1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang

5 733 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Tác giả Đỗ Trà Hương
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Chuyên ngành Khoa Học & Công Nghệ
Thể loại Bài báo
Năm xuất bản 2025
Thành phố Bắc Giang
Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 313,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang

Trang 1

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG HẤP PHỤ ION Cu 2+ , Ni 2+

CỦA THAN BÙN VIỆT YÊN - BẮC GIANG

Đỗ Trà Hương *

Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên

TÓM TẮT

Kết quả chụp ảnh hiển vi điện tử quét (SEM) cho thấy than bùn Việt Yên - Bắc Giang sau khi được hoạt hóa bằng H2SO4 đặc, xử lý, kết dính bằng dung dịch poly vinylancol (PVA) và anđêhit focmic, cho thấy độ xốp đã tăng hơn nhiều so với than bùn chưa hoạt hóa Đã khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ và khả năng hấp phụ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang sau khi hoạt hóa đối với Ni2+, Cu2+ bằng phương pháp hấp phụ tĩnh như ảnh hưởng của nồng độ, pH, thời gian Tính được dung lượng hấp phụ cực đại của than bùn theo mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir với Ni2+

là 15,6495 mg/g, đối với Cu2+ là 10,4932 mg/g

Từ khóa: hấp phụ, polyvinylancol, andehyt focmic, vật liệu, than bùn

MỞ ĐẦU

Các ion kim loại nặng như Cu2+, Pb2+,

Zn2+ thường tìm thấy trong nước thải công

nghiệp, gây độc hại nghiêm trọng cho sự sống

dưới nước và trên mặt đất Để tiến hành phân

tích, xác định và xử lý các kim loại nặng trong

môi trường, đặc biệt trong môi trường nước có

thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, như:

phương pháp hóa học, phương pháp sinh học

hay phương pháp vật lý Việc lựa chọn phương

pháp xử lý môi trường phải dựa vào bốn tiêu chí

là tính hiệu quả, tính kinh tế, thao tác đơn giản,

dễ thực hiện Chính vì vậy các vật liệu hấp phụ

có nguồn gốc tự nhiên, giá thành rẻ đang thu hút

sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học

[1-5] Trong bài báo này chúng tôi tiến hành khảo

sát khả năng hấp phụ của than bùn sau khi đã

hoạt hóa, xử lý, kết dính bằng PVA và anđêhit

focmic với các ion Cu2+ và Ni2+

THỰC NGHIỆM

Hóa chất và thiết bị

Hóa chất

- NiSO4 6H2O, CuSO4 5H2O, HNO3 1%,

H2SO4 1M, NaOH 0,094N, HCl 0,1M,

Polivinylancol ( PVA), Andehit fomic (HCHO),

NaCl

- Các hóa chất sử dụng để nghiên cứu đều có độ

tinh khiết PA

Thiết bị dụng cụ

- Máy lắc, máy khuấy từ, máy đo pH, tử sấy,

máy lọc hút chân không, máy đo phổ hấp thụ

nguyên tử Themo - Anh và một số dụng cụ khác

Chế tạo than bùn

Than bùn được lấy tại Việt Yên - Bắc Giang sau khi loại bỏ sơ bộ đất đá, rễ cây, vỏ cây khô, rửa sạch bằng nước cất để loại bỏ bớt huyền phù gây đục, đem phơi khô ngoài không khí một tuần sau

đó nghiền nhỏ, rây cỡ hạt 200μm được than bùn

khô và được bảo quản trong bình hút ẩm

Cân 200g than bùn đã được rây nhỏ cùng kích

cỡ, trộn đều với 100 ml H2SO4 đặc trong cốc thủy tinh có thể tích 1lit Để hỗn hợp phản ứng trong 3 giờ ở nhiệt độ phòng

2- Gel hóa than bùn bằng dung dịch polyvinylancol (PVA) và anđêhit focmic Than

bùn sau khi xử lý bằng dung dịch H2SO4 đặc cho thêm 300ml nước cất đun sôi, sau đó bổ xung đồng thời 100ml dung dịch PV 10% và 80ml dung dịch anđêhit focmic 37% Hỗn hợp được tiến hành khuấy trộn đều đế khi “nhựa gel” than bùn - PVA được tạo thành Sau đó tiến hành phá gel than bùn - PVA bằng 200ml nước và đun sôi

3- Tạo nhựa than bùn - PVA Hỗn hợp trên

được bổ xung 100ml dung dịch PVA 5%, sau đó khuấy đều và đun sôi Quá trình này được lặp lại

5 - 6 lần cho đến khi tạo được vật liệu nhựa than bùn -PVA Các hạt nhựa than bùn -PVA được rửa bằng nước cất cho đến khi đạt pH = 5,6 ÷ 6,5, sau đó được làm khô trong tủ sấy ở nhiệt độ

Trang 2

64

thành được cắt nhỏ và rây cỡ hạt 3mm để tiến

hành các thí nghiệm Để khảo sát đặc điểm bề

mặt của than bùn sau khi đã được hoạt hóa,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu chụp ảnh hiển vi

điện tử quét (SEM) bề mặt than bùn trước và sau

khi hoạt hóa bằng PVA và anđêhit fomic trên

thiết bị FESEM S-4800 của Viện Vật liệu - Viện

Khoa học và Công nghệ Việt Nam Kết quả

được chỉ ra trên hình 1 và 2.Qua ảnh SEM chụp

bề mặt của than bùn trước và sau khi hoạt hóa

cho thấy bề mặt than bùn sau khi hoạt hóa đã

xốp hơn nhiều so với than bùn chưa được hoạt

hóa

Hình 1 Ảnh SEM bề mặt than bùn chưa hoạt hóa

Hình 2 Ảnh SEM bề mặt than bùn đã hoạt hóa

Các thí nghiệm nghiên cứu

- Khảo sát thời gian đạt cân bằng hấp phụ của

than bùn

- Khảo sát ảnh hưởng của pH đến dung lượng

hấp phụ Cu2+, Ni2+ của than bùn

- Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ đến dung

lượng hấp phụ Cu2+

, Ni2+ của than bùn

- Khảo sát dung lượng hấp phụ cục đại của than

bùn đối với Cu2+

, Ni2+.

Nồng độ của Cu2+, Ni2+ trước và sau khi hấp phụ được xác định bằng phương pháp phổ hấp thụ nguyên tử có ngọn lửa (F-AAS)

Dung lượng hấp phụ tính theo công thức:

m

V cb C C

Trong đó:

- V là thể tích dung dịch (l)

- m là khối lượng chất hấp phụ (g)

- C 0 là nồng độ dung dịch ban đầu (mg/l)

- C cb là nồng độ dung dịch khi đạt cân bằng hấp phụ (mg/l)

- q là dung lượng hấp phụ tại thời điểm cân bằng (mg/g)

Dung lượng hấp phụ cực đại được xác định theo phương trình hấp phụ Langmuir dạng tuyến tính

cb

cb

.C

Trong đó:

- qmax là dung lượng hấp phụ cực đại (mg/g)

- K là hằng số Langmuir KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Khảo sát thời gian cân bằng hấp phụ của than bùn

Chuẩn bị các cốc thuỷ tinh 100ml, cho vào mỗi cốc 1g than bùn đã hoạt hóa và 50ml dung dịch

Ni2+, Cu2+ có nồng độ 50,820 mg/l và 50,261 mg/l (các nồng độ này đã được xác định lại bằng phương pháp hấp thụ nguyên tử) Khuấy đều trong thời gian 10, 20, 30, 45, 60, 80 phút, ở nhiệt độ phòng với tốc độ không đổi 250 vòng/phút Lọc lấy dung dịch, sau đó xác định lại nồng độ của Ni2+, Cu2+ sau hấp phụ tương ứng với thời gian khảo sát bằng phương pháp hấp thụ nguyên tử FAAS Kết quả được đưa ra ở hình 3

Trong khoảng thời gian khảo sát từ 10 - 80 phút nhận thấy: khi tăng thời gian từ 10 -30 phút thì hiệu suất hấp phụ Ni2+, Cu2+ của than bùn đều tăng

Trang 3

Hình 3 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời

gian đến quá trình hấp phụ Ni2+

, Cu2+

Từ 30-45 phút thì hiệu suất hấp phụ Cu2+của

than bùn tăng rất chậm, hầu như không đáng

kể, trong khi đó hiệu suất hấp phụ ion Ni2+ của

than bùn vẫn tiếp tục tăng lên Trong khoảng

thời gian còn lại hiệu xuất hấp phụ của than

bùn đối với cả hai ion này là khá ổn định Như

vậy, thời gian đạt cân bằng hấp phụ của Ni2+ là

45 phút, với Cu2+ là 30 phút Các giá trị này

được sử dụng ở các thí nghiệm tiếp theo

Khảo sát ảnh hưởng của pH đến khả năng

hấp phụ của than bùn

Dùng dung dịch NaOH 0,1M và H2SO4 0,1M để

điều chỉnh pH của dung dịch Ni2+

, Cu2+ có nồng

độ lần lượt là 50,820 mg/l và 50,261 mg/l đến

các giá trị pH khác nhau (các giá trị nồng độ này

đã được xác định lại bằng phương pháp hấp thụ

nguyên tử FAAS)

Hình 4 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến quá

trình hấp phụ Cu2+

Chuẩn bị các cốc thuỷ tinh 100ml, cho vào mỗi

cốc 1g than bùn đã hoạt hóa và 50ml dung dịch

Ni2+, Cu2+ có nồng độ như trên Khảo sát quá

trình hấp phụ ở các giá trị pH trên với thời gian

hấp phụ là thời gian đạt cân bằng hấp phụ với

khuấy không đổi là 250 vòng/phút Xác định lại nồng độ còn lại của ion Ni2+, Cu2+ trong dung dịch tương ứng với các giá trị pH đó Kết quả được đưa ra ở hình 4, 5

Hình 5 Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến

quá trình hấp phụ Ni2+

Từ hình 4, 5 nhận thấy, khi pH tăng thì hiệu suất hấp phụ của than bùn đối với cả hai ion Ni2+,

Cu2+ đều tăng Ở vùng pH thấp hiệu suất hấp phụ của than bùn đối với cả hai ion đều thấp, điều này được giải thích là do ở vùng pH thấp khả năng phân cực của các nhóm chức trên bề mặt than bùn là thấp, chúng phân ly kém nên khả năng hấp phụ của than bùn là thấp Bề mặt than bùn được xem như bao gồm các vị trí hấp phụ tích điện và trung hòa điện tích, trong môi trường nước có mặt các ion kim loại nặng, các ion này có xu hướng hấp phụ lên các vị trí tích điện âm và thay thế các ion khác cũng như ion

H+ gắn trên các vị trí tích điện âm Vì vậy, ở vùng pH thấp thì hầu như tất cả các vị trí tích điện âm đều được gắn bởi H+

, nồng độ H+ ở môi trường ngoài cao khi đó các ion kim loại nặng khó bị hấp phụ lên các vị trí tích điện âm Còn ở vùng pH cao hơn, khả năng phân cực của các nhóm chức trên bề mặt than bùn là tăng lên, do

đó khả năng hấp phụ của than bùn cũng tăng lên Tuy nhiên, ở pH gần bằng 6 bắt đầu xuất hiện kết tủa Ni(OH)2, còn với pH gần bằng 5 thì xuất hiện kết tủa của Cu(OH)2 trong dung dịch Do vậy, đã lựa chọn pH hấp phụ tốt nhất đối với ion

Ni2+ là trong khoảng 5 đến 5,5 còn với ion Cu2+ là trong khoảng pH từ 4 đến 4,5 Các giá trị này được

sử dụng cho các thí nghiệm tiếp theo

Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ đến khả năng hấp phụ của than bùn

0

5

10

15

20

25

30

35

40

45

t (phút )

Cu Ni

0

10

20

30

40

50

60

70

pH

0 10 20 30 40 50 60

pH

Trang 4

66

Thay đổi nồng độ của dung dịch Ni2+

, Cu2+ theo thứ tự tăng dần, pH được điều chỉnh đến giá trị

tại đó hiệu suất hấp phụ tốt nhất, thời gian mà

cân bằng hấp phụ xảy ra, ở nhiệt độ phòng, tốc

độ khuấy 250 vòng/phút không đổi Sau đó xác

định lại nồng độ còn lại của ion Ni2+

, Cu2+ tương ứng với các nồng độ đã khảo sát Kết quả được

thể hiện trong bảng 1

Bảng 1 Ảnh hưởng của nồng độ đến hiệu suất

hấp phụ

C o

(mg/l)

C cb

(mg/l)

H (%)

C o (mg/l)

C cb (mg/l)

H (%)

9,986 2,008 79,89 10,015 1,795 82,08

20,057 6,192 69,13 19,936 4,946 75,19

25,320 11,391 55,01 25,186 10,052 60,09

50,387 32,193 36,12 50,079 26,266 47,55

100,008 79,956 20,05 99,955 71,238 28,73

Từ bảng 1 nhận thấy khi tăng nồng độ trong

khoảng nồng độ không lớn lắm thì hiệu suất hấp

phụ ion Ni2+

¸ và Cu2+ của than đều giảm Điều

này hoàn toàn phù hợp với lí thuyết Từ các kết

quả đã khảo sát ở trên chúng tôi đã tiến hành

khảo sát quá trình hấp phụ ion Cu2+

, Ni2+ trên than bùn theo mô hình hấp phụ đẳng nhiệt

Langmuir Kết quả thể hiện trên hình 6 và 7

Hình 6 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của Ccb/q vào

Ccb của Cu2+ trên than bùn

Hình 7 Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của Ccb/q vào

Ccb của Ni2+ trên than bùn

Từ các hình 6,7 xác định được các hằng số của phương trình đẳng nhiệt Langmuir Kết quả được thể hiện trên bảng 2

Bảng 2 Các hằng số Langmuir đối với ion Ni2+, và

Cu2+

KẾT LUẬN

1 Đã hoạt hoá được than bùn Việt Yên - Bắc Giang thông qua quá trình hoạt hoá, xử lý, và kết dính bằng PVA và anđêhit focmic

2 Khảo sát bề mặt than bùn đã được hoạt hóa bằng kính hiển vi điện tử quét SEM cho thấy than bùn sau khi hoạt hoá có độ xốp cao

3 Đã khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hấp phụ và khả năng hấp phụ của than bun Việt Yên - Bắc Giang đối với Ni2+và Cu2+ bằng phương pháp hấp phụ tĩnh Kết quả thu được như sau:

- Thời gian đạt cân bằng hấp phụ với các ion

Ni2+ và Cu2+ lần lượt là 45 phút và 30 phút

- pH hấp phụ tốt nhất đối với Ni2+ trên than bùn

là từ 5 ÷ 5.5; đối với ion Cu2+ là 4 ÷ 4.5

- Khi tăng nồng độ dung dịch Ni2+, Cu2+ thì hiệu suất hấp phụ đều giảm

- Sự hấp phụ các ion Ni2+ và Cu2+ của than bùn

đã hoạt hóa, được mô tả khá tốt theo mô hình đẳng nhiệt Langmuir Điều này thể hiện qua hệ

số hồi quy của phương trình đối với ion Ni2+ là 0,9933, đối với ion Cu2+ là 0,9988 Mô tả quá trình hấp phụ theo mô hình hấp phụ đẳng nhiệt Langmuir đã xác định được dung lượng hấp phụ cực đại của than bùn Việt Yên - Bắc Giang đối với các ion Ni2+ là 15,6495 mg/g và Cu2+ là 10,4932 mg/g

TÀI LIỆU THAM KHẢO

y = 0.0953x + 0.3987

R 2 = 0.9988

0

2

4

6

8

10

Ccb (mg/l)

Trang 5

[1] Ngô Thị Mai Việt, Phạm Tiến Đức, Phạm Luận, Trần Tứ Hiếu, Chu Đình Bính (2008) Đánh giá khả năng hấp phụ một số ion kim loại nặng trên đá ong biến tính Tạp chí Phân tích, hóa, lý và sinh học Tập 13, số 3, pp 15-21 [2] Lê Hữu Thiềng, Hoàng Ngọc Hiền (2008) Nghiên cứu khả năng hấp phụ Cu 2+ và Pb 2+ trên vật liệu hấp phụ chế tạo từ bã mía, Tạp chí Phân tích, hóa, lý và sinh học Tập 13, số 3, pp 77-82

[3] E Erdem, N karapinar, R Dogar, R Bayrak, M Acikyldiz, and M, Yalcin (2004) The removad of heavy metal cation by natural zeolites, Journal of Colloid and Interface Sience 280, pp 309-314

[4] Tivette Vaughan, Chung W seo and Wayne, E Mashall (2001) Remove of selected metal ions from solution using modified corncobs Bioresource Technology, Volume 82, issue 3, pp 274-251

[5] Shaobin Wang, Z H Zhu, Anthony Coomes F Haghseresht, G Q Lu (2004) The physical and suface chemical characteristics of activated carbons and the adsortion of metylene blu from waste water Journal of

Colloid and Interface Sience 284, pp 400-446

SUMMARY

STUDY ON Cu 2+ AND Ni 2+ ADSORPTION CAPACITY

OF VIETYEN - BAC GIANG PEAT WAT

Do Tra Huong

College of Education – Thai Nguyen University

Peat wat found in Viet Yen - Bac Giang had been treated by H2SO4 and then by polyvinylancol (PVA) and formic aldehyde to make adsorbed materials SEM pictures show that sponginess of peat wat had increased after treatment Metallic ions (Cu2+, Ni2+) adsorption of the materials had been studied using stable adsorption process Values of maximum adsorption capacity of the materials are 10.4932 mg/g and 15.6495 mg/g on Ni2+ and on Cu2+ respectively had been calculated

Key word: Adsortion, polyvinylancol, formic andehyt, peat wat, material

Tel: 0914273908

Ngày đăng: 15/11/2012, 09:32

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Ảnh SEM bề mặt than bùn chưa hoạt hóa - Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Hình 1. Ảnh SEM bề mặt than bùn chưa hoạt hóa (Trang 2)
Hình 2. Ảnh SEM bề mặt than bùn đã hoạt hóa - Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Hình 2. Ảnh SEM bề mặt than bùn đã hoạt hóa (Trang 2)
Hình 5. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến - Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Hình 5. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến (Trang 3)
Hình 4. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến quá - Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Hình 4. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến quá (Trang 3)
Hình 3. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời - Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Hình 3. Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của thời (Trang 3)
Bảng 1. Ảnh hưởng của nồng độ đến hiệu suất - Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Bảng 1. Ảnh hưởng của nồng độ đến hiệu suất (Trang 4)
Hình 6. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của C cb /q vào - Nghiên cứu khả năng hấp thụ ion Cu 2+, Ni 2+ của than bùn Việt Yên - Bắc Giang
Hình 6. Đồ thị biểu diễn sự phụ thuộc của C cb /q vào (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w