1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tài liệu ôn tập luật thi hành án dân sự 2021

14 152 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 3,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ủy thác tư pháp là việc tòa án của một nước nhờ Tòa án của nước ngoài thực hiện giúp những hành vi tố tụng riêng lẻ cần thiết để bảo đảm giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài. Nguyên tắc ủy thác thi hành án dân sự được pháp luật quy định tại Điều 55 Luật thi hành án dân sự 2014. Theo đó, có các nguyên tắc cơ bản sau: Thứ nhất, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự (THADS) phải uỷ thác thi hành án cho cơ quan THADS nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở. Trong đó, khi thực hiện việc uỷ thác cần xác định rõ các căn cứ sau đây: + Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án có tài sản + Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án làm việc + Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án cư trú + Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án có trụ sở Thứ hai, Trường hợp người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác thi hành án từng phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Số:…/BGDVĐT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độp lập - Tư do - Hạnh phúc Đại học vinh, ngày 17/11/12017

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN HỌC PHẦN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

1 Nguyên tắc ủy thác thi hành án dân sự?

Ủy thác tư pháp là việc tòa án của một nước nhờ Tòa án của nước ngoài thực hiện giúp những hành vi tố tụng riêng lẻ cần thiết để bảo đảm giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài

Nguyên tắc ủy thác thi hành án dân sự được pháp luật quy định tại Điều 55 Luật thi hành án dân sự 2014 Theo đó, có các nguyên tắc cơ bản sau:

Thứ nhất, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự (THADS) phải uỷ thác thi hành

án cho cơ quan THADS nơi người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có trụ sở

Trong đó, khi thực hiện việc uỷ thác cần xác định rõ các căn cứ sau đây:

+ Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án có tài sản

+ Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án làm việc

+ Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án cư trú

+ Uỷ thác đến cơ quan THADS nơi người phải thi hành án có trụ sở

Thứ hai, Trường hợp người phải thi hành án có tài sản, làm việc, cư trú hoặc có

trụ sở ở nhiều địa phương thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác thi hành

án từng phần cho cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án để thi hành phần nghĩa vụ của họ

Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên quan đến tài sản thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ủy thác đến cơ quan thi hành án dân sự nơi người phải thi hành án

có tài sản; nếu không xác định được nơi có tài sản hoặc nơi có tài sản trùng với nơi làm việc, cư trú, có trụ sở của người phải thi hành án thì ủy thác đến nơi làm việc, cư trú hoặc nơi có trụ sở của người đó

Trường hợp thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở các địa phương khác nhau thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự uỷ thác toàn bộ nghĩa vụ thi hành án đến cơ quan thi hành án dân sự thuộc một trong các địa phương nơi người phải thi hành án có điều kiện thi hành án

Thứ ba, việc ủy thác phải thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày

xác định có căn cứ ủy thác Trường hợp cần thiết phải ủy thác việc thi hành quyết định của Tòa án về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì việc uỷ thác phải thực hiện ngay sau khi có căn cứ uỷ thác

Trang 2

Thẩm quyền ủy thác thi hành án dân sự

Thẩm quyền ủy thác thi hành án dân sự được quy định cụ thể tại Điều 56 Luật thi hành án 2014

Trong phạm vi Điều 56 quy định cụ thể về thẩm quyền uỷ thác của các cơ quan THADS Cần lưu ý, tại điểm a khoản 1 Điều này cũng phải được hiểu vừa là thẩm quyền

uỷ thác đi và cũng vừa là thẩm quyền nhận uỷ thác của cơ quan THADS cấp tỉnh Cơ quan THADS cấp huyện không được ủy thác cho cơ quan THADS cấp tỉnh của tỉnh mình

Cơ quan THADS khi thực hiện việc uỷ thác cần bám sát và thực hiện đúng quy định tại Điều 56 vì nếu uỷ thác không đúng thẩm quyền sẽ là căn cứ để cơ quan thi hành

án nhận uỷ thác gửi trả lại hồ sơ uỷ thác theo quy định tại khoản 2 Điều 57 Điều đó làm cho việc thi hành án bị kéo dài và mục đích, ý nghĩa của việc uỷ thác sẽ không đạt được

Thủ tục ủy thác thi hành án dân sự

Điều 57 Luật thi hành án dân sự 2014 quy định thì trong thực tiễn thực hiện việc

uỷ thác, một số cơ quan thi hành án khi nhận hồ sơ uỷ thác đã không thụ lý và trả lại cơ quan thi hành án đã uỷ thác với lý do trong bản án có nhiều khoản phải thi hành, trong

đó có khoản tiêu huỷ tang vật thì chỉ khi nào cơ quan thi hành án thi hành xong khoản tiêu huỷ tang vật mới được uỷ thác khoản còn lại, cách hiểu như vậy là không đúng với quy định

Theo tinh thần của điều luật trên thì đối với những tài sản tạm giữ, thu giữ, tài sản

kê biên tại địa bàn có liên quan đến khoản uỷ thác, thì cơ quan thi hành án mới cần phải

xử lý trước khi thực hiện việc uỷ thác Các tài sản có liên quan đến khoản uỷ thác trong quy định trên là các trường hợp tài sản đã được tuyên kê biên hoặc được tuyên hoàn trả cho đương sự nhưng dùng để đảm bảo thi hành án Còn đối với khoản tiêu huỷ tang vật không có liên quan đến các khoản phải thi hành khác Do đó cơ quan THADS có thể thực hiện ngay việc uỷ thác mà không cần phải chờ tiêu huỷ tang vật xong Các cơ quan thi hành án nhận uỷ thác cần lưu ý thực hiện và không được trả lại hồ sơ uỷ thác mà phải tiếp nhận và tổ chức thi hành theo đúng quy định

Ngoài ra, quy định tại Điều 20 Nghị định 58/2009/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự 2008 về thủ tục thi hành án dân sự Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành

án trong trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới Trường hợp ủy thác thi hành nghĩa vụ liên đới mà người phải thi hành án cư trú hoặc có tài sản ở nhiều địa phương khác nhau mà tài sản ở địa phương nhận ủy thác không đủ để thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự nơi nhận ủy thác có quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành

án đối với tất cả những người, tài sản có liên quan đến việc thi hành án để tránh trường họp tẩu tán, trốn tránh việc thi hành án

Việc thực hiện ủy thác thi hành án còn được hướng dẫn chi tiết tại Diều 16 Nghị định 62/2015/NĐ-CP:

Theo đó, pháp luật đã quy định và hướng dẫn rõ ràng hơn cho một số trường hợp trong quá trình ủy thác thi hành án dân sự, góp phần cho việc ủy thác thi hành án dân

sự được diễn ra nhanh chóng và phát huy đúng với mục đích ý nghĩa của hoạt động này

Trang 3

2 So sánh xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án theo quy định của Luật thi hành án dân sự 2008 với Luật thi hành án dân sự 2008 sửa đổi bổ sung 2014?

3 Khái niệm, ý nghĩa, điều kiện áp dụng biện pháp đảm bảo thi hành án? Khái niệm: Biện pháp bảo đảm THADS là biện pháp pháp lý được Chấp hành

viên áp dụng theo một trình tự, thủ tục luật định trong quá trình tổ chức thực hiện việc thi hành án, đặt tài sản của người phải thi hành án trong tình trạng bị hạn chế hoặc tạm thời bị cấm sử dụng, định đoạt, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng nhằm bảo toàn điều kiện thi hành án, ngăn chặn người phải thi hành án thực hiện việc tẩu tán, hủy hoại, thay đổi hiện trạng về tài sản trốn tránh việc thi hành án, làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành án

Ý nghĩa: Với vai trò đảm bảo điều kiện thi hành án của người phải thi hành án,

các biện pháp bảo đảm THADS có ý nghĩa hết sức to lớn, đóng vai trò quan trọng đối với kết quả tổ chức thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, cụ thể như sau: Thứ nhất, biện pháp bảo đảm THADS đã góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan Thứ hai, biện pháp bảo đảm THADS

đã góp phần đẩy nhanh quá trình thi hành án, làm giảm thiểu các chi phí không đáng

có Thứ ba, biện pháp bảo đảm THADS góp phần nâng cao ý thức của đương sự, người

có quyền, nghĩa vụ liên quan đến việc thi hành án

Điều kiện áp dụng:

- Đối tượng bị áp dụng biện pháp bảo THADS là tài sản, tài khoản

- Biện pháp bảo đảm THADS được áp dụng linh hoạt, tại nhiều thời điểm, nhiều địa điểm khác nhau trong quá trình thi hành án nhằm ngăn chặn việc tẩu tán, hủy hoại, trốn tránh việc thi hành án

- Biện pháp bảo đảm THADS được thực hiện với trình tự, thủ tục linh hoạt, gọn nhẹ, ít tốn kém, có thời gian áp dụng ngắn, có tác dụng thúc đẩy nhanh việc thi hành án

- Biện pháp bảo đảm THADS khi được áp dụng chưa làm thay đổi, chuyển dịch

về quyền sở hữu, sử dụng tài sản của chủ sở hữu, chủ sử dụng

- Biện pháp bảo đảm THADS có thể được Chấp hành viên tự mình ra quyết định

áp dụng hoặc theo yêu cầu của đương sự và người yêu cầu phải chịu trách nhiệm về việc áp dụng

- Việc áp dụng biện pháp bảo đảm THADS được thể hiện thông qua việc ban hành quyết định của Chấp hành viên

- Khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp bảo THADS được giải quyết một lần và có hiệu lực thi hành Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm THADS có tác dụng làm hạn chế quyền sở hữu, sử dụng tài sản mà không có tính chất làm thay đổi, chuyển dịch về quyền sở hữu, sử dụng đối với tài sản đó Vì vậy, khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm THADS chỉ được xem xét, giải quyết một lần và có hiệu lực thi hành

Trang 4

4 Khái niệm, ý nghĩa, điều kiện, nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án?

5 Khái niệm, ý nghĩa, điều kiện áp dụng từng biện pháp bảo đảm cụ thể?

6 Khái niệm, ý nghĩa, điều kiện áp dụng từng biện pháp cưỡng chế cụ thể?

7 So sánh biện pháp bảo đảm và biện pháp cưỡng chế, mối quan hệ giữa hai biện pháp?

Trang 5

ĐỀ THI MÔN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Trường Đại học Luật TP HCM

Lớp: CLC 38B Thời gian: 75 phút Chỉ được sử dụng Luật Thi hành án dân sự

Phần I: Trả lời đúng hoặc sai và giải thích các nhận định sau (6 điểm)

1 Đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với những nghĩa vụ đã đến hạn hoặc

sẽ đến hạn trong năm thi hành án

2 Chỉ có Thủ trưởng cơ quan thi hành án mới có thẩm quyền ra Quyết định tạm đình chỉ thi hành án

3 Tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ trong các giao dịch hợp pháp thì không được bán đấu giá để thi hành án

4 Người yêu cầu thi hành án phải là người có quyền lợi được Tòa án tuyên trong bản

án, quyết định dân sự

5 Công cụ lao động được dùng làm phương tiện sinh sống của người phải thi hành án

và gia đình thì không được kê biên

6 Tài sản kê biên, đấu giá không thành thì Chấp hành viên giao lại cho người phải thi hành án

Phần II: Bài tập (4 điểm)

Theo Bản án dân sự phúc thẩm 02/02/2016: Anh A phải trả cho anh B một xe máy hiệu Honda, biển số 59X2 099.99, do anh B đứng tên sở hữu

Ngày 20/03/2016, anh B đã làm đơn yêu cầu Chi cục thi hành án quận Y thành phố H ra quyết định thi hành Ngày 12/04/2016 khi anh A đang để chiếc xe trên tại nhà của mình thì

bị trộm Anh A đã báo cáo sự việc này với cơ quan công an và chi cục thi hành án quận Y thành phố H

Sau khi xác minh, Chi cục thi hành án quận Y thành phố H xác định việc anh A mất trộm

là có thật và hiện cơ quan công an đang thụ lý vụ việc Xét thấy vụ việc không thể thi hành nên Thủ trưởng Chi cục thi hành án quận Y thành phố H đã ra quyết định kết thúc thi hành án Theo anh chị, Chi cục thi hành án quận Y thành phố H ra quyết định kết thúc thi hành

án như vậy là đúng hay sai? Tại sao? (4 điểm)

Giảng viên ra đề: TS Nguyễn Văn Tiến

Trang 6

ĐỀ THI MÔN LUẬT THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Trường Đại học Luật TP HCM

Lớp: CLC 38B Thời gian: 75 phút Chỉ được sử dụng Luật Thi hành án dân sự

Phần I: Trả lời đúng hoặc sai và giải thích các nhận định sau (6 điểm)

1 Các đương sự chỉ được thỏa thuận thi hành án trước khi cơ quan thi hành án dân

sự ra quyết định thi hành án

2 Chỉ có cơ quan thi hành án dân sự mới có thẩm quyền thực hiện việc thi hành án

3 Chấp hành viên chỉ được kê biên quyền sử dụng đất để thi hành án khi quyền sử dụng đất đó đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

4 Tài sản kê biên và bán đấu giá không thành thì cơ quan thi hành án trả lại cho người phải thi hành án

5 Cơ quan thi hành án chỉ ra Quyết định thi hành án khi có đơn yêu cầu thi hành án của đương sự

6 Trường hợp người được thi hành án chỉ yêu cầu một trong những người phải thi hành án thực hiện toàn bộ nghĩa vụ liên đới thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với người đó

Phần II: Bài tập (4 điểm)

Bản án số 1 DSPT 10/10/2017, của Tòa án thành phố H, tỉnh M tuyên: Buộc A phải trả cho V số tiền đã vay là 1,2 tỷ đồng Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, V có đơn yêu cầu thi hành án gửi cơ quan thi hành án dân sự thành phố H, tỉnh M Cơ quan thi hành án

đã ra quyết định thi hành án và phân công chấp hành viên K tổ chức thi hành

Qua xác minh trong tháng 3/2018, được biết A đứng tên sử dụng 01 mảnh đất có diện tích 100m2 trên địa bàn thành phố H Tuy nhiên, A xuất trình hợp đồng ủy quyền lập ngày 01/3/2016 lập tại phòng Công chứng nhà nước tỉnh H có nội dung: A ủy quyền cho Vũ Văn

B được toàn bộ quyền sử dụng, chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp đối với quyền sử dụng thửa đất nói trên

Ngay sau khi chấp hành viên K xác minh được thông tin nói trên, ông Vũ Văn B đã thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất nói trên cho M Chấp hành viên K

đã tiến hành kê biên quyền sử dụng đất trên để thi hành án đối với ông A

Theo anh chị, Chấp hành viên K đã tiến hành kê biên tài sản như trên là đúng hay sai? Tại sao?

Trang 7

ĐỀ THI MÔN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Trường Đại học Luật TP HCM

Lớp: CLC 38B Thời gian: 75 phút Chỉ được sử dụng Luật Thi hành án dân sự

Phần I: Trả lời đúng hoặc sai và giải thích các nhận định sau (6 điểm)

1 Chấp hành viên chỉ có quyền định giá tài sản kê biên từ mười triệu đồng trở xuống

2 Việc thông báo trực tiếp cho đương sự chỉ do Chấp hành viên tiến hành

3 Người được thi hành án phải chịu phí thi hành án khi nhận tiền bồi thường thiệt hại theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật do Tòa án tuyên

4 Sau khi cơ quan thi hành án ra quyết định thi hành án thì các đương sự không có quyền

tự thỏa thuận về việc thi hành án dân sự

5 Người tham gia đầu giá tài sản để thi hành án mà rút lại giá đã trả thì bị truất quyền tham gia trả giá tiếp và khoản tiền đặt trước thuộc về người phải thi hành án

6 Chỉ có Thủ trưởng cơ quan thi hành án mới có quyền ra Quyết định hoãn thi hành án

Phần II: Bài tập (4 điểm)

Bản án số 57/HSST ngày 21/9/2015 của Tòa án nhân dân huyện A tỉnh N tuyên phạt Vũ Xuân Xoa hình phạt chung thân, buộc Xoa bồi thường cho gia đình nạn nhân do bà Lê Thị Tuyển đại diện, số tiền 19.630.000 đồng Bản án số 46/HSPT ngày 22/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh N giữ nguyên Bản án sơ thẩm

Ngày 08/4/2016, bà Nguyễn Thị Quế là mẹ đẻ của người phải thi hành án (Vũ Văn Xoa) được ủy quyền hợp lệ đến cơ quan Thi hành án dân sự huyện A tỉnh N nộp đơn yêu cầu thi hành án khoản bồi thường 19.630.000 đồng theo Bản án số 57/HSST ngày 21/9/2015 và Bản

án số 46/HSPT ngày 22/11/2015

Bà Lê Thị Tuyền không nộp đơn yêu cầu thi hành án vì Vũ Văn Xoa đang chấp hành hình phạt chung thân

Theo anh chị cơ quan thi hành án dân sự có quyền ra quyết định thi hành án theo yêu cầu của Nguyễn Thị Quế không? Tại sao?

Giảng viên ra đề: TS Nguyễn Văn Tiến

Trang 8

ĐỀ THI MÔN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Trường Đại học Luật TP HCM

Lớp: DS41 Thời gian: 75 phút Chỉ được sử dụng Luật Thi hành án dân sự

Phần I: Trả lời đúng hoặc sai và giải thích các nhận định sau (6 điểm)

1 Đương sự có quyền ủy quyền cho người khác yêu cầu thi hành án

2 Người yêu cầu thi hành án có nghĩa vụ phải nộp phí thi hành án

3 Đương sự có quyền yêu cầu Chấp hành viên chứng kiến việc thỏa thuận thi hành án của họ ngoài trụ sở cơ quan thi hành án

4 Người phải thi hành án có tài sản là người có điều kiện thi hành án

5 Việc xác minh điều kiện thi hành án tại các cơ quan, tổ chức được coi là không có kết quả khi người được thi hành án đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không nhận được văn bản trả lời của các cơ quan, tổ chức đó

6 Trường hợp người phải thi hành án chỉ có một tài sản duy nhất lớn hơn nhiều lần so với nghĩa vụ phải thi hành án thì Chấp hành viên vẫn có quyền kê biên, đấu giá nếu không thực hiện được biện pháp khai thác tài sản

Phần II: Bài tập (4 điểm)

Theo Bản án số 219/2018/DS-ST ngày 03/12/2018 của Tòa án nhân dân huyện H thì vợ chồng ông Lê Văn T và bà Trần Thị L phải trả ông Nguyễn H và bà Trần T số tiền 2.636.725.000 đồng Trên cơ sở đơn yêu cầu thi hành án của ông Nguyễn H và bà Trần T, cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án và tổ chức thi hành Trong quá trình xác minh, cơ quan thi hành án được biết ông T và bà L có 01 chiếc tàu cá biển số 965.78-TS, tài sản này đã được ông T và bà L lập hợp đồng chuyển nhượng cho ông Trần Hữu vào ngày 23/10/2017 tại Phòng Công chứng số 2 của tỉnh với giá 1.4 tỷ đồng Các bên đã giao nhận tiền

và tài sản nhưng ông Trần Hữu chưa làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản

Đến ngày 24/9/2018, ông Hữu chuyển tàu cá trên cho bà Lê Thị Thu nhưng do giấy chứng nhận vẫn mang tên ông Lê Văn T nên ông Hữu đã đề nghị vợ chồng ông Lê Văn T và

bà Trần Thị L lập hợp đồng chuyển nhượng chiếc tàu cá nói trên cho bà Lê Thị Thu (hợp đồng này được công chứng bởi Văn phòng công chứng QN) nhưng bà Lê Thị Thu chưa thực hiện việc đăng ký quyền sở hữu đối với tàu cá trên

Qua xác minh tại Chi cục Thủy sản thì chiếc tàu cá trên vẫn mang tên ông Lê Văn T (người phải thi hành án) Do đó, ngày 27/7/2019, Chấp hành viên đã ra quyết định kê biên, xử

lý chiếc tàu đánh bắt cá số 96578-TS để đảm bảo việc thi hành án của vợ chồng ông Lê Văn

T và bà Trần Thị L Sau khi ban hành quyết định kê biên (chưa thực hiện việc kê biên) Chấp

Trang 9

hành viên đã nộp đơn khởi kiện tại 02 Tòa án (nơi 02 tổ chức công chứng nêu trên hành nghề)

để yêu cầu tuyên bố 02 văn bản công chứng liên quan đến hợp đòng mua bán tàu cá nêu trên

vô hiệu làm cơ sở cho việc tổ chức thi hành án

Nhận xét các việc làm của Chấp hành viên trong tình huống nêu trên

Giảng viên ra đề: ThS Huỳnh Quang Thuận

Trang 10

ĐỀ THI MÔN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

số 2 Đại học Luật TPHCM

Phần I: Trả lời đúng hoặc sai và giải thích các nhận định sau (6 điểm)

1 Đối với bản án, quyết định về cấp dưỡng theo định kỳ hàng tháng thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra một quyết định thi hành án đối với những nghĩa vụ đã đến hạn hoặc

sẽ đến hạn trong năm thi hành án

2 Chỉ có Thủ trưởng cơ quan thi hành án mới có thẩm quyền ra Quyết định tạm đình chỉ thi hành án

3 Tài sản dùng để bảo đảm nghĩa vụ trong các giao dịch hợp pháp thì không được bán đấu giá để thi hành án

4 Người yêu cầu thi hành án phải là người có quyền lợi được Tòa án tuyên trong bản

án, quyết định dân sự

5 Công cụ lao động được dùng làm phương tiện sinh sống của người phải thi hành án

và gia đình thì không được kê biên

6 Tài sản kê biên, đấu giá không thành thì Chấp hành viên giao lại cho người phải thi hành án

Phần II: Bài tập (4 điểm)

Theo Bản án số 60/2013/DSPT ngày 15/10/2013 của Tòa án nhân dân tỉnh K về việc chia thừa kế thì ông Nguyễn Văn A được sử dụng 500m2 quyền sử dụng đất ở, bà Trần Thị B được sử dụng 600m2 quyền sử dụng đất ở trên mảnh đất có tổng diện tích là 1.100m2

Ngày 06/02/2014, ông A yêu cầu Chi cục thi hành án huyện P tỉnh K ra quyết định thi hành Sau khi Chi cục thi hành án huyện P ra quyết định thi hành, thì ông Nguyễn Văn A và

bà Trần Thị B cùng có văn bản xin tự nguyện thi hành án và ông Nguyễn Văn A có đơn xin rút đơn yêu cầu thi hành án

Căn cứ vào ý chí của các đương sự trong việc tự nguyện thi hành án nên Chi cục thi hành

án huyện P tỉnh K chấp nhận việc rút đơn và không thu phí thi hành án của ông Nguyễn Văn

A và bà Trần Thị B

Theo anh chị, Chi cục thi hành án huyện P tỉnh K không thu phí thi hành án của ông Nguyễn Văn A và bà Trần Thị B là đúng hay sai? Tại sao?

Ngày đăng: 12/09/2021, 20:18

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w