tố Hữu: Những câu thơ dậy sóng
- Đặng Thai Mai: Chỉ vì đọc Phan Bội Châu mà hàng nghìn thanh niên đã cắt cụt tóc, vất hết sách vở văn chương cử tử cùng cái mộng công danh nhục nhã gắn trên đó, lìa
bỏ làng mạc, nhà cửa vợ con rồi băng ngàn lội suối, bất chấp mọi nỗi đói thiếu, nguy hiểm, khổ sở để qua Xiêm, Tàu, Nhật mà học hỏi mà trù tính việc đánh Tây
2 Có lí tưởng mới cho cuộc sống
Lý tưởng đó là cứu nước Ông cho rằng mục đích tốt đẹp nhất của đời người,
lý tưởng tốt đẹp nhất của đời người là làm sao cứu được nước, vì cứu nước cũng tức
là cứu mình Lý tưởng ấy thật cao quý nhưng nó lại không chút gì cao xa cả, ai cũng
có thể theo được Và ông đã thực hiện nó bằng hành động cụ thể:
2.1. Dùng thơ văn để cổ động cho lẽ sống mới
Lẽ sống mới: Sống có trách nhiệm với đời, sống hào hùng, oanh liệt, đầy hoài bão, khát vọng ước mơ và dám đương đầu với thử thách để vươn tới chân trời khát vọng
- Tự ý thức vượt lên khỏi thực tại khắc nghiệt, mong xoay chuyển càn không để làm chủ cuộc đời mình và tái tạo giang sơn
Quân bất kiến Nam, Xuân tự cổ đa danh sĩ
Đã chơi xuân đừng quản nghĩ chi chi
Khi ngâm nga xáo lộn cổ kim đi
Tùa tám cõi ném về trong một túi
Thơ rằng:
Sinh thời thế phải xoay nên thời thế Phùng xuân hội, may ra ừ cũng dễ Nắm địa cầu vừa một tí con con Đạp toang hai cánh càn khôn Đem xuân vẽ lại trong non nước nhà
Trang 25Nước non Hồng Lạc còn đây mãi
Mặt mũi anh hùng há chịu ri
Giang sơn còn tô vẽ mặt nam nhi
Hai vai gánh vác sơn hà
Đã chơi chơi nốt, ố chà chà xuân.
(Khi ta chưa trèo lên núi
Ta thấy các ngọn núi cũng ngang với ta Khi ta đã trèo lên núi rồi
Ta thấy các ngọn núi đều thấp hơn ta)
- Đôi khi còn hiên ngang coi thường nguy hiểm:
Dù gió ngược mà dòng xuôi, ta sẽ vén xiêm mà sang này! Hô dò khoan!
Dù Pháp, dù Nhật, dù Nga ngày có đón dòng mà chặn ngang
Ta cũng tìm hỏi bến mà chèo sang này! Hò dô khoan!
Gió to cuồn cuộn này biển rộng mênh mang Vừa hát vừa cười mà chèo sang này.
Dô hò khoan!
Biển lớn thênh thang này, sóng cả mênh mang Cùng lòng chung sức mà chèo sang này Dô hò khoan!
Hải hồ khoan , Nguyễn Văn Bách dịch
Ngay cả thời kỳ bị giam lỏng ở Huế, sống trong hoàn cảnh nguy hiểm, luôn bị uyhiếp, đe dọa, thơ văn ông vẫn còn khí thế hừng hực như khi mới xuất dương
"Ðúc gan sắt để dời non lấp bể Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ"
(Bài ca chúc tết thanh niên)
- Tư tưởng dứt khoát, hành động quyết liệt:
Đem máu ra mua lấy quyền tự do mà thôi
Sống tủi làm chi đứng chật trời!
Sống nhìn thế giới hổ chăng ai?
Sống làm nô lệ cho người khiến, Sống chịu ngu si để chúng cười.
Sống tưởng công danh, không tưởng nước, Sống lo phú quý, chẳng lo đời.
Sống mà như thế, đừng nên sống!
Sống tủi làm chi, đứng chật trời.
Sống
Trang 26Ông nói: Trước tình hình mất nước mà không đập bàn kêu thương, vung tay kêu khổ thì là người không có tai mắt, không có tâm huyết, không phải là giống người nữa Ai không mang nỗi đau mất nước, dâng lòng trung để báo đền cho nước đều là đại gian đại
ác, thù địch của toàn quốc
Tuyên bố từ giã thánh hiền để tới trang sử khác của đời mình:
Hỏi anh đeo gươm đi đâu đây?
Làm Gia Cát ổ Long Trung nằm khểnh
Đổ lỗi cho ai?
Nước tan, chúa mất Tránh tội khó thay
Ca hát, khóc, cười, đều suông cả! Ích gì cho buổi này?
Làm trai phải lạ ở trên đời
Há để càn khôn tự chuyển dời Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở há không ai ? Non sông đã mất, sống thêm nhục Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài Muốn vượt bể Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi
- Dám đương đầu, đối mặt với khó khăn, không chịu trói buộc thúc ép mình vào khuôn khổ để khẳng định nhân cách cao đẹp hào kiệt, phong lưu, ung dung với
thái độ hóm hỉnh, lạc quan, ngạo nghễ.
Coi nhà tù như chốn nghĩ, nơi dừng chân:
Vẫn là hào kiệt vẫn phong lưu Chạy mỏi chân thì hãy ở tù
Cảm tác nhà ngục Quảng Đông
Dẫu rằng là cảnh thân tù, “nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại” (một ngày ở tù bằngnghìn thu ở ngoài), lời thơ của cụ Phan Bội Châu vẫn giữ được cái điềm tĩnh, thoải mái củamột con người luôn tự tin, lạc quan trước mọi hoàn cảnh, đó là tinh thần của bậc đại trượngphu với ý chí “uy vũ bất năng khuất” (uy vũ không thể khuất phục)
Thân ấy hãy còn, còn sự nghiệp
Trang 27Bao nhiêu nguy hiểm sợ gì đâu
Chấn song tù giam được thể xác nhưng không giam nổi tâm hồn cụ hướng về đấtnước! Bị kìm hãm, bị giam cầm nơi xứ lạ ,tinh thần đấu tranh của cụ Phan Bội Châu đãtruyền đạt đến cho những chí sĩ yêu nước, một niềm tin tưởng vào sự nghiệp chiến đấu vìchính nghĩa của chính mình
Đời đã mới, người càng nên đổi mới
Mở mắt thấy rõ ràng tân vận hội Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn.
(Bài ca chúc Tết thanh niên)
Bài thơ kết thúc mà lời thơ chưa kết thúc Người đọc vẫn còn thấy đâu đây một conngười uy phong đứng giữa đất trời, ung dung ngạo nghễ mà kiên định, bất khuất Tronggiây phút tuyệt vọng nhất, người anh hùng Phan Bội Châu vẫn không mất đi cái tráng chí,tinh thần thép của một nhà chí sĩ yêu nước Việt Nam, trở thành tấm gương sáng
2.2 Nhiệt thành đi tìm và khẳng định con đường cứu nước mới, chủ trương theo
đuổi tinh thần dân chủ
Trước thực tại “Nó coi mình như trâu, như chó/ Nó coi mình như rơm như
rác/ Trâu nuôi béo, cỏ coi rờm/ Cỏ moi rễ cỏ, trâu làm thịt trâu” Phan Bội Châu chỉ
ra con đường cứu nước mới tiến bộ trong xã hội: khẳng định đất nước là của dân, đấu tranh chống giặc cứu nước là để bảo vệ nòi giống, đồng bào Việt Nam
- Ông đã lấy tư tưởng dân là chủ làm động lực đấu tranh giành độc lập Phục quốc là việc mà người dân phải tự lo lấy.
(So sánh: Ông không phải là người đề xướng dân chủ vì trước đó có Nguyễn Trãi,
có Phan Châu Trinh Lúc đầu ông cũng có chỗ vướng: ông là đại diện cho Duy Tân hộitheo chủ trương quân chủ lập hiens quan hệ với chính khách Nhật và quan hệ với nhiềunhân sĩ Nam Kì đang hâm mộ Cường Để - dòng đích của Gia Long Sau này mới đả phá tưthông nhờ Phan Châu Trinh Điểm khác là không nhấn mạnh dân với chủ quyền đất nước ítchú ý tới nhân quyền, dân quyền trong chính trị, xã hội mà là sự kết hợp giữa đấu tranh dânchủ với đấu tranh giành độc lập
Người, dân ta; của, dân ta Dân là dân nước, nước là nước dân Sông phía Bắc, bể phương Đông Nếu không dân cũng là không có gì.
Trang 28- Xác lập vai trò làm chủ xã hội của người dân Ông nói về quyền làm chủ
của người dân, trách nhiệm để mất nước tội của người dân cũng không nhỏ
Với tinh thần dân chủ :
- Đất nước - lọ vàng mà cha ông để lại đều là tài sản chung của dân Với
năm mươi triệu số người trong nước đều là con cháu một họ, đều là chú bác anh em:
Nghìn, muôn, triệu, ức người trong nước Xây dựng nên cơ nghiệp nước nhà
Chỉ ra sự thực tồn tại trong một số người:
Nước dân ta là của gia tài.
Chữ rằng "Tổ nghiệp lưu lai"
Của ta ta giữ, chắc ai giữ cùng!
Chẳng may lúc thành long, xã lở
Một hai điều trách cứ vua tôi.
Còn năm mươi triệu con người,
Chỉ quanh quanh đám lợi tài không xong!
Hỏi đến nước còn không, không biết, Gọi đến tên Nam Việt, không thưa!
Gia tài tổ nghiệp mình xưa, Tay đem quyền chủ mà đưa cho người! Chắc đã có người cai quản hộ,
Cơ nghiệp mình, mình bỏ không coi.
Hỏi xem khắp cả gầm trời, Coi ai quái gở lạ đời thế không?
- Phan Bội Châu đã thấy được điều tai hại của việc mất đoàn kết, việc chia rẽ dân tộc Ông cho rằng một trong những nguyên nhân giúp Pháp chiếm được đất nước ta và đặt được ách đô hộ lên đất nước ta một cách vững vàng là do nhân dân ta
"Xung khắc bất hòa":
"Nỗi ngu dại nói không kể xiết Lại ngờ nhau chẳng biết tin nhau Coi nhau như thể quân thù
Thù mong nhau hại ghét cầu nhau hư Bụng có hợp thì nhà mới hợp
Lòng đã tan thì nước cũng tan"
(Hải ngoại huyết thư)
Từ đó ông đã đưa ra một chủ trương đoàn kết rộng rãi, không phân biệt giai cấp, đẳng cấp, tôn giáo.
3 Niềm tin sắt đá vào tương lai đất nước
- Niềm tin vào con người, lòng người Ông nói: Nước đã không toàn thì thân làm
sao mà vẹn được Vì thế ông tin: đã là người thì dẫu là hạng người nào đi nữa cũng phải
Trang 29khác loài thú mà đã khác loài thú tất sẽ biết phân biệt phải trái, tất sẽ yêu nước, ghét thù, bởi nước đã mất thì còn nói gì đến quyền lợi, danh dự, cuộc sống bản thân nữa”
- Tin vào dân Dân làm chủ
- Tin vào sức mạnh đoàn kết của dân Cả nước phải đồng lòng như thế/ Việc gì coi
cũng dễ như không; Bốn phương nào sĩ nào nông/ Nào công nào cổ đều cùng anh em
4 Tiểu thuyết Trùng Quang tâm sử với luận đề chủ nghĩa anh hùng và vấn đề phụ nữ
- Viết trong thời gian sống lưu vong ở nước ngoài bằng tiếng Hán.
- Chủ đề: cuộc khởi nghĩa của Trần Quý Khoáng chống quân Minh Nhưng có dụng ý thay đổi nội dung thực tế của lịch sử để trình bày diễn tả ước mơ chính trị, kêu gọi quốc dân chống Pháp
III.- NGHỆ THUẬT VĂN THƠ CỦA PHAN BỘI CHÂU
1 Thể loại : Ông đã vận dụng hầu hết các thể loại văn học của thời kỳ trung đại và
hiện đại Các loại văn cử tử như phú, đường luật, câu đối; hình thức cổ điển như ký, minh,
cổ phong, từ, luận; các hình thức dân tộc như lục bát, song thất; các hình thức dân gian như
vè, hát dặm, ca dao, chèo; các hình thức mới như nghị luận, truyện ngắn, tiểu thuyết, tạpvăn, báo chí, hồi ký.v.v Phan Bội Châu đều sử dụng thành thạo
2 Ngôn ngữ : Ngôn ngữ trong sáng tác của Phan Bội Châu còn chịu ảnh hưởng của
ngôn ngữ trong văn học trung đại Nhưng tác giả đã thể hiện sự cố gắng lớn khi tạo cho nó
có tính chất giản dị, dễ hiểu Tất cả không ngoài mục đích nhằm đạt hiệu quả tuyên truyền.Đay là cống hiến lớn cho văn học nước nhà
3 Nhân vật : Nhân vật trong tác phẩm của Phan Bội Châu đã đạt đến mức độ đa
dạng, phong phú Ông đã đề cập đến nhiều hạng người trong xã hội, tập trung thể hiện conngười yêu nước Các nhân vật của ông đã bớt dần tính ước lệ
4 Văn chữ Hán của Phan Bội Châu khác với văn chữ Hán thời trung đại Nó không sao tránh
khỏi một số nề nếp của văn cử tử nhưng nó đã nhẹ nhàng hơn, rành mạch hơn, thông tục hoá hơn, chútrọng nội dung hơn hình thức, nó có một phong cách riêng
Trang 305 Giọng văn hùng hồn thống thiết, bừng bừng nhiệt tình cách mạng
6 Phan Bội Châu đã cố gắng cách tân trong vấn đề xây dựng kết cấu tác phẩm, nhưng
lối sáng tác cũ còn ảnh hưởng không nhỏ đối với ông
D HƯỚNG DÂN HỌC TẬP
1 Những yếu tố về gia đình, thời đại đã ảnh hưởng đến con ngươi của Phan Bội Châu
2 Khi nói về niềm tin vào tương lai đất nước, Đặng Thai Mai nói: Qua những năm đen tối
nhất của nước nhà, niềm tin ấy là nét tâm lí vĩ đại” Bình luận ý kiến trên (2-1)
3 Bình giảng bài Cảm tác vào nhà ngục Quảng Đông Nêu những bài học mà anh/ chị cảm
nhận được về một lí tưởng sống mới mà Phan Bội Châu đã nêu lên cho thời đại.(3 - 1)
4 Chuẩn bị bài Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Tiết: 07 - 10 Ký duyệt
Bài 4
A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
Giúp Sinh viên nắm được
1 Xác định vị trí đặc biệt của Hồ Chí Minh trong khuynh hướng văn học yêu
nước và cách mạng đầu thế kỉ XX Từ đó hiểu sự phong phú, đa dạng của sự nghiệp vănthơ Hồ Chí Minh ; giá trị đặc điểm phong cách trên từng thể loại
2 Có kí năng phân tích các tác phẩm, các nội dung liên quan tới văn thơ yêu nước
và cách mạng của chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là những tác phẩm được dạy trong nhàtrường THCS hiện hành
3 Tích cực học tập và làm việc nghiêm túc Phát huy tính chủ động trong học tập.
Thêm yêu mến và trân trọng những thành quả mà cha ông ta đã tạo dựng
B.TÀI LIỆU HỌC TẬP
* Giáo trình: Trần Đăng Xuyền (chủ biên), Văn học Việt Nam hiện đại 1
* Tài liệu tham khảo:
2 Phan Cự Đệ (chủ biên), Văn học Việt Nam 1930 - 1945, gd, 97.
3 Nghiên cứu bình luận chọn lọc về thơ văn chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb GD
C NỘI DUNG BÀI HỌC
I KHÁI QUÁT SỰ NGHIỆP VĂN THƠ CỦA HỒ CHÍ MINH
1 Một nhà văn, nhà thơ lớn ngoài chủ định
NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
Trang 31Hồ Chí Minh là một trong số những người đặt nền móng cho sự hình thành, phát triển của khuynh hướng văn học cách mạng vô sản, đồng thời là tác giả của nhiều tác phẩm lớn có giá trị trong kho tàng văn học yêu nước và cách mạng Việt Nam
- Đến với văn chương không hề có hẹn trước, chưa bao giờ nhận mình là một nhà văn, nhà thơ mà chỉ nhận rằng mình có làm báo, là người yêu văn nghệ,
2 Một sự nghiệp văn thơ phong phú, một phong cách nghệ thuật đa dạng
Không những là nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh còn là nhà thơ, nhà văn lớn củadân tộc Bên cạnh sự nghiệp chính trị, Người đã để lạo cho đời một sự nghiệp văn chươngphong phú về thể loại, đặc sắc độc đáo về phong cách
a Quan điểm sáng tác:
- Hồ Chí Minh coi văn học là vũ khí chiến đấu phục vụ cho sự nghiệp cách mạng.
+ Nhà văn là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, văn hoá
+ Văn học phải có chất thép, tính chiến đấu
- Hồ Chí Minh chú trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học.
+ Nhà văn phải miêu tả cho hay, cho chân thật, cho hùng hồn hiện thực đời sốngphong phú
+ Phát huy cốt cách dân tộc, giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt
+ Đề cao sự sáng tạo của người nghệ sĩ
- Khi viết, Người luôn đặt câu hỏi “Viết cho ai?” (đối tượng), “Viết để làm gì?” (mục đích), “Viết cái gì?” (nội dung), “Viết như thế nào?” (hình thức).
b Tính phong phú trong sự nghiệp sáng tác
- Số lượng phong phú đa dạng
- Ngôn ngữ: viết bằng ba thứ tiếng: tiếng Pháp, tiếng Hán, tiếng Việt Tùy hoàncảnh, đối tượng tiếp nhận mà sáng tác bằng loại hình ngôn ngữ thích hợp
- Thể loại: 3 thể loại chính là văn chính luận, truyện ký và thơ ca
+ Văn chính luận: Từ những năm 20 của thế kỷ xx, Nguyễn Ái Quốc đã viết hàng
loạt bài văn chính luận bằng tiếng Pháp tiêu biểu là bài “Bản án chế độ thực dân Pháp”.
Trang 32Khi cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh đã viết “Tuyên ngôn độc lập” là một
kiệt tác văn chính luận Ngoài ra Hồ Chí Minh còn có nhiều bài viết khác như “Lời kêu gọitoàn quốc kháng chiến” 1946, “Không có gì quý hơn độc lập tự do” 1966, “Di chúc” 1969
+ Truyện ký chủ yếu được Nguyễn Ái Quốc viết từ 1922 – 1925 bằng tiếng Pháp
trên đất Pháp Tiêu biểu là truyện ngắn “Lời than vãn của bà Trưng Trắc” 1922, “Vi hành”
1923, “Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu” 1925 Ngoài ra thời kỳ sau này HồChí Minh còn viết một số truyện ký khác như “Giấc ngủ mười năm” 1949, “Vừa đi đườngvừa kể chuyện” 1963
+ Thơ ca là sự nghiệp gía trị nhất, nổi bật nhất của Hồ Chí Minh được tập hợp trong
ba tập chính là “Nhật ký trong tù” 134 bài, “Thơ Hồ Chí Minh” 86 bài, “Thơ chữ Hán HồChính Minh” 36 bài “Nhật ký trong tù” 1942 – 1943 là tập thơ tiêu biểu nhất của Hồ ChíMinh, tập thơ là một bản cáo trạng đối với nhà tù và xã hội Tưởng Giới Thạch, là bản tựthuật về tâm hồn khí phách của Hồ Chí Minh Ngoài “Nhật ký trong tù” bộ phận thơ cachống Pháp là một bộ phận có giá trị cả nội dung và nghệ thuật, tiêu biểu là “Rằm thánggiêng”, “Cảnh khuya”, “Cảnh rừng Việt Bắc”, “Đi thuyền trên sông Đáy” Bên cạnh đó HồChí Minh còn có một bộ phận thơ chữ Hán viết tự thuật về những chặng đường của mìnhcũng như để tặng lại những người bạn tri âm tri kỷ
c Một phong cách nghệ thuật rất đa dạng nhưng cũng rất độc đáo:
- Văn chính luận bộc lộ một tư duy sắc sảo, giàu tính luận chiến và đặc biệt là giàu trí thức văn hoá và thực tiễn.
- Truyện kí có lối kể chuyện chân thực, có cách tạo không khí gần gũi, giọng châm biếm, sắc sảo, thâm thuý, tinh tế và giàu chất trí tuệcũng như tính hiện đại.
- Thơ ca mang đậm phong cách thơ cổ phương Đông, nói ít gợi nhiều, hoạ vân xuất nguyệt.
Tuy không phải chủ trương lập thân bằng văn chương nhưng với tâm hồn và tàinăng của mình, Hồ Chí Minh đã để lại một sự nghiệp văn chương phong phú, có giá trịkhông những là giá trị về nội dung thể loại mà còn để lại một giá trị về phong cách Vì thế
sự nghiệp thơ văn Hồ Chí Minh là bài học vô giá cho những người cầm bút chân chính
II VĂN XUÔI NGHỆ THUẬT (TRUYỆN VÀ KÍ)
Di sản truyện, ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những tác phẩm có giá trị đặc biệt về nhiều mặt, có vai trò mở đầu và đặt nền móng cho nền báo chí và văn học cách mạng nước ta ngay từ đầu thế kỷ XX (Ra đời sau Nhật kí trong tù 15
năm)
Trang 331 Truyện và kí của Người được đăng trên nhiều mặt báo, là những sáng tác nghệ thuật có sự kết hợp chặt chẽ tính thời sự, chiến đấu với tính nghệ thuật
- Trong bối cảnh đặc biệt của những năm đầu thế kỷ XX, các tác phẩm truyện, ký và
tiểu phẩm của người thanh niên cách mạng Nguyễn Ái Quốc tập trung tố cáo bản chất xấu xa của chủ nghĩa thực dân, vạch trần tính chất bịp bợm, xảo trá được che đậy dưới
những từ ngữ mỹ miều như “công lý”, “bình đẳng”, “bác ái” mà chúng vẫn thường rêurao Với sự kết hợp những kiến thức của đông tây kim cổ và kiến thức phong phú, cụ thểcủa cuộc sống hàng ngày, với tinh thần chiến đấu không khoan nhượng trước kẻ thù và vớinghệ thuật châm biếm sâu sắc, tác giả đã dựng lại những khuôn mặt tàn ác, man rợ củanhững kẻ “khai hoá” và cảnh sống cùng cực của những người lao động lương thiện dướiách thống trị tàn bạo của chúng ở các nước thuộc địa
Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, một số đoạn trong các Chương III,
Chương IV, Chương V đã dựng lên hàng chục chân dung kẻ thù bằng những nét đặc tảtheo lối châm biếm cay độc Tác phẩm quan trọng này đã trở thành một văn kiện lịch sử vô
giá trong kho tàng văn học cách mạng Việt Nam: Trước năm 1914, họ chỉ là những tên da đen bẩn thỉu, giỏi lắm thì cũng chỉ là những tên anamit bẩn thỉu, biết kéo xe tay và ăn đòn của những quan cai trị nhà ta Ấy thế mà cuộc chiến tranh vui tươi vừa bùng nổ, họ biến thành những đứa con yêu, những người bạn hiền của các quan cai trị phụ mẫu nhân hậu, thậm chí cả của các quan toàn quyền lớn, toàn quyền bé Đùng một cái họ được phong cho những danh hiệu “ những chiến sĩ bảo vệ công lý và tự do” Nhưng họ đã phải trả bằng một giá khá đắt cái vinh dự đột ngột ấy, vì để bảo vệ cho cái công lý và tự do mà chính họ không được hưởng một tí nào, họ đã phải đột ngột xa lìa vợ con, rời bỏ mảnh ruộng hoặc đàn cừu của họ, để vượt đại dương, đi phơi thây trên các bãi chiến trường châu Âu Trong lúc vượt biển, nhiều người bản xứ, sau khi được mời chứng kiến cảnh kỳ diệu của trò biểu diễn khoa học về phóng ngư lôi, đã được xuống tận đáy biển để bảo vệ tổ quốc của các loài thuỷ quái Một số khác đã bỏ xác tại những miền hoang vu thơ mộng vùng Bancăng, lúc chết còn tự hỏi phải chăng nước mẹ muốn chiếm ngôi nguyên phi trong cung cấm vua Thổ, – chả thế sao lại đem nướng họ ở những miền xa xôi ấy? Một số khác nữa thì đã anh dũng đưa thân cho người ta tàn sát trên bờ sông Mácnơ, hoặc trong bãi lầy miền Sămpanhơ, để lấy máu mình tưới những vòng nguyệt quế của các cấp chỉ huy và lấy xương mình chạm nên những chiếc gậy của các ngài thống chế.
- Chỉ rõ bộ mặt nhu nhược của bọn vua quan phong kiến bán nước, đồng thời thông
qua đó nêu lên truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm với những nhân vật lịch sử anh hùng của dân tộc Truyện, ký của Nguyễn Ái Quốc luôn thể hiện một sự ngưỡng mộ sâu
Trang 34sắc và tự hào đối với các nhân vật lịch sử - từ Trưng Trắc, Trưng Nhị, Ngô Quyền, Lê
Lợi đến Phan Bội Châu Tác phẩm Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu lại dựng
lên hai hình ảnh trái ngược nhau: Varen khua môi múa mép nhằm mua chuộc nhà cáchmạng Phan Bội Châu Đáp lại những lời đường mật, những hứa hẹn của tên thực dân cáogià ấy, nhà cách mạng họ Phan chỉ im lặng, thản nhiên, khinh bỉ Nhân cách của ngườicách mạng trong cảnh ngục tù đã toả sáng trước kẻ thù xảo trá nhưng bất lực
2 Có sự kết hợp chặt chẽ giữa nội dung và hình thức nghệ thuật
Có thể thấy những tác phẩm như Lời than vãn của bà Trưng Trắc, Vi hành, Những
trò lố hay Varen và Phan Bội Châu… đã thể hiện một trình độ nghệ thuật hư cấu, sáng tạo tình huống tài tình rất cao Trong đó, ngòi bút của tác giả luôn ở mũi nhọn của thời
cuộc chính trị, đã nắm bắt rất nhạy bén sự kiện chính trị, xã hội
Để chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, từ năm 1941 đến khiCách mạng tháng Tám thành công, tự tay Bác Hồ đã biên soạn một số tài liệu về chiếntranh du kích và biên soạn một tập truyện ký gồm mười hai chương và một phần kết luận
Mở đầu tác phẩm đó là lời đề từ: “Đánh du kích không cần phải có sức mạnh Hễ là người
có lòng yêu nước, không chịu làm nô lệ, lại có một chút gan dạ và mưu trí, thì bất kỳ traigái, già trẻ, bất kỳ có súng hay không có, đều có thể đánh du kích” Trong tất cả mười haichương của tác phẩm này đều được mở đầu bằng hai câu thơ lục bát Đây là các câu thơ ởđầu các chương I, III, IV:
- “Một ông già, một sợi dây Làm cho điêu đứng một bầy địch nhân
- Tuổi già gan lại càng già Làm cho địch biết tay bà mưu cao
- Không súng thì đánh bằng dao
Có mưu, có kế, súng nào thiếu chi”…
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Bác vẫn trực tiếp viết nhiều tác
phẩm truyện, ký châm biếm để phân tích tình hình, vạch mặt bọn cướp nước và lũ tay chân
bán nước của chúng, động viên nhân dân ta hướng tới thắng lợi Có thể thấy rõ điều này quamột số tựa đề tác phẩm của Bác: Trong trần ai, ai cũng ghét Ai (Ai: chỉ tổng thống MỹAixenhao), Đạo đức Mỹ, Làm thế nào cho lạc thêm vui?, U2 là u ám, u mê - U đi 3 chiếc, u
về chỉ 1 thôi (U2: máy bay do thám đặc biệt của Mỹ), Bình đẳng, bác ái kiểu Mỹ, Chó Mỹ
da trắng cắn Mỹ da đen, Đế quốc Mỹ bi và bí, Tay-lo rồi chân cũng lo, Đại bợm Giôn-xơnmiệng nói “hòa bình” tay vung “binh hỏa”, Quân Mỹ chết nhăn răng, tướng Mỹ nhăn răng
Trang 35cười, Lại chuyện chó Mỹ, “Đại” bại tướng Vét-mỡ lợn đã cút về nước mẹ Hoa kỳ lợn: Oétmolen) v.v…
(Vét-mỡ-Đoạn văn đậm chất châm biếm sau đây được trích trong bài Đế quốc Mỹ bi và bícủa Bác (Bài ký bút danh “Chiến sỹ”, đăng báo Nhân Dân ngày 7-3-1964):
“Tình hình gay go ở nước Mỹ và trên thế giới làm cho tổng Zôôn rất đau đầu Uống thuốc xong, Zôôn vừa thiu thiu ngủ, thì liền mơ thấy tổng Ken bước vào Sau đây là tóm tắt nội dung câu chuyện giữa hai tổng:
Tổng Ken: Thế nào Zôôn? Công việc đều O.K chứ?
Tổng Zôôn: Very bad Ken ạ ! Hôm Ken chết, tôi hí hửng được làm tổng thống Nhưng
Xin mời Ken hãy rốn ngồi.
Để nghe Zôôn kể khúc nhôi đoạn trường
3 Trong bối cảnh của một đất nước đang nhanh chóng hội nhập với khu vực
và thế giới, trong những tác động hai mặt của cơ chế thị trường và mặt trái của
“thương mại hóa” sách báo, nền văn học và báo chí nước ta đang rất cần có những cây bút mạnh mẽ và sắc sảo, dũng cảm lên tiếng vì sự tiến bộ xã hội, hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chính vì thế, có thể
thấy rằng những bài học từ di sản truyện, ký của Hồ Chủ tịch vẫn còn nguyên giá trị thời sự trong cuộc sống hôm nay.
III THƠ CA TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nêu: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm” Biểu hiện trong thơ ca Hồ Chí Minh:
- Đây là loại thơ ca hướng tới từng đối tượng, quần chúng nhằm phục vụ mục
đích: khơi gợi, thức tỉnh tinh thần yêu nước, lòng căm thù thực dân, phong kiến, kêu gọi toàn dân đoàn kết, tuyên truyền đường lối vũ trang tới Tổng khởi nghĩa.
- Thể hiện bằng nội dung và hình thức nghệ thuật giản dị, trong sáng, dễ hiểu Chất liệu và cảm hứng lấy từ cuộc sống đời thường, truyền thống nhưng lồng
vào đó tâm hồn tư tưởng, tình cảm cách mạng, yêu nước cao đẹp.
- Thơ ca tuyên truyền cổ động phong phú về thể điệu, thủ pháp nghệ thuật.
IV TẬP THƠ NHẬT KÍ TRONG TÙ
* Hoàn cảnh sáng tác:
Trang 36Nhật ký trong tù (獄中日記 - Hán-Việt: Ngục trung nhật ký) là một tập thơ của Hồ Chí Minh, viết từ ngày 29 tháng 8 năm 1942 đến ngày 10 tháng 9 năm 1943, trong thời gian Bác Hồ bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và giải đi khắp các nhà giam ở 13 huyện tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.
* Số lượng tác phẩm: gồm hơn 133 bài thơ chữ Hán và một số ghi chép Tập
thơ được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ
Nhật kí trong tù là bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh Từ bài mở đầu cho đến bài thơ cuối, mỗi bài khắc hoạ một tâm trạng, một hoàn cảnh sáng tác khác nhau, tập thơ đã mang đến cho người đọc những cảm nhận về hành trình vô cùng gian nan, cực khổ qua các nhà tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đồng thời nhắn gửi trong mỗi câu thơ là tư tưởng, tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh
* Giá trị của Nhật kí trong tù
Nhật kí trong tù là bức chân dung tự họa của Hồ Chí Minh Từ bài mở đầu cho đến bài thơ cuối, mỗi bài khắc hoạ một tâm trạng, một hoàn cảnh sáng tác khác nhau, tập thơ đã mang đến cho người đọc những cảm nhận về hành trình vô cùng gian nan, cực khổ qua các nhà tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh Đồng thời nhắn gửi trong mỗi câu thơ là tư tưởng, tinh thần yêu nước, ý chí vươn lên không mệt mỏi của Chủ tịch Hồ Chí Minh Biểu hiện cụ thể qua:
1 Thể hiện tấm lòng nhân đạo cộng sản
Trường Chinh cho rằng: “Một điểm nổi bật nhất trong đạo đức Hồ Chủ Tịch là lòng thương người” Lòng thương yêu con người của Bác là tấm lòng nhân
đạo Cộng sản, đó là tinh thần nhân đạo mới mẻ Qua đó toát lên niềm tin tưởng vào con người trong những năm tháng đấu tranh gian khổ
Tấm lòng nhân đạo cộng sản của Hồ Chí Minh không phải là lòng thương người siêu giai cấp mà có quan điểm nội dung và giai cấp cụ thể Nó rất khác với tinh thần bác ái của tôn giáo, yêu thương an ủi con người và khuyên con người hãy thụ động chờ đợi hạnh phúc ở thế giới xa xôi hoặc kiếp sau Đó cũng không phải là tình thương có ý nghĩa ban phát của giai cấp quý tộc, của những người sống trên tiền của
Được biểu hiện ở những điểm sau:
Trang 37- Trong tù Bác cũng chịu khổ ải như bất kì tù nhân nào Mà Bác thì đã già, bị
tù trong hoàn cảnh cô độc, nhưng Người đã quên đi nỗi đau của riêng mình mà đem lòng thương yêu những người bạn tù mà Bác gọi là nạn hữu.
Có một bài thơ đã kết đọng lại hai dòng tình cảm lớn của Bác là tình thương và lòngyêu nước “Người bạn tù thổi sáo” Bác thương người bạn tù nhớ quê hương da diết trong
âm điệu sầu não Bác cũng là người cùng hội cùng thuyền, Bác cũng đang có tâm trạngnhớ quê hương đất nước nên tiếng sáo của người bạn tù cũng là tiếng lòng của Bác:
“Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu Khúc nhạc tình quê chuyển điệu sầu Muôn dặm quan hà khuôn xiết nỗi Lên lầu ai đó ngóng trông nhau”
Đó còn là sự xót thương khi nhìn thấy người bạn tù đắp chăn bằng giấy (dù mìnhcũng vậy)
Chăn giấy của người bạn tù
Cựu quyển tân thư tương bổ xuyết
Chỉ chiên do noãn quá vô chiên
Ngọc sàng cẩm trướng nhân tri phủ
Ngục lý hứa đa nhân bất miên?
Sách xưa vở mới khéo đem bồi, Chăn giấy hơn không đã hẳn rồi;
Giường ngọc màn thêu ai có thấu, Trong lao không ngủ biết bao người
Nam Trân – Băng Thanh:
Chứng kiến những cảnh ngộ thương tâm của một người tù cờ bạc nằm bên Bác vìđói rét bị nhà tù hành hạ chết thảm thương:
一个賭犯硬了 Nhất cá đổ phạm “ngạnh” liễu
Một người tù cờ bạc chết cứng
Tha thân chi hữu cốt bao bìThống khổ cơ hàn bất khả chiTạc dạ tha nhưng thụy ngã trắcKim triêu tha dĩ cửu tuyền quy
(Thân anh da bọc lấy xương
Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi,Đêm qua còn ngủ bên tôi
Sáng nay anh đã về nơi suối vàng!)Đây là một cái chết hai lần oan nên Bác càng thương cảm (Oan thứ nhất là đánhbạc không đáng vào tù vì trong tù đánh bạc công khai, oan thứ hai là phải chết trong đói rétthê thảm)
Trang 38- Giữa lúc đang chịu cảnh gông tù, xiềng xích người cộng sản quên đi thực tại và hướng ra thế giới bên ngoài cuộc sống của những con người nghèo khổ, nhân dân lao động
Vào nhà lao Tân Dương nghe tiếng khóc của một đứa trẻ, Bác vô cùng xúc độngtưởng chừng như đứa trẻ muốn nói với Bác qua tiếng khóc trẻ thơ:
Tiếng khóc trong nhà lao Tân Dương
Oa…! Oa…! Oa…!
Cha trốn không đi lính nước nhàNên nỗi thân em vừa nửa tuổi, Phải theo mẹ đến ở nhà pha
Bác trong tù nhưng vẫn cảm nhận thấy âm thanh non nớt đó kể lể với Bác một điềucay đắng trong ngàn điều cay đắng trên đời Tiếng khóc non tơ đó đã bật ra từ sự dồn néncủa tầng tầng phi lí Nhà thơ đã tự sự trong cái không thể tự sự được Hay đứa trẻ biết đây
là ông chủ bút tờ báo “Người cùng khổ” nên mới bật ra tiếng khóc kể lể như vậy
Trong những người bất hạnh Bác gặp trong tù, Bác đặc biệt thương mến nhi đồng
và phụ nữ Trên kia ta thấy được niềm thông cảm của Bác đối với người phụ nữ có chồngmới bị bắt lính và giờ đây chúng ta lại hiểu thêm được tấm lòng yêu thương của Bác trong
tiếng khóc của người góa phụ trong bài thơ “Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng”:
“Hỡi ôi! Chàng hỡi, hỡi chàng ơi!
Cơ sự vì sao vội lánh đời?
Để thiếp từ nay đâu thấy được Con người tâm ý hợp mười mươi”
Ở trong tù, nửa đêm nghe tiếng khóc của một người thiếu nữ mà biết được đó làtiếng khóc “người bạn đời, tâm đầu ý hợp” thì đấy là cái lỗ tai đặc biệt của ông chủ bút
“Anh đứng trong cửa sắt
Em đứng ngoài cửa sắt Gần nhau trong tấc gang
Mà biển trời cách mặt
Trang 39Miệng nói chẳng nên lời Nói lên bằng khóe mắtChưa nói lên tuôn đầyTình cảnh đáng thương thật.”
Dù sao thì vợ chồng người bạn tù còn được an ủi, vậy mà con người cô độc này lạiđem lòng thương “gần nhau trong tấc gang Mà biển trời cách mặt” thật ra thì họ đã đượcgần nhau trong gang tấc Còn “biển trời cách mặt” là biển của tình yêu thương mênh môngcủa Bác đối với những con người bất hạnh
Hay là sự cảm thông với người vợ có chồng bị bắt đi lính
Gia quyến người bị bắt lính
(Trung binh gia quyến)
Biền biệt anh đi không trở lại,Buồng the trơ trọi, thiếp ôm sầu;
Quan trên xót nỗi em cô quạnh,Nên lại mời em tạm ở tù
Trên con đường giải tù, nhìn thấy người phu làm đường cực khổ dưới nắng mưa,Bác động lòng thương và ghi lại thành thơ:
Phu làm đường
“Dãi gió dầm mưa chẳng nghỉ ngơi Phu đường vất vả lắm ai ơi * Ngựa xe hành khách thường qua lại Biết cảm ơn anh được mấy người”
(Nguyên văn: Thảm đạm kinh doanh” trúc lộ phu “Thảm đạm kinh doanh” là mộtthành ngữ Trung Quốc, ý nói dốc sức, mưu toan, tận tụy với công việc)
Khi diễn tả Người nói: “Tôi khổ sở vì đang kiến trúc con đường cho nhân loại, conđường cách mạng” Đó là sự đồng cảm của hai người “trúc lộ phu” cho nên tình thươngcàng sâu sắc, thấm thía
Nhiều bài thơ trong “Nhật kí trong tù” cũng biểu hiện sự sẻ chia niềm vui với ngườinông dân:
“Khắp chốn nông dân cười hớn hởĐồng quê vang dậy tiếng ca vui”
- Gắn niềm tin yêu vào nhân phẩm của con người khi bị đặt trong bóng tối
又一个 Hựu nhất cá Lại một người nữa
Di, Tề bất thực Chu triều túc,
Trang 40Đổ phạm bất ngật công gia chúc;
Di, Tề ngã tử Thú Dương sơn,
Đổ phạm ngã tử công gia ngục
(Di, Tề chẳng ăn gạo nhà Chu,
Tù bạc chẳng ăn cháo nhà nước;
Di, Tề chết đói ngàn Thú Dương,
Tù bạc chết đói trong nhà ngục)
Bá Di, Thúc Tề: con vua nước Cô Trúc đời nhà Ân (1401 - 1122 trước C.N), TrungQuốc Khi Vũ Vương chiếm ngôi nhà Ân lập nên nhà Chu, Bá Di, Thúc Tề không chịu ăngạo nhà Chu lên núi Thú Dương (nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) ở ẩn, ăn rau vi, rồichết đói ở đó
2 Thể hiện tình yêu nước thiết tha, một khát vọng tự do ngày càng cháy bỏng
Khi viết bài thơ Tứ cá nguyệt liễu (Bốn tháng rồi (Người dịch: Nam Trân), Bác nói:
"Nhất nhật tù, thiên thu tại ngoại",
Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa!
Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt,
Sử dư tiều tụy thập niên đa
"Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài", Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng, Tiều tuỵ còn hơn mười năm trời
Bởi vì:
Bốn tháng cơm không no, Bốn tháng đêm thiếu ngủ, Bốn tháng áo không thay, Bốn tháng không giặt giũ
Cho nên:
Răng rụng mất một chiếc, Tóc bạc thêm mấy phần, Gầy đen như quỷ đói, Ghẻ lở mọc đầy thân.
Đặc biệt, theo Trần Dân Tân thì: Nhưng khổ Cụ nhất là mất thì giờ ngồi không Lòng Cụ Hồ rối như tơ vò vì phải ngồi im vô ích trong khi công việc đang đòi Cụ và thờigian đi qua không chờ người”
Có thể thấy, tình yêu nước thiết tha trong Nhật kí trong tù chính là:
- Nỗi đau lớn nhất của Bác chính là nỗi đau tinh thần khi đất nước lầm
than, khi dân sống không yên ổn:
Thu dạ I - Đêm thu