1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức của giáo viên về biến đổi khí hậu và cách thức ứng phó: Thực trạng và những yếu tố ảnh hưởng

12 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 598,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài viết này, các tác giả trình bày kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên dạy hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt (N = 3221) về biến đổi khí hậu và cách thức ứng phó với biến đổi khí hậu, tại các cơ sở giáo dục của 6 tỉnh/ thành phố của Việt Nam.

Trang 1

112

This paper is available online at http://stdb.hnue.edu.vn

NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ CÁCH THỨC ỨNG PHÓ:

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

Nguyễn Công Khanh, Phan Thanh Long, Nguyễn Thị Cẩm Hường,

Bùi Thế Hợp, Nguyễn Thị Thắm và Trần Thị Thiệp

Khoa Giáo dục Đặc biệt, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

Tóm tắt Trong bài viết này, các tác giả trình bày kết quả khảo sát nhận thức của giáo viên

dạy hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt (N = 3221) về biến đổi khí hậu và cách thức ứng phó với biến đổi khí hậu, tại các cơ sở giáo dục của 6 tỉnh/ thành phố của Việt Nam Kết quả khảo sát cho thấy, đa số giáo viên được khảo sát đã có nhận thức đúng về biến đổi khí hậu

và cách thức ứng phó với biến đổi khí hậu Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận đáng kể nhận thức chưa đúng Nghiên cứu này khái quát bức tranh thực trạng nhận thức thái độ của giáo viên về biến đổi khí hậu, đồng thời chỉ ra một số yếu tố có ảnh hưởng đến nhận thức của giáo viên Kết quả khảo sát này cung cấp những thông tin đáng tin cậy, rất hữu ích cho việc xây dựng chính sách, hỗ trợ việc xây dựng chương trình giáo dục, tập huấn về biến đổi khí hậu cho giáo viên viên trong tương lai Nghiên cứu cũng đề cập đến một số hạn chế và định hướng nghiên cứu tiếp theo

Từ khóa: Nhận thức về biến đổi khí hậu, ứng phó với biến đổi khí hậu, giáo viên dạy hòa

nhập/ hội nhập/ chuyên biệt

1 Mở đầu

Việt Nam là quốc gia xếp thứ sáu phải chịu ảnh hưởng nặng nề do biến đổi khí hậu (BĐKH) BĐKH ở Việt Nam đang tác động lên mọi khía cạnh, lĩnh vực của cuộc sống và sự sinh tồn như tài nguyên, an ninh môi trường, an ninh quốc gia, đời sống kinh tế, xã hội (trong đó

có lĩnh vực giáo dục), vấn đề sức khỏe, chất lượng cuộc sống [1]

BĐKH với đặc trưng là sự ấm lên toàn cầu đi cùng các sự kiện thời tiết cực đoan như sóng nhiệt, sóng lạnh, mưa bão, lũ lụt và hạn hán xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn và tần suất cao hơn [2] Do biến đổi khí hậu, các điều kiện thời tiết bất lợi dẫn đến việc nồng độ bụi nguy hại cho sức khỏe ngày càng gia tăng, đồng thời có xu hướng duy trì lâu dài, phát tán rộng, ô nhiễm không khí do đó ngày càng trở nên nghiêm trọng [3] Thay đổi thời tiết, nhiệt độ tăng, nhiều thảm họa thiên nhiên trực tiếp gây ra cảm nhiệt, đuối nước, bệnh tiêu hóa, sang chấn tâm lí [4] Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới đang có nhiều nỗ lực để hạn chế, giảm thiểu BĐKH và những tác động của nó tới con người nói chung, trẻ em nói riêng, trong đó

có trẻ em khuyết tật Chương trình hành động quốc gia về phát triển bền vững thực hiện 17 mục tiêu của Liên hợp quốc đã nhấn mạnh tới mục tiêu số 13 về Hành động ứng phó với biến đổi khí hậu kết hợp với nâng cao chất lượng giáo dục (mục tiêu 4) và thực hiện đồng bộ các mục tiêu khác [5] Trong nhà trường, các chương trình dạy và học về ứng phó với biến đổi khí hậu của

Bộ GD&ĐT, tổ chức PLAN, AusAID, Live&Learn [6], Chương trình hướng dẫn về phong cách Ngày nhận bài: 22/7/2021 Ngày sửa bài: 20/8/2021 Ngày nhận đăng: 2/9/2021

Tác giả liên hệ: Nguyễn Công Khanh Địa chỉ e-mail: congkhanh6@gmail.com

Trang 2

sống và biến đổi khí hậu của UNESCO và UNEP [2], đã và đang được thực hiện

Đặc biệt UNICEF đã và đang rất nỗ lực giúp đỡ các cơ quan chính phủ Việt Nam tăng cường khả năng chống chọi và ứng phó với với thiên tai liên quan đến biến đổi khí hậu, tập trung vào việc giảm thiểu các tác động và sự tổn thương ở trẻ em Nhiều chương trình giảm thiểu rủi ro thiên tai, giúp trẻ em sẵn sàng ứng phó đang được tiến hành [1] Trẻ em là đối tượng

bị dễ bị tác động nghiêm trọng bởi những thay đổi của xã hội, đặc biệt trong bối cảnh BĐKH Theo UNICEF, trẻ em bị ảnh hưởng đặc biệt bởi thảm họa thiên nhiên Nhiều báo cáo và nghiên cứu cho thấy trẻ phải chịu đựng đuối nước do lũ lụt, thiếu nước sạch do hạn hán, bị bệnh đường tiêu hóa và sang chấn tâm lí sau các thảm họa thiên nhiên [1]

Đối với giáo dục của trẻ em, BĐKH đang gây ra các tác động rộng lớn cả trực tiếp và gián tiếp trên nhiều phương diện [7] Các tác động trực tiếp bao gồm gây ra thương tích, thương tật, ngăn cản cơ hội tới trường, áp lực tâm lí cho GV và HS, phá hủy cơ sở vật chất của nhà trường Đồng thời, BĐKH, một cách gián tiếp cũng khiến các hoạt động giáo dục, dạy học trong nhà trường, thời gian học tập của trẻ em bị giảm sút, tác động đến kinh tế của gia đình trẻ khiến trẻ giảm cơ hội đến trường [7] Trẻ khuyết tật (KT) vốn là một trong số các nhóm trẻ yếu thế nhất

do sự rối loạn trong chức năng cơ thể, dẫn tới sự hạn chế trong hoạt động và tham gia Trong khi giáo dục trẻ khuyết tật hướng tới tăng cường sự hoạt động và tham gia cho các em, thì BĐKH lại trở thành yếu tố khách quan cản trở việc tạo lập môi trường này Không những thế, các hiện tượng thời tiết cực đoan và ô nhiễm không khí cũng tác động không nhỏ tới sức khỏe

và trạng thái tâm lí nhất là khi các trẻ khuyết tật có vấn đề về giác quan, các em càng dễ bị tác động tới cảm xúc, hành vi Tuy vậy, đến nay, những chương trình hành động, những báo cáo và kết quả nghiên cứu tập trung khảo sát thực trạng nhận thức, tác động, ảnh hưởng của BĐKH của

GV tới trẻ em KT và giáo dục trẻ em KT cùng các sáng kiến để trẻ em KT và gia đình trẻ em

KT ứng phó với tác động của BĐKH còn nhiều hạn chế

Từ đầu năm 2021, nhóm nghiên cứu của khoa GDĐB, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phối hợp với tổ chức UNICEF Việt Nam, tiến hành nghiên cứu khảo sát đánh giá thực trạng và sáng kiến giảm thiểu tác động của BĐKH và ONKK tới trẻ em KT và giáo dục trẻ khuyết tật Trong bài báo này, nhóm nghiên cứu chỉ tập trung trình bày kết quả khảo sát nhận thức thái độ của GV dạy hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt về BĐKH và cách ứng phó với BĐKH nhằm khái quát bức tranh thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Mẫu khảo sát thực trạng

Mẫu khảo sát thực trạng nhận thức về BĐKH và cách thức ứng phó với BĐKH của GV dạy hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt, gồm 3221 GV của 6 tỉnh: Lào Cai, Kon Tum, An Giang, Hà Nội, Quảng Bình, TP Hồ Chí Minh Sự phân bố mẫu khảo sát được trình bày cụ thể ở Bảng 1

Bảng 1 Mẫu khảo sát thực trạng

Khu vực

(tỉnh/thành phố)

Mẫu (N)

Nam Nữ 51-60 41-50 36-40 31 35 24-30

Tổng 3221 654 2562 211 847 694 778 691

Trang 3

114

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy có 654/3216 (chiếm 20,34%) là GV nam và 2562/3216 (chiếm 79,66%) là GV nữ Tỉ lệ GV sinh 61-70 là 211/3221 (chiếm 6,55%), GV sinh 71-80 là 847/3221 (chiếm 26,30%), GV sinh 81-85 là 694/3221 (chiếm 21,55%), GV sinh 86-90 là 778/3221 (chiếm 24,15%), GV sinh 91-97 là 691/3221 (chiếm 21,45%)

2.2 Nội dung và công cụ khảo sát

* Mô tả nội dung:

Nội dung nghiên cứu khảo sát thực trạng nhận thức của GV dạy Hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt về BĐKH và cách thức ứng phó với BĐKH cũng như sự ảnh hưởng của BĐKH tới trẻ em KT và giáo dục trẻ em KT được tập trung vào các nội dung cụ thể sau:

(1) Nhận thức của giáo viên dạy hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt về quan niệm, cách thức ứng ứng phó với BĐKH;

(2) Thái độ của giáo viên dạy hòa nhập, hội nhập và chuyên biệt về ảnh hưởng của BĐKH đối với GD trẻ KT;

(3) Mức độ tác động, ảnh hưởng xấu của BĐKH và ONKK đến các nhóm trẻ em KT

* Mô tả công cụ:

Thang đo nhận thức về BĐKH và cách thức ứng phó với BĐKH, được thiết kế cho GV, sử dụng trong nghiên cứu này, gồm 3 tiểu thang đo với 25 mục (item) Mỗi item được đánh giá theo

kiểu thang Likert - 5 mức độ (1 = Hoàn toàn không đúng; 2= Cơ bản không đúng; 3 = Đúng một nửa/một phần; 4 = Cơ bản đúng; 5 = Hoàn toàn đúng/rất đúng) Ngoài ra còn có 1 câu hỏi về tác

động của BĐKH (hiện tượng thời tiết cực đoan, sóng nhiệt, sóng lạnh… bão lụt thường xuyên hơn, ) đến các nhóm trẻ KT và không KT, xem nhóm nào bộc lộ nhiều vấn đề hơn trước đây (chọn đánh dấu X vào ô tương ứng: từ 1 – ít ảnh hưởng nhất… đến 5 – nhiều ảnh hưởng nhất)

* Cách đánh giá:

Tính điểm của các tiểu thang đo/thang đo nhận thức về BĐKH bằng tổng điểm của các items Những GV có điểm số ≤ điểm trung bình của mẫu khảo sát, từ 1 đến trên 1 độ lệch chuẩn (SD) được xem là những GV có điểm nhận thức thấp (yếu) Những HS có điểm số ≥ điểm trung bình của mẫu khảo sát, từ 1 độ lệch chuẩn (SD) trở lên được xem là những GV

có điểm nhận thức cao (tốt), số GV còn lại có điểm nhận thức ở mức trung bình (bình thường) Quy ước này dựa trên sự khác biệt điểm trung bình (X) 1 độ lệch chuẩn (± 1SD) giữa các nhóm, có ý nghĩa về mặt thống kê [8]

* Đánh giá độ tin cậy:

Để đánh giá độ tin cậy của thang đo nhận thức về BĐKH và cách thức ứng phó với BĐKH của GV, chúng tôi sử dụng mô hình tương quan Alpha của Cronbach (Cronbach’s Coefficient alpha) Kết quả phân tích ở Bảng 2 cho thấy, độ tin cậy tính theo hệ số Cronbach Alpha trên mẫu 3221 GV của 2 tiểu thang đo Nhận thức của GV về BĐKH và Nhận thức của GV về cách ứng phó BĐKH đều ở mức cao (từ 0,90 đến 0,96)

Bảng 2 Độ tin cậy của các tiểu thang đo và toàn bộ phép đo (Phiếu khảo sát GV)

(N)

Hệ số tin cậy Alpha

Tiểu thang đo 2 (Nhận thức của GV về cách ứng phó BĐKH) 3221 0.96

2.3 Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức về BĐKH của giáo viên

2.3.1 Nhận thức về BĐKH của GV

Trang 4

GV có quan niệm như thế nào về BĐKH? Kết quả khảo sát các quan niệm của GV về biến

đổi khí hậu (BĐKH) tại Bảng 3 cho thấy, tỉ lệ GV có những nhận thức đúng ở mức 4-5 (cơ bản đúng, hoàn toàn đúng) chiếm 76,94%, nhưng chúng có biên độ dao động từ 67,6% - 84,4% GV

có những nhận thức ở mức 3 (thi thoảng đúng) chiếm 13,63%, biên độ dao động từ 9,1% - 19,3%; GV có những nhận thức chưa đúng ở mức 1-2 (hoàn toàn không đúng, hiếm khi đúng) chiếm tỉ lệ thấp 9,42%, có biên độ dao động từ 6,5% - 14,1% Như vậy vẫn còn một bộ phận đáng kể GV (trên 9%) có những nhận thức chưa đúng về BĐKH, thậm chí có tới trên 32,4% GV nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ với hiện tượng lạnh bất thường cũng là hệ quả của BDKH

Bảng 3 Nhận thức về BĐKH của giáo viên theo các mức độ

bậc

1.1 BĐKH là sự thay đổi

các thành phần của bầu khí

quyển toàn cầu trực tiếp

hoặc gián tiếp do hoạt động

của con người gây nên

1.2 BĐKH là sự thay đổi

có ý nghĩa thống kê của

trạng thái trung bình hoặc

sự biến đổi của khí hậu tồn

tại trong một thời gian dài

(thường là 10 năm hoặc

lâu hơn)

1.3 BĐKH là không thể

tránh khỏi do cách thức

hoạt động của xã hội hiện

đại

1.4 Tạo ra ấm lên toàn

cầu làm băng tan, nước

biển dâng

1.5 Tạo ra sóng nhiệt

(nhiệt độ tăng lên đột

ngột)

1.6 Tạo ra sóng lạnh

(nhiệt độ lạnh, giảm đột

ngột)

1.7 Gây mưa bão, lũ lụt

thất thường, khó dự báo

1.8 Gây hạn hán, hiện

tượng sa mạc hóa

1.9 Thiên tai và các hiện

tượng thời tiết cực đoan ở

Việt Nam gần đây (bão, lũ

lụt, hạn hán, xâm nhập

mặn, triều cường…) là do

BĐKH

Trung bình 4,16 5,26 13,63 37,26 39,68 4.03 1,04

(*Mức độ: (1 = Hoàn toàn không đúng; 2= Cơ bản không đúng;

3 = Đúng một nửa/một phần; 4 = Cơ bản đúng; 5 = Hoàn toàn đúng/rất đúng)

Trang 5

116

Nhận thức của GV về BĐKH có xu hướng hiểu theo cách hiểu phổ thông mà ít hiểu theo cách của các nhà khoa học GV thường chú ý đến các hiện tượng cụ thể đang xảy ra xung quanh, trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày, có thể cảm nhận ngay trong đời sống thường ngày (xếp thứ 1) như GV chú ý nhiều đến sóng nhiệt, hiện tượng nóng hơn là chú ý đến sóng lạnh, hiện tượng lạnh

2.3.2 Nhận thức về cách thức ứng phó BĐKH của GV

GV có quan niệm như thế nào về cách thức ứng phó với BĐKH? Số liệu khảo sát GV về

ứng phó với BĐKH trình bày tại Bảng 4 cho thấy, tỉ lệ GV có nhận thức đúng ở mức 4-5 (cơ bản đúng, hoàn toàn đúng) chiếm 80,21%, các quan niệm cụ thể có biên độ dao động từ 71,0% - 84,3% GV có nhận thức ở mức 3 (thi thoảng đúng) chiếm 12,10%, có biên độ dao động từ 9,8% - 17,8%; GV có những nhận thức chưa đúng ở mức 1-2 (hoàn toàn không đúng, hiếm khi đúng) chiếm tỉ lệ thấp 7,29%, có biên độ dao động từ 5,7% - 11,2% Như vậy vẫn còn một bộ phận đáng

kể GV (trên 7%) có những nhận thức chưa đúng về cách thức ứng phó với BĐKH, thậm chí có tới trên 29% GV chưa nhận thức được “Thích ứng là sự chấp nhận rằng không thể tránh hoàn toàn các ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH do quán tính của các hệ thống khí quyển và đại dương” Kết quả phân tích số liệu cho thấy GV dường như chú trọng nhiều hơn tới yếu tố giảm nhẹ, chú trọng tới việc giảm nhẹ trước, sau đó là thích ứng GV chú trọng tới kĩ năng giảm nhẹ nhiều hơn là kĩ năng thích ứng (2 trong số các kĩ năng thích ứng xếp thứ 7 và 8 trong số 9 kĩ năng) Điều này phù hợp với thực tế

Kĩ năng giảm nhẹ (ngăn ngừa) (ý 3.4, 3.6, 3.7, 3.8, 3.9, 3.10): GV chú ý tới sử dụng năng

lực mới, năng lượng tái tạo nhiều nhất, rồi tới biện pháp trồng cây xanh, sau đó mới tới các biện pháp của cá nhân để giảm khí nhà kính (như đi bộ, đi xe đạp), sử dụng hiệu quả năng lượng (đèn điện công nghệ mới, tiết kiệm điện) Có xu hướng nghĩ tới thay thế năng lượng hơn là sử dụng năng lượng hiệu quả (thói quen tận dụng cái cũ và xu hướng ưa chuộng cái mới)? Tuyên truyền như thế nào?

Kĩ năng thích ứng (điều chỉnh để thích nghi và tăng cường khả năng chống chịu, khai thác các mặt thuận lợi) (ý 3.5, 3.11, 3.12): GV chú trọng tới việc truyền thông trước tiên, sau đó mới

chú ý tới các hành vi cụ thể Trong khi đó, việc BDKH là không thể tránh khỏi, do đó bản thân con người cũng phải có kĩ năng thích ứng cùng với kĩ năng giảm nhẹ Quan niệm đồng bộ: thay đổi ý thức, dẫn tới thay đổi hành vi Nhận thức về tầm quan trọng của kĩ năng thích ứng cần được chú trọng hơn trong tương lai Điều này cho thấy nên đẩy mạnh hơn các hoạt động tuyên truyền và

có chính sách cụ thể của nhà nước cần nhấn mạnh về hoạt động tuyên truyền về vấn đề BDKH

Bảng 4 Nhận thức của GV về ứng phó với BĐKH

3.1 Ứng phó với BĐKH là tìm

cách giảm nhẹ và thích ứng

4,1 4,5 15,9 40,5 35,1 3,98 1,03 11

3.2 Giảm nhẹ là ngăn chặn

sự nóng lên toàn cầu thông

qua việc giảm phát thải khí

nhà kính

2,6 4,1 12,6 39,4 41,4 4,13 0,96 9

3.3 Thích ứng là sự chấp

nhận rằng không thể tránh

hoàn toàn các ảnh hưởng

tiêu cực của BĐKH do quán

tính của các hệ thống khí

quyển và đại dương

4,6 6,6 17,8 39,2 31,8 3,87 1,08 12

Trang 6

3.4 Đưa ra các chính sách và

giải pháp nhằm hạn chế ảnh

hưởng tiêu cực của BĐKH

2,5 3,2 10,3 36,8 47,2 4,23 0,93 3

3.5 Điều chỉnh nhận

thức-hành vi để thích nghi và tăng

cường khả năng chống chịu

trước tác động tiêu cực và

khai thác những thuận lợi

của BĐKH

2,9 4,2 12,3 37,6 43,0 4,14 0,98 8

3.6 Nâng cao hiệu quả sử

dụng năng lượng (sử dụng

đèn compact, tắt điện khi

không sử dụng…)

3,3 3,5 11,2 35,1 46,8 4,19 0,99 5

3.7 Tăng cường sử dụng

năng lượng mới, năng lượng

tái tạo (năng lượng gió, mặt

trời…)

2,6 3,2 9,8 34,3 50,0 4,26 0,95 1

3.8 Kiểm soát và giảm khí

nhà kính (đi bộ, xe đạp hoặc

xe buýt)

2,7 3,4 12,1 36,4 45,3 4,18 0,96 6

3.9 Tăng cường chứa và hấp

thụ khí nhà kính (trồng cây

xanh,…)

2,9 3,6 10,2 33,5 49,7 4,23 0,98 3

3.10 Tăng cường thu hồi khí

nhà kính từ các mỏ khai thác

than, dầu khí, bãi rác thải

3,1 5,0 14,0 37,8 40,1 4,07 1,01 10

3.11 Tăng cường đi bộ, xe

đạp hoặc xe buýt

2,9 4,3 13,1 36,2 43,4 4,13 0,99 8

3.12 Tăng cường truyền thông

về nội dung giáo dục BĐKH

(dạy bơi, ăn nhiều rau xanh,

thể dục, thể thao,…)

3,9 3,7 10,5 32,5 49,4 4,20 1,03 4

Trung bình 3,18 4,11 12,10 36,61 43,60 4.13 0,99

(*Mức độ: (1 = Hoàn toàn không đúng; 2= Cơ bản không đúng;

3 = Đúng một nửa/một phần; 4 = Cơ bản đúng; 5 = Hoàn toàn đúng/rất đúng)

2.3.3 Kết quả đánh giá thái độ của GV về BĐKH

GV có thái độ như thế nào về ảnh hưởng của BĐKH đối với giáo dục trẻ KT ở Việt Nam?

Kết quả đánh giá phân tích các biểu hiện của thái độ đối với tác động, ảnh hưởng của BĐKH đến giáo dục trẻ em KT được báo cáo trong Bảng 5 cho thấy tỉ lệ GV có thái độ đúng (quan tâm,

lo ngại…) ở mức 4-5 (đồng ý, rất đồng ý) chiếm 80,65%, các biểu hiện thái độ cụ thể có biên độ dao động từ 73,4% - 85,1% GV có nhận thức ở mức 3 (thi thoảng đồng ý) chiếm 12,98%, có biên độ dao động từ 10% - 17,7%; GV có thái độ chưa đúng ở mức 1-2 (hoàn toàn không đồng

ý, hiếm khi đồng ý) chiếm tỉ lệ thấp 6,38%, có biên độ dao động từ 4,9% - 8,9% Như vậy vẫn còn một bộ phận GV (trên 6%) có thái dộ chưa đúng về cách thức ứng phó với BĐKH Tuy

nhiên trong tiểu thang đo này có mục 5.5 “Tôi có xu hướng coi thông tin về BĐKK là không hoặc ít liên quan đến tôi”, được thiết kế “nghịch” (dạng phủ định) so với 4 mục khác để kiểm

Trang 7

118

tra tính nhất quán/kiên định của người trả lời Rất ngạc nhiên khi có tới gần 50% GV được khảo sát đồng ý và rất đồng ý với mục này Sự mâu thuẫn này nếu không do lỗi đọc hiểu, thì sẽ là điều rất đáng quan ngại

Bảng 5 Thái độ của GV về ảnh hưởng của BĐKH và ONKK đối với GD trẻ em KT

5.1 Tôi lo ngại rằng trẻ em khuyết

tật (KT) là nhóm yếu thế chịu nhiều

ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH

3,7 5,2 17,7 43,4 30,0 3,91 1,01 4

5.2 Tôi ngày càng quan tâm hơn

đến ảnh hưởng của BĐKH đối với

giáo dục trẻ em KT

2,2 3,7 12,0 45,6 36,4 4,10 0,91 3

5.3 Việc dạy trẻ KT các kĩ năng

ứng phó BĐKH là thực sự cần thiết

và quan trọng

2,3 2,6 10,0 39,6 45,5 4,23 0,90 1

5.7 BĐKH là một thực tế đang xảy

ra ở Việt Nam khiến tôi quan ngại

2,9 2,9 12,2 43,4 38,7 4,12 0,93 2 Trung bình 2,78 3,60 12,98 43,0 37,65 4,09 0,94

5.5 Tôi có xu hướng coi thông tin

về BĐKH là không hoặc ít liên

quan đến tôi

20,1 16,3 13,6 29,0 20,9 3,14 1,44 -

*Mức độ: 1 = Rất không đồng ý; 2= Không đồng ý; 3 = Đồng ý một nửa/một phần;

4 = Đồng ý; 5 = Rất đồng ý

2.3.4 Thực trạng nhận thức, thái độ của GV về BĐKH và cách thức ứng phó BĐKH

Từ kết quả xử lí phân tích số liệu khảo sát định lượng, dựa trên điểm số GV tự đánh giá theo 5 mức độ, Bảng 6 khái quát bức tranh thực trạng nhận thức thái độ của GV về BĐKH

thành 3 nhóm điểm: thấp, trung bình, cao (cách tính điểm để phân loại đã nói đến ở phần trên)

Lĩnh

vực Các tiểu thang đo (N = 3221)

Điểm

TB

Độ lệch

Nhóm điểm thấp

Nhóm điểm trung bình

Nhóm điểm cao

Nhận

thức,

thái

độ

Tiểu thang đo 1 (nhận thức về

≤ 29 16,1%

30-43 65,9%

≥ 44 18,0% Tiểu thang đo 2 (nhận thức về cách

thức ứng phó BĐKH của GV) 49,60 9,91

≤ 40 14,7%

41-59 68,8%

≥ 60 16,5% Tiểu thang đo 5a (Thái độ của GV về

14-19 62,9%

≥ 20 21,6%

Thang đo (phép đo tổng) 102,2

4

19,1

1

≤ 83 13,5%

84-120 70,1%

≥ 121 16,4% Kết quả đánh giá thực trạng phân thành 3 nhóm trình bày ở Bảng 6 cho thấy, có khoảng 13,5% GV có điểm trên thang đo đánh giá nhận thức thái độ đối với BĐKH ở mức thấp – tức là

có sự thiếu hụt đáng kể trong nhận thức thái đô về BĐKH Trong khi đó, có khoảng 16,4% GV

có điểm đánh nhận thức thái đô về BĐKH ở mức cao– tức là có sự hiểu biết đầy đủ về BĐKH Khoảng 70% số GV được khảo sát có điểm đánh giá nhận thức thái độ về BĐKH ở mức trung bình – nhóm này thể hiên nhận thức thái độ vẫn chưa thật đầy đủ về BĐKH

2.4 Kết quả đánh giá của GV về mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến từng nhóm trẻ em KT

GV đánh giá như thế nào về mức độ ảnh hưởng xấu của BĐKH đến từng nhóm trẻ em KT

và không KT? Kết quả đánh giá phân tích được báo cáo trong Bảng 7 cho thấy tất cả các nhóm

Trang 8

trẻ em KT và không KT đều chịu ảnh hưởng của BDKH Tuy nhiên so với nhóm trẻ em KT, nhóm trẻ em không KT chịu ảnh hưởng ít hơn Mức độ ảnh hưởng của BDKH lên các nhóm trẻ

có nhu cầu đặc biệt là khác nhau Tỉ lệ trẻ KT chịu ảnh hưởng ở mức 4 và 5 (nhiều, nhiều nhất) chiếm từ 58,4% đến 70%

Nhóm trẻ ốm yếu, bệnh mãn tính chịu ảnh hưởng nhiều nhất (xếp thứ 1), sau đó là nhóm trẻ khuyết tật vận động (xếp thứ 2) Tình trạng sức khỏe của các em dễ chịu những tác động trực tiếp từ BĐKH Do BĐKH biểu hiện qua các hiện tượng lũ lụt, mưa bão, thiên tai, sóng nhiệt, sóng lạnh, nên nhóm trẻ có khiếm khuyết, hạn chế về chức năng nào đó của cơ thể dễ bị tác động nhất (tác động trực tiếp) vì trẻ khó di chuyển, khó chống đỡ nhất

Nhóm trẻ tiếp theo chịu nhiều ảnh hưởng từ BĐKH là nhóm trẻ KT về chức năng nhận thức, cảm xúc, hành vi: khuyết tật trí tuệ, tăng động giảm chú ý, khuyết tật học tập (xếp thứ 4, 5), nhóm tiếp theo là nhóm trẻ rối loạn phổ tự kỉ và khiếm thị (xếp thứ 6, 7), cuối cùng là nhóm trẻ khiếm thính và khuyết tật ngôn ngữ (xếp thứ 8, 9)

Bảng 7 Mức độ bị ảnh hưởng ở các nhóm trẻ do tác động xấu của BĐKH

bậc

9.1 Không khuyết tật 6,4 17,1 27,3 31,4 17,9 3,37 1,15 10

9.4 Khuyết tật trí tuệ 3,7 8,8 24,4 35,3 27,8 3,75 1,07 4 9.5 Khuyết tật ngôn ngữ 4,1 11,6 26,0 35,9 22,4 3,61 1,08 9 9.6 Rối loạn phổ tự kỉ 4,0 9,4 24,2 35,8 26,6 3,72 1,08 6 9.7 Tăng động giảm chú ý 3,7 8,8 23,8 35,9 27,7 3,75 1,07 4 9.8 Khuyết tật học tập (khó khăn về học) 3,6 8,9 24,1 37,0 26,4 3,74 1,06 5 9.8 Trẻ ốm yếu, bệnh mãn tính 2,8 6,2 21,0 37,5 32,5 3,91 1,01 1 9.10 Khuyết tật vận động 3,5 8,4 23,4 36,5 28,0 3,77 1,06 2

*Mức độ: từ 1 = ít chịu ảnh hưởng nhất… đến 5 = chịu nhiều ảnh hưởng nhất

2.5 Một sô yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức của GV về BĐKH

Để tìm hiểu xem liệu có những yếu tố ảnh hưởng nào, có thể tạo ra sự khác biệt về điểm số trung bình trên thang đo nhận thức thái độ của GV về BĐKH tại Việt Nam, nghiên cứu này sử dụng kiểm định ANOVA và T-test Các yếu tố ảnh hưởng được xác định trong nghiên cứu này, gồm: nhóm tuổi, nhiệm vụ chuyên môn giảng dạy, khu vực công tác của GV, tập huấn và giới

tính như các phân tích dưới đây

2.5.1 Yếu tố nhóm tuổi

Để tìm hiểu liệu có sự khác biệt về điểm số nhận thức thái độ của GV đối với BĐKH theo

nhóm tuổi, kiểm đinh ANOVA được áp dụng để so sánh điểm trung bình trên phép đo tổng Kết

quả được thể hiện trong Bảng 8 dưới đây

Kết quả tại Bảng 8 cho thấy, có sự khác biệt đáng kể về điểm số trung bình của ít nhất một nhóm so với 4 nhóm còn lại (P < 05) Nhóm 5 gồm những GV có tuổi đời trẻ nhất (24-30 tuổi)

có điểm trung bình thấp nhất, khác biệt đáng kể với các nhóm khác trong mẫu khảo sát Điểu này ủng hộ giả thiết rằng nhóm tuổi có thể là một yếu tố ảnh hưởng đáng kể đến điểm số nhận thức thái độ của GV đối với BĐKH Yếu tố nhóm tuổi ẩn chứa trong nó yếu tố thâm niên hay kinh nghiệm nghề nghiệp Nhóm 1 gồm những GV có tuổi đời cao nhất (51-60 tuổi) cũng là nhóm có thâm niên và kinh nghiệm giảng dạy nhiệu nhất là nhóm có điểm trung bình cao nhất Điều Điều này phù hợp với thực tế giảng dạy trẻ KT

Trang 9

120

Bảng 8 So sánh sự khác biệt điểm trung bình về nhận thức thái độ của GV

về BĐKH theo nhóm tuổi

(N)

Nhận thức thái độ của GV về BĐKH

Điểm trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ khác biệt (Sig)

.000

2.5.2 Yếu tố chuyên môn giảng dạy

Để tìm hiểu liệu có sự khác biệt về điểm số nhận thức thái độ của GV đối với BĐKH theo chuyên môn giảng dạy, kiểm định ANOVA được áp dụng để so sánh điểm trung bình của thang

đo tổng Kết quả được thể hiện trong Bảng 9 dưới đây

Bảng 9 So sánh sự khác biệt điểm trung bình về nhận thức thái độ của GV về BĐKH

theo chuyên môn giảng dạy

Ảnh hưởng của yếu tố

chuyên môn

Mẫu (N)

Nhận thức thái độ của GV về BĐKH

Điểm trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ khác biệt (Sig)

.056

Kết quả kiểm định ANOVA tại Bảng 9cho thấy, không có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm

số trung bình của một nhóm so với hai nhóm khác do p > 05 (P = 056) Tuy nhiên khi so sánh phân tích theo từng cặp thì điểm số trung bình của nhóm GV dạy chuyên biệt cao hơn đáng kể

so với điểm số trung bình của nhóm GV dạy hội nhập (P = 017) Điều này phù hợp với thực tế

do nhóm GV dạy lớp chuyên biệt có nhiều kinh nghiệm làm việc với các trẻ KT, hiểu rõ hơn tính dễ bị thương tổn của trẻ em KT do tác động của BĐKH

2.5.2 Yếu tố khu vực/địa bàn công tác

Để tìm hiểu liệu có sự khác biệt về điểm số nhận thức thái độ của GV đối với BĐKH theo khu vực/địa bàn công tác, kiểm định ANOVA được áp dụng để so sánh điểm trung bình của

thang đo tổng Kết quả được thể hiện trong Bảng 10 dưới đây

Bảng 10 So sánh sự khác biệt điểm trung bình về nhận thức thái độ của GV

về BĐKH theo địa bàn công tác

Ảnh hưởng của yếu tố

khu vực/địa bàn công tác Mẫu (N)

Nhận thức thái độ của GV về BĐKH

Điểm trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ khác biệt

(Sig)

.000

Trang 10

Kết quả kiểm định ANOVA tại Bảng 10cho thấy, có sự khác biệt có ý nghĩa về điểm số trung bình của một nhóm so với hai nhóm còn lại do p < 05 (P = 000) Nhóm GV của Lào Cai có điểm trung bình thấp hơn đáng kể so với điểm số trung bình của 2 nhóm GV còn lại Nhóm GV của An Giang có điểm trung bình cao nhất Điều này dường như cũng phù hợp với thực tế do địa bàn của tỉnh An Giang trong thời gian 5 năm gần đây chịu nhiều tổn thất do tác động của BĐKH

2.4.3 Yếu tố tập huấn

Để đánh giá sự khác biệt về nhận thức thái độ của GV về BĐKH theo tình trạng chưa được tập huấn và đã từng được tập huấn giữa hai nhóm GV, chúng tôi sử dụng kiểm định T-Test để

so sánh điểm trung bình trên thang đo (tổng) về BĐKH của 2 nhóm GV này Kết quả được thể hiện trong Bảng 11 dưới đây

Bảng 11 So sánh sự khác biệt điểm trung bình nhận thức thái độ của GV về BĐKH

theo tình trạng chưa tập huấn/ đã được tập huấn

Ảnh hưởng của yếu tố

giới tính

Mẫu (N)

Nhận thức, thái độ của GV về BĐKH

Điểm trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ khác biệt

(Sig)

.000

2.4.3 Yếu tố giới tính

Để đánh giá sự khác biệt về nhận thức thái độ của GV về BĐKH theo theo giới tính giữa hai nhóm GV nam và GV nữ, chúng tôi sử dụng kiểm định T-Test để so sánh điểm trung bình trên thang đo nhận thức thái độ (tổng) về BĐKH của 2 nhóm GV này Kết quả được thể hiện trong Bảng 12 dưới đây

Bảng 12 So sánh sự khác biệt điểm trung bình nhận thức của GV về BĐKH theo giới tính

Ảnh hưởng của yếu tố

Nhận thức, thái độ của GV về BĐKH

Điểm trung bình Độ lệch chuẩn Mức độ khác biệt

(Sig)

.081

Kết quả phân tích T-Test ở Bảng 12 cho thấy, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về điểm trung bình trên thang đo nhận thức về BĐKH giữa hai nhóm GV nam và nữ (P = 081) Như vậy, dường như yếu tố giới tính chưa có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức của GV về

BĐKH trong nghiên cứu này

3 Kết luận

Kết quả khảo sát thực trạng nhận thức thái độ của GV về BĐKH cho thấy, đa số GV tự

đánh giá có nhận thức đúng ở mức 4-5 (cơ bản đúng, hoàn toàn đúng) và có thái độ phù hợp (quan tâm, lo ngại…) ở mức 4-5 (đồng ý, rất đồng ý) Tuy nhiên khi tổng hợp khái quát hóa bức tranh thực trạng nhận thức thái độ của GV về BĐKH thành 3 nhóm điểm: thấp, trung bình, cao thì đa số GV được khảo sát có điểm tự đánh giá nhận thức thái độ về BĐKH chỉ ở mức trung bình – tức là thể hiện nhận thức thái độ vẫn chưa thật đầy đủ về BĐKH Đặc biệt vẫn còn một

bộ đáng kể GV (gần 14%) có điểm trên thang đo đánh giá nhận thức thái độ đối với BĐKH ở

Ngày đăng: 15/09/2021, 18:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w