MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bước vào thế kỷ XXI, cùng với tốc độ phát triển kinh tế mạnh mẽ, con người đang phải đứng trước những thách thức lớn về các vấn đề môi trường, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH). Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trên phạm vi toàn cầu trong giai đoạn hiện nay, được các quốc gia và vùng lãnh thổ vô cùng quan tâm. Trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) được công bố tháng 2 năm 2007, nhiệt độ trung bình toàn cầu trong giai đoạn từ 1906 2005 đã tăng khoảng 0,74°C. Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên 0,31m trong 100 năm gần đây. Trong những năm qua, nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất. Điều này cho thấy biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường toàn cầu. Với khoảng 2,7 tỉ người – chiếm 40% dân số, vùng ven biển được coi là một trong số những khu vự phát triển năng động nhất thế giới. Sự gia tăng các rủi ro từ BĐKH là một trong những áp lực làm tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các cộng đồng ven biển. Họ là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước tác động của biến đổi khí hậu bởi năng lực thích ứng hạn chế và thường sinh sống ở những vùng địa lí dễ bị ảnh hưởng nhất bởi thiên tai, trong khi lại thiếu các nguồn lực cần thiết đê đương đầu với các rủi ro này. Việt Nam với đường bờ biển dài 3260km và hàng chục triệu người dân sinh sống, là một trong năm quốc gia ở Châu Á và Thái Bình Dương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu (Dasgupta và cộng sự, 2007). Mực nước biển dâng gây ra ngập lụt tới mức có thể nhấn chìm hàng triệu ha đất canh tác. Nếu nước biển dâng cao khoảng 1m thì sẽ có khoảng 10% dân số chịu tác động trực tiếp và có thể mất khoảng 10% GDP. Nếu không có ứng phó kịp thời nào thì Việt Nam sẽ mất đi ít nhất 12,2% diện tích đất, là nơi sinh sống của 23% dân số; 22 triệu người dân Việt Nam sẽ mất nhà cửa; 45% đất canh tác nông nghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nước ta sẽ bị ngập chìm trong nước biển. Nếu điều này xảy ra thì ước tính sẽ có khoảng 40 triệu người hay gần một nửa dân số Việt Nam sẽ bị chịu tác động trực tiếp (Ngân hàng Thế giới, 2007). Quảng Ninh là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng, sẽ có khoảng 10% diện tích đất ven biển của tỉnh bị ngập lụt (Quảng Ninh có 9 huyện, thị xã, thành phố ven biển, trong đó có 8 xã dưới mực nước biển); khoảng 5% chiều dài quốc lộ, trên 6% chiều dài tỉnh lộ, gần 4% chiều dài đường sắt, trên 9% dân số bị ảnh hưởng. Dự báo giai đoạn 20202100, mực nước biển tỉnh Quảng Ninh sẽ dâng từ 764cm so với giai đoạn 19801999, khi đó tổng diện tích bị ngập của tỉnh Quảng Ninh là 125,27km2. Phường Bạch Đằng là một trong những nơi khai thác hải sản nên ảnh hưởng của sự thay đổi thời tiết, khí hậu tới cuộc sống và hoạt động kinh tế là rất lớn. Nhằm tìm hiểu nững tổn thương mà cư dân trên địa bàn đã phải chịu do biến đổi khí hậu gây ra từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của BĐKH tới đời sống và hoạt động khai thác hải sản, tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá nhận thức của người dân về biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của chúng tới hoạt động khai thác hải sản trên địa bàn phường Bạch Đằng – thành phố Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh.”
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp: “Đánh giá nhận
thức của người dân về biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của chúng tới hoạt động khai thác hải sản trên địa bàn Phường Bạch Đằng - Thành phố Hạ Long - tỉnh Quảng Ninh” là công trình nghiên cứu của bản thân và chưa từng được
công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào
Các số liệu và kết quả trình bày trong khóa luận hoàn toàntrung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm với cam đoan này của tôi!
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu
Trang
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong quãng thời gian bốn năm học tập và rèn luyện tạiHọc viện Nông nghiệp Việt Nam, bằng tấm lòng biết ơn sâu sắcnhất, tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban giám đốc Học viện, khoa Môitrường cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã luôn quan tâm, giúp
đỡ, nhiệt tình chỉ dạy những kiến thức chuyên ngành, chia sẻcác kinh nghiệm quí báu về công việc, đạo đức và nhân cáchcon người làm hành trang để tôi tự tin bước vào đời
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài, tôi xin bày tỏ lòngbiết ơn sâu sắc tới cô TS Nguyễn Thị Bích Yên đã trực tiếphướng dẫn và nhiệt tình, ân cần chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất nhiều để
có thể hoàn thành đề tài với kết quả tốt nhất
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới ban lãnh đạo và toàn thểcán bộ UBND phường Bạch Đằng, trạm khí tượng Bãi Cháy đãnhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gianthực tập tại địa phương Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chânthành đến gia đình, bạn bè đã luôn bênh cạnh giúp đỡ, độngviên khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập và rèn luyện tạiHọc viện Nông nghiệp Việt Nam
Trong quá trình thực hiện đề tài, do điều kiện về mặt thờigian và hạn chế về năng lực bản thân nên không thể tránh khỏinhững thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp
từ các thầy cô giáo và toàn thể các bạn để bài khóa luận nàyđược hoàn thiện và có ý nghĩa hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thu Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3 Yêu cầu nghiên cứu
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát chung về biến đổi khí hậu
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu
1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu
1.1.3 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
1.2 Thực trạng về biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thực trạng về biến đổi khí hậu trên thế giới
1.2.2 Thực trạng về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.3 Tác động của BĐKH đến hoạt động khai thác hải sản ở Việt Nam
1.4 Khái quát chung về giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.4.1 Khái niệm
1.4.2 Các biện pháp thích ứng
1.4.3 Giải pháp chiến lược thích ứng với BĐKH trong lĩnh vực hải sản
CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu
2.2 Nội dung nghiên cứu
Trang 52.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
2.3.3 Phương pháp phỏng vấn hộ dân làm nghề đánh bắt
2.3.4 Phương pháp xử lý và đánh giá số liệu
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu và hiện trạng đánh bắt hải sản tại phường Bạch Đằng, Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
3.1.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu
3.1.2 Thực trạng tình hình khai thác hải sản trên địa bàn nghiên cứu
3.2 Xu hướng biến đổi khí hậu tại địa bàn nghiên cứu
3.2.1 Xu hướng biến đổi nhiệt độ
3.2.2 Xu hướng biến đổi số ngày nắng nóng gay gắt và số ngày rét đậm, rét hại
3.2.3 Xu hướng biến đổi lượng mưa
3.2.4 Xu hướng biến đổi của bão
3.2.5 Xu hướng biến đổi của sương mù
3.3 Đánh giá nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi khí hậu tại Bạch Đằng
3.2.1 Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi nhiệt độ
3.2.2 Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi lượng mưa
3.2.3 Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi của bão
3.4 Ảnh hưởng của BĐKH đến hoạt động đánh bắt hải sản trên địa bàn phường Bạch Đằng
3.4.1 Nhận thức của người dân về sự mẫn cảm của hoạt động đánh bắt hải sản so với các loại hình thiên tai
3.4.2 Các hoạt động đánh bắt dễ bị tác động bởi BĐKH
3.4.3 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của xu hướng BĐKH đến hoạt động đánh bắt hải sản
3.5 Năng lực và sự thích ứng với BĐKH của địa phương
Trang 63.6 Các giải pháp thích ứng với BĐKH của người dân địa phương trong
hoạt động đánh bắt hải sản
3.6.1 Tăng cường theo dõi dự báo thời tiết
3.6.2 Trang bị ngư cụ, thiết bị cứu nạn
3.6.3 Thay đổi vị trí đánh bắt
3.6.4 Thành lập các tổ liên kết tàu thuyền
3.6.5 Nâng cấp tàu thuyền và chuyển đổi hình thức đánh bắt
3.7 Đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng của người dân đối với BĐKH trong đánh bắt hải sản
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1 Kết luận
2 Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7NN&PTNT : Nông nghiệp và phát triển nông thôn
UNFCCC : Công ước Khung của Liên hiệp quốc về biến đổikhí hậu
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm
qua ở các vùng khí hậu của Việt Nam Bảng 2.1 Tổng hợp thông tin về hộ dân được phỏng vấn (n=57) Bảng 3.1 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của các loại hình
thiên tai Bảng 3.2 Nhận thức người dân về lực lượng tìm giải pháp trong việc
ứng phó với BĐKH Bảng 3.3 Ý kiến người dân về sự trang bị ngư cụ và dụng cụ dự báo
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Thay đổi nhiệt độ bề mặt giai đoạn 1901 - 2012
Hình 1.2 Thay đổi mực nước biển trung bình toàn cầu
Hình 1.3 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) trong 50 năm qua
Hình 1.4 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) trong 50 năm qua
Hình 1.5 Diễn biến số cơn xoáy thuận nhiệt đới hoạt động ở Biển Đông, ảnh hưởng và đổ bộ vào đất liền Việt Nam trong 50 năm qua
Hình 3.1 Vị trí địa lý Thành phố Hạ Long
Hình 3.2 Vị trí địa lý Phường Bạch Đằng
Hình 3.3 Diễn biến nhiệt độ và lượng mưa trung bình theo các tháng trong năm tại trạm Bãi Cháy giai đoạn 1961 - 2015
Hình 3.4 Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phường Bạch Đằng giai đoạn 2013 - 2015
Hình 3.5 Xu hướng biến đổi của nhiệt độ tối thấp và tối cao trung bình năm tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn 1961 – 2015
Hình 3.6 So sánh nhiệt độ tối thấp trung bình (TTT) tháng ở hai giai đoạn 1961 - 1990 và 1991 - 2015
Hình 3.7 So sánh nhiệt độ tối cao trung bình tháng (TTC) ở hai giai đoạn 1961-1990 và 1991 - 2015
Hình 3.8 Xu hướng biến đổi số ngày nắng nóng, nắng nóng gay gắt tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn 1961 - 2015
Hình 3.9 Xu hướng biến đổi số ngày rét đậm, rét hại tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn 1961 - 2015
Hình 3.10 Xu hướng biến đổi lượng mưa theo năm tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn 1961 – 2015
Hình 3.11 So sánh lượng mưa trung bình các tháng ở hai giai đoạn 1961-1990 và 1991-2015
Hình 3.12 Số cơn bão đổ bộ vào vùng ven biển Quảng Ninh giai đoạn 1961 - 2015
Trang 11Hình 3.13 Tần số bão đổ bộ vào vùng biển Quảng Ninh giai đoạn 1961 –
1990 và 1991 - 2015 Hình 3.14 Xu hướng biến đổi xương mù tại địa bàn nghiên cứu giai đoạn
từ năm 1961 – 2015 Hình 3.15 Tần số xuất hiện sương mù trên vùng biển Quảng Ninh giai
đoạn 1961 – 1990 và 1991 - 2015 Hình 3.16 Năng lực thông tin về BĐKH của người dân Hình 3.17 Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi nhiệt độ Hình 3.18 Nhận thức của người dân về xu hướng thay đổi tần suất xuất
hiện các hiện tượng nhiệt độ bất thường trong năm Hình 3.19 Nhận thức của người dân về xu hướng thay đổi thời gian xuất
hiện các hiện tượng nhiệt độ bất thường trong năm Hình 3.20 Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi lượng mưa giai
đoạn 1961-2015 Hình 3.21 Nhận thức người dân về xu hướng thay đổi số ngày mưa to bất
thường trong năm Hình 3.22 Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi của bão Hình 3.23 Nhận thức của người dân về xu hướng biến đổi sương mù Hình 3.24 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng của BĐKH đến các
hoạt động trong quá trình khai thác hải sản Hình 3.25 Nhận thức người dân về mức độ bị ảnh hưởng bởi BĐKH Hình 3.26 Nhận thức của người dân về tác động của nắng nóng đến hoạt
động khai thác hải sản Hình 3.27 Nhận thức của người dân về tác động của bão đến hoạt động
khai thác hải sản Hình 3.28 Nhận thức của người dân về tác động của hiện tượng sương
mù đến hoạt động đánh bắt hải sản Hình 3.29 Tỷ lệ nguồn truy cập thông tin thời tiết của hộ dân Hình 3.30 Tần suất theo dõi thông tin thời tiết của người dân địa phương
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ XXI, cùng với tốc độ phát triển kinh tếmạnh mẽ, con người đang phải đứng trước những thách thức lớn
về các vấn đề môi trường, đặc biệt là vấn đề biến đổi khí hậu(BĐKH) Đây là một trong những vấn đề nóng bỏng nhất trênphạm vi toàn cầu trong giai đoạn hiện nay, được các quốc gia
và vùng lãnh thổ vô cùng quan tâm
Trong báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy ban liên Chínhphủ về BĐKH (IPCC) được công bố tháng 2 năm 2007, nhiệt độtrung bình toàn cầu trong giai đoạn từ 1906 - 2005 đã tăngkhoảng 0,74°C Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng lên0,31m trong 100 năm gần đây Trong những năm qua, nhiều nơitrên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn,nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gâythiệt hại lớn về tính mạng con người và vật chất Điều này chothấy biến đổi khí hậu đã và đang tác động trực tiếp đến đờisống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu
Với khoảng 2,7 tỉ người – chiếm 40% dân số, vùng ven biểnđược coi là một trong số những khu vự phát triển năng độngnhất thế giới Sự gia tăng các rủi ro từ BĐKH là một trong những
áp lực làm tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựavào nguồn tài nguyên thiên nhiên tại các cộng đồng ven biển
Họ là những đối tượng dễ bị tổn thương nhất trước tác động củabiến đổi khí hậu bởi năng lực thích ứng hạn chế và thường sinhsống ở những vùng địa lí dễ bị ảnh hưởng nhất bởi thiên tai,trong khi lại thiếu các nguồn lực cần thiết đê đương đầu với cácrủi ro này
Trang 13Việt Nam với đường bờ biển dài 3260km và hàng chục triệungười dân sinh sống, là một trong năm quốc gia ở Châu Á vàThái Bình Dương chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí
hậu (Dasgupta và cộng sự, 2007) Mực nước biển dâng gây ra
ngập lụt tới mức có thể nhấn chìm hàng triệu ha đất canh tác.Nếu nước biển dâng cao khoảng 1m thì sẽ có khoảng 10% dân
số chịu tác động trực tiếp và có thể mất khoảng 10% GDP Nếukhông có ứng phó kịp thời nào thì Việt Nam sẽ mất đi ít nhất12,2% diện tích đất, là nơi sinh sống của 23% dân số; 22 triệungười dân Việt Nam sẽ mất nhà cửa; 45% đất canh tác nôngnghiệp tại đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa lớn nước ta sẽ bịngập chìm trong nước biển Nếu điều này xảy ra thì ước tính sẽ
có khoảng 40 triệu người hay gần một nửa dân số Việt Nam sẽ
bị chịu tác động trực tiếp (Ngân hàng Thế giới, 2007).
Quảng Ninh là một trong những tỉnh chịu ảnh hưởng, sẽ cókhoảng 10% diện tích đất ven biển của tỉnh bị ngập lụt (QuảngNinh có 9 huyện, thị xã, thành phố ven biển, trong đó có 8 xãdưới mực nước biển); khoảng 5% chiều dài quốc lộ, trên 6%chiều dài tỉnh lộ, gần 4% chiều dài đường sắt, trên 9% dân số bịảnh hưởng Dự báo giai đoạn 2020-2100, mực nước biển tỉnhQuảng Ninh sẽ dâng từ 7-64cm so với giai đoạn 1980-1999, khi
đó tổng diện tích bị ngập của tỉnh Quảng Ninh là 125,27km2 Phường Bạch Đằng là một trong những nơi khai thác hải sảnnên ảnh hưởng của sự thay đổi thời tiết, khí hậu tới cuộc sống
và hoạt động kinh tế là rất lớn Nhằm tìm hiểu nững tổn thương
mà cư dân trên địa bàn đã phải chịu do biến đổi khí hậu gây ra
từ đó đưa ra những giải pháp nhằm thích ứng và giảm thiểu tácđộng của BĐKH tới đời sống và hoạt động khai thác hải sản, tôi
thực hiện đề tài: “Đánh giá nhận thức của người dân về
Trang 14biến đổi khí hậu và ảnh hưởng của chúng tới hoạt động khai thác hải sản trên địa bàn phường Bạch Đằng – thành phố Hạ Long – tỉnh Quảng Ninh.”
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Đánh giá nhận thức về biến đổi khí hậu trong khai thác hảisản của người dân tại địa bàn nghiên cứu
- Đánh giá khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu trong khai thác hải sản của người dân
- Đề xuất các giải pháp nâng cao nhận thức và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu của người dân trong khai thác hải sản
3 Yêu cầu nghiên cứu
- Số liệu trung thực, khách quan để đánh giá nhận thức, khảnăng thích ứng của người dân trong hoạt động khai thác hải sản
- Các giải pháp đề xuất phù hợp với điều kiện của địa
phương, có tính thực tiễn và khả năng áp dụng thực tế cao
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái quát chung về biến đổi khí hậu
1.1.1 Một số khái niệm liên quan đến biến đổi khí hậu
Thời tiết và khí hậu
Thời tiết là tập hợp các trạng thái của các yếu tố khí tượng xảy ra trong khí quyển ở một thời điểm, được xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, lượng mưa v.v
Khí hậu là trạng thái vật lý của khí quyển xảy ra ở mộtvùng địa lý nào đó, được đặc trưng bởi các trị số thống kê cácyếu tố khí tượng nhiều năm về bức xạ, nắng, nhiệt độ, độ ẩm,lượng mưa, lượng bốc thoát hơi nước, mây, tốc độ và hướng gióv.v Các giá trị số thống kê thông dụng là số trung bình, sốmin, số max, tần số, tần suất và độ biến động,
Như vậy, khí hậu phản ánh giá trị trung bình nhiều nămcủa thời tiết và nó thường có tính chất ổn định theo những chu
kỳ tự nhiên, ít thay đổi Trên trái đất, chu kỳ khí hậu tự nhiên làbiến đổi mùa, khí hậu mỗi vùng ngoài những đặc điểm chungtheo từng đới thì chúng còn chịu sự chi phối riêng của gió mùakhu vực Tuy nhiên, tất cả những đặc điểm chung và riêng đềuduy trì tính ổn định thời gian Hàng năm, thời tiết thường biếnđộng xung quanh giá trị trung bình đặc trưng của vùng khí hậu
đó (Đoàn Văn Điếm và cộng sự, 2012).
Thời tiết cực đoan, khí hậu cực đoan
Theo báo cáo đánh giá lần thứ tư của Ủy ban liên Chính
phủ về biến đổi khí hậu của IPCC (2007) định nghĩa “hiện tượng
thời tiết cực đoan” và “hiện tượng khí hậu cực đoan” như sau:
Trang 17- Hiện tượng thời tiết cực đoan: là hiện tượng hiếm ở một
nơi cụ thể khi xem xét phân bố thống kê của nó Định nghĩa
“hiếm” ở đây có thể hiểu theo nhiều cách khác nhau nhưng hiệntượng thời tiết cực đoan thông thường được hiểu là tần suấtxuất hiện của nó nhỏ hơn 10% Theo định nghĩa này, những đặctrưng của thời tiết cực đoan có thể thay đổi tùy từng khu vực
mà đặc trưng cho khu vực đó, nó phụ thuộc vào các yếu tố địa
lý tự nhiên, bức xạ, địa hình v.v…
- Hiện tượng khí hậu cực đoan: là trung bình của số cáchiện tượng thời tiết cực đoan trên một khoảng thời gian nhấtđịnh, trung bình tự nó đã là cực đoan Hiện tượng khí hậu cựcđoan có thể xác định từ các yếu tố khí hậu Nói cách khác, hiệntượng khí hậu cực đoan phần lớn không được quan trắc trực tiếp
mà người ta căn cứ vào số liệu quan trắc các yếu tố khí hậu đểxác định hoặc quy định một hiện tượng nào đó có xuất hiện haykhông
Biến đổi khí hậu (BĐKH)
Hiện nay có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về Biến đổi khí
hậu đang được thế giới và Việt Nam sử dụng, ví dụ như:
- Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc về BĐKH (2007) định
nghĩa: “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi của trạng thái khí hậu do
các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người gây ra sựthay đổi thành phần của khối khí quyển toàn cầu và nó có thể
so sánh được”
- Theo Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC,
2007): “Biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của hệ thống
khí hậu, có thể được nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và
sự biến động của các thuộc tính của nó, được duy trì trong mộtthời gian đủ dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.”
Trang 18- Bộ NN&PTNN (2008) nêu ra: “Biến đổi khí hậu đề cập đến
sự thay đổi về trạng thái của khí hậu mà có thể xác định được(ví dụ sử dụng các phương pháp thống kê) diễn ra trong mộtthời kỳ dài thường là một thập kỷ hoặc lâu hơn BĐKH đề cậpđến bất cứ biến đổi theo thời gian, có hay không theo sự biếnđổi của tự nhiên do hệ quả các hoạt động của con người.”
Nhìn chung, các định nghĩa, khái niệm có đôi chút khácnhau song nội dung chính vẫn đồng quan điểm với nhau, đó là
sự thay đổi của trạng thái khí hậu trong khoảng thời gian dài, cóliên quan đến con người Như vậy, ta có thể hiểu một cách đơn
giản: “BĐKH là sự biến đổi theo một xu thế nào đó dẫn tới các
đặc trưng thời tiết dần dần trở nên khặc nhiệt hơn hoặc ôn hòa hơn, theo thời gian nó không trở lại xung quanh trị số khí hậu trung bình nữa.”
1.1.2 Biểu hiện của biến đổi khí hậu
Theo nghiên cứu của Uỷ ban liên Chính phủ về biến đổi khí
hậu (IPCC, 2007) BĐKH thường có một số biểu hiện sau đây:
- Sự nóng lên của khí quyển và trái đất nói chung
- Sự thay đổi thành phần và chất lượng khí quyển có hạicho môi trường sống của con người và các sinh vật trên trái đất
- Sự dâng cao mực nước biển do băng tan dẫn tới sự ngậpúng của các vùng đất thấp, các đảo nhỏ trên biển
- Sự di chuyển của các đới khí hậu tồn tại hàng nghìn nămtrên các vùng khác của Trái đất dẫn tới nguy cơ đe dọa sự sốngcủa các loài sinh vật, các hệ sinh thái và hoạt động của conngười
- Sự thay đổi cường độ hoạt động của quá trình hoàn lưukhí quyển, chu trình tuần hoàn nước trong tự nhiên và các chutrình sinh địa hóa khác
Trang 19- Sự thay đổi năng suất sinh học của các hệ sinh thái, chấtlượng và các thành phần của thủy quyển, sinh quyển và các địaquyển khác.
Tuy nhiên, sự gia tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu và mựcnước biển dâng thường được coi là hai biểu hiện chính của biếnđổi khí hậu
1.1.3 Nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu
Theo các nghiên cứu khoa học, nhìn chung có 2 nguyênnhân chính gây ra BĐKH đó là nguyên nhân khách quan (do tựnhiên) và nguyên nhân chủ quan (do con người)
1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan (do tự nhiên)
Nguyên nhân gây ra BĐKH do tự nhiên bao gồm: thay đổicường độ sáng của mặt trời, xuất hiện các điểm đen mặt trời(Sunspots), các hoạt động núi lửa, thay đổi đại dương và thayđổi quỹ đạo quay của trái đất.
(1) Sự thay đổi cường độ sáng của Mặt trời gây ra sự
thay đổi năng lượng chiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổinhiệt độ bề mặt trái đất Cụ thể là từ khi tạo thành mặt trời đếnnay gần 4,5 tỷ năm, cường độ ánh sáng mặt trời đã tăng lênhơn 30% Như vậy có thể thấy với khoảng thời gian khá dài nhưvậy thì sự thay đổi cường độ ánh sáng mặt trời là không ảnhhưởng đáng kể đến BĐKH
(2) Sự xuất hiện các Sunspots làm cho cường độ tia bức
xạ mặt trời chiếu xuống trái đất thay đổi, nghĩa là năng lượngchiếu xuống mặt đất thay đổi làm thay đổi nhiệt độ bề mặt tráiđất
(3) Núi lửa phun trào: Khi một ngọn núi lửa phun trào
sẽ phát thải vào khí quyển một lượng cực kỳ lớn khối lượngsulfur dioxide (SO2), hơi nước, bụi và tro vào bầu khí quyển
Trang 20Khối lượng lớn khí và tro có thể ảnh hưởng đến khí hậu trongnhiều năm Các hạt nhỏ được gọi là các sol khí phản chiếu lạibức xạ mặt trời trở lại không gian, vì vậy chúng có tác dụnglàm giảm nhiệt độ lớp bề mặt trái đất.
(4) Đại dương: Các đại dương là một thành phần chính
của hệ thống khí hậu Dòng hải lưu di chuyển một lượng lớnnhiệt trên khắp hành tinh Thay đổi trong lưu thông đại dương
có thể ảnh hưởng đến khí hậu thông qua sự chuyển động của
CO2 vào trong khí quyển
(5) Thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất: Trái đất quay
quanh Mặt trời với một quỹ đạo Trục quay có góc nghiêng23,5° Thay đổi độ nghiêng của quỹ đạo quay trái đất có thểdẫn đến những thay đổi nhỏ Tốc độ thay đổi cực kỳ nhỏ có thểtính đến thời gian hàng tỷ năm, vì vậy có thể nói không ảnhhưởng lớn đến BĐKH
Có thể thấy rằng các nguyên nhân gây ra BĐKH do các yếu
tố tự nhiên đóng góp một phần rất nhỏ vào sự BĐKH và có tínhchu kỳ kể từ quá khứ đến hiện tại Tuy nhiên, theo các kết quảnghiên cứu và công bố từ IPCC thì nguyên nhân gây ra BĐKHchủ yếu là do các hoạt động của con người.
1.1.3.2 Nguyên nhân do con người
Ủy ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 2007) đã nghiên cứu
về nguyên nhân của BĐKH và được công bố thông qua các báocáo như sau:
- Báo cáo đánh giá lần 2 của IPCC (1995) cho rằng hoạtđộng con người chỉ đóng góp vào 50% nguyên nhân gây raBĐKH
- Theo báo cáo đánh giá lần 3 của IPCC (2001), sau khi cácnhà nghiên cứu thực hiện các nghiên cứu khoa học thì kết quả
Trang 21chỉ ra rằng hoạt động con người đóng góp vào 67% nguyênnhân gây ra BĐKH.
- Theo báo cáo đánh giá lần 4 của IPCC (2007), sau mộtloạt các nghiên cứu được thực hiện, kết quả chỉ ra rằng hoạtđộng con người đóng góp vào 90% nguyên nhân gây ra BĐKH
- Và trong báo cáo đánh giá lần thứ 5, phần 1 của IPCC(2013) kết luận rằng hoạt động con người đóng góp vào 95%nguyên nhân gây ra BĐKH
Có rất nhiều bằng chứng khoa học cho thấy tồn tại mốiquan hệ giữa quá trình tăng nhiệt độ trái đất với quá trình tăngnồng độ khí CO2 và các khí nhà kính khác trong khí quyển, đặc
biệt trong kỷ nguyên công nghiệp (UNDP, 2008) Trong suốt gần
1 triệu năm trước cách mạng công nghiệp, hàm lượng khí CO2trong khí quyển nằm trong khoảng từ 170 - 280ppm Hiện tại,con số này đã tăng cao hơn nhiều và ở mức 387ppm và sẽ còn
tiếp tục tăng với tốc độ nhanh hơn nữa (Ngân hàng Thế giới,
2010) Chính vì vậy, sự gia tăng nồng độ khí CO2 trong khí
quyển sẽ làm cho nhiệt độ trái đất tăng và nguyên nhân củavấn đề biến đổi khí hậu là do trái đất không thể hấp thụ đượchết lượng khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính khác đang
dư thừa trong bầu khí quyển (UNDP, 2008).
Đánh giá khoa học của IPCC cho thấy, việc tiêu thụ nănglượng do đốt nhiên liệu hóa thạch trong các ngành sản xuấtnăng lượng, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng v.v đóng góp khoảng một nửa (46%) vào sự nóng lên toàn cầu, phárừng nhiệt đới khoảng 18%, sản xuất nông nghiệp khoảng 9%,các ngành sản xuất hóa chất (CFC, HCFC) khoảng 24%, còn lại3% là các hoạt động khác (chôn lấp rác thải )
Trang 22Theo thông báo thứ 2 của Việt Nam với Công ước KhungLiên Hiệp Quốc về BĐKH thì kết quả kiểm kê khí nhà kính (KNK)năm 2000 của Việt Nam là khoảng 143 triệu tấn CO2/năm.Trong đó Nông nghiệp chiếm 45% tổng lượng phát thải KNK củaViệt Nam, ngành năng lượng chiếm 35%, lâm nghiệp chiếm11%, công nghiệp chiếm 7% và các hoạt động khác (chôn lấpchất thải v.v ) chiếm 2% Khác với xu hướng toàn cầu, ViệtNam là một đất nước có tỷ trọng sản xuất nông nghiệp cao nênlượng phát thải KNK chiếm đến 45% tổng lượng phát thải của cảnước.
1.2 Thực trạng về biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thực trạng về biến đổi khí hậu trên thế giới
Nếu như trước đây, thế giới vẫn còn hoài nghi và tranhluận về vấn đề liệu biến đổi khí hậu trên thực tế có xảy ra haykhông và có phải do con người gây ra hay không thì ngày nay,cuộc tranh luận này không còn nữa và sự hoài nghi dần thu hẹp
lại Báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC (2007) đã phản ánh sự
đồng thuận rộng rãi về mặt khoa học khi cho rẳng BĐKH là cóthật và do con người gây ra Mặc dù hiện vẫn còn nhiều điềuchưa chắc chắn về tốc độ nóng lên, thời gian chính xác và cáchình thức tác động, nhưng những nguy cơ gắn liền với thựctrạng các lớp băng trên trái đất đang tan ra ngày một nhanh,nhiệt độ các đại dương tăng lên, các hệ sinh thái rừng nhiệt đới
bị hủy hoại và những hậu quả khác có thể xảy ra là hoàn toàn
có thật (UNDP, 2008).
(1) Sự nóng lên toàn cầu
Báo cáo đánh giá lần thứ 5 của IPCC công bố tháng 9 năm
2013 đã có những kết luận chính như sau:
Trang 23- Sự nóng lên của hệ thống khí hậu trái đất hiện này là mộtđiều chắc chắn và đã được minh chứng rõ ràng thông qua sốliệu quan trắc năm 1950, ghi nhận sự tăng lên của nhiệt độkhông khí và đại dương ấm lên, diện tích băng tuyết đang thuhẹp và mực nước biển tăng lên.
- Nhiệt độ trung bình trái đất tăng từ cuối thế kỷ 19 Trong
30 năm gần đây, nhiệt độ bề mặt trái đất ấm hơn so với cácthập kỷ trước, và những thập kỷ đầu thế kỷ 21 là ấm nhất
Xu thế tăng nhiệt độ trong chuỗi số liệu 110 năm (1901 2012) là 0,89°C và khoảng 0,72°C giai đoạn 1951 - 2012 trong
-đó riêng ở Bắc cực nhiệt độ đã tăng 1,5°C, gấp đôi tỷ lệ tăngtrung bình toàn cầu
Nhiệt độ tăng tổng cộng trung bình giữa giai đoạn 1850
-1900 với giai đoạn 2003 - 2012 là 0,78°C [0,72 - 0,85] °C vànhiệt độ tăng tổng cộng trung bình giữa giai đoạn 1850 - 1900 vớigiai đoạn 1986 - 2005 là 0,61°C [0,55 - 0,67]°C Khi hoàn thànhtính toán số liệu nhiệt độ các vùng trong giai đoạn dài nhất (1901 -
2012) cho thấy nhiệt độ bề mặt trái đất đang ấm dần lên (Hình
1.1).
Hình 1.1 Thay đổi nhiệt độ bề mặt giai đoạn 1901 - 2012
Trang 24(Nguồn: IPCC, 2013)
(2) Biến đổi của lượng mưa
Báo cáo tổng hợp thông tin của Viện khí tượng thủy văn và
môi trường (IMHEN, 2010) cho biết trong thời kỳ 1901 - 2005,
xu thế biến đổi của lượng mưa rất khác nhau giữa các khu vực
và giữa các tiểu khu vực trên từng khu vực và giữa các thờiđoạn khác nhau trên từng tiểu khu vực:
- Ở Bắc Mỹ, lượng mưa tăng lên ở nhiều nơi, nhất là ở BắcCanada nhưng lại giảm đi ở Tây Nam nước Mỹ, Đông Bắc Mexico
và bán đảo Bafa với tốc độ giảm chừng 2% mỗi thập kỷ, gây rahạn hán trong nhiều năm gần đây
- Ở Nam Mỹ, lượng mưa lại tăng lên trên lưu vực Amazon
và vùng bờ biển Đông Nam nhưng lại giảm đi ở Chile và vùng bờbiển phía Tây
- Ở Châu Phi, lượng mưa giảm ở Nam Phi, đặc biệt là ởSahen trong thời đoạn 1960 - 1980
- Ở khu vực nhiệt đới, lượng mưa giảm đi ở Nam Á và TâyPhi với trị số xu thế là 7,5% cho cả thời kỳ 1901 - 2005 Khu vực
có tính địa phương rõ rệt nhất trong xu thế biến đổi lượng mưa
là Australia do tác động lớn của ENSO
- Ở đới vĩ độ trung bình và vĩ độ cao, lượng mưa tăng rõ rệt
ở miền Trung Bắc Mỹ, Đông Bắc Mỹ, Bắc Âu, Bắc Á và Trung Á
- Trên phạm vi toàn cầu lượng mưa tăng lên ở các đới phíaBắc vĩ độ 30°N thời kỳ 1901 - 2005 và giảm đi ở các vĩ độ nhiệtđới, kể từ thập kỷ 1990
- Tần số mưa lớn tăng lên trên nhiều khu vực, kể cả nhữngnơi lượng mưa có xu thế giảm
(3) Băng tan và nước biển dâng
Trang 25Khi nhiệt độ toàn cầu tăng lên, lượng mưa tại các khu vựckhác nhau đang thay đổi; các vùng biển ấm lên, băng tại các
cực đang tan ra và mực nước biển đang dâng lên (UNDP, 2008).
Tại hội nghị quốc tế về BĐKH họp ở Bruxen (Bỉ), các báocáo khoa học cho biết, ở Bắc cực, khối băng dày 2 dặm đangmỏng dần và đã mỏng đi 66cm Ở Nam cực tình trạng tương tựcũng diễn ra nhưng với tốc độ chậm hơn và những núi băng ởTây Nam cực đổ sụp Các nhà khoa học phát hiện trong hai mùa
hè năm 2007 và 2008, lượng băng bao phủ ở hai cực đã xuốngtới mức thấp nhất kể từ lần vệ tinh ghi được những hình ảnh
đầu tiên vào 30 năm trước (IPCC, 2007).
Số liệu vệ tinh cho thấy, trong giai đoạn 1979 - 2012, diệntích băng biển trung bình hàng năm ở Bắc cực đã thu hẹpkhoảng 3,8% /thập kỷ, riêng mùa hè giảm 9,4 - 13,6%/thập kỷ.Diện tích cực đại của lớp băng phủ ở Bắc bán cầu giảm 13,5 -14,7%/thập kỷ trong giai đoạn 1979 - 2012 Còn ở Nam cực,diện tích băng biển đã thu hẹp với tỷ lệ trung bình là 1,5%/thập
kỷ trong giai đoạn 1979 - 2012 (IPCC, 2013)
Các nhà khoa học về BĐKH toàn cầu và nước biển dângcho thấy, đại dương đã nóng lên đáng kể từ cuối thập kỷ 1950.Các nghiên cứu từ số liệu quan trắc trên toàn cầu cho thấy, mựcnước biển trung bình toàn cầu trong thời kỳ 1961 - 2003 đãtăng với tốc độ trung bình khoảng 1,8 ± 0,5mm/năm so với mức
độ gia tăng trung bình của thế kỷ 20 là 1,7 ± 0,5mm/năm, trong
đó, đóng góp do giãn nở nhiệt khoảng 0,42 ± 0,12mm và tan
băng khoảng 0,70 ± 0,50mm/năm (IPCC, 2007).
Theo báo cáo lần thứ 5 của Ủy ban Liên chính phủ về
BĐKH (IPCC, 2013), tốc độ nước biển dâng từ giữa thế kỷ 19 đã
lớn hơn so với tốc độ nước biển dâng trung bình trong hai ngàn
Trang 26năm trước đó Trong hơn 100 năm từ 1901 đến 2010, mực nước
biển trung bình toàn cầu tăng 0,19m [0,17 - 0,21] (Hình 2.2).
Hình 1.2 Thay đổi mực nước biển trung bình toàn cầu
(Nguồn: IPCC, 2013)
Bên cạnh nhiệt độ tăng và mực nước biển dâng, con ngườicũng đã cảm nhận ngày càng rõ rệt về sự gia tăng các hiệntượng thời tiết cực đoan Hạn hán và lũ lụt xảy ra thường xuyênhơn; các cơn bão trở nên mạnh hơn; nhiều đợt nắng nóng hơn;
số ngày lạnh, đêm lạnh và sương giá giảm đi, trong khi các đợtnắng nóng ngày càng xảy ra thường xuyên hơn; cường độ củanhững cơn bão và lốc nhiệt đới đã trở nên nghiêm trọng hơn
1.2.2 Thực trạng về biến đổi khí hậu ở Việt Nam
(1) Nhiệt độ tăng
Theo Kịch bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng cho
Việt Nam (2013) cho thấy rằng: Nhiệt độ trung bình năm, mùa
(đông, xuân, hè, thu) ở tất cả các vùng của Việt Nam đều có xuthế tăng so với thời kỳ cơ sở (1986 - 2005), mức tăng là rất khácnhau trên các vùng
Trang 27Vào giữa thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở phía Bắc
có mức tăng phổ biến từ 2,0 đến 2,3oC và ở phía Nam từ 1,8 đến1,9oC Đến cuối thế kỷ, mức tăng từ 3,3 đến 4,0oC ở phía Bắc và
từ 3,0 đến 3,5oC ở phía Nam Nhìn chung, nhiệt độ phía Bắctăng cao hơn phía Nam
Hình 1.3 Mức tăng nhiệt độ trung bình năm (°C) trong 50 năm qua
(Nguồn: IMHEN, 2010)
Nhiệt độ cực trị có xu thế tăng so với trung bình thời kỳ1986-2005 ở tất cả các vùng của Việt Nam Theo kịch bản, đếncuối thế kỷ 21, nhiệt độ tối cao trung bình năm có xu thế tăng
từ 1,7 đến 2,7oC, tăng cao nhất là khu vực Đông Bắc, ĐồngBằng Bắc Bộ; thấp nhất là khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ.Trong khi đó, nhiệt độ tối thấp trung bình năm vào cuối thế kỷ
có xu thế tăng từ 1,8 đến 2,2oC Xu thế chung của nhiệt độ cựcđại và cực tiểu là tăng, tốc độ tăng của nhiệt độ cực tiểu nhanhhơn so với nhiệt độ cực đại, phù hợp với xu thế chung của biến
đổi khí hậu toàn cầu (Bảng 1.1)
Bảng 1.1 Mức tăng nhiệt độ và mức thay đổi lượng mưa trong 50 năm qua
ở các vùng khí hậu của Việt Nam
Trang 28(Nguồn: IMHEN, 2010)
(2) Về lượng mưa
Theo Kịch bản Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt
Nam (2013) cho thấy: Lượng mưa trung bình năm có xu thế
tăng so với thời kỳ cơ sở ở tất cả các vùng Lượng mưa mùa khô
ở một số vùng có xu thế giảm Mưa cực trị có xu thế tăng
Theo kịch bản, đến cuối thế kỷ 21, lượng mưa trung bìnhnăm có xu thế tăng ở hầu hết diện tích cả nước, phổ biến từ 5đến 15% Một số tỉnh ven biển Đồng Bằng bắc Bộ, Bắc Trung
Bộ, Trung Trung Bộ có thể tăng trên 20% Đối với lượng mưacực trị, lượng mưa một ngày lớn nhất có xu thế tăng trên toànlãnh thổ Việt Nam với mức tăng phổ biến từ 10 đến 70% Mứctăng nhiều nhất ở Đông Bắc, Trung Bộ (từ Thừa Thiên - Huế đếnQuảng Nam) và Đông Nam Bộ
(Hình 1.4)
Trang 29Hình 1.4 Mức thay đổi lượng mưa năm (%) trong 50 năm qua
(Nguồn: Viện Khoa học khí tượng thủy văn)
Lượng mưa ngày cực đại tăng lên ở hầu hết các vùng khíhậu, nhất là trong những năm gần đây Số ngày mưa lớn cũng có
xu thế tăng lên tương ứng, nhiều biến động mạnh xảy ra ở khuvực miền Trung Tồn tại mối tương quan khá rõ giữa sự nóng lêntoàn cầu và nhiệt độ bề mặt biển khu vực Đông xích đạo TháiBình Dương với xu thế biến đổi của số ngày mưa lớn trên cácvùng khí hậu phía Nam
(3) Nước biển dâng
Theo kết luận trong nghiên cứu của Trần Thục, Huỳnh ThịLan Hương, Đào Minh Trang (2012): Số liệu mực nước đo đạc từ
vệ tinh từ năm 1993 đến 2010 cho thấy xu thế tăng mực nướcbiển trên toàn biển Đông là 4,7mm/năm, phía Đông của biểnĐông có xu thế tăng hiều hơn hơn phía Tây Chỉ tính cho dải ven
bờ Việt Nam, khu vực ven biển Trung Trung Bộ và Tây Nam Bộ
Trang 30có xu hướng tăng mạnh hơn, trung bình cho toàn dải ven biểnViệt Nam tăng khoảng 2,9mm/năm.
Theo viện khoa học khí tượng và thủy văn (2011) đánh
- Trong thời kỳ gần đây, mực nước biển cao hơn thời kỳ
1961 - 1990 về trị số trung bình cũng như trị số cao nhất và trị
số thấp nhất
Theo kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam
(2015), vào cuối thế kỷ 21 mực nước biển dâng cao nhất ở khu
vực quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa: 78 cm (52 cm ÷ 107 cm);thấp nhất ở khu vực Móng Cái đến Hòn Dáu: 72 cm (49 cm ÷
101 cm)
Nếu nước biển dâng 1m, khoảng 17,57% diện tích Đồngbằng sông Hồng, 1,47% diện tích các tỉnh ven biển miền Trung
từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, 17,84% diện tích Tp Hồ Chí Minh
và 4,79% diện tích Bà Rịa - Vũng Tàu có nguy cơ bị ngập Đồngbằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập cao (39,40%diện tích), trong đó tỉnh Kiên Giang có nguy cơ ngập cao nhất(75% diện tích) Các đảo có nguy cơ ngập cao nhất là cụm đảoVân Đồn, cụm đảo Côn Đảo và Phú Quốc Nguy cơ ngập đối vớinhững đảo tự nhiên thuộc quần đảo Trường Sa là không lớn.Cụm đảo Hoàng Sa có nguy cơ ngập lớn hơn, lớn nhất là tại cụmđảo Lưỡi Liềm và Tri Tôn
(4) Xoáy nhiệt đới
Trang 31Kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam (Bộ Tài
nguyên – Môi trường, 2012) kết luận rằng:
Về xoáy thuận nhiệt đới, trung bình hàng năm có khoảng
12 cơn bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông,trong đó khoảng 45% số cơn nảy sinh ngay trên Biển Đông và55% số cơn từ Thái Bình Dương di chuyển vào Số cơn bão và
áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng đến Việt Nam vào khoảng 7cơn mỗi năm và trong đó có 5 cơn đổ bộ hoặc ảnh hưởng trựctiếp đến đất liền nước ta
Số lượng xoáy thuận nhiệt đới hoạt động trên khu vực BiểnĐông có xu hướng tăng nhẹ, trong khi đó số cơn ảnh hưởnghoặc đổ bộ vào đất liền Việt Nam không có xu hướng biến đổi rõ
rang (Hình 2.5).
Hình 1.5 Diễn biến số cơn xoáy thuận nhiệt đới hoạt động ở Biển Đông, ảnh
hưởng và đổ bộ vào đất liền Việt Nam trong 50 năm qua
(Nguồn:IMHEN, 2010)
Khu vực đổ bộ của các cơn bão và áp thấp nhiệt đới vàoViệt Nam có xu hướng lùi dần về phía Nam lãnh thổ nước ta; sốlượng các cơn bão rất mạnh có xu hướng gia tăng; mùa bão có
Trang 32dấu hiệu kết thúc muộn hơn, quỹ đạo bão có vẻ dị thường hơn
và số cơn bão ảnh hưởng tới khu vực Nam Bộ có phần tăng lêntrong những năm gần đây Mức độ ảnh hưởng của bão đếnnước ta có xu hướng mạnh lên
(5) Xâm nhập mặn
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Khoa học Thủy lợi ViệtNam (2013), vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) có tới66% lao động bằng nghề sản xuất nông nghiệp và nuôi trồngthủy sản với diện tích 306.100 ha chủ yếu là canh tác lúa nước.Lưu lượng về hạ du giảm, mực nước sông Hồng xuống thấp
và nước biển dâng cao kết hợp triều cường dẫn đến xâm nhậpmặn ngày càng phức tạp Kết quả quan trắc, đánh giá số liệu đo
độ mặn cho thấy: Vào mùa kiệt nước phục vụ cho sản xuất nôngnghiệp ở Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình có độmặn vượt quá nồng độ cho phép đã làm giảm năng suất câytrồng:
- Giới hạn xâm nhập mặn (từ ngày 19 đến ngày 28 tháng
12 năm 2007) có đỉnh mặn lớn nhất kỳ triều ở các sông: Trà Lý,sông Hồng, Ninh Cơ, sông Đáy Độ sâu xâm nhập mặn diễn biến
từ 21,3km đến 28,5km theo Sđỉnh max ở mức xâm nhập mặn 1‰
- Giới hạn xâm nhập mặn (từ ngày 16 đến ngày 25 tháng 1năm 2008) gồm các con triều cường và triều trung bình thuộc 1
kỳ triều cường có đỉnh mặn lớn nhất ở các sông: Trà Lý SôngHồng, Ninh Cơ, sông Đáy Độ sâu xâm nhập mặn diễn biến từ30,3km đến 40km theo Sđỉnh max ở mức xâm nhập mặn 1‰
- Đỉnh mặn lớn thường xuất hiện ở đầu và cuối kỳ triều,đỉnh mặn ở các con triều cường thuộc giữa kỳ không lớn Đỉnhmặn còn phụ thuộc vào lưu lượng nước xả từ các hồ kịp thời
Trang 33khống chế được mực nước tối thiểu và đẩy xâm nhập mặn làmgiảm độ sâu nhập mặt vào các các cửa sông
(6) Các hiện tượng thời tiết cực đoan
Theo số liệu quan trắc, trong khoảng 70 năm qua (1931 2000):
Số đợt không khí lạnh ảnh hưởng đến Việt Nam giảm rõrệt trong 2 thập kỷ gần đây, từ 29 đợt mỗi năm trong các thập
kỷ 1971 - 1980, 1981 - 1990 xuống còn 24 đợt mỗi năm trongthập kỷ 1991 - 2000, đặc biệt trong các năm 1994 và 2007, chỉ
có 15 - 16 đợt mỗi năm
- Hạn hán có xu hướng mở rộng ở hầu hết các vùng, đặcbiết là cực Nam Trung Bộ, dẫn đến gia tăng hiện tượng hoangmạc hóa
-Hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng đến nước tamạnh mẽ hơn trong vài thập kỷ gần đây, gây ra nhiều kỷ lục cótính dị thường về thời tiết như nhiệt độ cực đại, nắng nóng vàhạn hán gay gắt trên diện rộng, cháy rừng khi có El Nino, điểnhình là năm 1997 - 1998; mưa lớn, lũ lụt và rét hại khi có LaNina như năm 2007
Như vậy, ngoài biến đổi khí hậu với sự tăng lên của nhiệt độ
và mực nước biển trung bình diễn ra một cách từ từ, có tácđộng lâu dài, tính cực đoan và dị thường của thời tiết, khí hậu,đặc biệt là thiên tai cũng trở nên lớn hơn, có thể gây ra nhữngtổn thất lớn về người và tài sản và làm cho công tác dự báo,phòng tránh trở nên khó khăn hơn Đây cũng chính là một tháchthức lớn đặt ra cho các nhà lãnh đạo của Việt Nam trong vấn đềbiến đổi khí hậu toàn cầu
Trang 341.3 Tác động của BĐKH đến hoạt động khai thác hải sản ở Việt Nam
Theo Nguyễn Ngọc Thanh nhận định: Việt Nam là mộttrong những nước dễ bị tổn thương bởi tác động của BĐKHtrong khu vực Đông Nam Á Việt Nam đứng thứ 6 trong bảngxếp hạng toàn cầu về chỉ số rủi ro do BĐKH (CRI) giai đoạn1991-2010 Việt Nam cũng đứng thứ 23 trong bảng xếp hạngtoàn cầu về chỉ số tổn thương do BĐKH gây ra trong 30 nămtới Trong khoảng từ năm 1994-2003, thiệt hại trung bình dothiên tai gây ra đối với Việt nam vào khoảng gần 250 triệuđôla mỗi năm, chiếm khoảng 0,8% GDP trung bình trong cùngthời gian này Trong khi dó, thủy sản là ngành kinh tế quantrọng trong nền kinh tế Việt Nam và là ngành chịu nhiều ảnhhưởng từ các hiện tượng thời tiết bất thường theo các kịchbản BĐKH đến năm 2050, thiệt hại do nước biển dâng và bãogây ra có thể chiếm tương ứng đến 10,9% và 42,5% GDP ởvùng Đồng bằng sông Hồng
Trang 35Bảng 1.2 Tổng hợp các tác động của BĐKH đối với vùng
ven biển Ngành/lĩnh
- Dòng chảy từ mưa lớn gây xói mòn bờ biển và trầm tích gây ảnh hưởng đến vùng cửa sông và các rạn san hô
- Dòng chảy giàu chất dinh dưỡng trong bối cảnh nhiệt độ bè mặt nuwosc biển tăng sẽ làm cho nước biển thiếu oxy và tạo ra nhiều vùng biển chết
- Thay đổi về sự phân
bố và sự phong phú của nguồn lợi biển có giá trị cao về thương mại
- Gia tăng sự lây lan của các loài ngoại lai
- 30% diện tích san hô trên thế giới đã bị mmaast do đánh bắt quá mức, ô nhiễm và môi trường sống bị hủydiệt
- Sự phát triển mạnh
mẽ ở vùng ven biển vàmất môi trường sống
- Chuyển đổi rừng ngập mặn và đất ngập nước thành các đầm nuôi trồng thủy sản
- Sự xáo trộn về số lượng và thời gian các dòng nước ngọt chảy vào các cửa sông
- Suy thoái thảm cỏ biển do trầm tích, du lịch bằng tuyền trên biển, đánh bắt và du lịch
- Khai thác mỏ phục vụxây dựng và làm vôi
- TRàn dầu từ vận tải đường biển
- Sự lây lan các loài xâm lấn
Hoạt động
- Suy giảm năng suất chung của đại dương
- Hiện tượng phú dưỡng và tình trạng san hô chết làm giảm sản lượng đánh bắt
- Môi trường sống của
- Đánh bắt quá mức
- Sử dụng các phương pháp đánh bắt hủy diệt(bằng lưới mắt nhỏ, bằng mìn, bằng điện…)
- Các nguồn ô nhiễm từ
Trang 36đánh bắt cá bị thay đổi.
- Sự thay đổi nhiệt độ làm cá di cư
- Axit hóa đại dương
và sự gia tăng nhiệt
độ gây hủy diệt các rạn san hô, ảnh hưởngđến các ngư trường đánh bắt
đất liền (nước thải công nghiệp…)
- Lắng đọng trầm tích
từ các hoạt động trên đất liền
(Nguồn: USAID, 2009)
BĐKH sẽ làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái, biến độngchủng loại quần đàn và di cư cá biển, có khả năng sẽ làm thayđổi các bãi cá và ngư trường truyền thống Những thay đổi vềnhiệt độ và hóa học đại dương trực tiếp ảnh hưởng đến sinh lý,tăng trưởng, sinh sản và phân bố của sinh vật biển Cá trongvùng nước ấm hơn sẽ có thể có một kích thước cơ thể nhỏ hơn,nhỏ hơn sự trưởng thành ban đầu, tỷ lệ tử vong cao hơn và đượcđánh bắt ở khu vực khác nhau Nồng độ muối thay đổi sẽ làmnguy hại đến các rạn san hô, thảm thực vật ven biển vốn là láchắn song cho khu vực ven bờ Bằng chứng là nhiều rạn san hôchậm phát triển, các thảm thực vật như rong biển bị chể, trôidạt vào bờ với khối lượng lớn Các bãi cá nổi, cá đáy ở khu vựctuyến bờ và lộng có xu hướng ra xa dần; mùa vụ cá cơm, cá ồ,
cá thu, cá nục, cá hồi từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm tại cácngư trường đều bị thay đổi và xáo trộn trong những năm gầnđây
Sự thay đổi khí hậu có tác động đến các hệ sinh thái biển,làm biến động chủng quần và nguồn lợi cá biển vì vậy làm ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống của cộng đồng ngư dân khu vựcven biển Hiện tượng san hô chết hàng loạt (Coral Bleaching)trong 20 năm qua do một số nguyên nhân trong đó có nguyênnhân do nhiệt độ ở các vùng biển đã tăng lên
Trang 37Các ảnh hưởng tiềm tàng của biến đổi khí hậu đối với môitrường và các hệ thống kinh tế xã hội có thể được đánh giá qua
sự nhạy cảm, mức độ thích nghi và mức độ dẽ bị tổn thương của
hệ thống Tại Việt Nam, hiện chưa có các nghiên cứu đầy đủ vềtác động của biến đổi khí hậu đối với khai thác hải sản Tuynhiên, với những nguy cơ và thách thức đang tiềm ẩn đối vớilĩnh vực khai thác thuỷ sản, các ảnh hưởng tiềm tàng của biếnđổi khí hậu có thể sẽ rất lớn
BĐKH sẽ làm ảnh hưởng đến các hệ sinh thái biển, biếnđộng chủng loại quần đàn và di cư cá biển, có khả năng làmthay đổi các bãi cá và ngư trường truyền thống Những thay đổi
về nhiệt độ và hóa học đại dương trực tiếp ảnh hưởng đến sinh
lý, tăng trưởng, sinh sản và phân bố của sinh vật biển cá trongvùng nước ấm sẽ có kích thước cơ thể nhỏ hơn, nỏ hơn ở sựtrưởng thành ban đầu, có tỷ lệ tử vong cao hơn và được đánhbắt ở các khu vực khác nhau Nồng độ muối thay đổi sẽ làmnguy hại đến các rạn san hô, thảm thực vật ven biển Bằngchứng là nhiều rạn san hô chậm phát triển, thảm thực vật nhưrong biển bị chết trôi dạt vào bờ với khối lượng lớn Các bãi cánổi, cá đáy ở khu vực tuyến bờ và lộng có xu hướng ra xa dần;mùa vụ cá cơm, cá ồ, cá thu, cá nục, cá hổi từ tháng 3 đếntháng 5 tại các ngư trường đều bị thay đổi và xáo trộn trongnhững năm gần đây
Nhiệt độ ngày càng tăng cao gây ảnh hưởng đến quá trìnhsinh sống, di cư của sinh vật Một số loài di chuyển tìm vùngnước mới phù hợp để sinh sống và phát triển sẽ làm ngư trườngthay đổi, dẫn đến cấu trúc tàu thuyền và ngư cụ cần cải tiếnphù hợp Nhiệt độ tăng cùng với sự thay đổi tính chất lý – hóatrong nước biển làm thay đổi cấu trúc, thành phần các loài, các
Trang 38quần xã hiện có Nhiệt độ tăng làm cho nguồn lợi thủy sản bịphân tán, cụ thể là các loài cá nhiệt đới kesmgias trị kinh tếtăng lên, các loài cá cận nhiệt đới có giá trị kinh tế cao lại giảm
đi hoặc mất hẳn Đồng thời nguồn lợi thủy sản di cư đi các vùngkhác phù hợp hơn hoặc đi xuống sâu hơn Khi đó vùng biển sẽmất đi hoặc giảm bớt trữ lượng một số loài cá có giá trị kinh tế;năng suất cũng như giá trị khai thác giảm xuống Ở các xã venbiển Việt Nam, đa số hộ ngư dân có nghề cá qui mô nhỏ ven bờvới các loại ngư cụ khai thác truyền thống sẽ bị ảnh hưởng rấtlớn bởi sự suy giảm nguồn lợi thủy sản
BĐKH cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới cơ sở hạ tầng cáccảng cá, nơi neo đậu tránh bão lũ và tàu thuyền của người dân
1.4 Khái quát chung về giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu ở Việt Nam
1.4.1 Khái niệm
Gần đây, khả năng thích ứng được xem xét trong bối cảnhcác vấn đề về biến đổi khí hậu toàn cầu Khả năng thích ứng vớibiến đổi khí hậu được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau:
- IPPC định nghĩa: “Khả năng thích ứng là khả năng tự điềuchỉnh của hệ hống trước sự biến đổi của khí hậu để làm giảmnhẹ các thiệt hại tiềm tàng, tận dụng các cơ hội, hoặc đương
đầu với các hậu quả” (IPCC, 2007)
- Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008), khả năng thích
ứng với biến đổi khí hậu là “sự điều chỉnh của hệ thống tự nhiênhoặc con người đối với hoàn cảnh môi trường thay đổi nhằm làmgiảm khả năng bị tổn thương do dao động và biến đổi của khíhậu hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nómang lại”
Trang 39Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (IMHEN,
2010) đã nghiên cứu và đưa ra các Mục tiêu của các giải pháp
thích ứng:
- Giảm nhẹ tác động của BĐKH, chủ yếu là giảm tổn thất
do BĐKH gây ra trên phạm vi cả nước cũng như trên từng địaphương, trong giai đoạn hiện tại
- Góp phần tăng cường năng lực khắc phục ảnh hưởng củaBĐKH trong giai đoạn hiện tại
- Giảm rủi ro, tăng cường khả năng chống chọi với BĐKHtrong tương lai
1.4.2 Các biện pháp thích ứng
Khả năng thích ứng được thể hiện thông qua các hoạtđộng/biện pháp thích ứng nhằm làm giảm khả năng bị tổnthương Có nhiều biện pháp thích ứng có thể được thực hiện trongviệc ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) Báo cáo Đánh giá lần
thứ 2 của ban liên Chính phủ về BĐKH (IPCC, 1994) đã đề cập và
miêu tả 228 biện pháp thích ứng khác nhau và được thực hiện ởcác cấp độ khác nhau Cách phân loại phổ biến là chia các biệnpháp thích ứng ra làm 8 nhóm:
Chấp nhận tổn thất: Các phương pháp thích ứng khác có
thể được so sánh với cách phản ứng cơ bản là “không làm gì
cả”, ngoại trừ chịu đựng hay chấp nhận những tổn thất Trên lý
thuyết, chấp nhận tổn thất xảy ra khi bên chịu tác động không
có khả năng chống chọi lại bằng bất kỳ cách nào
Chia sẻ tổn thất: Loại phản ứng thích ứng này liên quan
đến việc chia sẻ những tổn thất giữa một cộng đồng dân cư lớn.Cách thích ứng này thường xảy ra trong một cộng đồng truyềnthống và trong xã hội công nghệ cao, phức tạp Trong xã hộitruyền thống, nhiều cơ chế tồn tại để chia sẻ những tổn thất
Trang 40giữa cộng đồng mở rộng, như là giữa các hộ gia đình, họ hàng,làng mạc hay là các cộng đồng nhỏ tương tự
Làm thay đổi nguy cơ: Ở một mức độ nào đó người ta có
thể kiểm soát được những mối nguy hiểm từ môi trường Đối vớimột số hiện tượng “tự nhiên” như là bão lũ, dông lốc, nhữngbiện pháp thích hợp là công tác kiểm soát lũ lụt (đập, mương,đê) Đối với BĐKH, có thể điều chỉnh thích hợp làm chậm tốc độBĐKH bằng cách giảm phát thải khí nhà kính và cuối cùng là ổnđịnh nồng độ khí nhà kính trong khí quyển Theo hệ thống củaUNFCCC, những phương pháp được đề cập đó được coi là sự
giảm nhẹ BĐKH và là phạm trù khác với các biện pháp thích
ứng
Ngăn ngừa các tác động: Là một hệ thống các phương
pháp thường dùng để thích ứng từng bước và ngăn chặn các tácđộng của biến đổi và bất ổn của khí hậu
Thay đổi cách sử dụng: Khi những rủi ro của BĐKH làm
cho không thể tiếp tục các hoạt động kinh tế hoặc rất mạohiểm, người ta có thể thay đổi cách sử dụng
Thay đổi/chuyển địa điểm: Một sự đối phó mạnh mẽ
hơn là thay đổi/chuyển địa điểm của các hoạt động kinh tế Cóthể tính toán thiệt hơn, ví dụ như chuyển địa điểm đánh bắt từvùng có số lượng cá tập trung ít sang vùng có nhiều cá hơn,đánh bắt xa bờ thay cho đánh bắt gần bờ
Nghiên cứu: Quá trình thích ứng có thể được phát triển
bằng cách nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ mới và phươngpháp mới về thích ứng
Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi: Một kiểu hoạt động thích ứng khác là sự phổ biến kiến thức